TRẢ LỜI BA CÂU HỎI CỦA MỘT VỊ ĐỘC GIẢ - Phan Khôi

Discussion in 'Góc Nhìn' started by khaidântrí, Apr 24, 2016.

  1. khaidântrí

    khaidântrí Administrator

    Tôi mới tiếp được thơ của một vị độc giả gởi tới hỏi ba điều, mà bảo tôi trả lời trên báo Phụ nữ hoặc Trung lập. Vì tiện hơn, tôi xin trả lời ở Trung lập hôm nay.

    Điều thứ nhứt, hỏi : Sao ở mục văn uyển báo Phụ nữ thường có nhiều bài thơ Đường luật tạp nạp quá ? Lại có nhiều bài theo điệu vọng cổ hoài lang nghe vụng về quá mà cũng đăng ?

    Xin trả lời rằng : Sự đó là một cái hiện tượng không thể tránh được. Số là, vận văn là một lối văn phần nhiều thuộc về tình cảm ! Có cảm xúc điều gì, trong tâm tình của mình uất ức chứa chan, phát ra lời văn xuôi không đủ tả hết được thì mới phát ra lời văn vần. Muốn phát ra bằng văn vần lại trước phải có học thức cho rộng, kinh nghiệm nhơn tình thế cố cho nhiều, nhứt là phải rành nghề ngâm vịnh thì mới hay được

    Cái nầy, phần nhiều người đã ít gia công học tập mà lại hình như trong tâm tình cũng chẳng có cảm xúc gì cả, thế mà cứ hay làm vận văn luôn, ngâm vịnh luôn, miễn cho đủ vần đủ chữ thành hình bài thơ là được, như vậy thì tạp nạp vụng về là phải.

    Trong xã hội đã có cái “bịnh” ưa làm thơ, lại cũng có luôn cái “bịnh” ưa xem thơ. Nghe nói phần nhiều người đọc báo, hễ mở ra là tìm mục văn uyển trước. Báo nào không có mục ấy thì độc giả không thích đọc. Bởi vậy nhà báo chìu theo ý phần đông mà đăng thơ ca cho nhiều. Hễ nhiều thì trong đó phải có bài nhảm, tài chi khỏi được ?

    Tôi không ở trong toà soạn Phụ nữ nên tôi không biết về việc ấy. Song tôi có hỏi ông chủ bút báo ấy, thì ông nói rằng thế là đã lựa lọc sửa sang lắm rồi đó, người ta gởi những bài văn uyển tới nhiều quá, giạc chừng lấy xe mà chở không hết, đó là mười phần chỉ đăng có một thôi.

    Tôi xin nói cùng liệt vị độc giả rằng nếu liệt vị muốn có thơ hay mà xem, muốn cho trên báo khỏi có những bài thơ “con cóc”, sự ấy đừng trông ở ai hết, mà chỉ trông ở chính mình liệt vị. Có một điều là nên bớt làm thơ đi, bớt ngâm vịnh đi thì được. Bởi vì, cái gì ít thì mới có cái hay ; còn nhiều quá thì chắc phải dở.

    Thật là cái đời loạn, nhiều chuyện vô lý quá, sự làm thơ cũng vậy. Cha chết mà làm thơ để khóc cha, thật là chuyện xưa nay chưa hề thấy ! Vô lý như thế mà sao người ta làm được ? Không biết !

    Đại phàm thơ ca, theo từ gốc mà nói, là để phổ vào nhạc. Nhạc, theo từ gốc mà nói, là để làm cho vui. Cha chết có phải là sự vui sao mà lại làm thơ ? Làm thơ mà đề là “Khóc cha”, thật là sự vô nghĩa.

    Nếu nói rằng trong nhạc vẫn có khúc ai bi, thì cũng không được. Vì rằng hễ làm thơ, cho là phổ vào điệu nhạc ai đi nữa, cũng phải trau chuốt từng lời, nặn nọt từng chữ, tôi xin hỏi trong khi khóc đấng thân sanh mình bằng non bằng nước thì làm sao làm được việc ấy ư ? Mình mang giây rơm mũ bạc, tay cầm gậy tre dài, nước mắt lộn nước mũi, rống không ra tiếng mà làm thơ, mà ngâm vịnh, mà lựa từng tiếng trắc tiếng bình(*), mà lo cho khỏi thất niêm xuất vận, thật là chuyện phản thường nghịch lý, từ lúc có lịch sử đến giờ chưa hề thấy !

    Vậy mà ở nước Việt Nam ngày nay, trên tờ báo nọ, có bài thơ Khóc cha, thì còn bảo ăn làm sao nói làm sao bây giờ !

    Việc trái lẽ sờ sờ ra như vậy, mà người ta coi là thường, không ai lấy làm lạ chút nào hết. Ấy chỉ vì trong óc không có lấy một chút luận lý học. Vậy có kẻ bảo cho rằng nên chịu khó dùi mài luận lý học để mà xét lại mọi việc mình nói mình làm hầu cho khỏi sống trong chiêm bao, thì lại rủ nhau kẻ trề người nhún, ôi ! hết chỗ mong rồi !

    Đến cha chết mà cũng làm thơ, thì bảo sao thơ không nhiều ? bảo sao thơ không dở ? Bây giờ muốn có thơ hay, thì duy có một nước là bớt làm đi. Làm thơ không phải như hút thuốc lá mà hòng ai ai cũng hút được. Nó như hút thuốc phiện, nên để cho người nào họ ghiền thì họ hút. Mà dầu cho chính nhà nghề đi nữa, cũng phải đợi khi nào có cảm có hứng thì làm thơ mới hay ; chớ hễ cựa ra là làm, thì cũng thành đồ bỏ.

    Các báo chí ngoài Bắc trong Nam, hầu hết đều có mục văn uyển, mà văn uyển nào cũng vậy đó, chớ nào phải một mình chi Phụ nữ tân văn ? Nếu độc giả trách sao tòa soạn không sửa sang thì toà soạn cũng xin chịu trách nhiệm về chỗ đó, chớ kỳ thiệt có sửa thế nào được ? Thứ vận văn, ai có tình cảm nấy, đặt sao nên để vậy, hễ hay thì là hay, người khác nhúng tay vào thì có đớ đôi chút, song thật là vô vị, vì không có cái chơn tình chơn cảnh ở trong đó rồi.

    Điều thứ hai, hỏi : Chữ Tàu khi truyền sang xứ ta sao lại đọc sai đi ? Cho đến cùng trong nước Tàu, đồng thị một chữ mà sao Quảng Đông đọc khác, Phước Kiến đọc khác . . . ?

