Thuật nói chuyện

Discussion in 'Ebook' started by CóVayCóTrả, Apr 24, 2014.

  1. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 21

    Tâm lý học cho chúng ta thấy, trạng thái chuẩn bị của con người do những hoạt động tâm lý nhất định hình thành đã quyết định đến xu thế hoạt động tâm lý sau này, đây chính là định thế tâm lý. Cũng chính vì trạng thái tâm lý này có tính lan truyền nên người thông minh có thể vận dụng triệt để nó nhằm được mục đích nói chuyện của mình.

    Mục đích của việc vận dụng định thế tâm lý chính là cần phải tạo ra bầu không khí nói chuyện mà hai bên đều có tâm lý tương đồng, chỉ khi nào làm cho tâm lý đối phương trở nên tương đồng với tâm lý của bạn trước, thì đối phương mới vui vẻ lắng nghe bạn nói chuyện, và như vậy bạn mới có thể đạt được mục đích cuộc nói chuyện. Phải khiến cho đối phương từng bước tiếp cận với quan điểm của bạn, điều này yêu cầu nội dung cuộc nói chuyện của bạn không vượt qua mức độ mà tâm lý đối phương có thể chấp nhận. Nếu như bỗng vượt qua mức độ tiếp nhận của tâm lý thì sẽ tạo ra ở đối phương tâm lý đối nghịch, khi đó có thể gây ra sự thất bại trong cuộc trò chuyện. Có thể thấy biết vận dụng định thế tâm lý trong khi nói chuyện có tác dụng quan trọng biết chừng nào.

    Xúc Long khéo khuyên Triệu thái hậu

    Xúc Long là một đại thần nước Triệu thời Chiến Quốc. Ông có tài ăn nói, rất biết cách thuyết phục đối phương từ định thế tâm lý của họ, việc Xúc Long thuyết phục Triệu thái hậu chính là một minh chứng điển hình.

    Năm 266 trước công nguyên, sau khi Triệu Huệ Văn Vương chết, Triệu Hiếu Thành Vương lên kế ngôi vua, vì Triệu Hiếu Thành Vương tuổi còn nhỏ, nên mẹ của ông là Uy hậu làm nhiếp chính, thay ông xử lý toàn bộ những việc chính trị trong và ngoài triều đình.

    Lúc đó nước Triệu ngày một suy tàn, mà nước Tần ở phía Tây thì ngày một hùng mạnh. Vì vậy, nước Tần nhân cơ hội nước Triệu vừa lập vua mới, đã tấn công ồ ạt vào nước triệu. Uy hậu thấy tình thế nguy cấp liền xin nước Tề ở phía đông cứu viện.

    Nước Tề đồng ý xuất binh cứu viện nhưng yêu cầu nước Triệu phải giao nộp đứa con trai nhỏ của Uy hậu là Trường An Quân sang nước Tề làm con tin, nếu không sẽ không cho viện binh đến.

    Khi Uy hậu vừa mới nghe điều kiện mà nước Tề đưa ra, liền từ chối ngay lập tức, các đại thần thấy tình thế nguy cấp như ngàn cân treo sợi tóc, liên tục đến can gián Uy hậu, nhưng Uy hậu vẫn không nghe. Hơn nữa, việc các lại thần ra sức khuyên can đã khiến cho Uy Hậu tức giận, Bà nói: “Nếu kẻ nào còn nói là đưa Trường An Quân đi làm con tin, ta sẽ nhổ vào mặt kẻ đó“.

    Trong ranh giới giữa sống và chết của nước Triệu, muốn giành được một con đường sống, để nước Triệu thoát khỏi tình cảnh khó khăn này, chỉ còn một sự lựa chọn, đó là phải thuyết phục Triệu thái hậu đáp ứng điều kiện con tin mà nước Tề đưa ra, nhưng lúc này Uy hậu hoàn toàn bị cùng quẫn bởi tình thương con mù quáng, bà không thể nhận định được bằng lý trí tình cảnh mà nước Triệu đang phải đối mặt. Vào thời khắc quan trọng này, Xúc Long đã đến gặp Triệu thái hậu.

    Xúc Long hiểu rõ cõi lòng của Uy hậu lúc này, nỗi lo thù trong giặc ngoài luôn khiến Uy hậu bực bội, lúc này mà trực tiếp đến bàn về vấn đề con tin với bà, chắc chắn sẽ đổ thêm dầu vào lửa. Vậy làm thế nào đây? Biện pháp duy nhất chính là phải thay đổi tâm lý giận dữ hiện nay của bà trước, sau đó khuyên bà cũng không muộn. Sau khi tìm ra cách, Xúc Long làm ra vẻ chẳng có chuyện gì, chậm rãi bước vào, gặp thái hậu, nói: “Thái hậu, vì chân của thần bị đau, đi lại khó khăn nên đã lâu không đến thỉnh an thái hậu xin thái hậu tha tội, vì thần luôn bận tâm đến tình hình sức khoẻ của người do vậy hôm nay cố đến để bái kiến thái hậu...“

    “Ta xưa nay đi đâu cũng đi xe, đi kiệu“ Thái hậu nói.

    Thấy Uy hậu đáp lời, Xúc Long trong lòng rất mừng hỏi tiếp: “Thế còn chuyện ăn uống của Người thì sao?“

    Uy hậu trả lời: “Gần đây ta hay ăn cháo, khả năng tiêu hoá đã kém rồi“.

    Xúc Long liền bắt ngay đầu mối câu chuyện: “Dạo này thần cũng thấy chán ăn, vì thế, để làm tăng cảm giác thèm ăn, ngày nào thần cũng sắp xếp thời gian ra ngoài đi dạo, làm như vậy sẽ giúp cho cơ thể khoẻ mạnh.“

    “Ta đâu thể giống như ngươi được...“ Thái hậu thở dài, vẻ mặt trở nên hiền dịu, chứ không còn vẻ tức giận như trước nữa.

    Sau một hồi hàn huyên những chuyện không đâu vào đâu chẳng có gì là quan trọng đó. Xúc Long thấy vẻ mặt của thái hậu đã dịu lại, ông liền đưa ra một lời thỉnh cầu mà thái hậu có thể chấp nhận được.

    “Thần có một đứa con trai nhỏ tên là Thu Kì, dù đã mười lăm tuổi, song không hiểu việc đời, bướng bỉnh càn quấy, sợ sẽ chẳng làm nên công trạng gì, thần quả thực rất lo cho tương lai của nó. Thần nay tuổi đã cao rồi nhưng trong lòng luôn canh cánh nỗi buồn phiền này. Thần cầu xin thái hậu, khi thần vẫn còn khoẻ mạnh, mong thái hậu hãy ban cho nó một chức vệ sĩ cung đình. Được như vậy thì ước nguyện cả đời thần cũng đã được thực hiện rồi”.

    “Xem ra, người làm cha cũng biết thương xót đứa con trai của mình “, thái hậu nghe xong xúc động nói.

    “Đúng vậy, theo hạ thần, có khi người cha còn thương con nhiều hơn người mẹ“ Xúc Long thừa cơ hội đó cũng than thở.

    “ Ngươi nói sai rồi, chỉ người mẹ mới có thể đặc biệt thương yêu con cái ngươi là đàn ông, không thể hiểu được tình cảm đặc biệt này của người mẹ“ Uy hậu cười phản đối.

    Xúc Long không để mất cơ hội tiếp ngay lời của thái hậu: “Có lẽ qua những gì người đã nói, thần cảm thấy người con thái hậu yêu quý nhất là chị gái của Trường An Quân“.

    “Không phải vậy, thực ra đứa mà ta yêu quý nhất chính là Trường An Quân“ Uy hậu khẳng định.

    Xúc Long nói tiếp: “Cần phải suy nghĩ đến tương lai của con cái, đây chính là sự thể hiện của tình thương con. Thần còn nhớ khi chị của Trường An Quân phải đi lấy chồng ở tận nước Yên năm đó, người không nỡ để nó rời xa người nên khóc lóc rất đau lòng, nhưng vì tương lai hạnh phúc của nó, người đã quyết định gửi nó đến nước Yên, về sau vẫn thường thấp thỏm lo lắng cho sự an nguy của nó, còn mong mỏi cho con cháu của nó có thể thăng quan tiến chức, kế thừa ngôi vua“.

    “Đúng vậy, đúng là ta đã mong như vậy“ Uy hậu nói.

    Xúc Long thấy thời cơ đã đến, liền tranh thủ nói: “Thường ngày mọi người hay nói, cái hoạ gần thì liên luỵ đến bản thân, còn những mối hoạ xa thậm chí còn khiến con cháu gặp cảnh tai ương, con cháu trong hoàng tộc không phải là những kẻ không có tài. Thế nhưng, bọn họ chưa lập nên công tích gì đã cho làm quan to, chưa có một chút công lao gì đối với đất nước mà đã có bổng lộc rất cao, kết quả cuối cùng mà thần thấy là đã hại đến chính bản thân họ. Cũng giống như hiện nay, người đã ban cho Trường An Quân địa vị cao như vậy mà đất đai rộng lớn như vậy, nhưng có được những thứ đó rồi, thì cơ hội để nó lập công sẽ không còn thôi thúc nó nữa, giả sử sau này người có chuyện gì thì làm sao nó có thể khiến người ta phục được. Địa vị của nó làm sao có thể được bền vững đây? Vì vậy thần cho rằng, đứa con mà người thương yêu nhất chính là chị của Trường An Quân chứ không phải là Trường An Quân. Xin thứ lỗi cho thần nói thẳng, chính vì người vốn không lo nghĩ cho tương lai của Trường An Quân nên đã không suy tính chuyện này“.

    Nghe xong lời nói hợp tình hợp lý của Xúc Long, cuối cùng Uy hậu đã đồng ý đưa Trường An Quân đến nước Tề làm con tin. Vì vậy nước Tề đã đồng ý xuất binh cứu viện và do đó nước Triệu cũng được giải cứu.

    Sự khéo léo sâu xa trong lời nói mà Xúc Long thuyết phục Triệu thái hậu chính là sự vận dụng một cách khéo léo định thế tâm lý của bà: Triệu thái hậu yêu quý Trường An Quân. Triệu thái hậu cho rằng phải đưa Trường An Quân sang nước Tề làm con tin sẽ khiến cho cậu Trường nhỏ tuổi này phải chịu vất vả“. Vì thế bà luôn giận dữ với những kẻ khuyên can kia, còn Xúc Long ngay từ đầu đã tìm cách làm dịu sự phẫn nộ của bà, sau đó bàn luận với bà một cách khéo léo về việc “như thế nào mới là tình yêu thương con đúng đắn“ đây là vấn đề phù hợp với tâm lý Triệu thái hậu, đồng thời tiến hành phân tích về sự khác biệt giữa tình thương của bà đối với hai chị em Trường An Quân, từ đó khiến Triệu thái hậu phải thấy rằng nếu không đưa Trường An Quân sang nước Triệu làm con tin thì không phải là đã thương Trường An Quân một cách thực sự. Do đó liền thay đổi ý định đồng ý đưa Trường An Quân sang nước Tề làm con tin.

    Định thế tâm lý có rất nhiều loại, tâm lý đối nghịch cũng là một loại trong số đó. Cái gọi là tâm lý đối nghịch chính là phản ứng trái ngược với trạng thái bình thường của con người đối với sự vật kích thích trực tiếp. Trong các mối quan hệ giao tiếp, nó được biểu hiện là “bạn muốn anh ta hướng về phía Đông, anh ta lại muốn hướng về phía Tây“. Bạn muốn nói lí lẽ từ một mặt tích cực, anh ta lại lý giải từ mặt tiêu cực. Định thế tâm lí này đã cản trở mọi người khống chế một cách hữu hiệu hành vi của anh ta.

    Thực ra, cách đối phó với tâm lí đối nghịch này rất đơn giản, bạn có thể lợi dụng tư tưởng độc lập này của đối phương, nói ngược lại, điều này hoàn toàn không khó để đạt tới mục đích của bạn. Cũng có thể nói là bạn vốn ý là muốn “hướng về phía Đông“, nhưng bạn lại cố ý nói “hướng về phía Tây“, anh ta hẳn sẽ nói ngược lại là “hướng về Đông“, như vậy, bạn sẽ đạt được mục đích nói chuyện của mình một cách rất dễ dàng.

    Dương Am khéo nói mà được toại nguyện

    Dưới triều Minh, ở vùng Tứ Xuyên có một người tên là Dương Am, học rộng tài cao, ngay thẳng, luôn cương trực, không a dua nịnh nọt. Sau khi đỗ Trạng Nguyên, ra làm quan vì ông chấp hành pháp luật quá nghiêm nên đắc tội với không ít người. Sau này, vì nhiều lần dâng sớ khuyên can thẳng thắn đã khiến nhà vua vô cùng phẫn nộ. Hoàng đế chuẩn bị trị tội Dương Am, điều ông đi đến vùng xa xôi hẻo lánh. Một số kẻ mà Dương Am làm cho phật lòng đã nhân cơ hội này giậu đổ bìm leo, kéo nhau tới tấp đến xin nhà vua đem Dương Am xung quân đến Ngọc Môn Quan.

    Dương Am biết nhà vua cũng có ý muốn ông đến Ngọc Môn Quan, thế là trong lần cuối cùng được yết kiến nhà vua, Dương Am nói với nhà vua “Thần tội đáng muôn chết, hoàng thượng điều thần đi xung quân, đây chính là sự khoan dung đối với di thần. Nhưng lần cuối cùng, thần có một thỉnh cầu nhỏ đối với hoàng thượng“.

    “Ngươi có thỉnh cầu gì?“ Nhà vua hỏi.

    “Thà đi ba nghìn dặm ở vùng quan ngoại chứ không đến Bích kê quan ở Vân Nam. Có lẽ hoàng thượng không biết, ở vùng Bích kê quan muỗi có đến vô số loài bọ chó, ruồi vàng, đỉa thì nhiều vô kể, xin người chớ điều thần xung quân đến đó.“

    Hoàng thượng không biết nên nói thế nào, liền phẩy tay cho Dương Am lui ra. Trong lòng nghĩ để xem nhà ngươi còn dám ăn nói hùng hồn như trong tấu chương nữa không? Hừm, ngươi không muốn đến Bích kê quan, nhưng ta cứ muốn ngươi đến, cho ngươi được nếm mùi vị của ruồi muỗi bọ chó, đỉa vắt. Dương Am vừa ra khỏi cửa, nhà vua liền truyền thánh chỉ điều ông ta đến xung quân ở Bích kê quan tại Vân Nam.

    Dương Am biết nhà vua không thể tha tội cho mình, việc mình bị điều đi xung quân là không thể tránh khỏi, ông cũng biết hoàng thượng có thành kiến với mình, bao nhiêu lời khuyên can thẳng thắn của mình nhà vua đều không nghe, thà rằng lần này mình hãy nói một nơi ngược lại, nhà vua không nghe lời thỉnh cầu của mình thì đó chẳng phải là đã hoàn thành tâm nguyện được trở về quê nhà của mình đó sao. Quả là đánh bừa mà trúng, thoả được ý nguyện của mình, được điều đến xung quân ở quê nhà là Bích kê quan.

    Con người nếu có tâm lý đối nghịch, đặc biệt là khi đã có thành kiến với một người khác thì sẽ rất khó thay đổi được cách nhìn của mình. Tâm lý này nếu đã trở thành một loại định thế tâm lý cố định thì khó tránh khỏi bị người khác lợi dụng. Xin mời quý vị xem những ví dụ có thực sau đây.

    Vương ấp Đường khéo dụ Chương Thái Viêm

    Viên Thế Khải thi hành chính sách chính trị độc tài, khiến cho nhiều người bất mãn. Phó chủ tịch thường trực Đảng Cộng hoà lúc đó là Chương Thái Viêm ở Thượng Hải thường xuyên đăng các bài có nội dung đi ngược lại chủ trương của Viên Thế Khải. Viên Thế Khải vừa sợ, vừa căm hận, luôn muốn bắt ông ta giam vào trong ngục.

    Thế là Viên Thế Khải mua chuộc người của Đảng Cộng hoà, lấy cớ là công tác Đảng của đảng Cộng hoà không có ai đứng đầu để lừa Chương Thái Viêm đến Bắc Kinh. Chương Thái Viêm vừa đến Bắc Kinh liền bị Viên Thế Khải cho người đi theo dõi. Mọi quyền tự do của Chương Thái Viêm như ý kiến ngôn luận, trao đổi thư từ đều bị hạn chế nghiêm ngặt. Chương Thái Viêm tức giận vô cùng, nhưng cho dù ông có tức giận thế nào chăng nữa cũng chẳng ích gì.

    Kể từ khi Chương Thái Viêm bị giám sát, Viên Thế Khải luôn dặn dò bọn thuộc hạ: “Phải đối xử đặc biệt, không được thất lễ, song không được cho phép ông ta rời đi dù chỉ một bước“. Chương Thái Viêm cũng chẳng biết làm thế nào, liền tuyên bố tuyệt thực.

    Chương Thái Viêm tuyệt thực được mấy ngày, Viên Thế Khải sợ sự việc ầm ĩ lên, không tiện giải thích với dư luận, vì thế, liền hỏi bọn tay chân: “Ai có thể khuyên để Chương Thái Viêm ăn?“.

    Vương Ấp Đường lập tức nói: Tôi xin đi thử một lần xem”.

    Vương Ấp Đường là học trò của Chương Thái Viêm, hai người này đã từng cùng nhau xây dựng Đảng Cộng hoà ở Thượng Hải, sau này Vương Ấp Đường mới đi theo Viên Thế Khải. Vương ấp Đường nhận lệnh đến chùa Long Tuyền. Chương Thái Viêm vừa trông thấy liền mắng ngay: “Ông đến để làm thuyết khách cho Viên Thế Khải ư?“.

    Vương Ấp Đường trả lời: “Ông không nên hiểu lầm, tôi đến chỉ để gặp ông thôi“. Tiếp đó, hai người nói chuyện về sinh hoạt hàng ngày, nói những việc vặt trong gia đình mà không hề liên quan đến việc quan trọng lúc đó. Sau một thời gian nói chuyện rất lâu, Vương Ấp Đường thấy thái độ của Chương Thái Viêm bắt đầu dịu lại, liền nói: “Nghe nói tiên sinh muốn tuyệt thực mà chết, không biết là vì nguyên do gì?“

    Chương Thái Viêm tức giận nói: “Ta không đợi Viên Thế Khải đến giết ta, ta thà chết đói còn hơn“.

    Vương ấp Đường cười nói: “Nếu quả thực ông làm như vậy, chỉ sợ là Viên Thế Khải sẽ vui mừng đến mất ngủ thôi“.

    Chương Thái Viêm thắc mắc hỏi: “Sao ông lại nói như vậy?“

    “Ông nghĩ thử xem “ Vương Ấp Đường trả lời. “Nếu quả thực Viên Thế Khải muốn giết ông thì quá dễ dàng. Hiện nay ông bị giam cầm, cần phải biết rằng không phải là ông ta không muốn giết ông mà là không dám giết ông. Sự gian trá của Viên Thế Khải so với Tào A Mãn (tức Tào Tháo) thì chỉ có hơn chứ đâu có kém. ông ta sở dĩ không dám giết ông là vì không muốn cái tên mình bị nguyền rủa muôn đời. Còn nếu ông tự nguyện chết đói, Viên Thế Khải vừa không bị nguyền rủa, lại trừ được mối hoạ trong lòng, ông ta mong còn chưa được, vậy vì sao ông ta lại không vui mừng đây?”

    Chương Thái Viêm nghe xong lập tức đứng dậy nói: “Ông nói đúng, xem ra lối không thể chết, nếu không sẽ có lợi cho tên giặc Viên''.

    Vương ấp Đường quả thực đã lợi dụng tâm lí đối nghịch của Chương Thái Viêm đối với Viên Thế Khải, cố ý nói là việc Chương thái Viêm chết đói Viên Thế Khải mong còn chẳng được. Vừa không bị nguyền rủa lại trừ được mối họa trong lòng“. Tự nhiên trong lòng, Chương Thái Viêm sẽ sinh ra tâm lí đối nghịch: Viên Thế Khải, ngươi muốn ta đói mà chết, ta sẽ không chết, ta sẽ cứ ăn đấy. Như vậy đã rơi vào cái tròng của Vương ấp Đường. Vương Ấp Đường đã khéo léo lợi dụng tâm lí đối nghịch của Chương Thái Viêm và đã đạt được mục đích nói chuyện là khuyên Chương Thái Viêm tiếp tục ăn trở lại.

    Con người còn có một định thế tâm lí sau: Khi đối phương còn do dự không quyết trong một vấn đề nào đó, nếu bạn vượt qua ngưỡng cửa này (tức là: giả sử anh ta chắc chắn sẽ làm việc này). Khi bạn tiến đến gần và tiếp lục đưa ra một yêu cầu nữa, thì lúc này, ở anh ta sẽ có sự hoà đồng với tâm lí của bạn, và chẳng khó khăn gì bạn sẽ đạt được mục đích của mình. Xin quí vị xem các ví dụ sau đây.

    Việc kiểm tra trước lễ cưới của tiểu thư Lương Doanh.

    Lương Doanh là hoàng hậu của Hán Hoàn Đế thời Đông Hán, vốn xuất thân là con gái nhà quan. Lúc đó, để đảm bảo chắc chắn về nòi giống cho con cháu sau này, triều đình bắt đầu tiến hành kiểm tra trước khi cưới gả với các cô gái trong hoàng cung. Đối với các tiểu thư thiên kim thời phong kiến, việc phải phô ra chỗ kín đáo của mình trước mặt người khác thực sự là việc khó mà chấp nhận, và tiểu thư Lương Doanh cũng không ngoại lệ. Trước khi hôn nhân, Hán Hoàn Đế đã phái các nữ quan đi thi hành nhiệm vụ kiểm tra thân thể.

    Nữ quan phụng chỉ đến Lương phủ, trước hết, quan sát dáng đi của tiểu thư Lương Doanh trong chốn khuê phòng, thấy cô ta đi lại uyển chuyển, không hề có hình chữ bát hay sai sót nào cả. Tiếp đó bắt đầu tiến hành kiểm tra dần từng phần, khí sắc mặt, vị trí ngũ quan, lông mày, ánh mắt, sống mũi, lỗ mũi, da, tóc.

    Sau khi kiểm tra xong các phần này, nữ quan cho bọn người hầu ra ngoài đóng chặt các cửa, tiếp tục tiến hành kiểm tra thêm nữa với Lương Doanh. Mới đầu, nữ quan vêu cầu tiểu thư Lương Doanh cởi hết toàn bộ quần áo. Tiểu thư Lương Doanh vốn là một cô gái dưới triều đại phong kiến, hàng ngày vẫn tự mình tắm rửa, chưa bao giờ ngắm quá lâu cơ thể của mình, bây giờ lại phơi bầy trước mặt người khác không chút gì che đậy, đương nhiên cô không thể chấp thuận.

    Nữ quan bực tức nói: “Đây là ý chỉ của hoàng thượng “. Lương Doanh vẫn không để ý. Nữ quan lại nói: “Đây là phép tắc của hoàng gia“. Lương Doanh vẫn không nghe.

    Đối với trường hợp này, nữ quan đã có biện pháp của mình. Thấy biện pháp cứng rắn không song, cô bắt đầu chuyển sang mềm. Thế là, nữ quan lại gần Lương Doanh, nhẹ nhàng nói: “Xin mời hoàng hậu làm việc tuân theo ý chỉ của hoàng thượng và phép tắc trong hoàng thất“.

    Lương Doanh nghe xong hai tiếng “hoàng hậu“, trong lòng kinh ngạc, thế là liền bỏ hết thói ngượng ngập không tự nhiên vốn có của thiếu nữ, bẽn lẽn cởi ra một cách ngượng ngùng.

    Nhưng khi cởi đến chiếc quần quý nhất còn lại sát người, cô không còn dũng khí để cởi tiếp nữa. Nữ quan đến gần Lương Doanh, một mặt nói: “Đại lễ sắc phong hoàng hậu cấp bách ngay trước mắt, không thể kéo dài thêm nữa. Xin hoàng hậu thứ tội, xin hoàng hậu thứ tội“, một mặt thì giúp cô cởi bỏ chiếc quần còn lại trên người và bắt đầu tiến hành kiểm tra Lương Doanh, tiểu thư Lương Doanh lóng ngóng, nửa từ chối, nửa như đồng ý, cuối cùng, nữ quan đã hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra đối với Lương Doanh.

    Nữ quan đã thay mặt hoàng thất kiểm tra về cơ thể Lương Doanh, Lương Doanh lúc đó thực ra chỉ là một mĩ nữ đang xét tuyển, việc cô có thể trở thành hoàng hậu hay không thì chẳng ai biết trước được. Lương Doanh vốn là một tiểu thư thời phong kiến, bình thường ngay cả khi tắm cũng không dám nhìn kỹ cơ thể của mình, lúc này lại phải phơi bày sự kín đáo ngay trước mặt người khác, rõ ràng là không thể chấp thuận được. Huống hồ, cho dù mình có phơi bày thân thể trước mặt người khác thì chưa chắc đã trở thành hoàng hậu, bởi vì mang tâm lý như vậy nên Lương Doanh không thể cởi toàn bộ quần áo để tiến hành kiểm tra kỹ hơn. Đương nhiên nữ quan hiểu rõ tâm lý sâu kín này của Lương Doanh, chỉ một tiếng “hoàng hậu“ đã làm vượt qua ngưỡng cửa là Lương Doanh có thể làm hoàng hậu hay không, khiến Lương Doanh cảm thấy mình đã trở thành hoàng hậu chứ không phải bất cứ cô gái đang chờ tuyển chọn nào. Tự nhiên trong tâm lý có sự hoà đồng với hoàng gia, vì thế tâm lý đối lập với việc kiểm tra cũng giảm đi, chuyển thành sự “phối hợp“.

    Nghệ thuật nói chuyện lợi dụng định thế tâm lý của người khác vượt qua vấn đề ban đầu đã được vận dụng rất rộng rãi trong cuộc sống hiện thực. Ví dụ nếu chúng ta định mời một kỹ sư đảm nhiệm một công trình nào đó, nhưng người kỹ sư trong lòng do dự không quyết. Lúc này, chúng ta cần phải vượt qua ngưỡng cửa này, trực tiếp thảo luận cùng anh ta vấn đề cụ thể của công trình đó. Như vậy, đối với người kỹ sư dường như vấn đề tiền đề là làm hay không đã được giải quyết rồi.

    Cũng như khi khách hàng đứng trước quầy hàng mà vẫn do dự không quyết, người bán hàng không nên hỏi xem khách hàng có mua hàng hay không mà hãy hỏi trực tiếp là. Mua A hay là mua B? để khách hàng chọn một trong hai thứ đó là được.

    Cơ quan công an trong quá trình thẩm tra xét hỏi đã lợi dụng định thế tâm lý của tội phạm mà lựa chọn nghệ thuật thẩm vấn vượt qua ngưỡng cửa này. Người xét hỏi thường không hỏi người bị tình nghi là: “Anh đã từng giết người chưa?“, “Anh có lấy trộm đồ không?“, “Tối hôm qua anh có đi ra ngoài không?“ mà luôn vượt qua ngưỡng cửa này, trực tiếp hỏi một số vấn đề cụ thể. Ví dụ như “Rút cục anh đã đâm mất nhát dao vào người bị hại?“, “Anh dùng loại dao gì?“, “Dao này anh đâm vào đâu?“, “Khi anh lấy trộm đồ anh có sợ không?“, “Anh làm thế nào mà đi vào bằng đường cửa sổ?“. Cách thẩm vấn này có hiệu quả rất cao.

    Những người bị tình nghi sẽ cho rằng cơ quan công an đã nắm được bằng chứng phạm tội của họ, từ đó sẽ nghĩ nên thú nhận sớm là hơn, để có thể có được cơ hội khoan hồng.

    Khéo vận dụng định thế tâm lý “Hiệu ứng leo thang “

    Con người còn có một dạng định thế tâm lý “Leo thang“, tức là một ai đó nói chung sau khi đã tiếp nhận một yêu cầu nào đó, nếu như vẫn tiếp tục đưa ra một vài yêu cầu lớn hơn với họ, đối phương sẽ vẫn chấp thuận, bởi vì mọi người luôn muốn mình giữ được trước sau như một. Cái gọi là “người tốt thì tốt đến cùng“ cũng có loại định thế tâm lý này.

    Cũng chính là vì mọi người có định thế tâm lý “Leo thang“ này nên chúng ta không cần phải đưa ra yêu cầu quá cao với đối phương, như thế đối phương chắc chắn sẽ không muốn tiếp nhận, mà nên thuyết phục đối phương đồng ý chấp nhận một yêu cầu nhỏ của bạn trước. Bởi vì khi anh ta đã đồng ý chấp nhận yêu cầu nhỏ đó của bạn thì anh ta sẽ cố hết sức để tiếp nhận yêu cầu lớn hơn mà bạn đưa ra.

    Nhà tâm lý học xã hội Mỹ là Ridman đã tiến hành thí nghiệm nghiên cứu vấn đề này, ông cùng những người hợp tác với mình đến từng nhà từng hộ thăm hỏi các nữ chủ nhà, nói rằng họ đang làm việc cho “Tổ chức lái xe an toàn“ hy vọng được các bà chủ ủng hộ công tác này, và còn mời các bà chủ ký tên vào tờ đề nghị. Dường như tất cả các bà chủ nhà đã tiếp xúc đều đồng ý kí tên. Mấy tuần sau, người làm thực nghiệm lại đến nhà những bà này, đồng thời còn đến nhà các bà chưa từng được thăm hỏi.

    Lần này yêu cầu tất cả các bà chủ nhà đều phải đồng ý cho lập một tấm biển lớn không được đẹp lắm ở cổng nhà mình, phía trên có viết chữ: “lái xe cẩn thận“. Kết quả rất rõ ràng, trong số các bà chủ nhà đã đồng ý ký vào đơn đề nghị trước đây, có hơn 55% đồng ý treo tấm biển, còn trong số các bà chủ chưa từng ký tên vào đơn đề nghị, chỉ có 17% đồng ý treo tấm biển này. Con số trước gấp ba lần con số sau. Thực nghiệm này đã chứng minh rằng rõ ràng đã tồn lại loại định thế tâm lý “Leo thang“ trong mỗi con người.

    Trong cuộc sống hiện thực, việc khéo léo vận dụng định thế tâm lý “Leo thang“ sẽ khiến bạn đạt được mục đích nói chuyện của mình một cách thành công. Ví dụ như, một nhân viên bán hàng nhanh nhẹn khi giới thiệu về các loại mỹ phẩm với một cô gái không kiên nhẫn mà lại bị cô ta chối, anh ta không hề bỏ cơ hội cố gắng cuối cùng mà đã nhanh chóng đưa ra một điều kiện khiến cô gái dễ dàng tiếp nhận: “Thưa cô, xin làm phiền cô năm phút thôi“. Cô gái đã đồng ý, hãy lùi một bước trước, sau đó lại cứ tiếp tục nhượng bộ, cho đến cuối cùng, cô gái đó đành phải bỏ tiền ra mua loại mỹ phẩm mà nhân viên bán hàng đưa ra.

    Trên thương trường, các thương gia cũng biết cách lợi dụng định thế tâm lý “Leo thang“ này của mọi người, tìm cách để cho khách hàng tiếp xúc và dùng thử một loại hàng hoá nào đó trước, nhưng khi khách hàng đã tiếp xúc và dùng thử loại hàng hoá này, rất ít người chỉ vẩy tay nói “Không mua“ rồi bỏ đi. Bởi vì khách hàng sau khi tiếp xúc và dùng thử hàng thì cũng có chút hiểu biết về loại hàng này mà còn có một chút gánh nặng về tâm lý đối với người nhân viên tiếp thị trước mặt họ. Quả thực không biết là khách hàng muốn thật sự mua món hàng đó hay là vì không tiện từ chối trực diện, kết quả là mọi người đều rút tiền ra mua.

    Để vận dụng định thế tâm lý này, các cô gái bán hàng trong cửa hàng quần áo luôn chào mời nhiệt tình với tất cả những người đến xem quần áo. “Thưa ông, xin cứ thử xem, không vừa ý cũng không sao!“, “Thưa cô, cô cứ mặc thử đi, không mua cũng không sao!“ Phía trước quầy hàng của cửa hàng bán đồ chơi trẻ em luôn có một nhân viên tiếp thị hướng dẫn khách hàng sử dụng và dùng thử đồ chơi. Trong cuộc triển lãm hàng thực phẩm cũng luôn cho khách hàng ăn thử, những trường hợp tương tự thế này rất nhiều, rất nhiều, không thể kể hết được.

    Khéo léo vận dụng tâm lý kỳ vọng về sau

    Khi trả lời một số vấn đề có thể đưa ra đáp án để lựa chọn, nói chung mọi người luôn lựa chọn đáp án phía sau. Loại tâm lý này chính là tâm lý “Kỳ vọng về sau“.

    Khi đứng trước đối phương lòng đầy nghi hoặc, bạn có thể lợi dụng tâm lý kỳ vọng về sau của anh ta, nêu ra các vấn đề để cho đối phương lựa chọn, sau đó đặt đáp án mà bạn muốn anh ta trả lời ở phía sau, như vậy bạn sẽ đạt được mục đích nói chuyện của mình chẳng khó khăn gì. Ví dụ như, một công tử nhà giàu muốn thuyết phục một cô gái ở lại qua đêm với mình, anh ta luôn dùng các hỏi như sau: “Em muốn về hay là hãy ở lại đây?“ Chứ anh ta không bao giờ hỏi “Em ở lại đây hay là muốn về?“.

    Anh chàng này quả là một tay rất biết cách vận dụng tâm lý kỳ vọng về sau. Bởi vì ban đầu hỏi cô gái có muốn về hay không đã làm nảy sinh ở cô gái một cảm giác an toàn, cảm thấy đối phương rất tôn trọng mình, song cô gái cũng có phần thất vọng, trong lòng cô chưa chắc đã muốn rời xa người đàn ông mà cô quý mến. Nhưng câu nói “hay là em ở lại“ mà anh ta nói tiếp ngay sau, đã làm tan biến cảm giác thất vọng của cô. Thì ra đối phương cũng không muốn cô về, thế là liền gật đầu ưng thuận. Ngược lại, nếu đối phương hỏi cô trước là “em hảy ở lại đây“ sẽ khiến cô gái cảm thấy đối phương có dụng ý khác, lập tức sẽ sinh ra tâm lý phòng bị, câu nói “hay là em muốn trở về?“ tiếp ngay sau đó cũng khiến cô cảm thấy nên về sớm thì hơn, sẽ nới lỏng được sợi dây “phòng bị“ đang căng lên trong lòng.

    Trong cuộc sống hàng ngày, bạn cũng nên biết lợi dụng định thế tâm lý này của mọi người, nêu lên một vấn đề để đối phương có thể lựa chọn đồng thời đặt đáp án mà bạn muốn đối phương trả lời ở phía sau. Ví dụ như: bạn ra ngoài giúp người khác mua một vật phẩm nhỏ, nhưng sau khi về, bạn không muốn đi lại một chuyến xe buýt đến tận nhà người bạn để đưa, lúc này, bạn nên gọi điện nói với anh ta: “Cậu xem, tôi nên đến đưa cho cậu hay cậu sẽ đến lấy?“ sau khi nghe xong câu hỏi của bạn, mười người thì có tám, chín người sẽ đến nhà bạn để nhận.

    Hoặc là, khi bạn không muốn tiếp tục phải tiếp một vị khách nào đó, bạn nên nói với anh ta: “Hôm nay, chúng ta nói nhiều rồi, hay là ngày mai lại nói tiếp?“

    Những người khách nghe thấy câu nói này của bạn thì ai cũng sẽ nói rằng “Vậy ngày mai bàn tiếp nhé!“

    Hoặc là, nếu như có một học sinh vừa muốn nghỉ hè ở xa, lại vừa lo sẽ mất đi một cơ hội ôn tập bài vở, khi còn đang do dự ngần ngừ, là thầy giáo của cậu ta, bạn muốn cậu ấy ở lại ôn tập bài vở, bạn hãy vận dụng tâm lý “kỳ vọng về sau“ này, hỏi cậu ta: “Em sẽ đi xa nghỉ hè hay là ôn tập bài vở của em trước ?“ Khi bạn hỏi như thế này, học sinh của bạn, mười thì có đến tám, chín người sẽ trả lời rằng em sẽ ở lại để ôn tập bài vở!“. Như vậy, tự nhiên mục đích của bạn đã đạt được rồi.
     
  2. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 22

    Đối với những người do dự không quyết, bạn có thể lợi dụng tâm lý không hiểu rõ chân tướng của sự việc để nói quá lên, hư trương thanh thế, làm cho sự việc nghiêm trọng hơn, gây cho họ một kiểu tâm lý sợ hãi. Một khi họ đã có tâm lí sợ hãi rồi thì bạn sẽ không khó để thay đổi hành vi và thái độ của họ.

    Thông thường việc tạo ra tâm lý sợ hãi có thể thúc đẩy con người thay đổi thái độ. Phần lớn các thực nghiệm đã kiểm chứng điều này. Ví dụ nhà tâm lý học của Mĩ là Lilienthal đã lấy những sinh viên làm đối tượng kiểm tra, và tuyên truyền về tính quan trọng của việc tiêm phòng chống uốn ván. Ông miêu tả triệu chứng là quá trình phát bệnh của bệnh uốn ván đối với nhóm sinh viên A, khiến cho nhóm sinh viên này hình thành tâm lý sợ hãi cao độ; đối với nhóm B thì chỉ làm cho họ hình thành tâm lý sợ hãi ở mức vừa; đối với nhóm C chỉ tạo ra tâm lý tiêm phòng không, đồng thời ghi lại số người đi tiêm phòng trong số họ tại trạm y tế của trường. Kết quả cho thấy dù là đồng ý tiêm phòng ngay hay sau này mới đi tiêm phòng thì số người thuộc nhóm vô cùng sợ hãi luôn chiếm số đông.