    Điều nầy tôi xin chịu là tôi dốt, không biết mà trả lời ; để đợi có ông nào là nhà chuyên môn về âm ngữ học, ông sẽ trả lời cho.

    Về sự đó tôi cũng có chú ý đến một đôi điều rất lạ cho tôi nữa. Là làm sao, có chữ, ta nói thì chung với Tàu mà đọc chữ lại khác đi ?

    Như chữ “đợi mạo” chính người Tàu, Quảng Đông đọc nó là “Tồi mù”, Phước Kiến đọc là “tồi mồi”. Còn ta đây, khi nói nôm, kêu cái vật ấy, cũng kêu là “đồi mồi”, chỉ sai với họ vần T vần Đ mà thôi, còn cũng giống nhau. Thế sao đến lúc đọc chữ lại đọc là “đợi mạo” ? Đọc chữ “đợi mạo” rồi cắt nghĩa “đợi mạo” là “đồi mồi”, thế có phải là lạ không ?

    Như chữ “nha” là răng, là nanh ó, Quảng Đông đọc là “ngà”, coi như “nha tiêm” (tăm xỉa răng) họ đọc là “ngà xiếm” thì đủ biết. Vậy họ đọc là “ngà” thì ta đọc là “nha”. Sao trong chữ “tượng nha” thì ta lại nói nôm là “ngà voi”. Thế thành ra tiếng nôm của ta trở lại trúng với tiếng chữ của họ !

    Tôi nói thêm vài điều mà tôi lấy làm lạ đó cho độc giả chú ý đến rồi hoặc giả có ai tìm ra cái sở dĩ không. Còn chính tôi, tôi bí đã lâu rồi.

    Điều thứ ba, hỏi : Viết quốc ngữ mà khi gặp những chữ Hán xen vào thì biết tra cứu vào đâu cho trúng được ?

    Điều nầy tôi xin nói mau đi, đừng có phô diễn dông dài làm chi. Chính tôi đương làm một bộ Việt Hán thành ngữ từ điển trong đó tôi sẽ giải rõ những chữ Hán nào quen dùng, hoặc có thể dùng làm tiếng ta, bất luận chữ cũ chữ mới, đều thâu thái không sót. Bộ sách ấy mất công phu nhiều lắm, có lẽ nội năm 1931 thì xuất bản được. Vậy chỉ có đợi bộ sách ấy ra đời thì cái vấn đề khó khăn ấy sẽ được giải quyết để lắm.

    PHAN KHÔI

    Trung lập, Sài Gòn, s.6289 (4.11.1930)

    [align=right]Theo lainguyenan.free.fr[/align]
     
  2. khaidântrí

    khaidântrí Administrator

    TRẢ LỜI BÀI ÔNG CHU QUẾ LONG BIỆN LUẬN CÙNG TÔI VỀ VẤN ĐỀ VẬN VĂN ĐÃ ĐĂNG TRONG BÁO PHỔ THÔNG

    Trước kia tôi có đăng một bài trên tờ Trung lập nầy trả lời 3 câu hỏi cho một vị độc giả trong đó câu thứ nhứt, nói về vận văn. Gần đây, báo Phổ thông ở Hà Nội có một bài của ông Chu Quế Long phản đối bài ấy của tôi. Thấy bài ông Chu bình luận theo khuôn phép nên toà soạn Trung lập đã trích đăng vào số 6320 ra ngày 11 Décembre, nơi trang thứ ba, và hứa rằng sẽ có bài của tôi trả lời cho ông ấy.

    Hôm nay, y theo lời hứa, tôi viết mấy lời nầy giãi bày những chỗ ông Chu phản đối tôi mà tôi không đồng ý với ông được. Tuy vậy, tôi phải khai thiệt ra rằng cái cách biện luận của ông Chu như vậy là đúng phép lắm, cho nên tôi rất vui lòng cùng ông biện luận.

    Nguyên trong bài tôi trả lời cho một vị độc giả, tôi có ý nói rằng : “Muốn làm văn vần thì trước phải có học thức cho rộng, kinh nghiệm nhân tình thế cố cho nhiều, nhứt là phải rành nghề ngâm vịnh thì mới hay được”.

    Ông Chu Quế Long bảo tôi nghĩ như vậy là không đúng. Ông không chịu rằng làm văn vần mà lại cần phải có học thức kinh nghiệm và nhứt là cần phải rành nghề. Ông Chu lấy Kinh Thi và bài thơ Đại phong của Hán Cao tổ ra làm chứng. Ông lại còn nói rằng, những người học thức kinh nghiệm nhiều có khi lại không làm vận văn được tức như có nhiều nhà triết học không biết làm thi lại đến nỗi đọc thi không biết hay dở. Rút lại, ông cho rằng thi nhân cần phải có thiên tài, nếu không có thiên tài thì dầu có học thức kinh nghiệm đến đâu cũng không làm được thơ hay.

    Đoạn nầy ông Chu nói nghe có lẽ lắm, nhưng tôi tưởng ông xét chưa đến cùng. Trừ ra một câu ông nói thi nhân cần phải có thiên tài thì thật là đúng lắm tôi không cãi được. Ấy là cái điều kiện đã đành đi rồi, cho nên khi tôi luận về sự làm thi tôi không nói đến. Vì nếu buộc phải có thiên tài mới làm thi nhân, thì được mấy người có thiên tài ? Cho nên tôi phải lấy học vấn kinh nghiệm làm điều kiện.

    Ông Chu nương và Kinh Thi và bài Đại phong ca để lập cái thuyết làm thi không cần học. Lời kháng biện ấy chưa đủ đánh đổ cái chủ trương của tôi, vì ông chưa rõ cái lẽ vận văn theo thời đại mà thay đổi, và ông cũng không nhận kỹ nguyên văn của tôi là chỉ chuyên nói về một lối vận văn mà thôi.

    Số là, vị độc giả ấy hỏi tôi là hỏi riêng về một lối thi Đường luật, ông xem lại cho kỹ, tôi có nêu ra trong đoạn đầu phân minh, vậy thì trong bài trả lời đó tôi cũng chỉ nói về sự làm thi Đường luật. Dầu trong đó tôi có dùng hai chữ “vận văn”, song chẳng qua theo nghĩa hẹp của nó, chỉ riêng về lối thất ngôn Đường luật theo như vị độc giả ấy đã hỏi.