    Lilienthal còn dùng thực nghiệm để chứng minh rằng cùng lúc tạo ra tâm lý sợ hãi, nếu đưa ra các phương pháp cụ thể để chuyển biến thái độ, thay đổi hành vi, thì người được thực nghiệm càng dễ đàng thay đổi hành vi và thái độ. Ông vẫn chia đối tượng được thực nghiệm ra làm ba nhóm: đối với nhóm A, cùng với việc tạo ra tâm lí sợ hãi cao độ, còn cung cấp các thông tin cụ thể về địa điểm, thời gian làm việc, thủ tục tiêm phòng của trạm y tế, đối với nhóm B, chỉ tạo ra tâm lý vô cùng sợ hãi nhưng không hướng dẫn cụ thể về phương thức và phương pháp hành động, đối với nhóm C, tuy có hướng dẫn về hành vi và phương pháp cụ thể, nhưng không gây ra tâm lý sợ hãi cho họ. Kết quả cho thấy, số lượng nhóm A thực tế đi tiêm phòng chiếm 28%, nhóm B chiếm 3%, nhóm C không có người nào đi tiêm cả. Từ đó có thể thấy rằng chỉ đơn thuần là sự sợ hãi, khiếp sợ cũng chưa chắc có thể làm cho thái độ và hành vi tiếp sau của con người có sự chuyển biến thực tế, thậm chí đôi khi sợ hãi quá mức có thể làm cho con người né tránh thông tin, phủ nhận khả năng xảy ra đối với bản thân mình của thực tế này. Đồng thời thực nghiệm này còn cho thấy rằng, nếu không tạo ra sự sợ hãi mà chỉ hướng dẫn về phương thức và phương pháp thì việc muốn đối phương thay đổi thái độ và hành vi sẽ bị thiếu động lực. Do vậy, nếu muốn đối phương thay đổi thái độ và hành vi thì một mặt phải tạo ra tâm lý sợ hãi cho họ; mặt khác, phải có sự hướng dẫn về phương thức và phương pháp hành động cụ thể, hai mặt này luôn luôn bổ trợ cho nhau và không thể thiếu một được.

    Nguyên lý tâm lý này nếu được vận dụng khéo léo trong nghệ thuật nói chuyện thì thông thường đều sẽ làm cho người khuyên bảo đạt được mục đích khuyên bảo của mình. Trương Nghi thời Chiến Quốc có thể nói là rất thông hiểu nguyên lý tâm lý này, phương pháp nói chuyện hư trương thanh thế, lúc thì uy hiếp đe doạ, lúc lại đưa ra lối thoát là phương hướng, có thể nói là vận dụng rất thành công. Những kẻ đế vương ngạo mạn thường bị ông ta làm cho sợ hãi bất an, nhất nhất nghe theo những “kiến nghị “ của ông ta.

    Trương Nghi khéo léo phá kế hợp tung

    Trương Nghi là một nhà chu du nổi tiếng trong thời Chiến Quốc, đã từng cùng với Tô Tần theo học Nguỵ Cốc Tử. Khác với chủ trương hợp tung của Tô Tần, Trương Nghi chủ trương liên hoành, tức là làm cho nước Tần áp dụng chiến lược liên hợp theo chiều ngang phân hoá và phá hoại kế hợp tung của sáu nước Quan Đông. Do vậy, trong thời gian đi đến sáu nước ở phía Đông, đến khắp nơi để du thuyết, ông đều dùng tài ăn nói xuất sắc của mình để thuyết phục vua các nước chư hầu, khiến cho họ thi nhau ký kết minh ước với nước Tần. Xin các bạn hãy xem Trương Nghi đã du thuyết sáu nước như thế nào:

    Đầu tiên, Trương Nghi đến nước Sở sau khi gặp phải một chút thăng trầm, ông đã tuyên truyền chiến lược liên hoành của mình với Sở vương. Trương Nghi nói: “Nước Tần chiếm một nửa thiên hạ, địa thế hiểm yếu, dễ thủ khó công; sỹ tốt có hàng trăm vạn, chiến xa hàng trăm chiếc, chiến mã hàng vạn con, dũng khí bừng bừng, vua thì uy nghiêm lại sáng suốt, tướng soái mưu trí dũng cảm, nếu xuất binh, ai không phục tùng thì kẻ đó sẽ bị diệt vong. Những nước hợp tung muốn tiến đánh nước Tần kia chẳng khác nào lũ dê đấu với hổ, hoàn toàn không phải là đối thủ. Bây giờ, đại vương không đứng về phía hổ mà lại đứng về phía lũ dê kia, ta cho rằng đây là lỗi của đại vương.“

    “Những nước mạnh trong thiên hạ không ngoài hai nước Tần và Sở, bây giờ nếu hai nước giao binh thì không thể hoà được. Nếu đại vương không giao hảo với Tần, Tần xuất binh chiếm Nghi Dương, nước Hàn sẽ mất đi quyền kiểm soát vùng biên cương phía bắc, Tần xuất quân chiếm lĩnh Hà Đông và thành cao, nước Hàn chỉ có thể xưng thần với nước Tần thôi. Thế lực nước Nguỵ cô lập, cũng sẽ giẫm vào vết chân của nước Hàn. Đến lúc đó, Tần tấn công đánh nước Sở ở phía tây, Hàn Nguỵ tấn công đánh nước Sở ở phía bắc thì xã tắc của đại vương sẽ nguy hiểm. Những người chủ trương hợp tung đó tập trung những nước yếu lại đi tấn công nước mạnh. Không hiểu rõ đối thủ mà xuất binh bừa bãi, nước nhà khốn khó lại gây chiến tranh lớn thì đây là cách tự chuốc lấy diệt vong. Thần nghe nói, quân không bằng người khác thì không nên chiến đấu cùng họ, lương thực không bằng người khác thì không nên tranh chấp cùng họ. Người đề xướng ra cách hợp tung như thế lời nói khéo léo, văn quá thị phi, chỉ nói mặt tốt không nói mặt xấu. Giả sử nước Sở có bề nguy nan, họ còn tự lo thân chưa nổi, thì làm gì còn khả năng giúp nước Sở đây? Xin đại vương hãy suy nghĩ cho kỹ?

    “Nước Tần phía tây có Ba Thục, có thuyền lớn chở quân lương, quân sĩ đi theo đường sông đến, chưa tới 10 ngày đã có thể đến cửa Can, như vậy sẽ nguy cấp cho một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía đông. Kiểm Trung, Vu Quận e rằng cũng chẳng còn ở trong tay đại vương nữa. Nước Tần xuất quân từ Vũ quan, tấn công xuống phía nam, lãnh thổ phía bắc nước Sở cũng sẽ mất. Quân Tần tấn công đánh Sở, chỉ cần 3 tháng là có thể đánh xong, còn nước Sở muốn nhờ các nước khác tới cứu viện thì ít nhất cũng cần nửa năm, lúc đó thì chẳng còn kịp nữa. Dựa vào nước yếu để tấn công nước mạnh thần cho rằng đó là mối hoạ trong lòng đại vương. Hơn nữa, đại vương vừa tấn công đánh nước Ngô, những chiến binh dũng cảm đã chết rồi, lại còn phải giữ những thành trì vừa đoạt được, dân chúng oán thán. Thần nghe nói tấn công lớn tất phải chiến đấu nhiều, chiến đấu nhiều tất trong nước trống rỗng. Như vậy dân chúng tất sẽ oán thán đại vương. Hiện nay, bên ngoài đại vương rất mạnh, muốn đối địch với nước Tần, thần cho rằng đây là chỗ nguy hiểm của đại vương!

    “Sở dĩ nước Tần 15 năm nay không tấn công các nước ở Quan Đông, đó là do họ có dã tâm thôn tính thiên hạ. Nước Sở đã từng giao chiến với nước Tần, nhưng nước Sở đã thua, mất vùng Hán Trung. Sở Vương tức giận, lại ra lệnh xuất quân, nhưng lại thất bại. Đó chính là hai hổ tranh đấu tất có một con bị thương. Nước Tần và Sở cùng tiêu hao, lại để cho những nước không bị tiêu hao như Hàn, Nguỵ lấy đại vương làm chỗ dựa, chẳng có cách nào ngu xuẩn hơn cách đó. Xin đại vương hãy xem xét cho kỹ.

    “Tần xuất quân chiếm lĩnh Dương Tấn của nước Vệ, sẽ khống chế được khu vực tim phổi của thiên hạ. Nếu đại vương xuất quân tiến đánh thì không biết mấy tháng mới thành công. Sau đó đại vương lại xuất quân tiến về phía đông, tiến đánh các nước nhỏ ở lưu vực sông Lệ, đều có thể trở thành của đại vương không?

    “Tô Tần xướng đạo hợp tung, được nước Yên phong làm Vũ An quân. Ông ta tiếng là tướng nước Tề, nhưng thực tế lại giúp nước Yên. Sau khi sự việc bại lộ, bị Yên vương dùng xe xé xác ở chợ. Một kẻ giảo hoạt gian trá, hư nguỵ phản phúc như Tô Tần lại muốn thao túng thiên hạ, rất rõ ràng là ông ta không thể thành công.

    “ Hiện nay hai nước Tần, Sở đất đai nối liền, vốn là những nước láng giềng. Nếu đại vương có thể nghe theo đề nghị của thần, thần sẽ để thái lử nước Tần sang nước Sở làm con tin, nước Sở cũng cử thái tử sang nước Tần. Tần vương gả con gái cho đại vương, Tần Sở kết thành hai nước hữu hảo, vĩnh viễn không gây chiến tranh với nhau. Thần cho rằng chẳng có sách lược nào hay hơn. Xin đại vương hãy suy nghĩ kỹ“.

    Những lời nói này của Trương Nghi đã trổ hết tài khoa trương thanh thế, dùng từ khuếch đại, nói nước Sở là nước yếu kém, ra sức tuyên truyền sự hùng mạnh của nước Tần, đồng thời còn bổ sung ví dụ bằng hai cuộc chiến tranh giữa hai nước Tần, Sở để nói cho Sở vương, nếu đối lập với Tần sẽ không có lợi. Lại nói cách hợp tung không thể để lâu hơn, lại dùng vài câu nói “Nếu“ để nói về hậu quả nếu Tần tấn công Sở, làm Sở vương lo sợ không yên. Tuy nhiên. Trương Nghi không muốn dừng lại ở đây, thấy sắc mặt của Sở vương đã lộ vẻ lo sợ, kinh hoàng, liền lập tức chỉ ra phương hướng và đường thoát là giao hảo với Tần, trao đổi thái tử làm con tin, dùng hôn ước để bảo đảm, đồng thời cũng không quên chỉ ra điểm tốt khi giao hảo với Tần: Đoạt lấy nước Tống và những vùng đất ở lưu vực sông Lệ. Những lời nói này vừa cương vừa nhu, cương nhu xen kẽ, cuối cùng đã khiến Sở vương đồng ý liên hoành với nước Tần, rơi vào trong lòng nước Tần.

    Hãy xem Trương Nghi làm thế nào để thuyết phục tước Hàn.

    Khi Trương Nghi đến nước Hàn, mở cửa thấy núi bèn nói: “Nước Hàn bao quanh bốn mặt là núi, giao thông bế tắc hoa màu lương thực chỉ có hai loại là mạch và đậu, không thể gọi là ngũ cốc phong phú. Cuộc sống của nhân dân lại càng khó khăn, một khi gặp mùa màng không thuận thì cuộc sống lại càng thê lương, thậm chí đến ngay cả thức ăn thô như cám bã e rằng cũng chẳng có. Nếu nói về diện tích của nước Hàn thì chưa đến 900 dặm, lương thực tích luỹ không đủ được hai năm. Nếu tính cả phu tạp dịch và phu vận chuyển thì binh lực chẳng qua chỉ có 30 vạn người, nếu trừ đi những người đi tuần là lính canh phòng thì quân tác chiến chỉ không quá 20 vạn người.“

    Đầu tiên Trương Nghi nói hết về những điểm yếu của nước Hàn, tiếp đó lại ra sức tuyên truyền sự hùng mạnh của nước Tần: “Còn nước Tần lại là nước có hàng trăm vạn binh lực, chiến tướng có hàng nghìn người, đồng thời đất đai rộng rãi, sản vật phong phú. Chỉ cần Tần vương ra lệnh thì trăm vạn hùng binh lập tức xông lên như gió nổi, tiến đánh bốn phương.“

    Trương Nghi biết là Hàn vương cũng hiểu rõ binh lực nước mình không mạnh như Tần, nhưng ông ta lại là người giữ thế liên minh hợp tung của sáu nước. Muốn Hàn vương có tâm lý sợ hãi cực độ thì chỉ có cách duy nhất là công kích vào vấn đề hợp tung. Thế là Trương Nghi nhanh chóng chuyển chủ đề sang liên minh hợp tung: “Người đưa ra thuyết hợp tung chỉ muốn dùng những từ ngữ đẹp đẽ để nịnh hót các vị quốc quân của các nước, nhưng về căn bản là không suy nghĩ đến tình hình thực tế của các nước, và cũng coi nhẹ vấn đề là các nước nhỏ thật sự có khả năng đánh bại nước Tần hay không. Điều đáng nực cười là một số Quốc quân của các nước chư hầu cũng tin vào những lời lẽ sai trái của họ, như ếch ngồi đáy giếng, thấy mình có một chút lực lượng cỏn con cũng thấy vui mừng. Nói đến cùng, đó chỉ là tự chuốc lấy diệt vong. Đương nhiên đại vương cũng nghĩ là không đầu hàng nước Tần, nhưng sau khi nước Tần chiếm Tuyên Dương, nước Hàn bé nhỏ sẽ bị cô lập. Đến lúc đó, đương nhiên nước Tần sẽ tấn công mạnh mẽ vào nước Hàn. Xin hỏi quân đội nước Hàn có chống cự được không? Như vậy chẳng phải bệ hạ sẽ trở thành ông vua mất nước sao?“

    Những lời nói này của Trương Nghi làm Hàn vương trong lòng kinh sợ, giật mình biến sắc, không cầm được bèn hỏi Trương Nghi: “Tiên sinh xem nên làm thế nào thì tốt?“ Trương Nghi nói: “Muốn tránh được tình cảnh đó cũng chỉ có một con đường đó chính là đầu hàng nước Tần, thần bảo đảm sẽ bình an vô sự. Những nước khác do sợ lực lượng của nước Tần sẽ không dám dùng vũ lực với nước của bệ hạ. Lại nói, nước mà nước Tần muốn chiến thắng nhất là nước Sở, mà muốn đạt được mục đích đó thì phải kết liên minh với nước Hàn. Đó không phải là vì lực lượng của nước Hàn mạnh, nên nước Tần không dám tấn công nước Hàn, mà vì nước Hàn có yếu tố thiên thời địa lợi của nước Tần khi tấn công nước Hàn. Nếu Tần và Hàn liên minh đánh bại nước Sở thì nhất định Tần vương sẽ rất vui mừng, và vì giành được lãnh thổ của nước Sở nên Tần vương cần gì đến lãnh thổ của bệ hạ nữa. Tần và Hàn hai nước bình yên vô sự, mọi người cùng sống hoà thuận với nhau, ai ai cũng vui vẻ, ý của đại vương thế nào?“

    Sách lược du thuyết Hàn vương và Sở vương của Trương Nghi khác nhau bởi vì sức của nước Hàn còn xa mới bằng nước Sở, do vậy Trương Nghi đã dùng biện pháp uy hiếp không che đậy, chiến thuật đe doạ, sau khi làm Hàn vương sợ hãi cao độ thì mới chỉ ra con đường thoát là đầu hàng nước Tần. Đồng thời còn bổ sung thêm cái gọi là “chỗ tốt“ tức là nước Tần sẽ không cần lãnh thổ của nước Hàn. Hàn vương nhát gan sợ sệt và ngu xuẩn cuối cùng đã mắc mưu Trương Nghi, đồng ý lập minh ước liên hoành với nước Tần.

    Sau khi du thuyết thành công ở nước Hàn. Trương Nghi lại đến nước Triệu. Du thuyết Trương Nghi nói: “Nay Tần Sở đã kết làm nước anh em, nước Hàn và Nguỵ cũng đã cúi đầu xưng thần, nước Tề đã hiến những vùng đất có sản vật quý cho nước Tần, điều đó tương đương như chặt cánh tay phải của nước Triệu. Đã bị chặt cánh tay phải, lại muốn đấu tranh với người khác, đây chẳng phải là rất nguy hiểm sao? Nay nước Tần đã xuất binh theo ba đường. Một đường tấn công theo đường bộ, đồng thời cho quân Tề qua sông Thanh, cùng nhau hợp ứng. Một đường đóng quân ở thành Cao, để quân Hàn và quân Nguỵ đóng quân ở bờ sông Hoàng. Một đạo quân đóng ở ấp trì. Bốn nước có hẹn với nhau: Cùng nhau tấn công nước Triệu, sau khi chiến thắng sẽ cùng phân chia lãnh thổ nước Triệu. Thần không dám giấu sự thực, xin đến báo trước cho đại vương. Thần nghĩ cho đại vương, chẳng bằng đại vương đến Côn trì gặp gỡ với Tần vương, cùng Tần giao hảo, thần sẽ khẩn cầu Tần vương án binh bất động, không tấn công nước Triệu, không biết ý của đại vương thế nào?“

    Trương Nghi du thuyết Triệu vương, cố ý nói nguy cơ nước Triệu bị bao vây 4 mặt, tựa như người trong thiên hạ đều là kẻ địch của nước Triệu, làm Triệu vương vô cùng kinh sợ, như đi trên băng mỏng, sau đó lại hư trương thanh thế nói về cách bố trí quân đội, sự uy hiếp về quân sự, làm Triệu vương cảm thấy như nạn lớn sắp giáng xuống đầu. Khi Triệu vương đang lo sợ không biết làm thế nào mới phải thì Trương Nghi lại chỉ ra đường thoát cho Triệu Vương là giao hảo cùng nước Tần. Đương nhiên lúc này Triệu vương phải theo kế mà làm.

    Chuyện ở nước Triệu đã xong, Trương Nghi lại đi về phía đông du thuyết nước Yên. Trương Nghi nói với Yên vương rằng: “Nước láng giềng gần gũi của đại vương là nước Triệu. Năm đó, Triệu vương gả em gái cho đại vương để tiện chiếm đất đai của đại vương. Triệu vương hẹn đại vương đến một nơi nào đó để gặp mặt, nhưng trong buổi yến tiệc lại sai người ám sát đại vương. Triệu vương là kẻ phản phúc vô thường, điều này đại vương đã tận mắt thấy. Thần cho rằng Triệu vương có gì đáng gọi là thân cận đây? Nước Triệu dấy binh tấn công nước Yên, bao vây Yên đô. Sau khi đại vương cắt mười mấy thành cho nước Triệu thì ông ta mới chịu lui binh. Nay Triệu vương đã đến ấp Trì gặp gỡ Tần vương, còn đại vương lại theo nước Triệu chống lại nước Tần, đây lẽ nào lại là hành động sáng suốt sao? Nếu quân Tần tấn công vào Vân Trung, Cửu Nguyên, đánh bại quân Triệu rồi tấn công vào nước Yên thì một vùng Dịch Thuỷ, Trường Thành sẽ chẳng còn là lãnh thổ của đại vương nữa rồi. Hơn nữa, so với nước Tần, nước Triệu chỉ là một quận nhỏ mà thôi, cơ bản là không dám chống lại nước Tần. Nếu đại vương giao hảo với nước Tần, thì Tần vương sẽ vô cùng vui mừng, lúc đó nước Triệu cũng sẽ không dám khinh thường, manh động. Như vậy, ở phía tây đại vương có nước Tần hùng mạnh chi viện, phía nam lại giảm được hoạ từ các nước Tề và Triệu thì sao lại không làm? Thần xin đại vương hãy suy nghĩ cho kỹ.“

    Căn cứ vào tình hình nước Yên coi nước Triệu là chỗ dựa,Trương Nghi đã dùng phương pháp thuyết phục dùng rìu bổ củi, trước tiên nói từ chỗ cơ bản nhất, nói rõ chỗ dựa đó là không đáng tin cậy, lại còn dùng những sự kiện lịch sử để chứng tỏ chỗ không đáng tin cậy của Triệu vương, sau đó lại tiếp tục uy hiếp bằng quân sự, nói rằng nước Triệu đã liên minh với Tần, nếu nước Tần tấn công nước Yên thì nước Triệu sẽ không đến giúp nước Yên. Cuối cùng lại dùng những lợi ích hư giả, cái gọi là sự chi viện của nước Tần hùng mạnh, tránh được hoạ của nước Tề và nước Triệu để dẫn dụ Yên vương, cuối cùng làm Yên vương cũng tuân theo sự xắp xếp của Trương Nghi, cắt đất cho Tần.