    Vận văn cố hữu của Việt Nam ta chỉ có các lối như là lục bát v.v...; còn lối thi Đường luật là của Tàu mà ta bắt chước, chứ không phải vốn của ta. Phàm là thi ca sẵn có của một dân tộc nào có âm điệu tự nhiên, người ta hay kêu là “thiên lại”, thì người trong dân tộc ấy dầu không hiểu cũng có thể làm được, thậm chí có thể làm mà đến bậc hay được tức như những câu phong dao truyền tụng của ta, phần nhiều bởi miệng trai cày gái cấy mà ra cùng những bài quốc phong trong Kinh Thi mà ông đã nhắm đến đó. Chớ còn như mình đi bắt chước một lối thi ca của dân tộc khác, không phải thứ sẵn có của mình, lại còn thêm cách biệt một tầng là bị thời đại hạn chế nữa, vậy mà bảo rằng không đọc cũng làm được, thì đánh cho chết, tôi cũng không tin.

    Vận văn của một dân tộc theo thời đại mà thay đổi như thế nào ? Và lẽ ấy có quan hệ gì với chuyện chúng ta đương bàn ở đây ? Tôi xin lược giải ra ở dưới. Xin ông Chu và độc giả biết cho rằng điều nầy tôi nhận thấy trước khi có cái chủ trương kia chớ không phải bây giờ gặp ông phản đối mới chạy đi kiếm mánh để đỡ đòn.

    Nhơn vì văn học sử của Tàu có dấu vết phân minh, đem mà nói tiện lắm, nên tôi dẫn đây. Ngang từ nhà Châu bấy giờ ròng là lối thi tứ ngôn (bốn chữ một câu) ; rồi xuống đến nhà Hán, biến ra ngũ ngôn ; xuống đến nhà Đường, biến ra thất ngôn ; mãi đến nhà Nguyên về sau, ngoài lối thi ấy, lại còn thêm một lối “điền từ” nữa. Như vậy đủ biết rằng vận văn của một dân tộc mà cũng không hề nhứt định giữ theo một thể thức, cứ biến thiên hoài. Do sự biến thiên ấy cho nên mới có sự học. Tôi bảo phải “rành nghề” là do cái lẽ ấy.

    Tôi cũng tin như ông rằng : những bài quốc phong trong Kinh Thi có nhiều bài bởi miệng đàn bà con gái hoặc bọn hạ lưu mà ra, nhưng mà hay lắm, từ nhà Hán về sau, có nhiều tay thi nhân cố học làm theo thể thức tứ ngôn ấy mà không hay bằng. Ấy là bởi tại thời đại nó hạn chế, người ở đời nào theo cái âm điệu riêng của đời ấy, - cũng như dân tộc nào theo cái âm điệu riêng của dân tộc ấy, - mà làm ra thi, thì có dễ hơn là người ở thời đại sau mà muốn làm theo lối thi của thời đại xưa. Cũng vậy, như ở Nam kỳ đây bây giờ người ta làm một bài theo điệu “vọng cổ hoài lang” thì chắc là dễ và hay hơn là làm một bài “lục bát” là cái thể vận văn từ đời ông Đồ Chiểu về trước.

    Vì sự biến thiên theo thời đợi cho nên người đời Hán làm thi ngũ ngôn chắc là dễ và hay hơn tứ ngôn, người đời Đường làm thất ngôn chắc là dễ và hay hơn làm ngũ ngôn. Người ở thời đợi nào làm vận văn theo thời đợi của mình thì học giả không cần học ; song hễ bắt chước theo đời xưa thì thế nào cũng nhờ có học mà học cũng vị tất đã hay nữa kia. Huống chi người Việt Nam ta đã bắt chước theo âm điệu của dân tộc Tàu lại còn bắt chước theo âm điệu hồi nhà Đường cách đây hơn ngàn năm nữa, bị cả hai cái, không gian và thời gian hạn chế, thì thế nào cũng phải học mới làm được.

    Tôi xin hỏi ông Chu Quế Long : Một người An Nam dốt đặc, có thể đặt ra một câu hát trên sáu dưới tám, hoặc giả lại còn đặt hay nữa ; song có người An Nam nào cũng dốt đặt như vậy mà đặt được một câu thơ mỗi bên bảy chữ đối nhau không ? Nếu nói chuyện với nhau cho thiệt tình, đừng có cượng từ đoạt lý, thì ông Chu phải trả lời cho tôi rằng : “Không”. Tôi bèn nắm đó mà nói quyết với ông Chu lần nữa rằng : “Muốn làm thi Đường luật thì phải học”. Ấy chẳng những là cái điều kiện tất yếu mà cũng là cái điều kiện sung mãn, trái với lời ông đã nói.

    Tôi bảo phải rành nghề ngâm vịnh, nghĩa là phải học phương pháp làm thi, vì trong đó có nhiều cái bí quyết cần nên biết. Tôi lại bảo phải có học vấn, duyệt lịch nhân tình thế cố cho nhiều, thì thi mới hay ; cái đó theo ý tôi, quả là như vậy. Vì lối thi mà ta hay làm đó xưa nay hầu như đã bị bọn thi nhân họ choán hết cả rồi, cái cảnh nào cũng như là họ đã phô diễn hết, vậy ta cần phải học vấn duyệt lịch cho nhiều ngõ hầu tìm ra được những cái mới, nói những lời họ chưa hề nói, thì mới hay được, mới gọi là thi nhân được.

    Nói cho thật thì chẳng những làm thi Đường luật cần phải học mà thôi, làm thứ vận văn nào cũng cần phải học hết, không học mà cũng làm được cũng làm hay được như lời ông Chu Quế Long đó, như nhà thầy Lưu Bang (Hán Cao tổ) mà làm nổi bài Đại phong ca đó, là sự tình cờ, sự thuộc về số ít, không nên đem ra mà làm chứng để trưởng(*) cái dốt cho những ông hay làm thơ. Huống chi bài Đại phong ca chưa chắc là của Cao tổ làm ra, cũng như bài văn tế tướng sĩ chưa chắc là của ông Nguyễn Văn Thành.