    Cuối cùng Trương Nghi đến nước Tề - nước ở xa nước Tần nhất và là nước có thế lực mạnh nhất trong 6 nước ở Quan Đông. Chỗ dựa của nước Tề đó chính là ở xa nước Tần nhất, nước giàu binh mạnh, nước Tề lại không sợ nước Tần. Trương Nghi lại có cách của mình, trước tiên coi “chỗ dựa“ của Tề không có giá trị, sau đó lại thuyết phục Tề vương đạo lý là các nước nhỏ cố nhiên không thể tấn công nước lớn, nước yếu không thể chiến đấu với nước mạnh. Cuối cùng nói rằng các nước ở xung quanh nước Tề đã kết thành thế liên hoành với nước Tần, và kết cục là cũng làm Tề vương cùng định minh ước liên hoành với Tần.

    Trương Nghi đã sử dụng phương pháp khoa trương thanh thế, sử dụng lời lẽ khéo léo của mình, lúc thì doạ nạt, lúc thì uy hiếp, lại có lúc thì dùng lợi để dẫn dụ, lúc cương lúc nhu, cuối cùng không chiến mà cũng làm quân khuất phục, làm sáu nước phải lần lượt cúi đầu, liên hoành với nước Tần. Có thể thấy “Ba tấc lưỡi mạnh hơn cả trăm vạn đại quân“ không phải là câu nói trống rỗng.

    Đàm phán thương mại cũng cần nói hư trương thanh thế

    Trong ngoại giao, những lời nói hư trương thanh thế để doạ nạt đối phương thường có thể ép đối phương làm theo, đạt được mục đích của mình (Chuyện Trương Nghi khéo léo thuyết phục 6 nước liên hoành với Tần trên đây là một ví dụ). Cũng như vậy, trong đàm phán thương mại, sử dụng phương pháp hư trương thanh thế, tăng thêm áp lực để thuyết phục đối phương có thể thấy rất nhiều. Nhưng trong đàm phán thương mại, phải thận trọng khỉ dùng phương pháp hư trương thanh thế. Đương nhiên “hư trương thanh thế“ có lúc hù doạ đối phương, có thể nhất thời đem lại lợi ích cho bên mình nhưng khi “hư trương thanh thế“ bị phát hiện thì có thể mình sẽ rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Nó không chỉ ảnh hưởng đến cuộc đàm phán thương mại đang tiến hành. mà còn có thể ánh hưởng đến những cuộc đàm phán thương mại sau này nữa, có thể ảnh hưởng đến cuộc đàm phán của những người đàm phán khác. Do vậy mà “thanh danh“ của bạn cũng sẽ bị mất đi.

    Dưới đây mời các bạn xem một cuộc đàm phán thật sự:

    Cuộc đàm phán này là một cuộc đàm phán có liên quan đến việc mua lại toàn bộ lợi ích của một người hợp tác trong một xí nghiệp thành công. Thứ hai, hai bên bắt đầu tiến hành đàm phán, và đã thống nhất được về giá cả và một số điều kiện cơ bản khác. Buổi trưa ngày thứ ba, luật sư bên mua muốn có một bản thảo hiệp nghị để có thể giao kịp cho luật sư bên bán và hẹn thời gian giao là 2 giờ chiều. Lúc này, luật sư của cả hai bên đều ở trong phòng làm việc của mình tiếp tục đàm phán về những vấn đề còn lại qua điện thoại, đồng thời trao đổi ý kiến về bản thảo của hiệp nghị. Đến tối ngày thứ ba thì luật sư hai bên vẫn chưa định được các điều khoản. Bàn bạc đàm phán, bên bán đã đồng ý rồi, giữa hai bên mua bán không ngại là chủ mua đưa ra yêu cầu chủ bán đảm bảo lợi ích ở trong đó. Tuy nhiên, đột nhiên luật sư bên bán muốn rút ra một đoạn trong bản hiệp nghị, nội dung của nó là: Nếu phát sinh yêu cầu do khách hàng đưa ra dẫn đến tố tụng do bên thứ 3 đưa tới, cần danh tiếng của bên mua, bên bán sẽ bảo đảm hành vi trên của bên mua là chính đáng. Lúc đầu, bên mua đã từng kiên quyết phản đối điều kiện này, mà điều kiện này đã thống nhất với bên bán vào buổi sáng hôm đó, đồng ý bỏ vấn đề bảo hộ hành vi trong bản hiệp nghị. Luật sư bên mua và luật sư bên bán do vậy đã phải tiến hành đàm phán, chủ bán cũng tham dự lần đàm phán này.

    Luật sư bên mua: Đoạn thứ 7 nhất định phải bỏ đi, ông biết đấy, người uỷ thác của tôi và khách hàng của họ sẽ không chấp nhận điều này.

    Luật sư bên bán: Ông nói với họ rằng, tôi bảo đảm đoạn đó sẽ không làm tổn thương đến họ.

    Luật sư bên mua: Họ không có hứng thú với sự bảo đảm này, họ sẽ không chấp thuận, họ quyết sẽ không làm những việc có hại đối với mối quan hệ lâu dài giữa họ với khách hàng.

    Luật sư bên bán: Đoạn này không thể bỏ đi được.

    Luật sư bên mua: Ý ông muốn nói là không còn chỗ để hợp tác nữa ư? Sau khi lợi ích tiềm tàng của hai bên được bảo đảm ông mới thêm đoạn đó vào có phải không, chả trách nào hiện tại chúng ta không thể bàn bạc hợp tác được. Đó có phải là chủ trương hiện nay của ông không?

    Luật sư bên bán: Đúng vậy. Ông hãy nói với họ nếu chỉ vì điều đó mà khiến cho việc làm ăn bị chấm dứt thì họ chính là những tên ngốc.

    Luật sư bên mua: Những người không chuẩn bị để thảo luận trong ngày hôm nay mới chính là những kẻ ngốc. Nhưng nếu đó là kế hoạch của ông thì ông đã lãng phí thời gian của mọi người rồi. Nếu như không thể hợp tác được nữa, tôi chỉ còn cách đi về. Tôi chỉ còn cách nói với những người đã uỷ thác cho tôi rằng hãy thu lại tờ chi phiếu đã có đảm bảo. Tôi phải về rồi, tạm biệt.

    Luật sư bên bán: Xin hãy đợi đã, Phái Long (chỉ vào người bán) đang ở đây, hãy để Phái Long bàn với ông. Phái Long, ông hãy bàn bạc với ông ấy về đoạn thứ bảy đi !

    Người bán (Phái Long): Đoạn thứ bảy có vấn đề gì vậy.

    Luật sư bên mua: Luật sư của ông nói rằng việc này không thể bàn bạc được, nhưng ông cũng nên biết rằng người uỷ thác cho tôi cũng không thể đồng ý.

    Người bán: Vậy hãy huỷ bỏ điều thứ bảy đi, như vậy coi như chúng ta đã bàn bạc xong.

    Trong quá trình đàm phán, khi việc “khoa trương thanh thế “ của luật sư bên bán không thành công thì sẽ mất đi uy tín. Hơn nữa, luật sư bên bán sẽ đẩy người uỷ thác của mình vào thế buộc phải thừa nhận việc khoa trương thanh thế của bên mua và phải thay đổi chủ ý của mình, luật sư của bên mua đương nhiên cũng làm tăng thêm những tình cảm tốt đẹp của người uỷ thác đối với mình.

    Có thể thấy rằng, việc giả khoa trương thanh thế một khi bị người khác vạch trần thì sẽ có nguy cơ bị mất uy tín, hậu quả của nó sẽ rất nghiêm trọng. Muốn giải thoát chính mình sau khi giả khoa trương thanh thế bị thất bại, điều quan trọng nhất là bằng mọi cách phải tìm nguồn tin mới và lợi dụng nguồn tin mới đó làm bước tiếp theo để thay đổi quan điểm khi giả khoa trương thanh thế.

    Tuy nói rằng phải thận trọng khi dùng phương pháp giả khoa trương thanh thế trong việc đàm phán thương mại và các hoạt động buôn bán, nhưng không phải nói là ít dùng hay không dùng phương pháp này, đặc biệt là không nên vì thất bại trong việc giả khoa trương thanh thế mà không bao giờ dùng đến nó nữa. Trên thực tế. trong rất nhiều hoạt động thương mại, việc giả khoa trương thanh thế rất có hiệu quả. Ví dụ. bạn muốn giới thiện sản phẩm của mình, hãy sử dụng phương pháp khoa trương thanh thế, hãy nói với mọi người rằng: nguyên liệu của loại sản phẩm này đang chuẩn bị tăng giá cho nên loại sản phẩm này cũng sẽ tăng giá lên theo. Như vậy khách hàng sẽ sợ rằng giá của sản phẩm này lên cao sẽ bất lợi cho mình nên nhanh chóng mua.

    Lại như, có một vị giám đốc công ty Nhật bản đến bàn việc làm ăn với một công ty của Mỹ. Phía nước Mỹ biết rằng công ty Nhật này đang gặp thời kỳ xoay vòng vốn khó khăn, cho nên muốn mua hàng bằng tiền mặt với giá thấp nhất. Giám đốc Nhật Bản đang đứng trước hai sự lựa chọn khó khăn: nếu như không bán thì tiền vốn của công ty khó lòng có thể quay vòng được, nếu như bán cho người Mỹ với giá thấp nhất thì công ty sẽ bị thiệt hại to lớn, vậy phải làm như thế nào. Giám đốc Nhật Bản đã quyết định giả khoa trương thanh thế để dọa phía Mỹ và nếu như không thể dọa được thì phải bán cho phía Mỹ với giá cao nhất để giải cứu việc quay vòng vốn khó khăn của bản thân mình. Sau khi đã xác định được rõ chủ ý, giám đốc Nhật Bản bèn mời đại diện của phía Mỹ đến đàm phán. Khi đại diện phía Mỹ đề cập đến vấn đề mua hàng với giá cả thấp nhất thì giám đốc Nhật bản không chịu nhún nhường, ông nói: “Tôi thấy các ông chẳng có thành ý đàm phán gì cả, tôi cảm thấy khó mà có thể bàn bạc tiếp được“. Sau đó giám đốc Nhật bản lại giả vờ như chẳng có việc gì cả, ông nói với những người đi cùng: “Phiền anh đi xem giùm xem vé máy bay đến Hàn Quốc đã chuẩn bị xong chưa, nếu như vé máy bay đã chuẩn bị xong thì ngày mai tôi sẽ bay đến Hàn Quốc. Ở đó đang có một mối làm ăn lớn đang đợi tôi.“

    Ngữ điệu này của giám đốc Nhật Bản khiến cho đại diện bên phía Mỹ cảm thấy rằng dường như phía Nhật bản không có hứng thú lắm đối với vụ làm ăn với họ, việc làm ăn lần này thành hay bại đối với giám đốc Nhật bản mà nói lại không hề có vấn đề gì. Lúc này: đại diện phía Mỹ liền cuống quýt hết cả lên, ông ta vội vàng gọi điện về Mỹ để báo cáo với tổng giám đốc phía Mỹ. Bởi vì khi đó phía Mỹ cũng đang rất cần loại sản phẩm này, cuối cùng tổng giám đốc phía Mỹ đã quyết định mua loại sản phẩm này với nguyên giá của nó. Việc giám đốc Nhật Bản giả khoa trương thanh thế đã khiến cho phía Mỹ nhượng bộ rất lớn, từ đó đã giải quyết được hoàn cảnh khó khăn về chu chuyển vốn mà công ty của chính ông đang gặp phải.

    Phương pháp giả khoa trương thanh thế trong cuộc sống thường nhật

    Trong cuộc sống thường ngày, người ta vẫn thường hay vận dụng phương pháp khoa trương thanh thế để khuyên răn người khác. Ví dụ như các bậc phụ huynh thường khuyến cáo con cái của mình rằng “nếu như con không học tập chăm chỉ thì ta sẽ không cho liền tiêu vặt nữa“. Những người tham gia ứng cử thường cảnh cáo đối thủ của mình rằng “nếu như tên đó được lựa chọn thì nhân dân sẽ gặp phải tai ương, nền văn minh sẽ bị thụt lùi, quốc gia sẽ bị huỷ diệt...“

    Trong cuộc sống thường ngày, đối với những đứa trẻ bướng bỉnh, dùng phương pháp khoa trương thanh thế để khuyên nhủ đối phương là rất có hiệu quả. Ví dụ, có một đôi vợ chồng trẻ dẫn con mình đến vườn vui chơi dành cho trẻ em để chơi đùa, đứa trẻ cứ chơi hết trò nọ đến trò kia rất vui vẻ, nó hứng thú nhất với trò cưỡi ngựa gỗ quay vòng, đã cưỡi rất nhiều vòng mà vẫn không chịu xuống, bất luận là bố mẹ khuyên nhủ như thế nào, bố mẹ nó hết cách là chỉ còn biết cầu cứu người phục vụ giúp đỡ. Người phục vụ mỉm cười nói rằng: “Việc này rất đơn giản!“, bèn đến gần đứa trẻ đang cưỡi ngựa. nói nhỏ với nó một câu, đứa trẻ đó nghe lời bèn ngoan ngoãn bước xuống ngựa.

    Sau đó bố mẹ đứa trẻ có hỏi lại tuyệt chiêu của người phục vụ nọ. Người phục vụ đó có nói rằng: “Tôi đã nói với đứa con yêu quý của ông bà rằng nếu như cháu không xuống, tôi sẽ gõ nát đầu cháu ra, nó nghe vậy liền ngoan ngoãn bước xuống“. Ở đây, người phục vụ đã giả khoa trương thanh thế để doạ dẫm đứa trẻ, những đứa trẻ đều có tâm lý sợ bị đánh nên cũng dễ dàng nghe theo lời của bạn.

    Thỉnh thoảng có những lúc nguy cấp, hãy vận dụng cách giả khoa trương thanh thế này, nếu như có thể dọa dẫm được đối phương thì bạn sẽ có thể bình an vô sự. Mọi người đã từng nghe câu chuyện cáo giả uy hổ chưa, chúng ta hãy cùng xem con cáo đã giả khoa trương thanh thế của mình như thế nào, đã dọa dẫm được con hổ và từ đó đã thoát chết:

    Một hôm, chúa sơn lâm, vua của muôn loài đi ra ngoài kiếm ăn và nó bắt được một con cáo, nó đang định nuốt vào bụng, con cáo trong lúc sinh mạng đang nguy cấp đã nghĩ ra được một kế, nó nói ta với con hổ rằng: “Anh hổ à! Anh không được vô lễ, tôi vốn dĩ là vua của muôn loài“.

    “Nói láo, ta mới chính là vua của muôn loài” con hổ gầm lên.

    Con cáo cười lạnh nhạt đáp rằng: “Anh có ngủ mơ không đấy, hôm qua Thượng đế đã gọi các loài động vật nhóm họp lại và chỉ định tôi là vua của muôn loài, có phải là hôm qua anh không đi họp không, do vậy mà đã không được thông báo“.

    Con hổ thấy con cáo nói có vẻ rất chân thật bèn không thể không bán tín bán nghi. Con cáo khôn ngoan càng muốn con hổ tin nó hơn liền nói: “Nếu như anh không tin tôi là vua của muôn loài thì anh hãy đi đằng sau tôi, để quan sát thái độ của những con thú khác đối với tôi nếu như bọn chúng nhìn thấy tôi liền chạy toán loạn ra bốn phía thì chắc là lúc ấy anh sẽ tin chứ.“

    Con hổ nói: “Như vậy đương nhiên là tôi sẽ tin“.

    Thế là con cáo đi về phía trước một cách rất hùng dũng, con hổ liền theo sát phía sau, con hổ quả thật đã nhìn thấy những con thú hoang khác cứ nhìn thấy con cáo và nó liền chạy toán loạn sang bốn phía, thế là con hổ cho rằng con cáo quả thật là vua của muôn thú, do vậy cũng tha để cho con cáo đi.

    Con cáo giả đò rằng khí thế của mình rất lớn mạnh, nói mình chính là vua của muôn thú và đã dựa hào khí thế của con hổ khiến cho muôn thú sợ hãi chạy toán loạn sang bốn phía, do vậy nó đã lừa được con hổ, khiến cho mình thoát chết trong gang tấc. Con cáo này có thể được coi là thông minh tuyệt đỉnh.

    Hãy xem tiếp câu chuyện dưới đây:

    Nước Tề có một vị đại thần tên là Trương Sửu, ông đã từng bị điều sang nước Yên làm con tin. Một lần, hai nước Tề Yên có mâu thuẫn với nhau, hoàn cảnh của Trương Sửu lúc này hết sức nguy hiểm, lúc nào cũng có thể bị giết. Trương Sửu phải khó khăn lắm mới tìm được một cơ hội. Ông lén lút trốn ra khỏi thủ đô của nước Yên, nhưng tại biên giới của nước Yên, Trương Sửu bị quan binh bắt lại.

    Đang lúc hai nước Tề Yên có mâu thuẫn với nhau, ông lại tự ý trốn về. Ở trong tình thế này có thể nói rằng Trương Sửu khó mà có hy vọng mà sống sót, nhưng trong tình thế nguy hiểm này, Trương Sửu không hề hoảng loạn, ông đã khoa trương mà nói với viên quan binh bắt ông rằng: “Hoàng đế nước Yên muốn giết tôi bởi vì Có người đã mật báo với hoàng đế nước Yên rằng tôi có cất giấu ngọc quý. Những viên ngọc quý của tôi tuy đã bị rơi vãi hết nhưng hoàng đế nước Yên lại không tin. Nếu bây giờ ông bắt lôi, tôi chỉ còn cách bẩm báo lại với ông ấy rằng ông đã cướp và cất giữ những viên ngọc của tôi, nếu Yên vương không dùng ngựa phanh thây ông thì mới là lạ, tôi tất nhiên là không sống nổi nhưng ông cũng khó lòng mà thoát chết, vậy ông muốn chúng ta cùng chết hay cùng sống.“

    Trương Sửu chỉ giả khoa trương như vậy để dọa dẫm viên quan binh và viên quan binh nọ đã thật sự bị làm cho sợ hãi, ông ta cảm thấy rằng Trương Sửu đúng là một hòn than làm bỏng tay người khác, nên nhanh chóng vứt bỏ đi thì tốt hơn, không cần thiết phải chết một cách vô cớ vì anh ta, thế là bèn thả Trương Sửu ra. Do vậy nên Trương Sửu đã trốn được về nước Tề một cách an toàn.
     