    Tôi nói xã hội ta có cái bịnh ưa xem thơ, ông Chu theo đó mà đề chừng rằng ý tôi cho sự xem thơ là không nên. Nào có phải. Tôi nói “bịnh” đây tức cũng như trong chữ Hán kêu là “tích” nghĩa là cái thói quen làm cho người ta sa mê vậy thôi, chớ tôi không có tỏ ý là nên hay không nên. Kế đó tôi nói : nhà báo phải chìu theo ý phần đông mà đăng thơ ca cho nhiều. Chữ “phải” đó tôi có ý cắt nghĩa cho vị độc giả kia hiểu rằng vì cái bịnh của xã hội đó buộc nhà báo phải làm như vậy, chớ tôi không hề khuyên nhà báo phải làm như vậy. Thế mà ông Chu lại trách tôi rằng nếu vậy thì ra bắt nhà ngôn luận phải theo cái xu hướng của xã hội, bất kỳ phải quấy, sao gọi là nhà ngôn luận chánh đáng được ? Thật quả chỗ nầy ông hiểu sai ý tôi, tôi dùng chữ “phải” như là “indicatif” mà ông lại hiểu ra là “impératif”(*) cho nên ông trách tôi là đáng !

    Tôi nói đó là vì thấy cái hiện tình trong báo giới làm sao thì nói ra làm vậy, mà trong đó có ngụ cái ý than tiếc nữa. Phải chi tôi có quyền chủ trương một tờ báo như họ, thì tôi không làm chi họ, ấy là cái ý kiến của tôi.

    Đến như trong vận văn mà có cái đề “khóc cha” thì dầu cho ông biện hộ thế nào cái đề ấy cũng không có thể thành lập được. Cái đề đã không đứng được thì bài thơ thành ra bài bỏ, không luận được là hay, hay là dở nữa.

    Tôi viện ra hai lẽ : cha chết không phải sự vui đâu mà làm thơ và lúc cha chết tâm thần người con bối rối không thể làm thơ được, để đánh đổ cái đề “khóc cha” đi ; ông cho là đều không đúng cả. Ông nói : Thơ cũng có thơ vui thơ buồn và làm thơ cũng không cần nặn nọt từng chữ.

    Sự làm thơ không cần nặn nọt từng chữ, xuất khẩu thành chương ấy là về số ít, còn thì cổ nhân đã thú thật rằng : “ngâm nên câu năm chữ, bứt đứt một chòm râu” kia mà. Ông không nên đem số ít mà khái luận (généraliser) cả số nhiều. Tuy vậy, cái cớ nầy không quan trọng mấy ; cái đề “khóc cha” không thành lập được là ở cái cớ kia.

    Buồn có năm bảy thế buồn, đau thương có năm bảy thế đau thương. Vợ chết có sự đau thương khác ; con chết có sự đau thương khác ; mẹ chết có sự đau thương khác ; đến cha chết, có sự đau thương khác nữa. Ông nói làm thơ khóc vợ khóc con được, tức là khóc cha được, chỗ đó tôi xin ông xét lại.

    Theo luân lý (morale) ta xưa nay mà cho luân lý nào cũng vậy, cái tình con đối với cha dường như không có thể đem mà nói ra được. Người ta ít hay phô trương ca tụng công ơn của cha cũng như ít hay phô trương ca tụng sự lớn lao của Trời. Xưa có một người làm bài thơ “vịnh trời” mà để lại một trò cười trong làng văn mãi mãi thì bài thơ “khóc cha” đây cũng vậy.

    Nếu cha chết mà làm thơ khóc cha thì trong đó phải kể công ơn của cha đối với mình, phải kể lòng yêu mến đau xót của mình đối với cha, nghe ra nó lố lăng lắm. Trong tiếng Pháp có chữ “ridicule” chính dùng để chỉ những sự lố lăng như vậy. Ông Chu cùng độc giả nghĩ lại mà coi, nếu mình đã nhìn công ơn của cha là lớn hơn hết và sự đau thương của mình là vô hạn thì không nên hình dung ra ; phàm cái gì đã hình dung ra được thì trở thành ra cái tầm thường. Cái đề thơ “khóc cha” không thành lập được, là chính bởi chỗ đó.

    Cái tâm lý ấy có chung hết thảy trong các dân tộc nào mà có văn hóa, vì vậy mà trên lịch sử tôi thấy chưa hề có ai làm thơ khóc cha. Nay có một người làm thơ khóc cha, tức là trái với cái tâm lý ấy, nên tôi cho là phản thường.

    Ông Chu nói : trên lịch sử văn chương các nước, những bài thơ khóc con, khóc vợ, khóc bạn, khóc tổ quốc, khóc thời thế, có được, thì khóc cha sao lại không có được ? Tôi xin ông Chu xét lại câu ông nói đó thì đủ hiểu. Sao ông kể trên lịch sử văn chương các nước có những bài thơ khóc ấy cả đống mà không có bài nào khóc cha ? Trên lịch sử văn chương không có thơ khóc cha, thế thì đủ biết rằng khóc con khóc vợ, thì làm thơ được, thi nhân nào cũng đều có cha, thì thi nhân nào cũng đều có cái tâm lý như đã nói trên kia.

    Ông Chu kể như vậy rồi lại nói rằng : “Tôi cũng công nhận rằng các bài thơ khóc cha ít hơn những bà khóc con khóc bạn”, v.v. Ấy là câu ông nói túng. Thật tôi chưa hề thấy thơ khóc cha lấy một bài nào gọi là có, chớ đừng nói ít.

    Ông Chu lại viện lẽ sau khi cha chết một đôi năm mới làm thơ khóc, rồi đề là “khóc cha” cũng được, chớ không luận là hồi mới chết. Song nếu vậy thì phải đặt cái đề khác. Trong Kinh Thi có những bài như Lục nga là làm khi cha mẹ chết đã lâu rồi. Tôi lại thấy một bậc tiền bối xứ ta đến ngày tiểu tường mẹ - không phải cha, – có bài khấp thuật, chớ từ nhỏ đến lớn đọc thơ đã nhiều, mà chưa hề thấy có cái đề “khóc phụ” hay là “khóc mẫu”.

    Biên giả lại cử hai câu thơ của Alfred de Musset để binh vực cho cái thuyết mình. Nhưng không ăn thua gì đâu. Trên kia đã nói sự đau thương có năm bảy thế, không nên kể sự đau thương (douleur) vì cha chết cũng như sự đau thương khác. Đã đành rằng “Rien ne nous rend si grand qu’une grande douleur” nhưng xưa nay chưa hề nghe ai vì cái “douleur” cha chết mà trở nên một bậc đại thi hào bao giờ !

    Tôi nói cái người đặt bài thơ “khóc cha” và những người thấy bài thơ ấy mà không lấy làm lạ như ông, là do trong óc không có một chút luận lý học (logique) chớ tôi không nói luân lý học (morale). Hễ trong óc có ít nhiều luận lý học (logique) thì thấy sự gì ngược khắc biết liền còn không có thì coi cái gì nó cũng như cái nấy. Ấy là sự hại lắm. Người Việt Nam ta hay bị phỉnh, là tại không có luận lý học, không biết phán đoán. Tôi lâu nay sở dĩ đề xướng cái học ấy lên là vì lẽ đó.

    Ông Chu chắc là người hiếu học, xin ông nghiên cứu luận lý học đi, ắt ông sẽ có sự tấn ích lạ thường. Xin ông đừng như nhiều kẻ khác, vội cười tôi và lấy tôi làm “quái lạ”.

    Đương khi cha chết mà làm thơ khóc cha, - là hai sự trái ngược không dung nhau, luận lý học không cho phép như vậy ; chớ chính trong sách luận lý học không hề dạy rằng con không được làm thơ khóc cha như ông đã hỏi vặn, có ý mỉ(*) tôi.

    Đã vậy tôi lại đem luận lý học ra nói với ông trong việc nầy, bởi vì tôi cho luận lý học có thể đem ứng dụng trong mọi sự.

    Theo luận lý học, khi ông thấy bài trả lời nầy của tôi, nếu ông phục tình thì thôi, bằng ông còn chưa chịu thì duy có kiếm ra lấy ít nhiều bài thơ khóc cha, bất kỳ của tác giả ở nước nào, đem ra làm chứng phân minh, rồi ông nói với tôi rằng : “Đây nầy ! có vô số thơ khóc cha người ta đã làm đây nầy, Phan Khôi đừng nói bậy !” Vậy thì thôi, tôi xin bái phục, không còn chỗ cãi nữa.

    PHAN KHÔI

    Trung lập, Sài Gòn, s.6322 (13.12.1930); s.6329 (22.12.1930)

    -------------------
    (*) trưởng : chưa rõ nghĩa ; phải chăng là trương (bày ra, phô ra) hoặc chường (trình ra) ?

    (*) (mode) indicatif : thức trình bày ; (mode) impératif : thức mệnh lệnh.

    (*) mỉ : có lẽ như mỉa chăng (?).

    [align=right]Theo lainguyenan.free.fr[/align]
     
  3. khaidântrí

    khaidântrí Administrator

    TRẢ LỜI ÔNG CHU QUẾ LONG LẦN CHÓT

    I

    Nhắc lại trước kia tôi có viết một bài trong Trung lập trả lời cho một vị độc giả hỏi về vận văn. Sau đó thấy báo Phổ thông ở Hà Nội có đăng mấy bài phản đối, người viết ký tên là Chu Quế Long. Thấy bài phản đối ấy viết rành rẽ và hiệp phép biện luận nên tôi có trả lời hai bài ở tờ báo nầy vào tháng Décembre 1930.

    Trong bài trả lời của tôi nói phân minh lắm, tôi tưởng như thế là đủ tỏ ra sự xác tín (conviction) của tôi và sự xác tín ấy là hữu lý, bên phản đối không cần phải cải lại. Vì bên phản đối cải lại, đừng nói vô lý làm chi, dầu hữu lý như tôi, thì lại cũng thành ra một cuộc tranh biện không bao giờ rồi, có làm chi ? Chi bằng để tôi nói trắng bên ấy nói đen, treo một cái huyền án chưa giải quyết như những cái thuyết trong triết học phản nhau đại khái như duy vật và duy tâm cũng được !

    Chẳng ngờ ông Chu Quế Long lại biện bác lần nữa. Lần nầy ông viết gấp hai gấp ba lần trước, đăng trên tờ Phổ thông đến 5 – 6 số chi đó (từ số 167 đến số 172, vậy là 6 số, song tôi mất đi một số 171, không biết trong số ấy có bài của ông Chu không, nên tôi nói phân hai như vậy. Mất mà không thể biết được, là tại cách đăng bài của báo Phổ thông không được rành ; những bài tiếp theo chỉ ghi hai chữ “tiếp theo” mà thôi chớ không đánh số riêng từng bài, nên nếu mất một số thì không thể biết được).

    Nhưng bài trả lời lần nầy của ông Chu tuy là dài mà không có lý sự chi cho lắm ; vả lại những cái lẽ ông dùng mà bẻ tôi lại rất mong manh. Cho nên tôi phải nói thiệt với ông rằng lần nầy tôi trả lời không được dõng dược như lần trước. Tôi lại còn xin thưa trước rằng tôi chỉ đáp biện lần nầy nữa mà thôi, dầu sau nầy ông có viết nữa, cũng cho phép tôi không viết lại. Tôi định như vậy, chẳng phải có ý chi, chỉ vì một điều mà tôi đã có xác tín rồi thì dầu nói bao nhiêu lần cũng vậy đó, nói nhiều vô ích.

    Lẽ ra thì Trung lập nên đăng những bài của ông như lần trước rồi sẽ đăng bài đáp biện nầy của tôi tiếp theo, vì có đủ lý sự hai bên thì độc giả mới tiện việc so sánh cho biết phải trái. Song lần nầy chúng tôi không đăng là vì có hai cớ.

    Một là vì bài của ông Chu dài quá, đăng thì choán hết nhiều giấy lắm, không tiện, mà còn gón bớt lại thì e tác giả không bằng lòng.

    Hai là vì trước kia hai bài của tôi trả lời cho ông Chu báo Phổ thông cũng không đăng thì lẽ nào hôm nay chúng tôi lại đăng bài ông Chu vào Trung lập ?

    Những báo đăng những bài luận chiến (polémique) mà đăng cách như vậy, thật không đúng lẽ công bình. Cũng như mấy tháng trước báo Trung Bắc tân văn đăng những bài ông Trần Trọng Kim biện luận cùng tôi mà không đăng bài của tôi, thì thật là vô lý. Nói vậy không phải tôi cần chi Trung Bắc đăng bài của tôi vào báo ấy, song lời biện luận hai bên mà chỉ đăng của một bên thế thì có ích gì cho độc giả đâu ? Làm như vậy như là có ý đi hùa với ông Trần Trọng Kim đem cái thuyết của ông ta mà nhồi sọ độc giả đó thôi. Theo lẽ công bình, đã đăng thì đăng cả hai bên, không đăng thì không đăng cả, chớ còn làm như vậy kém mất cái tánh cách độc lập của một nhà báo. Tôi không phục.

    Thôi xin nói vào đề.

    Trong bài ông Chu có chỉ ra những chữ tôi dùng không được sát nghĩa hoặc sai nghĩa, như “bịnh” và chữ “điều kiện sung mãn”.