  3. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 23

    Cái gọi là dựa vào những điều không có để tạo mâu thuẫn giả là để chỉ việc chuyển dời mâu thuẫn một cách khéo léo. Trong lịch sử, có một số người thống trị đất nước, nếu như trong khi mâu thuẫn trong nước rất nghiêm trọng uy hiếp trực tiếp đến quyền thống trị của họ, để duy trì nền thống trị của mình, họ sẽ khơi dậy những cuộc chiến tranh dân tộc, thậm chí là phát động những cuộc chiến tranh với bên ngoài một cách không thương tiếc đễ chuyển hoá mâu thuẫn trong nước. Việc dựa vào những điều không có để tạo ra sự mâu thuẫn giả chính là việc tạo ra “những điều mâu thuẫn giả“ một cách tỉ mỉ (hoặc là tự tạo ra một kẻ địch), từ đó là cho mâu thuẫn của bạn và đối tượng nói chuyện của bạn được dịu lại, bạn có thể tiến thêm một bước để thuyết phục đối tượng nói chuyện của mình.

    Trác Tri Vũ dẹp Tần cứu Trịnh

    Trong thời chiến quốc, nước Tấn và nước Tần cùng hợp tác tấn công nước Trịnh, bao vây kinh đô nước Trịnh, tình thế hết sức nguy cấp. Trịnh Văn Công đã phái đại phu là Trác Tri Vũ lặng lẽ trèo ra ngoài tường thành, đi đến doanh trại của quân Tần. Trác Tri Vũ đã tận mắt nhìn thấy đích thân Tần Di Công dẫn quân tiến đánh, ông nói với Tần Di Công một cách rất ung dung và từ tốn rằng: “Hai nước Tần, Tấn tấn công nước Trịnh, nước Trịnh biết rằng mình không thể tránh khỏi sự diệt vong, nhưng nếu như diệt bỏ nước Trịnh mà có lợi đối với nước Tần thì hôm nay tôi đã không đến đây để nói chuyện với ông. Tôi cho rằng việc diệt bỏ nước Trịnh không chỉ bất lợi đối với nước Tần mà ngược lại còn có hại, xin đại vương hãy suy nghĩ kỹ lại xem. Hiện tại nước Tần ở phía Tây, nước Trịnh ở phía Đông, ở giữa là nước Tấn chia cách, nếu như ông có được nước Trịnh thì cũng khó lòng mà có thể giữ nổi, đến khi đó phần đất mà ông lấy được từ nước Trịnh cũng khó mà giữ nổi, chỉ e rằng sẽ bị nước Tấn cướp đi mất. Tại sao ông cứ muốn diệt vong nước Trịnh để tăng cường thế lực của nước Tấn? Nếu như thế lực của nước Tấn mà quá mạnh thì đó cũng là một nỗi uy hiếp rất lớn đối với nước Tần! Nếu lần này đại vương mở lòng từ bi mà tha cho nước Trịnh thì chúng tôi sẽ trở thành những người bạn ở phía Đông của các ông, khi các sứ thần ngoại giao của nước Tần đến nước Trịnh, chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ các ngài, thoả mãn mọi yêu cầu của các ngài. Nên biết rằng việc này chẳng có hại gì đối với các ngài cả, hơn nữa nước Tấn là một nước tham lam, nếu chúng đã muốn thôn tính nước Trịnh ở phía Đông thì làm sao có thể bảo đảm rằng họ sẽ không mở rộng lãnh thổ về phía Tây để tấn công nước Tần. Hiện tại, nếu diệt bỏ nước Trịnh, trên thực tế chính là đang làm suy yếu nước Tần, tăng cường thế lực của nước Tấn, xin đại vương hãy suy nghĩ kỹ những lời nói của tôi.“

    Tần Di Công nghe xong những lời này liền gật đầu cho là phải, liền ngay đó biểu thị rằng sẽ đồng ý dừng việc tấn công nước Trịnh và sẽ kết bè kết phái với nước Trịnh. Nước Tấn thấy nước Tần thay đổi chủ ý, nhất thời thay rằng chẳng kiếm được lợi lộc gì cả bèn rút quân về. Nước Trịnh do vậy cũng thoát khỏi thảm hoạ diệt vong.

    Sở dĩ Trác Tri Vũ có thể dẹp Tần cứu Trịnh chủ yếu là vì ông đã dựa vào những điều không có để tạo ra một mâu thuẫn giả, mâu thuẫn giữa nước Tần và nước Tấn, nói rằng việc nước Tấn hùng mạnh chính là nỗi uy hiếp đối với nước Tần. Vốn dĩ Tấn, Tần tấn công Trịnh, mâu thuẫn chủ yếu là ở mâu thuẫn giữa nước Tần Trịnh và Tấn Trịnh, nhưng Trác Tri Vũ đã dày công tạo nên một mâu thuẫn giả (đối với việc Tấn Tần liên kết tấn công Trịnh mà nói, thậm chí sau khi diệt bỏ nước Trịnh lại có khả năng thật sự trở thành mâu thuẫn thật sự), ngay lập tức chuyển mâu thuẫn đến mối quan hệ giữa Tần và Tấn, do vậy đã khiến cho nước Trịnh tránh khỏi tai hoạ mất nước ngay trước mắt.

    Dựa vào những điều không có để tạo nên mâu thuẫn khiến cho bạn có thể ung dung đứng ở giữa những mâu thuẫn giữa hai bên. Trương Nghi một nhà chu du thiên hạ nổi tiếng thời Chiến Quốc đã từng cố ý tạo nên mâu thuẫn giả giữa Sở Hoài vương và Kỳ Long Di Nam Hậu khiến cho mình có thể ung dung ở giữa hai bên. Câu chuyện là như sau:

    Những lời nói khéo léo của Trương Nghi

    Nhà chu du nổi tiếng Trương Nghi, học trò của Quỷ Cốc Tử, sau khi xuống núi, đầu tiên ông đến nước Sở để hoạt động nhưng khi đó ông đã không được hôn quân Sở Hoài vương trọng dụng, cuộc sống của ông vẫn rất thanh đạm và khổ sở. Có một số mưu sĩ giống như Trương Nghi do không chịu được cảnh thanh bạch khổ sở nên đã muốn đi đến nước khác, Trương Nghi đã nói rằng: “Chắc là các người do phải mặc quần áo quá rách rưới nên không chịu nổi mà muốn đi đến nước khác phải không? Các ngươi hãy đợi xem để ta đi gặp Sở vương xem có kiếm được một chút gì từ phía ông ta không.“

    Khi Trương Nghi gặp Sở Hoài vương, ông ta rất không vui bởi vì ông ta rất ghét những nhân sĩ chỉ biết nói này. Trương Nghi nói: “Tôi đến chỗ đại vương đã được một thời gian khá lâu, nhưng vẫn chẳng làm nên được thành tích gì cả, do vậy tôi muốn thử đến nước Tấn xem, đại vương thấy có được hay không?“

    “Vậy thì ngươi đi đi!“ Sở Hoài vương chẳng hề có ý níu kéo lại.

    Trương Nghi nói: “Đại vương không cần thứ gì của nước Tấn sao?“

    Sở vương lạnh lùng trả lời: “Không cần, ở nước ta, vàng, ngọc ngà, sừng hươu, ngà voi... cái gì cũng có, ta chẳng cần thứ gì của nước Tấn cả.“

    Trương Nghi biết Hoài vương đam mê nữ sắc, hai đại mĩ nhân ở bên mình là Nam Hậu và Trịnh Tụ rất được ông ta sủng ái. Thế là Trương Nghi liền nói: “Đại vương lẽ nào không cần mĩ nữ của nước Tấn sao?“

    Sở vương nói: “Ngươi nói như vậy là có ý gì?“

    Trương Nghi nói: “Đại vương có lẽ không biết chứ con gái ở Trung Nguyên sắc đẹp như hoa, nổi tiếng khắp thiên hạ. Khuôn mặt của họ rất trắng, lông mi cong, mắt đen nhánh, chỉ cần họ đứng ở trên phố, nếu ai không biết thì cứ tưởng tiên nữ giáng trần!“

    Sở vương mới nghe đã xốn xang, vội sữa lại nói: “Một nước hẻo lánh như nước Sở ta thì đương nhiên giai nhân không thể bì được với con gái Trung Nguyên rồi, từ trước đến nay ta chưa từng nhìn thấy con gái Trung Nguyên!“, thế là Sở vương ban cho Trương Nghị rất nhiều châu báu.

    Nếu đổi lại là một người bình thường, sau khi lừa được nhiều vàng bạc châu báu như vậy thì nhất định sẽ cuốn chiếu đi, không biết chừng ngay cả chiếu cũng không cần cuốn nữa kia, và lập tức chạy mất hút. Nhưng Trương Nghi lại không như vậy, ông ta có cái lí riêng của mình: Tôi sang nước Tấn để mua mĩ nữ thì lẽ nào ngài sẽ không cần đến Nam Hậu và Trịnh Tụ sao? Nếu mua được mĩ nữ về, họ sẽ trở thành đối thủ của Nam Hậu và Trịnh Tụ, lẽ nào hai đại mĩ nhân như họ lại muốn tôi làm như vậy?“

    Quả nhiên Nam Hậu và Trịnh Tụ sau khi biết tin Trương Nghi được thưởng và chuẩn bị sang nước Tấn để mua mĩ nữ thì trong lòng vô cùng vô cùng lo lắng, sốt ruột như ngồi trên đống lửa vậy.

    Không lâu sau, Nam Hậu sai người đi tiễn Trương Nghi, và sai sứ giả nói với Trương Nghi rằng: “Ta nghe nói ngài sắp đến nước Tấn, ta có một nghìn lượng vàng, tặng cho ngài dùng làm lộ phí.“ Trịnh Tụ sau khi nghe thấy Nam Hậu tặng cho Trương Nghi một nghìn lượng vàng thì cũng không chịu thua kém, cũng sai người tặng cho Trương Nghi 500 lượng vàng. Trương Nghi vui vẻ nhận hết. Ông ta còn nhờ sứ giả chuyển lời cảm ơn của mình tới hai vị đại mĩ nhân, và nói rằng ông ta biết phải làm như thế nào. Hai vị đại phu nhân đương nhiên là cảm kích vô cùng.

    Trương Nghi sau khi dùng một mũi tên bắn trúng ba đích, lừa được của cải của Sở vương và hai vị đại phu nhân, cuối cùng lại diễn một vở kịch vui nữa.

    Hôm đó, Trương Nghi nói với Hoài vương rằng: “Thần sắp phải đi rồi, lần này ra đi không biết bao giờ mới về, nên muốn xin đại vương ban cho thần một bữa tiệc rượu chia tay trước khi thần đi.“ Sở vương nhận lời, và thế là ông ta bày tiệc trong cung để tiễn Trương Nghi.

    Đang lúc tửu hứng, Trương Nghi lại thỉnh cầu nói: “Ở đây chẳng có ai cả, thần xin đại vương hãy cho triệu hai mĩ nữ mà hoàng thượng sủng ái đến để cùng uống.“

    “Quả là một ý kiến hay“ rồi Sở vương cho triệu Nam Hậu và Trịnh Tụ đến.

    Trương Nghi vừa nhìn thấy hai vị mĩ nhân liền vội vàng quì xuống và xin được Sở vương tha tội. Sở vương chẳng hiểu ra sao cả liền hỏi: “Ngươi có tội gì?“

    Trương Nghị đáp: “Thần đã đi khắp thiên hạ nhưng chưa từng thấy người phụ nữ nào đẹp như Nam Hậu và Trịnh Tụ. Nhưng thần lại không biết lượng sức, muốn đến Trung Nguyên để tìm mĩ nữ cho đại vương, con gái Trung Nguyên làm sao mà bì được với Nam Hậu và Trịnh Tụ? Như vậy là thần đã lừa dối đại vương, cho nên thần xin được thỉnh tội với đại vương.“

    Sở vương nghe xong, không những không tức giận, mà trái lại còn rất vui nữa. Bởi vì ý tứ trong câu nói của Trương Nghi có nghĩa là khen ngợi Sở vương có những người phụ nữ đẹp nhất thế giới, Hoài vương làm sao mà không vui cho được? Thế là Sở vương liền tha tội cho Trương Nghi và nói: “Thôi đi, thôi đi, ta cũng cho rằng thiên hạ chẳng có ai đẹp bằng Nam Hậu và Trịnh Tụ.“

    Trương Nghi vui mừng tột độ. Nam Hậu và Trịnh Tụ lại càng vui hơn. Trương Nghi không cần tìm mĩ nữ cho Hoài vương, nên họ cũng trút được mối “tâm bệnh“, cuối cùng cũng không cần phải lo có người đến để tranh sủng với họ, làm sao mà họ không vui cho được?

    Và thế là, Trương Nghi đã dùng biện pháp lừa gạt bằng lời nói, không có gió nhưng tạo được sóng, tạo mâu thuẫn giả giữa Sở vương, Nam Hậu và Trịnh Tụ - mua mĩ nữ - để đạo diễn một vở kịch nhỏ, tạo ra cảnh vừa sợ vừa vui, Sở vương vì vui mừng mà thưởng cho ông ta châu báu, còn Nam Hậu và Trịnh Tụ thì vì sợ hãi mà thưởng cho ông ta vàng để ông ta giải quyết vấn đề thiếu thốn tiền lộ phí, và cuối cùng chuyện này đã kết thúc bằng một cảnh tượng vui vẻ. Có thể thấy, cách khuyên giải và trí thông minh của Trương Nghi cao siêu đến mức nào.

    Tạo một kẻ địch chung

    Để tạo một mâu thuẫn giả, việc tạo một kẻ thù chung là rất quan trọng. Khi đối tượng nói chuyện của bạn có suy nghĩ đối lập với bạn, thì bạn cần tìm cách đắp nặn ra một kẻ thù chung, để người đó có thể phân biệt rõ ràng đâu là địch, đâu là ta, đâu là bạn, từ đó hoá giải mâu thuẫn giữa các bạn. Lúc đó, bạn sẽ đạt được mục đích nói chuyện của mình.

    Các lãnh đạo trong doanh nghiệp thường dùng phương pháp này để thuyết phục cấp dưới cùng đồng tâm hiệp lực, làm tròn trách nhiệm, hoàn thành tốt công việc của mình. Ví dụ, ở một đơn vị nọ, có một cấp dưới thường xuyên kêu ca, nếu bạn là một lãnh đạo, nếu bạn muốn phối hợp tốt với người cấp dưới đây thì bạn chỉ cần tạo ra một kẻ thù chung trong lòng anh ta là được. Bạn có thể nới với anh ta rằng: “Nếu hiệu quả công việc của anh vẫn tiếp tục thấp thì chúng ta chỉ còn nước thất nghiệp mà thôi. Anh không biết rằng, X đang ngầm đấu với chúng ta sao?“ để tạo một kẻ thù chung trong giả tưởng, mâu thuẫn giữa bạn và cấp dưới sẽ được loại bỏ vì kẻ thù giả tưởng đó. Và tự nhiên mâu thuẫn giữa bạn và cấp dưới sẽ được nhịp nhàng, thống nhất.

    Lại ví như, với tư cách là một lãnh đạo, nếu bạn muốn thúc đẩy ý chí vươn lên của nhân viên dưới quyền thì bạn hãy nói về những thách thức mà công ty đang phải đối mặt hiện nay như: Cấp trên đã nói rồi, nếu trong ba năm nữa mà cơ quan chúng ta vẫn chưa có tiến triển gì rõ rệt thì sẽ đến dỡ biển hiệu. Cấp trên có nói, nếu để cho các công ty khác đến chiếm hết công ty chúng ta thì chi bằng dỡ biển xuống trước rồi tiến hành chỉnh đốn, tạo hiệu quả về sau. Do vậy, tôi cho rằng công ty chúng ta phải đồng tâm hiệp lực kết hợp với toàn cục, cùng nỗ lực và phấn đấu cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Sau khi đã nói như vậy thì dù trước đây, nội bộ cơ quan bạn có mâu thuẫn đến thế nào chăng nữa nhưng vì bạn đã tạo ra một kẻ thù chung cho họ, thì mọi người sẽ chú ý phối hợp với nhau, cùng hợp tác với nhau, và thế là bạn đã đạt được mục tiêu của mình. Có thể thấy rằng, phương pháp tạo ra kẻ thù chung này có thể khiến cho việc khuyên giải trở nên dễ dàng.
     
  4. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 24

    Mọi sự khi mới bắt đầu đều gặp khó khăn, việc khuyên bảo cũng như vậy. Những câu mở đầu có dễ nghe hay không sẽ quyết định sự thành bại của việc khuyên giải. Do vậy bạn nên lợi dụng tâm lí hiếu kì của mọi người, chuyên tâm thiết kế một hình thức mới mẻ cho lời khuyên giải của bạn nhằm khuyến khích đối phương tự giác mở rộng tấm lòng để tiếp nhận thông tin, từ đó làm cho lời khuyên của bạn đạt được hiệu quả tốt nhất. Đương nhiên, hình thức mới mẻ phải có liên hệ với mục tiêu khuyên bảo chính của bạn, nếu không sẽ trở nên rỗng tuếch, cái phụ lấn át cái chính, hiệu quả hoàn toàn ngược lại. Xin hãy nhớ kĩ hình thức là để phục vụ cho nội dung.

    Học sinh của một lớp sắp tốt nghiệp phổ thông trung học rất tích cực học hành, sớm tự học, khuya tự học, luôn chăm chú nghe giảng. Trong giờ nghỉ giải lao mười phút trên lớp, chúng cũng chẳng thèm bước ra khỏi lớp lấy một bước, nằm bò trên bàn để học. Do suy nghĩ quá nhiều nên trong lớp đã hình thành một đoàn thể đặc biệt - “Uỷ ban đau đầu“. Học sinh trong lớp phần lớn đều đau đầu, mất ngủ và rất mệt mỏi. Giáo viên chủ nhiệm lớp đã nhiều lần khuyên giải học sinh phải chú ý nghỉ ngơi nhưng hiệu quả chẳng được bao nhiêu. Các học sinh đều cho rằng trong giai đoạn gấp rút lúc tốt nghiệp này, cần phải tranh thủ từng giây từng phút, làm sao có thể lãng phí thời gian để nghỉ ngơi cho được? Thầy Lưu - giáo viên dạy môn toán rất có kinh nghiệm trong chuyện này. Có một lần, thầy đã ra hai đề toán trên lớp cho học sinh như sau:

    8-1> 8; 3-1 = 0

    Học sinh đều vò đầu bứt tai, đưa mắt nhìn nhau, hai đề toán kì quặc như vậy biết làm sao có thể giải được đây? Cuối cùng đành phải nhờ thầy Lưu giải thích cho. Thầy Lưu mỉm cười nói với chúng rằng: “Các em ạ, đây không phải là một đề toán với nghĩa thông thường mà đây là một đề toán cần phải vắt óc suy nghĩ, chúng ta phải dùng tư duy lan toả và liên tưởng để suy nghĩ, nếu chỉ giải bằng cán bút thì không giải được đâu“.