    Thật tôi nhừ nhận(*) một đôi khi tôi có dùng sai như vậy ở trong các bài khác nữa cũng có. Ấy là bởi tôi viết hơi nhiều, lắm khi không còn sức nữa mà cũng phải viết ; trong khi đó có chữ không vừa ý mà nghĩ hoài không ra chữ gì để thay thì cũng dùng tạm đi ; khác nào nhà nước đương lúc nhu nhân(**), sai đỡ ông kia ra tổng đốc, không ngờ chính ông ấy vừa tựu lỵ(***) một cái là đã làm cho nhà nước mang tiếng !

    Chữ “điều kiện sung mãn” là chữ trong bài ông Chu chớ không phải của tôi. Khi tôi viết bài trả lời cho ông giá không dùng chữ ấy cũng không hại, song vì ham cái văn thể được mạnh mẽ, khi bác lời của ông mà lôi được nguyên văn của ông vào để vặn ngược lại thì khoái lắm, cho nên lửng đi mà có sự sai lầm.

    Đến như tôi nói “người mình có cái bịnh ưa ngâm thơ”, thì chữ “bịnh” ấy chẳng có lỗi gì. Theo bài trước, cắt nghĩa chữ “bịnh” đó cũng như thói quen chớ không có ý là “nên” hay “không nên”. Ấy là cứ theo văn lý đó mà nói. Song nếu muốn cho sự ưa ngâm thơ là cái bịnh thiệt, thì cũng là đúng nữa. Bởi vì ngâm thơ vốn không phải là cái bịnh, nhưng thơ dở mà hay ngâm thì kêu là cái bịnh cũng phải, và cũng đáng cho là sự không nên nữa. Sách Dinh hoàn chí lược của Tàu xuất bản trước đây sáu bảy mươi năm, về nước ta cũng có nói rằng “Kỳ sĩ phu đa háo ngâm vịnh, tuy liệt bất thành cú, diệc háo vi chi !”. Hay làm thơ mà bị người ta chê cười như vậy đó, há chẳng đáng cho là cái bịnh hay sao ? Há chẳng đáng chừa đi hay sao ?

    Đây sắp xuống, tôi chỉ duy trì mấy cái thuyết tôi đã chủ trương mà thôi.

    Tôi nói : Vận văn phải học mới làm hay được. Ông cãi rằng vận văn không học cũng làm hay được ; và ông lấy phong dao của ta và Kinh Thi của Tàu ra làm chứng. Trong bài trả lời của tôi, tôi truy nguyên từ đầu, nói vị độc giả hỏi tôi đó là hỏi về thi Đường luật, cho nên tôi nói “vận văn” đó là chỉ riêng về thi Đường luật. Ấy là tôi theo sự thiệt nhắc lại mà nghe chớ không phải kiếm đường trớ vỉa(*) chi. Kế đó tôi vẫn giữ y cái thuyết hồi đầu mà nói rằng : “Nói cho thật thì chẳng những làm thi Đường luật cần phải học mà thôi, làm thứ vận văn nào cũng cần phải học hết. Không học mà làm được là sự tình cờ, sự thuộc về số ít, không đem mà khái luận cả được”.

    Thế mà ông Chu cũng vẫn không chịu. Không chịu mặc ông, chớ tôi vẫn tin lời của tôi, vì tôi đem cái thuyết ấy nghiệm ra sự thiệt thì đúng lắm. Nói như ông Chu thì sao hiện thời đây bọn vô học không ai làm ra được bài thơ bài ca nào truyền tụng, - có thì cũng lại là sự tình cờ, sự thuộc về số ít, - mà ở Bắc kỳ gần nay, Trần Tuấn Khải và Nguyễn Khắc Hiếu được nổi tiếng về vận văn ? Nội một lẽ đó đủ làm lời kết luận rất vững cho cái thuyết của tôi rằng : Làm vận văn cần phải học, có thiên tài mà không học, cũng thành ra đồ bỏ.

    Chẳng phải nói khoe, tôi cũng là một tay vận văn chẳng chịu kém người đương thời, tôi sống trong đó một khoảng thời gian mười mấy năm, tôi nói với ông là lấy sự kinh nghiệm ra mà nói. Năm sáu năm nay tôi có ý bỏ hẳn vận văn đi, là vì thấy mà chán quá ; hiện nay tôi muốn nhờ sự học vấn lịch duyệt ít lâu rồi trở vào mà mở ra một con đường khác ; chưa biết cái chí nguyện ấy có thành được không ? Cái chủ trương của tôi như thế, thì thật không có thể nào phục được lời ông Chu vậy.

    Đến cái đề thơ “khóc cha” tôi bảo là không đứng được, trước sau tôi có viện ra nhiều cớ. Vì từ đầu hết tôi nói rằng : Sự cha chết làm thơ mà khóc là sự phản thường xưa nay chưa hề thấy. Mấy lời ấy ông Chu không chịu. Khi trả lời bài ông, tôi mới buộc ông một điều nơi đoạn kết luận mà xin ông cử trong lịch sử văn chương cho tôi được ít nhiều bài thơ “khóc cha”. Nếu ông tìm được thì tôi không cãi nữa.

    Nhưng hôm nay quả ông Chu không tìm ra được thứ thi từ trái ngược ấy. Ông tìm ra cho tôi được mấy bài “À mon père” là thơ sau khi cha chết đã lâu rồi mới làm, không tiêu đề là “khóc cha” được. Những bài ấy sao mà biết được làm ra sau khi cha chết đã lâu ? Vì xem lời lẽ trong bài thì biết được ; huống chi xem cái đề “À mon père” thì cũng đã rõ ràng lắm.

    Sau khi cha chết đã lâu rồi thì cái lòng ai bi của mình làm con có phai lạt bớt đi, bấy giờ nhớ đến tình cha con, có thể dùng vận văn mà tỏ tình ra được. Điều đó, trong bài trước tôi vẫn chịu là có thể, tôi đã cử ra những bài như bài Lục nga trong Kinh Thi. Song le, nếu đã vậy, nghĩa là bài thơ làm ra sau khi cha chết đã lâu rồi, thì sao gọi được là “khóc cha” ?

    “Khóc cha”, nghĩa là đương lúc cha chết mà người làm thơ để khóc, như vậy mới tiêu đề là “Khóc cha” được. Chớ còn cái nầy, cha chết đã lâu mới làm thơ tỏ tình tư mộ cha, thì có gọi được là “khóc cha” đâu. Vì chữ “khóc” ăn với sự chết, trong lúc chết mới có “khóc”, chết đã lâu rồi thì còn khóc gì nữa ? Vậy mà ông Chu nhận cho những bài “À mon père” ấy là thơ “khóc cha”, như vậy chẳng qua là ông nhận liều.

    Chẳng những thế thôi, ông còn nhận liều chỗ khác nữa, là những thơ ca tụng Đức Chúa Trời ca tụng Thượng Đế mà ông nhận cho là thơ “vịnh trời”.

    Nguyên tôi nói : “Người ta ít hay phô trương ca tụng công ơn của cha cũng như ít hay phô trương ca tụng sự lớn lao của trời”. Chữ “trời” ấy đáng lẽ không viết hoa, song nhà in đã in lầm chữ hoa. Tuy vậy, dưới đó có chữ “vịnh trời” thì chữ “trời” vẫn không hoa. Vậy thì “trời” đó là ciel chớ không phải là Dieu ; nếu Dieu thì phải nói là Thượng Đế, là Đức Chúa Trời hay là ông Trời. Vậy mà ông Chu đã xách ra những thơ ca tụng Thượng Đế, thậm chí xách đến trong Kinh Thánh ra để hỏi ngặt tôi, thì thật là vô vị quá ! Cái bài của ông mà được dài đến mười mấy cột báo, đại khái là nhờ nhiều những cái vô vị ấy.

    Những bài thơ sau khi cha chết mới làm thì tôi vẫn cho là đứng được, song tôi nói phải lập cái đề khác kia, chớ không để được cái đề là “khóc cha”. Tôi nói phân minh như thế, mà ông còn vịn lấy đó, cáo rằng tôi trước phản đối cái đề khóc cha, sau cũng thuận nhận sự khóc cha, như thế có phải là ông suất lược quá không ? Tôi nói ông suất lược(*), chớ không nói ông hồ đồ.

    Ông vịn lấy cớ ấy rồi lại nói tôi lập luận trước sau tương phản bỏ rớt mất luận lý học thì thật là kỳ quá, như tuồng hai người nói với nhau giữa thinh không, chẳng có ai làm chứng hết, giấy trắng mực đen ông cũng không kể.

    Tông chi, cho đến bây giờ tôi cũng còn cho cái đề thơ “khóc cha” là không thành lập được, vì những cớ tôi đã nói trước rồi mà thứ nhứt là vì từ xưa đến nay chưa hề có ai làm thứ thơ ấy nên tôi gọi là phản thường. Nếu trong lịch sử văn chương quả có một bài thơ khóc cha, – nghĩa là trong khi cha chết làm thơ mà khóc – thì tôi mới chịu nhìn lời ông Chu là có thể tin được. Ngặt vì những bài ông dẫn ra đó là thơ làm sau khi cha chết, cũng như bài Lục nga nên tôi vẫn còn cho cái thuyết của tôi là phải.

    Nói đến luận lý học, ông Chu bảo rằng hiện nay người ta chỉ học về phần “phương pháp” của nó mà thôi, còn không học về phần “hình thức”. Sự đó quả thật như vậy. Duy có ở nước Tàu, từ trung đẳng học hiệu trở lên là học kiêm luôn hai phía.

    Muốn nói là vô dụng thì phần hình thức của luận lý học cũng gần như vô dụng thật. Song le theo tôi thì những người nếu tự phụ là nhà học giả, muốn trứ thuật để đời, muốn lập ngôn để mà phù dực cho chơn lý thì không những về phương pháp mà về hình thức cũng phải học luôn.

    Đây rồi có dịp tôi sẽ nói nhiều về vấn đề nầy. Chỗ nầy tôi xin nói lược qua mà thôi. Học thuật mà thạnh hay suy là do ở luận lý học thạnh hay suy. Ở bên Tàu đời Chiến Quốc cũng có cái học ấy kêu là “danh học”. Hồi đó danh học bên Tàu thạnh lắm, mỗi một học phái đều lấy danh học làm trụ cốt cho cái học thuyết của mình, cho nên phái nào cũng đứng vững được, mà trong học thuật sử nước Tàu hai ngàn năm nay phải nhìn cho hồi đó là thạnh hơn hết.

    Chẳng biết vì sao từ đó rồi danh học càng ngày càng lu lờ đi, về sau không ai phát huy nữa cho tới bây giờ thành ra sự học ở nước Tàu trở không kịp đời xưa. Ngày nay họ biết rõ đến cái nguồn gốc ấy, cho nên họ trở lại sùng thượng luận lý học hơn các nước. Ấy cũng là cái phương thuốc cứu thời mà thôi vậy.

    Người nước mình xưa nay lại gần như không có cái học chi hết, ít có ai tiềm tâm mà nghiên cứu nghĩa lý như người các nước hay người Tàu. Bắt đầu từ đây, thấy nhiều người có cái khuynh hướng về sự học nghĩa lý, tôi tưởng không gì tốt bằng đem luận lý học ra làm căn cơ. Ấy, cái bổn ý của tôi là thế.

    Vả lại người mình lại hay thiên trọng về cảm tình, tôi thấy nhiều việc đáng lấy lý mà nói nhưng người ta cũng cứ tình mà thôi. Ở đời nay như vậy là không tiện. Lại còn người mình lại kém cái óc phán đoán (esprit de critique), theo thời đợi nầy cũng là một điều không hay. Vì những hiện trạng ấy, tôi mong rằng đề xướng luận lý học lên thì có nhiều phần bổ ích.

    Thật ra thì tôi không bảo luận lý học giải quyết được mọi vấn đề. Nhưng tôi tưởng nên làm cho nó ngầm ngấm trong óc mọi người như ở giữa xã hội Âu châu, thì hay lắm.

    Còn như ông, nếu ông nghiên cứu luôn phần hình thức luận lý học nữa thì càng ích lợi cho ông, chớ vô dụng là lẽ gì ? Nếu ông hiểu nhiều về phần hình thức thì chắc là trong bài của ông biện luận cùng tôi lần thứ hai đó đã bớt đi được nhiều chỗ tỳ lụy. Như chỗ ông bảo tôi không biết tâm lý học, và những chỗ khác mà tôi không kể ra đây làm chi, đều là phạm cấm kia của hình thức luận lý học cả. Có điều đã không thích, thì thôi nói làm chi !(*)

    PHAN KHÔI

    Trung lập, Sài Gòn, s.6382 (4.3.1931); s.6383 (5.3.1931)

    -------------------------------
    (*) nhừ nhận : phải chăng là “nhìn nhận” (như “thừa nhận”), báo in lầm ?