    Tất cả học sinh nghe xong đều cảm thấy độc đáo và thú vị nên đòi thầy Lưu nhanh chóng giúp chúng giải “đề toán“ này. Thầy Lưu nói tiếp: Thực ra việc này rất đơn giản, ví dụ mỗi ngày chúng ta sắp xếp 6 tiết học, sau mỗi tiết lại nghỉ mười phút. Điều này rất có ý nghĩa khoa học, mười phút nghỉ giữa giờ để vận động, nhảy dây, đi bộ, hát một bài có thể khiến cho đầu óc được nghỉ ngơi, thoải mái hơn để học tiếp tiết học sau. Các thành quả tâm lí học cũng cho thấy rõ rằng, một người sau một thời gian học tập, nếu thông qua nghỉ ngơi một cách thích hợp thì có thể nhớ lại 56% những kiến thức đã học, nếu cứ học liên tục thì nhiều nhất chỉ có thể nhớ được 26% thôi. Các em thử xem, nghỉ ngơi chỉ mất một tiếng đồng hồ nhưng lại có thể đạt được hiệu quả cao bằng bảy tiếng đồng hồ, hiệu quả học tập còn lớn hơn nhiều so với học liền tám tiếng đồng hồ, các em thử nói xem có phải 8-1 lớn hơn 8 không?“

    Tất cả học sinh cười hiểu ý.

    Thầy Lưu nói tiếp: “Thầy biết rằng các em rất quý khoảng thời gian lúc sắp tốt nghiệp này, tâm trạng của các em thầy có thể hiểu được, thầy cũng đã từng là học sinh mà. Có điều phải chú ý phương pháp, cả ngày thần kinh căng thẳng, một hai ngày thì được, nhưng nếu kéo dài thì sẽ khó tránh khỏi bị đau đầu, mất ngủ, mệt mỏi, kém ăn, ngược lại sẽ ảnh hưởng đến kết quả thi tốt nghiệp. Học phải chú ý mức độ, lúc cần học thì phải học, lúc cần nghỉ ngơi thì phải nghỉ ngơi. Các em thấy thầy nói có đúng không?“.

    Học sinh ai cũng gật đầu tán thành.

    Thầy Lưu lại tiếp tục giải “đề toán“ 3-l = 0 kia, thầy nói: “Chúng ta nói tiếp đến đề này, phương châm giáo dục của chúng ta là phát triển ba mặt: đạo đức, văn hoá, thể dục, ba mặt này không thể thiếu mặt nào cả. Nếu không chú ý rèn luyện, gục xuống rồi cả ngày đau đầu, dù mặt đạo đức và văn hoá có giỏi đến thế nào chăng nữa thì các em cũng sẽ không phát huy được tác dụng của mình, thế chẳng phải là uổng công học sao? Cho nên thầy mới nói 3 - 1 = 0, các em thử nói xem, thầy giải có đúng không?“.

    “Đúng ạ?“ Tất cả học sinh đồng thanh đáp lại, từ đó, mọi uỷ viên trong “Uỷ ban đau đầu” đều chú ý rèn luyện thân thể. “Uỷ ban đau đầu” cũng giải thể từ đó.

    Hình thức khuyên bảo của thầy Lưu có thể nói là rất độc đáo và mới mẻ, hơn nữa lại rất bám sát nội dung khuyên bảo, khiến cho học sinh rất phục, do đó cũng thu được hiệu quả khuyên rất tốt.

    Đối với những đối tượng cố chấp, nếu khuyên trực tiếp thì e rằng sẽ không thu được hiệu quả, do đó hãy lợi dụng tâm lí hiếu kì để thiết kế ra một hình thức mới mẻ và độc đáo. Nhằm vào sở thích của đối phương để khiến đối phương tự giác mở rộng tấm lòng để tiếp nhận thông tin thì càng dễ dàng đạt được mục đích khuyên bảo.

    “Khuyên bằng 3 chữ“

    Thời Tam Quốc, khi Tịnh Quách Quân Điền Anh đảm nhiệm chức tướng quốc nước Tề, Tề vương đã ban Tiết ấp cho ông ta để làm đất phong. Do vậy, Tịnh Quách Quân chuẩn bị xây thành ở Tiết Ấp là đất phong của mình, nhưng không ngờ kế hoạch xây thành lần này lại bị các thực khách dưới trướng phản đối. Các thực khách hết người này đến người khác khuyên can, yêu cầu Tịnh Quách Quân từ bỏ ý định xây thành. Tịnh Quách Quân rất bực tức, thế là ông ta liền dặn dò người truyền đạt lại rằng: “Lần sau đừng thông báo hộ cho những thực khách khuyên ta này”.

    Trong số những môn khách có một người nước Tề xin cầu kiến Tịnh Quách Quân và nói rằng: “Thần chỉ xin được nói ba chữ thôi. Nếu thần nói thừa ra một chữ thì xin hãy xử tội chết.“

    Tịnh Quách Quân liền tiếp kiến ông ta. Người nước Tề đó nhanh chóng bước lên phía trước, sau khi nói xong ba chữ “hải, đại, ngư“ liền quay đầu bỏ chạy.

    Tịnh Quách Quân nói: “Đợi đã, ông vẫn chưa nói xong mà!“.

    Người nước Tề đó nói: “Thần không dám lấy tính mạng của mình ra làm trò đùa.“

    Tịnh Quách Quân muốn giải ngay câu đố của ba chữ “hải, đại, ngư” nên nói với ông ta rằng: “Ông cứ nói tiếp đi”.

    Thế là người nước Tề đó liền nói tiếp: “Ngài biết con cá lớn ở trong biển chứ, lưới không bắt được, câu cũng không câu được, nhưng nếu như nó không cẩn thận mà bơi phải vào chỗ cạn thì ngay cả đến lũ kiến nhỏ cũng có thể dễ dàng đối phó với nó. Bây giờ nước Tề chính là “nước” của ngài, ngài chỉ cần bảo vệ cho nước Tề là ngài có thể tự do bơi lội, vậy thì ngài việc gì phải xây thành ở Tiết Ấp? Nếu mất nước Tề thì dù cho ngài có xây thành Tiết Ấp cao thế nào chăng nữa cũng chẳng có tác dụng gì.“

    Tịnh Quách Quân nghe xong thấy có lí bèn dừng việc xây thành Tiết Ấp lại.

    Người nước Tề đó quả là một cao thủ trong việc khuyên giải, khi Tịnh Quách Quân khép chặt cõi lòng, lệnh cho người khác không được thông báo cho các môn khách, đã khiến cho sự việc có biến chuyển. Chủ yếu là do hình thức khuyên nhủ mà ông thiết kế ra đã nắm chắc được tâm lí hiếu kì của Tịnh Quách Quân, sau đó dẫn dắt đến mục tiêu khuyên giải chính của mình, sự thống nhất hoàn hảo về nội dung và hình thức độc đáo và mới mẻ này tự nhiên đã làm cho Tịnh Quách Quân cảm thấy mạch lạc đâu ra đấy, từng câu từng chữ đều rất lọt tai, việc từ bỏ kế hoạch ban đầu cũng là bởi vì nguyên nhân này.

    Cô gái xấu xí nói lời khuyên can

    Tề Tuyên Vương sau khi dựa vào đại tướng Tôn Phúc đánh bại được nước Nguỵ liền trở nên ngạo mạn, suốt ngày chỉ lấy rượu làm vui, chìm đắm trong ca múa và săn bắn. Ông ta khen ngợi lũ a dua nịnh hót và chê bai những kẻ trung thần. Một hôm nọ, Tề Tuyên Vương tổ chức một bữa tiệc trong cung tuyết - nơi được xây dựng để cho ông ta vui chơi - và ra lệnh cho một đám cung nữ múa hát cho vui. Đột nhiên, nghe nói: có một cô gái rất xấu muốn gặp đại vương, lại còn nói muốn được vào cung để hầu hạ đại vương. Tề Tuyên Vương ra lệnh cho cô ta vào, quả nhiên đó là một cô gái cực kì xấu xí. Tất cả các đại thần có mặt ở đó đều bật cười.

    Tề Tuyên Vương cũng cảm thấy rất nực cười, bèn hỏi. “Trong cung của ta, mĩ nữ nhiều vô kể, ngươi xấu như vậy thì e rằng ngay cả đến người nhà quê cũng còn coi thường nữa, vậy mà ngươi lại dám đến bên cạnh ta để tranh sủng, ngươi quả là không biết tự lượng sức mình, trừ phi là ngươi có bản lĩnh gì hơn người?“

    Cô gái xấu xí bình tĩnh đáp rằng: “Thiếp chẳng có bản lĩnh gì hơn người cả, chẳng qua là biết một ít lời nói ngầm mà thôi.“

    Tề Tuyên Vương nói: “Được, vậy ngươi hãy thử xem, nếu không làm được thì ta sẽ lập tức chém đầu.“

    Thế là cô gái xấu xí liền trợn mắt, nhe răng, tay khua loạn xạ, sau đó vỗ vào đầu gối rồi hét lớn răng: “Nguy hiểm! Nguy hiểm?“.

    Tề Tuyên Vương chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao cả cứ như là ở trong chín tầng mây vậy, không biết trong hồ lô của cô gái kia có đựng loại thuốc gì. Các đại thần xung quanh đều không giải thích được, đành phải bảo cô gái kia giải thích.

    Cô gái xấu xí chậm rãi trả lời: “Thiếp trợn mắt là để theo dõi sự thay đổi của lửa biên thuỳ cho đại vương, nhe răng để trừng phạt những kẻ không nghe lời khuyên của đại vương, xua tay là để đuổi những kẻ a dua nịnh hót cho đại vương, vỗ chân là để dỡ cung tuyết cho đại vương.“

    Tề Tuyên Vương mới nghe xong đã nổi trận lôi đình: “Đồ con gái xấu xí như ngươi lại còn dám nói năng lung tung, bay đâu, lôi ra ngoài chém đầu cho ta.“

    Cô gái nọ vẫn bình tĩnh, ung dung, lúc lâm nguy vẫn không hề hoảng hốt, cô bình tĩnh nói với Tuyên Vương rằng: “Xin đại vương cứ để cho thiếp nói hết, nếu nói không đúng thì đến lúc đó đại vương giết cũng chưa muộn. “

    Tề Tuyên Vương nghe xong liền nghĩ: “Lẽ nào ta lại sợ ngươi giở trò”, thế là liền nói với cô gái nọ: “Ngươi nói đi“

    Cô gái nói: “Thiếp nghe nói nước Tần sau khi dùng biện pháp Thương Ưởng thì nước giàu dân mạnh, nước Tần chẳng bao lâu sau sẽ xuất binh tiến đánh nước Tề. Vậy mà đại vương giờ trong nước không có tướng giỏi, ngoài biên thuỳ khả năng phòng ngự lại kém. Đó là lí do khiến thiếp dõi mắt giúp đại vương. Thiếp lại nghe nói: 'Vua có thần dám khuyên can thì nước không mất, cha có con dám khuyên can thì nhà không mất.' Vậy mà nay, đại vương lại chìm đắm trong tửu sắc, không hề nghe theo lời khuyên giải của trung thần mà cứ nghe theo lời a đua nịnh hót. Thiếp sở dĩ nhe răng là vì để chấp nhận lời khuyên đúng cho đại vương. Đại vương bị một lũ người a dua nịnh hót bao vây, đây chính là nguyên nhân sẽ làm mất nước, cho nên thiếp mới xua tay để đuổi chúng đi; đại vương xây một cung điện hào hoa như vậy đã tiêu tốn hết bao nhiêu sức người của cả nước, làm cho quốc khố trống rỗng, dân tình đói khổ, cho nên thiếp mới vỗ chân để dỡ cung tuyết đi cho đại vương. Ngài đã mắc phải bốn lỗi lớn, nay đất nước đang nguy khốn, thiếp chịu nguy hiểm mất đầu đến để khuyên đại vương, nếu được chấp nhận thì thiếp có chết cũng nhắm mắt.“

    Những lời phân tích đâu ra đấy này của cô gái xấu xí đã khiến cho Tề Tuyên Vương như chợt tỉnh giấc mộng. Ông vô cùng cảm động và nói rằng: “Nếu không có những lời này của nàng thì ta nào biết lỗi lầm của mình?“ Nói xong liền ra lệnh lập tức tan tiệc và đem thẳng cô gái xấu xí kia về cung, lập làm hoàng hậu, sau đó đã tiếp thu ý kiến của cô, thu hiền nạp sĩ, xa rời kẻ tiểu nhân, gần gũi với các hiền thần chăm lo việc chính sự, nước Tề được ổn định. Người con gái đó là ai? Bà chính là Chung Li Xuân.

    Cô gái xấu xí đó biết rằng, đã từng có người thẳng thắn khuyên bảo Tề Tuyên Vương, nhưng ông ta không hề tiếp thu ý kiến của họ. Nếu “lời khuyên“ của mình không độc đáo, mới mẻ và khác biệt về hình thức thì Tề Tuyên vương nhất định sẽ không hứng thú. Thế là cô đã chuyên tâm thiết kế ra một hình thức khuyên bảo độc đáo của riêng mình. Hình thức khuyên bảo của cô gái xấu xí kia có hai điểm độc đáo chính: một là tuy diện mạo xấu xí nhưng lại dám đến “tranh sủng“, hai là ngôn ngữ ẩn độc đáo - giương mắt, xua tay, nhe răng, vỗ chân. Hai điểm độc đáo này đã thu hút được tính hiếu kì của Tề Tuyên Vương. Cô gái xấu xí đó đã nắm được tính hiếu kì này, đưa ông ta vào mục tiêu khuyên nhủ chính của mình, sự phân tích rõ ràng mạch lạc và tấm lòng tận trung báo quốc, chịu nguy hiểm bị chém đầu để khuyên can Tề Tuyên Vương của cô cuối cùng đã làm cho Tề Tuyên Vương cảm động, như vừa tỉnh cơn mộng.

    Việc thiết kế hình thức khuyên bảo độc đáo trước tiên có thể dùng những thứ mà đối phương thích nhất để làm điểm đột phá, sau đó thì hoặc là nói vòng hoặc là nói thẳng, để làm cho đối phương tâm phục khẩu phục, tiếp nhận những quan điểm của bạn.

    Càn Long đối thơ giải hoà

    Đời Càn Long, đại học sĩ Hoà Thân tự cho mình là trẻ tuổi có tài giỏi làm thơ phú, tài hoa vượt bậc, nên rất coi thường nguyên lão ba triều là Lưu Thông Huấn lão tiên sinh. Lưu lão tiên sinh cho rằng mình thông hiểu thơ phú, vất vả và có nhiều công lao, cũng chẳng coi Hoà Thân - người vốn cậy tài - chẳng ra gì. Cứ mỗi lần lên triều nghị chính, hai người thường xuyên bất hòa với nhau. Việc này Càn Long đã sớm phát hiện được nên ông cố ý muốn giảng hoà cho hai người.

    Một hôm, Càn Long lệnh cho hai người hộ giá đến ngự hoa viên để giải khuây. Càn Long để cho hai người bàn luận về thơ ca nhằm kích thích hứng thú và sở thích chung của họ. Lúc đó, họ đang đi gần đến một bờ hồ, gió nhè nhẹ thổi mặt hồ gợn sóng lăn tăn, Càn Long lập tức ra lệnh cho hai người lấy nước để vịnh thơ. Lưu lão tiên sinh vuốt chòm râu bạc trắng của mình, bước đến bên hồ, nhìn dáng vẻ già nua lụ khụ ở dưới nước của mình và dáng vẻ vênh váo tự đắc của Hoà Thân đang đứng bên cạnh liền ngâm rằng: “Có nước cũng đọc là khê, không có nước cũng đọc là khê, khê mà thiếu chim tự thành đề, con cáo được ăn vui như hổ, phượng hoàng rớt xuống núi chẳng bằng gà.“ (Giải thích: trong tiếng Trung, từ “khê“ vốn có nghĩa là “sao, nào“, nếu trước từ “khê“ này thêm bộ thuỷ, có nghĩa là “suối” , thì vẫn đọc là “khê“, nếu thêm bộ điểu thì có nghĩa là chim uyên ương, và cũng đọc là “khê“)

    Hoà Thân nghe xong, tự cảm thấy tài năng “bảo đao bất lão“ của Lưu lão tiên sinh, nhưng cũng hiểu được ý chế giễu mình, nên mới giễu lại rằng “Có nước đọc là tương, không có nước cũng đọc là tương, mưa rơi trên tương lại thành sương.“ (Giải thích: trong tiếng Trung, từ “tương“ vốn có nghĩa là “tương trợ”, nếu thêm bộ thuỷ ở trước từ này thì có nghĩa là “sông“, còn nếu thêm bộ vũ (có nghĩa là mưa) thì nó lại có lại có nghĩa là “sương“). Mọi nhà tự mình quét tuyết trước cửa, chứ đâu quan tâm đến sương trên mái nhà người khác.

    Lưu tiên sinh nghe xong cũng thầm thán phục tài năng của Hoà Thân. Vua Càn Long nhanh trí tiến lên trước cầm mỗi người một tay, kéo đến bên bờ hồ, nhìn xuống ảnh ba người trong hồ mà nói: “Hai vị ái khanh hãy lắng nghe, trẫm cũng có bài thơ:

    “Có hay không có bộ chấm thuỷ cũng đọc như nhau (trong tiếng Hán, một số chữ có âm đọc giống nhau), các ái khanh cùng đồng tâm hiệp lực, chẳng thẹn với lòng vì có tình yêu.“

    Hai người họ thấy Càn Long nói như vậy, lại thấy người kia học vấn hơn người nên liền bắt tay giảng hoà, kết làm “bạn vong niên“.

    Cách thức khuyên giải của Càn Long có thể nói là rất độc đáo, ông đã lựa chọn việc bình thơ phú mà 2 người đều ưa thích để làm điểm đột phá, có được hiệu quả thuyết phục cao. Hiệu quả này tốt hơn so với cách thức khuyên nhủ trực tiếp - cách khuyên trực tiếp tạo cho người ta có cảm giác bị thuyết giáo hoặc bị ép buộc, còn cách khuyên nắm được những thứ mà hai bên cùng yêu thích sau đó nói thẳng thắn vào những lúc thích hợp sẽ tạo cho người ta có cảm giác như được dẫn dắt, không hề có cảm giác bị ép buộc, bị ức chế hoặc thuyết giáo.

    Phạm Thư khéo léo thuyết phục Tương Vương

    Phạm Thư là người nước Nguỵ thời Chiến Quốc, là một biện sỹ nổi tiếng lúc bấy giờ. Khi còn trẻ, gia đình ông rất nghèo, ông vốn dĩ muốn đi du thuyết các chư hầu, mong có được một chức quan nho nhỏ nhưng ngặt vì không có cơ hội nên chỉ sống thầm chẳng được nhiều người biết đến. Sau đó nghe nói nước Tần chiêu hiền đãi sĩ nên muốn đến nước Tần để thử vận may.

    Khi Phạm Thư đến nước Tần thì không được may mắn lắm. Tần Vương lúc đó là Chiêu Tương Vương, nhưng người nắm thực quyền của nước Tần lại là Nhượng hầu. Nhượng hầu rất coi thường Phạm Thư, kiên quyết không cho ông gặp Chiêu Tương Vương. Do bị Nhượng hầu cản trở từ bên trong nên giữa ông và Tần Vương bị ngăn cách bởi bức tường cao, muốn có được cơ hội tiến cử mình với Tần Vương thì trước tiên phải phá vỡ được bức tường này.