    (**) nhu nhân (chữ “nhu” trong “nhu cầu”) : cần người.

    (***) tựu lỵ : đến chỗ làm quan nhận chức vụ.

    (*) trớ vỉa : chưa thật rõ nghĩa, có lẽ ý nói tránh đi, làm chệch đi (“trớ” : tránh, lảng / theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, sđd./ ; “vỉa” trong “cọ vỉa” : dựa kề, đả động, ở gần / theo H.T.Paulus Của, sđd.).

    (*) suất lược : sơ sài qua loa (theo Đào Duy Anh, sđd.).

    (*) Lưu ý : bài Phan Khôi viết và đăng báo năm 1931, tôi đưa vào sưu tập này như một ngoại lệ, vì gắn với một việc thảo luận từ 1930 (LNA).

    [align=right]Theo lainguyenan.free.fr[/align]
     
  4. haitrieu10

    haitrieu10 New Member

    Trò chơi bắn súng quyến rũ với tình thần đồng đội cao, tải game tập kích miễn phí về điện thoại cảm ứng android và iphone ios. Phiên bản mobie hoàng tránh về đồ họa 3d đẹp mắt, âm thanh sống động. Trong game đánh úp được chia làm hai phe đối lập cướp và cảnh sát, cuộc chiến không nhân nhượng, tạo cho người chơi cảm giác gay cấn đến nghẹ thở. Đa dạng địa hình khác nhau với kho khí giới tối tân lối đánh chiến thuật, vơ tạo nên một đánh úp 3d đầy sức hấp dẫn. Nếu là người mê say game bắn súng thì bạn còn lừng chừng gì nữa, mau tải đột kích miễn phí về máy ngay nào. Tải game đánh úp miễn phí Nhân vật và quang cảnh được tạo hình 3d rất thật, quang cảnh chiến trường nảy lữa với tiếng súng đạn khắp nơi. Game thủ phải là người tĩnh tâm, làm chủ được mọi cảnh huống kể cả hiểm

    Game thủ phải là người bình tĩnh, làm chủ được mọi cảnh huống kể cả nguy hiểm. Trong game đánh úp thắng lợi luôn dành cho phe biết ứng dụng chiến thuật đồng đội, khôn khéo trong việc lừa kẻ địch. Yêu cầu căn bản nhất là bạn phải biết điều khiển nhân vật, ngắm đích trong đột kích cf thật xác thực, không là người bỏ mạng không ai khác, chính là bạn. chiến trận là vậy mà tải game đột kích 3d hay nhất và làm chủ cấy súng của mình nhé. Hình ảnh Game Đột Kích Android Hack Full Khu vũ khí và vật dụng trang bị đa dạng có độ sát thương khác nhau. Mỗi loại súng đều có điểm yếu điểm mạnh riêng, người chơi mặc sức chọn lọc. Những qua bom rất cấp thiết khi bị phong bế, hãy nhớ trang bị chúng khi nhập cuộc đột kích cf để thoát khỏi vòng vây, lẫy tình thế. Hãy trở thành người dẫn đường, đưa ra chính sách chuẩn xác cho các đồng đội để giành thắng lợi. Tải game tập kích hành động nhanh gọn, tiêu diệt kẻ địch trong thời kì ngắn nhất

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    Link : http://www.taigame4vn.com/2016/02/game-dot-kich-cf-mobile-android-hack-full.html
     
  5. anhtacocanh68

    anhtacocanh68 New Member

    Học bằng lái xe ô tô.

    [​IMG]Source: taplai.com Học lái xe dầu tô bao lăm tiền? được hiểu sâu hơn vì sao lại giàu tin cậy đồn đãi học uổng đương tăng cao? tin tức đồn đại tốt tấm đầu trường đoản cú đâu? hồi nè mới chính thức đỡ của học phí tổn học cọ tài xế dù tô B2? hẵng cùng chúng mình trên dưới hiểu tinh thiệt hỏng chuyện học hoài lái xe năm 2021 tăng đến 30 triệu nhớ!Vậy học kì cọ tài xế dẫu tô bao lăm tiền? phanh hiểu rặt thật hỏng lôi cuốn đề trên, nhỉ đồng chúng trui theo dõi bài viết lách hôm nay nhai. trong suốt bài bác viết nào là, sẽ quách giải đáp cạc vấn đề pa rất giàu người quan tâm giờ phăng học chi phí học lái xe dù tô.







    Học bằng lái xe ô tô.

    [​IMG]Source: truonghoclaixeb2.com Đây là khóa học văn bằng tài xế dẫu tô hệ bình thường dành cho học viên có chửa gấp rút phứt thời kì học năng muốn trãi nghiệm có hơn béng khóa học thì lắm thể đăng tải ký khóa học nào là. thứ học chi phí mềm mỏng giúp bạn tiện tặn đặt một khoản chi hoài.châu uổng HỌC phẳng lái xe ô dù TÔ ngữ B2Gói căn bản: Học phí 5.500.000 VNĐ. Bao gồm châu hoài thi, châu lệ phí đánh kì cọ, 12 hiện nay học lý học thuyết, vội vàng giỏi liệu và phần mềm dẻo miễn uổng.Gói 1: Học phí tổn 7.000.000 VNĐ. Học lái xe Lanos SX, nhiều 10 hiện thực hiện gồm: 8 bây chừ học tài xế đàng trường học và sớt ảnh thô kệch, 2 bây giờ rớt ảnh cảm tương ứng trị ví 800.000 VNĐ và 12 hiện học lý triết lí.







    Học bằng lái xe ô tô.

    [​IMG]Source: daylaiotohcm.com tuần tra lái xe B2 là gì?cạ lái xe B2 là đơn loại giấy phép thuật lái xe dùng tặng lái xe không trung chuyên, điều khiển xe tê giới ập lịch loại dưới 9 chỗ ngồi, lắm hạn vận 10 năm. tày lái xe B2 đặt nhà nước quy toan mở rộng tự cọ lái B1. B1 là giấy phép tài xế 4 bánh dến 9 chỗ ngồi thẳng tài xế, và xe tải dưới 3500kg đừng kinh doanh, lắm thời hạn 5 năm. Còn kì lái xe B2 nhiều hạn là 10 năm (mười năm). Học hòn hoàn trả rõ giàu thể học tài xế và thi cử thẳng tắp giấy phép lái xe B2 mà lại chớ cần phải đua sang trọng phẳng lái xe B1.
     

Share This Page