    Làm thế nào để Chiêu Tương Vương đồng ý triệu kiến mình đây? Phạm Thư đã lao tâm khổ tứ, cuối cùng cũng nghĩ ra cách là dâng thư. Phạm Thư nghĩ rằng muốn cho Tần Vương thích mình thì bản thư dâng của mình phải độc đáo, hình thức mới mẻ, phải làm cho bản tấu dâng của mình có được hiệu quả khác biệt so với các bản khác. Do vậy, trước khi dâng thư, Phạm Thư đã nghiên cứu tỉ mỉ mọi mặt của nước Tần, đồng thời phân tích kỹ đặc điểm và nhược điểm của Chiêu Tương Vương lúc đó. Tình hình của Chiêu Tương Vương lúc ấy rất khó khăn, ông đã chấp chính được ... năm nhưng khi ông kế vị đến năm thứ... vẫn không làm cách nào để nắm được quyền hành trong tay, mọi sự lớn nhỏ đều do Tuyên Thái hậu và thúc phụ Nhượng hầu quyết định. Chiêu Tương Vương rất buồn về việc chuyên quyền của họ.

    Phạm Thư đã rất thông minh khi phát hiện được vấn đề này, và thế là ông đã ngầm chỉ ra “tâm bệnh“ của Chiêu Tương Vương. Trong bản tấu, ông viết: “Có rất nhiều vấn đề thần không dám viết thẳng ra, chỉ có gặp mặt mới có thể bàn bạc được...“.

    Ở câu cuối cùng của bản tấu, ông có viết: “Nếu sau khi gặp mặt mà chẳng câu nói nào của thần có ích thì thần xin chịu tội chết.“

    Chiêu Tương Vương - người đang bị hàng loạt các vấn đề vây hãm - vừa nhìn thấy bản tấu kỳ lạ này đã rất sốt sắng, ông ta lập tức ra lệnh muốn gặp Phạm Thư.

    Với việc suy tính thấu đáo như vậy, Phạm Thư có thể nói là đã giành được cơ hội gặp mặt Chiêu Tương Vương. Thực quả không dễ dàng gì!

    Năm 270 trước Công Nguyên, Phạm Thư được vào cung nhà Tần, Tần Vương vẫn còn chưa đến. Ông ta giả vờ như không hiểu gì về phép tắc trong cung, cố ý đi vào đường dẫn đến hậu cung. Đúng lúc đó, Tần Chiêu Tương Vương đến. Quân lính đi bên cạnh hầm hầm đuổi Phạm Thư: “Mau đi đi. Đại vương đến rồi.“ Phạm Thư cố làm ra vẻ nói năng lung tung: “Nước Tần chỉ có thái hậu và Nhượng hầu chứ làm gì có đại vương nào?“

    Chiêu Tương Vương ở trong phòng nghe thấy câu nói này, trong lòng cảm thấy bực bội nhưng vẫn cố kìm nén, ông làm ra vẻ chẳng hề gì, để cho Phạm Thư vào và hỏi han ông ta rất chân thành.

    Giọng điệu nói chuyện của Chiêu Tương Vương khiến Phạm Thư rất xúc động. Chiêu Tương Vương nói: “Hôm nay, được gặp mặt tiên sinh, ta cảm thấy rất vui. Ta đã muốn gặp mặt tiên sinh từ lâu, nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau, thêm vào đó lại là thái hậu thường xuyên can dự từ bên trong, sớm thì thỉnh thị, tối lại bẩm báo, thời gian bị kéo quá dài, những vấn đề có thể giải quyết được thì để lâu đến mức không thể giải quyết được nữa. Ta nghĩ, cần phải gặp mặt tiên sinh ngay, giờ ta rất muốn nghe cao kiến của ngài”.

    Phạm Thư lúc này thấy ý mà Chiêu Tương Vương nói gần khớp với những điều mà mình nghĩ nên mừng thầm trong bụng. Có điều, ông hiểu rằng mình vẫn chỉ là một kẻ du thuyết nhỏ bé, nếu trả lời không cẩn thận, nói năng không giữ chừng mực thì đều rất có khả năng khiến Chiêu Tương Vương không vui, từ đó làm mất cơ hội thành công của mình.

    Thế là Phạm Thư đưa mắt ra hiệu cho Chiêu Tương Vương lệnh cho thuộc hạ lui ra. Chiêu Tương Vương làm đúng như vậy. Phạm Thư vẫn im lặng, vẫn đứng lặng yên, mắt nhìn thẳng vào Chiêu Tương Vương. Chiêu Tương Vương không kìm nổi nữa mới hỏi: “Thưa tiên sinh, xin tiên sinh hãy nói xem ngài có điều gì chỉ bảo?”

    Chiêu Tương Vương nào ngờ được rằng, câu trả lời của Phạm Thư lại quá đơn giản. Ông ta chỉ nói: “Vâng, vâng“, sau đó lại im lặng, chỉ nhìn Chiêu Tương Vương rồi cười, làm cho Chiêu Tương Vương cứ như bị mây mù bao phủ vậy.

    Chiêu Tương Vương quả thực không chịu nổi được sự im lặng của Phạm Thư nữa, thế là lại hỏi Phạm Thư: “Tiên sinh mau nói xem, rốt cục là có điều gì cần chỉ “Vâng“, Phạm Thư vẫn tiếp tục trả lời như vậy. Sau đó lại vẫn là sự im lặng khiến người khác khó chịu.

    Và cứ như thế, trong cuộc nói chuyện lần này, Chiêu Tương Vương đã phải lặp lại một câu hỏi đến ba lần. Song Chiêu Tương Vương chẳng hề thu được gì từ miệng của Phạm Thư, Chiêu Tương Vương không kìm được nữa, có đôi chút tức giận. ông lớn tiếng nói: “Có điều gì cần chỉ giáo? Theo ta thì tiên sinh cứ nói thẳng ra! Lẽ, nào tiên sinh không muốn chỉ giáo cho quả nhân?“

    Thấy dáng vẻ sốt ruột của Chiêu Tương Vương, Phạm Thư trong lòng thấy rất vui, ông ta cố ý làm như vậy mà. Phạm Thư rất thông hiểu kỹ năng thuyết phục. Ông biết rằng, để thuyết phục người khác, có 1 điểm quan trọng đó là. “Dục văn kỳ thanh phản mặc, dục trưởng phản liễm, dục cao phả hạ, dục thủ phản dữ“, nghĩa là: càng muốn nghe tiếng của đối phương thì mình càng nên im lặng, càng làm cho đối phương nói thì mình càng nên thu mình lại. Nếu muốn làm cho đối phương nghe theo những kiến giải của mình, thì trước tiên phải gợi mở cho đối phương, đợi đến khi đối phương đã bị nó làm lung lay. Cái gọi là “Lặng im không lời“ lại thường đạt được mục đích tăng thêm phân lượng của lời nói. Phạm Thư thấy thời cơ đã chín muồi, nên liền bắt đầu bài biện luận dài của mình. Phạm Thư thành thật nói với chiêu Tương Vương:

    “Thần không dám nghĩ như vậy! Thời xưa, Lã Thượng gặp Văn Vương, ông ta chẳng qua cũng chỉ là một người câu cá ven sông Vị Hà, quan hệ giữa họ quá ư xa xôi. Hai người chỉ nói một câu chuyện mà Văn Vương đã ban cho ông ta chức Thái sư. Văn Vương dùng mưu lược của ông ta cuối cùng đã diệt được nhà Thương, giành lấy thiên hạ. Nay, thần chỉ là một người sống ở nơi đất khách quê người, quan hệ giữa thần và hoàng thượng cũng quá xa. Nhưng điều mà thần muốn nói lại là chuyện phò tá cho ngài, hoặc là chuyện đại sự giữa những người thân của hoàng thượng. Thần vốn dĩ muốn nói thẳng ra nhưng lại e không biết thái độ ngài ra sao. Đây chính là nguyên nhân khiến hoàng thượng hỏi đến ba lần mà thần vẫn không dám nói“.

    Tần Chiêu Tương Vương nói: “Tiên sinh nói gì vậy! Nước Tần ở nơi xa xôi hẻo lánh, quả nhân lại ngu dốt bất tài, tiên sinh vất vả đến đây, đó là do ông trời phù hộ cho nước Tần. Việc dù lớn dù nhỏ, trên đến thái hậu, dưới xuống các đại thần thì tiên sinh cứ nói ra đừng ngại, đừng nên ngờ vực quả nhân.“

    Phạm Thư nghe thấy câu nói này, biết là Chiêu Tương Vương có thành ý, bèn quỳ xuống hành lễ, Tần Vương cũng quỳ xuống hành lễ. Và thế là Phạm Thư đã hiến kế kết giao với nước ở xa, tấn công những nước ở gần cho Tần Vương.

    “Hoàng thượng nên áp dụng sách lược kết giao với nước ở xa, tấn công những nước ở gần, kết giao với những nước ở xa nước Tần, chinh phục những nước lân cận. Như vậy, mỗi tấc đất mà chúng ta lấy được sẽ giữ được nguyên vẹn, chẳng ai dám cướp đi. Vậy mà hiện tại: ngài lại bỏ qua những nước lân cận để tấn công những nơi ở xa, muốn thắng được chẳng phải là quá hoang đường sao? Nước Hàn và nước Nguỵ ở khu vực Trung Nguyên, là điểm mút nối với thiên hạ, nếu hoàng thượng muốn hoàn thành bá nghiệp, thì nhất định phải khống chế hai nước Hàn và Nguỵ, để uy hiếp hai nước ở xa là Sở và Triệu. Sở và Triệu phải phụ thuộc nước Tần thì nước Tề nhất định sẽ sợ, lúc này ta lại kết bạn với Tề. Lúc đó hai nước lân cận là Hàn và Nguỵ sẽ không đáng ngại nữa!“

    Chiêu Tương Vương đã bị lời nói ngắn gọn mà sâu sắc của phạm Thư thuyết phục. Ông rất tán thưởng sách lược của phạm Thư, lập tức ban cho phạm Thư làm khách khanh. chuyên bàn bạc các sách lược quân sự đối ngoại. Theo kế của Phạm Thư, nước Tần tấn công Nguỵ trước, hạ được Hoài Thành. Sau 2 năm, lại hạ được Hình Khưu. Năm 266 trước công nguyên, Chiêu Tương Vương phong đất ứng cho Phạm Thư, hiệu là ứng hầu, thay thế chức của Nhượng hầu, địa vị bỗng trở nên hiển hách.

    Cách thức khuyên của Phạm Thư vô cùng mới mẻ và độc đáo từ khi dâng thư đến khi gặp Tần Vương đều có đặc điểm như vậy. Trong bản tấu, ông ngầm chỉ ra một số vấn đề như vậy nhưng lại không nói toạc ra, khiến người đọc sốt ruột, làm cho Chiêu Tương Vương vốn muốn biết đầu đuôi ra sao trở nên sốt ruột không kìm được nữa, muốn gặp ông ta ngay. Cho đến khi gặp mặt rồi, ông lại dùng cách im lặng để đối lại với Tần Vương - người đang sốt ruột, cuối cùng đã làm lời nói của mình có giá trị hơn.

    Phạm Thư là người áo vải, gia cảnh nghèo khó nay bỗng chốc trở thành tướng quốc nước Tần, địa vị hiển hách. Điều này có quan hệ vô cùng mật thiết với mưu lược trí tuệ và nghệ thuật ăn nói cao siêu của ông.

    Việc sáng tạo cách thức thuyết phục độc đáo chủ yếu là khiến cho người nghe có ý muốn nghe mình nói tiếp, nhưng tuyệt đối không phải là nói năng lung tung, nói không đúng chủ đề, nếu không thì dù cho cách thức thuyết phục của bạn có độc đáo đến thế nào chăng nữa thì cũng sẽ không đạt được mục đích thuyết phục. Do vậy, điều quan trọng nhất là phải theo đuổi sự thống nhất hoàn hảo giữa cách thức và nội dung biểu đạt. Tô Tần - người tung hoành nổi tiếng thời Chiến Quốc rất thông hiểu đạo lý này và đồng thời đã thành công trong việc xây dựng một hình tượng trung tín trong lòng Yên Vương.

    Tô Tần khéo léo nói về trung và gian

    Tô Tần đã dựa vào phương thức độc đáo “Một vui một buồn, một chúc mừng, một chia buồn“. rồi dùng ba tấc lưỡi của mình đề đòi lại mười toà thành cho Yên Vương. Nhưng khi Tô Tần trở về nước Yên, lại không hề có người nào ra đón. Thì ra, sau khi Tô Tần đến nước Tề, đã có người nói lời gièm pha với Yên Chiêu Vương, nói Tô Tần là người phản phúc vô thường, lần này ông ta sang đó, nhất định sẽ bị Tề Vương mua chuộc. Chiêu Vương nghe theo lời gièm pha, nên đã bãi chức của Tô Tần.

    Tô Tần đã tìm cơ hội để tấn kiến Yên Chiêu Vương và nói rằng: “Vi thần vốn là một kẻ nhà quê, khi lập được công, đại vương đích thân ra đón. Nay thần đòi lại được 10 toà thành, đại vương lại bãi chức quan của thần, có thể thấy rằng, sau khi thần đi khỏi, nhất định là đã có người nói xấu thần với đại vương, cho rằng thần là người bất trung bất tín. Thực ra, thần quả là có chút bất trung bất tín.“

    Chiêu Vương nghe xong vội hỏi: “Sao lại nói như vậy?“

    Tô Tần nói: “Tăng Tham nổi tiếng vì hiếu thuận, Vĩ Sinh nổi tiếng vì trung tín, Bá Di được người đời ca ngợi vì trung thành với nơi ở của mình. Nếu 3 người này phò tá đại vương thì đại vương nghĩ sao?“

    Chiêu Vương đáp: “Có 3 người này phò tá ta, thế là đủ rồi.“

    Tô Tần nói tiếp: “Nhưng thần lại không cho là như vậy, nếu ai cũng giống 3 người này thì sẽ không có người phò tá đại vương. Tăng Tham vì tận hiếu nên đêm ngày không rời xa cha mẹ, đại vương làm sao có thể khiến ông ta rời bỏ quê hương bản quán để đến giúp nước Yên đây. Bá Di vì thể hiện trung với triều Thương, thà chết ở núi Thủ Dương, chứ nhất định không chịu ăn lương thực của nước Chu, đại vương làm sao có thể hy vọng sai được người này đi sang xứ Tề đây? Vĩ Sinh quả thực là rất giữ chữ tín, ông ta hẹn với một cô gái, cô gái không đến, ông ta thà ôm cột chết đuối chứ không chịu né tránh, đại vương làm sao có thể trông mong loại người này sẽ tuyên truyền cái uy của nước Yên cho Tề Vương đây? Có thể thấy rằng kiểu người trung, tín, hiếu kiêm toàn này, cái mà họ coi trọng chẳng gì khác ngoài việc giữ danh tiếng của bản thân. chứ không phải là đóng góp sức mình cho đất nước.“

    Tô Tần càng nói càng kích động, tâm trạng cũng càng ngày càng hăng, nên chỉ thấy Tô Tần nói tiếp rằng: “Nếu vi thần cũng bó buộc bởi những phẩm chất và hành vi này thì thẩn cũng sẽ không chịu rời bỏ quê hương để đến dốc sức cho đại vương khi mẫu thân của thần vẫn còn ở Lạc Dương. Thần đầu quân cho đại vương cũng chính là vì thần không muốn chịu sự bó buộc của kiểu trung, tín, hiếu kiêm toàn kia. Thần cho rằng, đây mới là cái trung lớn nhất với đại vương. Vi thần chính là vứt bỏ cái trung tín nhỏ để thực hiện cái trung tín lớn. Thần đâu có ngờ, thần lại chính vì cái trung tín lớn mà đắc tội với đại vương“.

    Yên Vương nói: “Thiên hạ làm gì có chuyện trung tín với người mà đắc tội với người .“

    Tô Tần đáp: “Cũng không hẳn là như vậy, đại vương có lẽ cũng không biết, vi thần có một người hàng xóm, người chồng đến nơi xa để làm quan, người vợ ở nhà có qua lại với người đàn ông khác. Sau đó, người chồng trở về, vợ anh ta bèn bàn bạc với gian phu bày kế đầu độc chết người chồng. Ba ngày sau, người chồng về đến nhà, vợ anh ta bèn sai người hầu gái rót rượu. Người hầu gái biết rằng trong rượu có độc, nếu để cho chủ uống thì cũng có nghĩa là giết chủ. Nếu nói hết sự thật cho chủ thì lại lo bà chủ bị đuổi đi, làm tan vỡ một gia đình đang yên ấm. Cô ta liền “Cái khó ló cái khôn“, giả vờ sơ ý ngã, làm cho rượu bị tung loé ra đất. Người chồng thấy thế nổi giận đùng đùng, đánh cho người hầu gái vài gậy. Đại vương thấy đấy, cú ngã này của người hầu gái, trên thì bảo vệ được ông chủ, dưới lại bảo vệ được bà chủ, chẳng phải là quá trung tín rồi sao. Vậy mà cô ta lại bị đánh tơi tả. Trường hợp của vi thần cũng giống như người hầu gái đó vậy, vi thần tận trung với đại vương nhưng lại đắc tội với đại vương, sau này làm sao có ai dám dốc sức vì đại vương nữa đây?“

    Yên Vương nghe xong, thấy mình đã tin theo lời gièm pha là sai, nên đứng dậy mà nói rằng: “Đó là do ta nhất thời hồ đồ, nghi oan cho tiên sinh“. Và thế là ông phục chức cho Tô Tần, đồng thời còn ban thưởng hậu hĩnh.

    Trong đoạn biện luận trên giữa trung và gian này, Tô Tần trước tiên đã lấy việc thừa nhận sự bất trung bất tín của mình để kích thích trí tò mò mà sự hứng thú của Yên Vương, tiếp đó lại lấy 3 người nổi tiếng trung, tín trong lịch sử là Tăng Tham, Bá Di, Vĩ Sinh để làm hình tượng phản diện, để chứng minh mình chính là “Vứt bỏ cái trung tín nhỏ để thực hiện cái trung tín lớn“. Khi Yên Vương không thừa nhận sai lầm của mình, Tô Tần lại lấy hình tượng “chuyện người hàng xóm của mình“ để cảnh báo Yên Vương, cuối cùng đã thuyết phục được Yên Vương, xây dựng được hình tượng trung tín của mình trong lòng Yên Vương.
     
  5. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 25

    Thường ngôn nói rằng: “Bệnh vào từ miệng mà họa cũng từ miệng mà ra“. Khi giao tiếp trong thế giới rộng lớn này, những người giỏi ăn nói, miệng toàn nở hoa sen. Những lời hay ý đẹp như châu, như ngọc, làm việc gì cũng được như ý, luôn xuôi chèo mát mái; ngược lại, nếu không xem tình hình, không biết xử sự, nói xiên xẹo, lung tung, hồ đồ sẽ gây chuyện thị phi, thậm chí gây hoạ.

    Vậy làm thế nào để tránh “Bệnh vào từ miệng mà hoạ cũng từ miệng mà ra“? Điều này cần phải chú trọng đến nghệ thuật ăn nói. Đối với mỗi đối tượng khác nhau, ngữ cảnh khác nhau, đều phải suy nghĩ cho thấu đáo, rõ ràng. Có như vậy, bạn mới có thể bình tĩnh, ung dung để đối phó, vật lộn với cuộc đời rộng lớn đầy rẫy những lọc lừa, gian trá. Bạn mới có thể đứng vững, có thể bắt rễ, nở hoa và cho ra những quả trái cuộc đời sai trĩu.

    Chương 1 : Có Thể Khéo Léo Vận Dụng Những Lời Nói Mơ Hồ

    Đôi lúc không thể nói thẳng nói thật được, phải để lại cho mình những khoảng tiện thoái lui. Nếu quá cứng nhắc, ta cũng khó tránh khỏi bị bối rối. Do vậy, cần nói nhiều những lời mơ hồ.

    Câu trả lời của “thầy bói“

    Có một câu chuyện cười như thế này, một hôm, có một người do không cẩn thận, đâm vào kiệu quan của Tri phủ đại nhân, bị trói lại đưa đến công đường nha huyện. Tri phủ đại nhân quát hỏi: “Người là ai mà dám đâm vào bản quan?”

    Người đó sợ hãi, run rẩy trả lời: “Tiểu nhân không phải là cố ý xô vào đại nhân, bẩm đại nhân, tiểu nhân là thầy bói“.

    Vừa hay vợ của tri phủ đang có mang, tri phủ đại nhân rất muốn biết vợ mình có mang con trai hay con gái, do vậy mới nói với thầy bói rằng ngươi biết xem bói thì hãy xem cho ta một quẻ, xem vợ ta nặn ra ngọc hay ra ngói?“

    “Nặn ra ngọc, ra ngói“ là câu nói thể hiện phong tục thời xưa. Thời xưa, khi sinh con trai, phải tặng 1 miếng ngọc nên mới nói là “nặn ra ngọc“, nếu sinh ra con gái thì chỉ tặng ngói để chơi thôi nên mới gọi là “nặn ra ngói“ .

    Người thầy bói đó nào biết được ý mà tri phủ đại nhân hỏi nên cứ thuận miệng trả lời rằng: “Bẩm đại nhân, theo như con tính thì bà vừa nặn ra ngọc, vừa nặn ra ngói“.

    Tri phủ thoạt nghe nói đã nổi giận: “Mi là đồ dối trá, mồm mép lém lỉnh, rõ ràng là lừa đảo người khác. Bay đâu! Đánh thật nặng 40 roi rồi đuổi đi cho ta!“.

    Nào ngờ, sau đó vợ ông ta sinh quả thật đã sinh ra một đôi “thai long phượng“. Tri phủ đại nhân vui đến nổỉ không để đâu cho hết, lúc đó mới đột nhiên nghĩ đến lời nói của thầy bói kia. “Ồ! Vừa nặn ra ngọc lại vừa nặn ra ngói, tên thầy bói này nói đúng quá. Mình phải chuẩn bị hậu lễ để đến thăm ông ta mới được“.

    Đương nhiên. Đây chỉ là một câu chuyện cười. Nhưng nó cũng nói lên được rằng, khi một sự việc hoặc một vấn đề khó có thể biểu đạt, thì cách nói mơ hồ hai khả năng đều được này lại là một cách để thoát khỏi tình huống khó khăn.

    Chúng ta đều biết rằng, những thầy bói trên phố đều rất biết dùng những lời nói mơ hồ này để lừa người, bởi vì họ rất biết cách đoán ý qua lời nói là nét mặt, gió chiều nào theo chiều ấy khiến cho lời nói của họ có tính đàn hồi lớn, mời các bạn hãy xem tiếp câu chuyện dưới đây:

    Ba tú tài kết bạn với nhau ở trên đường cùng đến tỉnh lỵ để tham dự kỳ thi cử nhân. Khi đến tỉnh lị, họ tìm đến một thầy bói để nhờ ông ta xem cho kết quả kỳ thi. Thầy bói giả vờ bấm ngón tay để tính, sau đó làm ra vẻ thần bí giơ một ngón tay lên. Mấy người tú tài mới hỏi thế là có ý gì. Thầy bói liền cười và nói rằng: “Người được học hành như các anh là những người thông minh, nào cần gì tôi phải nói nhiều, đạo lý chính là ở ngón tay này“, dứt lời ông ta không nói nữa.

    Các tú tài trả tiền rồi đi khỏi. Sau khi kết quả thi được công bố, các tú tài tức giận hầm hầm tìm đến thầy bói nọ và nói: “ông xem bói giỏi cái gì chứ, lần trước 3 người chúng tôi đến chỗ ông, nhờ ông xem mấy người có thể đỗ, ông giơ một ngón tay ra và nói rằng một người có thể đỗ, nhưng chúng tôi đỗ được 2 người, ông còn được coi là “thần toán “ nữa không?“.

    Thầy bói cười mà nói rằng: “Tôi có được coi là thần toán hay không thì bản thân tôi không tự nói được. Chỉ là 3 vị đã hiểu lầm ý của tôi, tôi giơ một ngón tay ra ý nói là chỉ có một người trượt, còn các anh lại cho là chỉ có một người đỗ, tôi rất ân hận là đã không nói rõ cho các anh biết“.

    Ba người tú tài nghe xong: “Ồ! Quả là thần toán!“.

    Họ liền khen ngợi rối rít. Thực ra, những vị tú tài kia nào biết được cái khéo léo khi dùng những lời lẽ mơ hồ của vị thầy bói kia chứ? “Một ngón tay“ có rất nhiều ý nghĩa, dù cho kết quả thi của 3 người họ có ra sao thì ông ta cũng sẽ giải thích được:

    Ví dụ một người đỗ, thì “1 ngón tay“ có nghĩa là “1 người có thể đỗ“. Nếu 2 người đỗ thì “1 ngón tay“ có nghĩa là “Chỉ có một người trượt“. Nếu cả 3 người cùng đỗ thì “một ngón tay“ có nghĩa là 3 người cùng đỗ.

    Nếu chẳng ai đỗ cả, thì “1 ngón tay“ có nghĩa là “chẳng có 1 ai là đỗ cả“.

    Tóm lại, mọi trường hợp ông ta đều có thể ứng phó được cũng có thể thấy được sự thông minh của ông thầy bói này.

    Xin các bạn hãy xem tiếp một câu chuyện về thầy bói như sau:

    Vào thời Đường, Triệu Vương - Lý Đức Thành trấn thủ Giang Diện. Ở địa phận quản hạt của ông ta có một thầy bói. Mọi người đều nói ông ta là “thánh sống“. bởi vì miệng của ông ta có thể nói người sống thành người chết, nói người chết thành người sống. Chẳng có chuyện gì có thể làm khó ông ta được. Lý Đức Thành vẫn ngưỡng mộ danh tiếng ông ta lừ lâu. Một hôm, Lý Đức Thành mời ông ta cùng uống rượu, ông thầy bói khi rượu say la đà, mắt đỏ ngầu nói rằng: “Triệu Vương gia, tôi thấy ngài là một người đại phú đại quý, sau này sẽ lập được sự nghiệp huy hoàng?“.

    Lý Đức Thành có lẽ vẫn chưa say, mới thờ ơ mà hỏi rằng: “Làm thế nào để nhận ra được?“.

    Ông thầy bói do uống rượu say, mới nói lung tung rằng: “Béo, gầy, cao, thấp, phú quý nghèo hèn, tiểu nhân chỉ cần liếc qua là biết“. Lý Đức Thành không hề phản bác ngay, mà vẫn cứ tiếp tục nghe thầy nói khoác lác nhưng ông ta là người có dụng ý, nên đã ghi lại lời nói của thầy bói trong bữa tiệc.

    Vài ngày sau, Lý Đức Thành đoán rằng ông thầy tướng đã tỉnh rượu, nên sai người đến mời ông ta, nói với ông ta rằng: “Lần trước nghe ông nói rằng: “Người phú quý nghèo hèn, ông chỉ cần thoáng qua là phân biệt được ngay“, phải vậy không? Nhờ ông xem giúp, trong 5 người phụ nữ kia, ai là phu nhân của ta?“

    Ông thầy bói nhìn theo hướng tay chỉ của Lý Đức Thành. Năm người phụ nữ đứng ở sân ăn mặc giống nhau như đúc. Ông ta nghĩ, phen này thì gay rồi. Mình chẳng qua chỉ là nói khoác khi uống rượu, nào ngờ ông ta lại cho lời mình là thật . Việc này chẳng phải là ông ta cố ý làm khó cho mình rồi sao? Xem ra, lần này nếu bị ông ta bóc mẽ thì e rằng mình sau này chẳng dám ngẩng đầu trước mặt ông ta nữa. Có điều: “Không có trâu thì cũng phải bắt chó đi cày” (ý nói, dù thế nào cũng phải thực hiện cho được). Quyết không thể chịu thua được. Mình cứ chỉ bừa một người thì cũng còn có 20% hy vọng. Phải rồi, mọi người chẳng phải nói rằng phu nhân của ông ta có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành sao? Người đẹp nhất nhất định là bà ta rồi. Nghĩ đến đây, ông thầy bói đầy tự tin đi đến trước 5 người phụ nữ để nhận mặt. Nhưng khi đứng trước họ, ông ta sợ toát cả mồ hôi, làm thế nào bây giờ? Cả 5 phụ nữ ấy ai cũng xinh đẹp, thông minh và hấp dẫn, làm sao có thể chỉ được đây? ông ta hối hận thực sự, hối hận vì đã quá lời khi uống rượu, để đến nỗi nay phải há miệng mắc quai. Ông ta liếc trộm sang Lý Đức Thành một cái chỉ thấy Lý Đức Thành nở nụ cười đáng sợ. Ông thầy bói giật thót mình nhưng đã kịp trấn tĩnh lại. Ông ta rút cục vẫn là một người nay đây mai đó, hiểu biết nhiều, trò lừa bịp cũng lắm, lập tức sử dụng ngay chiêu. “Nói mơ hồ“ đã thành tài của mình. Ông ta bước vài bước đến bên Lý Đức Thành và nói rằng: “Bẩm vương gia, người trên đầu có mây vàng là phu nhân của ngài“. Nói xong, liền nhìn ngay xem phản ứng của 5 người phụ nữ ra sao. 5 người phụ nữ nghe xong liền có phản ứng khác nhau. Chỉ thấy 4 người phụ nữ ngước nhìn sang người phụ nữ đứng đầu tiên ở bên phải, còn người phụ nữ đó thì ngượng ngùng ngẩng đầu lên mặt ửng đỏ.

    Triệu Vương Lý Đức Thành hỏi: “Rút cuộc thì là ai, ta thấy trên đầu họ đều có mây vàng!“

    Ông thầy tướng từ từ đi đến trước mặt người phụ nữ đứng đầu tiên phía bên phải, rồi đắc ý chỉ vào bà ta và nói: “Bẩm vương gia. người này chính là phu nhân của ngài!“

    Lý Đức Thành vô cùng kinh ngạc, lập tức cũng cho ông thầy bói này là khác người, là thánh sống.

    Ông thầy bói đã dùng một chút mẹo mặt, dùng lời nói mơ hồ để thoát khỏi cảnh khó xử của mình, giữ vững được hình ảnh sáng chói của vị thánh sống“ trong lòng của Triệu Vương gia.

    Vận dụng những lời nói mơ hồ, giữ cho mình một khoảng trống tiện thoái lui, cũng làm cho người khác khó nắm được đuôi để gây chuyện bất lợi cho mình.

    Lưu Bang khôn khéo cứu bản thân mình

    Khi Sở diệt Tần, Sở Hoài Vương chia quân theo 2 ngả đông và tây. Cánh phía đông có 70 vạn binh mã do Hạng Vũ lãnh đạo, cánh phía Tây gồm 10 vạn binh mã do Lưu Bang lãnh đạo. Hai cánh quân cùng tiến vào Quan Trung. Hoài Vương đã có giao hẹn trước. Ai vào Quan trung trước, người đó sẽ được làm Quan Trung vương. Kết quả là Lưu Bang đã tránh chủ lực của quân Tần, tránh điểm mạnh, đánh vào điểm yếu và vào Quan Trung trước. Nếu như thực hiện đúng lời hẹn ước. lý ra Lưu Bang phải được làm Quan Trung vương, nhưng lúc đó Hạng Vũ binh nhiều thế mạnh, không phục Lưu Bang, muốn bày kế để hãm hại ông. Hạng Vũ tự xưng làm bá vương, phong Lưu Bang làm Hán Vương, dự định cho Lưu Bang đến Nam Trịnh. Mưu sĩ của Hạng Vũ là Phạm Tăng lại kịch liệt phản đối: “Nam Trịnh trong có núi non trùng điệp kiên cố, ngoài có các đỉnh núi hiểm yếu. Để Lưu Bang đến Nam Trịnh thì khác gì thả hổ về rừng?“

    Hạng Vũ hỏi: “Thế thì làm cách nào để giết được ông ta?“

    Phạm Tăng nói: “Có cách. Đợi khi Lưu Bang lên triều, đại vương hãy hỏi ông ta: “Quả nhân cử ông đến Nam Trịnh, ông có đồng ý đi không?“. Nếu ông ta đồng ý thì đại vương hãy nói: “Quả nhân đã sớm biết là ông muốn đi rồi, đó là nơi dưỡng binh luyện tướng, tích luỹ lương thảo lý tưởng, sau khi thao luyện xong sẽ tranh đoạt thiên hạ với ta, phải vậy không? Điều này chứng tỏ ông có ý muốn phản ta. Quân đâu hãy bắt lại đem giết cho ta!“. Nếu ông ta không muốn đi thì đại vương hãy nói: “Quả nhân biết là ông không muốn đi, Sở Hoài Vương vốn dĩ có hứa từ trước, ai vào Quan Trung trước thì người đó sẽ được làm Quan Trung vương, bảo ông đến Nam Trịnh thì làm sao ông có thể đồng ý được chứ? ông không muốn đi thì ắt là muốn ở lại đây để phản ta. Chi bằng bây giờ ta cứ giết ông đi là xong. Bay đâu, hãy trói lại đem giết cho ta“. Như vậy Lưu Bang ắt sẽ không tránh khỏi hoạ bị chém đầu.“

    Sau khi bí mật bàn bạc xong, Hạng Vũ liền triệu Lưu Bang lên điện, Hạng Vũ vội vàng hỏi Lưu Bang: “Quả nhân muốn phong ông đến Nam Trịnh, ông có đồng ý đi không?” Thấy Hạng Vũ sốt sắng hỏi như vậy, Lưu Bang cảm thấy hơi chột dạ, dường như bên trong có âm mưu gì đó, tuy bản thân muốn đi nhưng cũng phải thận trọng một chút. Thế là Lưu Bang liền trả lời như thế này: “Thưa đại vương, thần ăn lộc vua, mệnh lệnh nằm trong tay vua, thần chỉ như con ngựa của điện hạ, quất thì chạy, thu cương thì dừng lại, thần chỉ biết nghe theo lệnh?“.

    Lưu Bang vừa không trả lời là muốn đi, lại không nói là không muốn đi, cách nói nước đôi này hoàn toàn vượt ra ngoài sự dự liệu của Hạng Vũ. Hạng Vũ không viện được cớ gì để giết ông ta. Nên đành miễn cưỡng nói rằng: “Ông hãy nghe theo ta, đừng đến Nam Trịnh nữa.”

    Lưu Bang đáp: “Vâng, thần tuân chỉ“. Và thế là Lưu Bang đã dùng lời nói mơ hồ để cứu được mạng sống của mình.

    Người đánh cá khéo léo trả lời quốc vương

    Một người đánh cá nọ bắt được một con cá màu sắc kỳ lạ, vẩy lại óng ánh. Ông ta chưa từng thấy một con cá nào như vậy ở trong đời. Ông ta muốn mang con cá này ra chợ bán, nhưng bán cũng chẳng được là bao nhiêu, chi bằng cứ đem vào cung dâng cho quốc vương. Nếu quốc vương thích, không chừng còn thưởng cho mình một khoản liền lớn nữa. Người đánh cá sau khi quyết định xong, đã đem con cá đó dâng cho quốc vương. Quốc vương nhìn thấy con cá kỳ lạ rất vui mừng liền ra lệnh thưởng cho người đánh cá một trăm đồng tiền vàng. Một vị đại thần ở bên cạnh quốc vương thấy người đánh cá được thưởng nhiều như vậy, trong lòng rất khó chịu, bèn thì thầm với quốc vương, nói rằng: “Thưa bệ hạ, bỏ ra 100 đồng vàng chỉ vì con cá này thì quả là không đáng“.

    “Quân tử một lời nói ra, tứ mã nan truy, ông bảo ta phải làm thế nào đây?“, quốc vương nói khẽ.

    “ Điều này dễ thôi“, vị đại thần đó hiến kế: “Xin bệ hạ hãy hỏi người đánh cá xem, con cá này là con đực hay con cái. Nếu ông ta nói là đực, thì bệ hạ hãy nói là cần con cái, chứ không cần con cá đực này. Nếu ông ta nói là con cái, thì ngài hãy nói là ngài cần con đực, không cần con cái này. Dù ông ta có trả lời ra sao thì bệ hạ cũng sẽ đòi được những đồng vàng kia.“

    Quốc vương thấy vị đại thần kia nói có lý, bèn vui vẻ hỏi người đánh cá rằng: “Con cá này là con đực hay con cái, ngươi có biết không?“.

    Người đánh cá tận mắt nhìn thấy vị đại thần kia thì thầm với quốc vương nên đoán là quốc vương muốn nuốt lời, đòi lại tiền vàng. Thế là, người đánh cá đã khéo léo trả lời rằng: “Thưa bệ hạ, đây là một con cá lưỡng tính phản phúc vô thường“.

    Câu trả lời mơ hồ này của người đánh cá đã khiến cho quỷ kế của đại thần kia và quốc vương bị vỡ tan, đồng thời còn dùng cách nói mơ hồ này để khéo léo chế giễu hành vi lật lọng, phản phúc vô thường của bọn họ.

    Thông thường. lời nói phải mạch lạc, rõ ràng, chuẩn xác, không được mơ hồ. Nhưng điều này không phải là tuyệt đối. Trong 1 số trường hợp, trước mặt một số người không có ý tốt thì phương pháp vận dụng kiểu nói mơ hồ một cách thích hợp có thể làm cho mình giành được quyền chủ động.

    Xin các bạn hãy xem ví dụ dưới đây:

    Thư sinh nghèo khôn khéo trả lời quan giám khảo

    Trước đây, có một thư sinh từ nhỏ đã rất ham học, tuy nhà nghèo nhưng bụng chứa đầy kinh luân, tài học hơn người. Song cả mấy lần thi khoa cử đều bị trượt. Vậy mà rất nhiều người dốt hơn anh ta lại đỗ được cử nhân. Nguyên nhân là gì vậy? Một người quen quan giám khảo mới tiết lộ cho anh ta hay rằng: Không phải là tài học của anh kém hơn người khác, mà là do lần nào anh cũng trả lời thành thực với quan giám khảo rằng nhà anh nghèo như thế nào, xuất thân nghèo hèn ra sao?

    Anh thư sinh đó mới chợt tỉnh ngộ. Tuy rằng, anh ta cảm thấy bất bình với cách làm chọn người căn cứ theo gia cảnh của quan giám khảo, nhưng đã biết là như vậy thì đành phải thích ứng thôi. Và thế là anh thư sinh đó đã định ra kế sách của riêng mình.

    Năm đó, khi ứng thi, quan giám khảo mới hỏi anh ta rằng: “Gia cảnh nhà anh ra sao?“. Anh thư sinh đã rút ra được bài học do trả lời thành thật ở những lần trước nên trượt, lần này bèn dùng những lời nói mơ hồ để trả lời: “Nhà tôi rộng hàng 9 luống đất, nhà có hàng nghìn cột, 70 người nấu cơm, 80 người gánh nước, 2 thuyền muối, bữa nào cũng chỉ uống canh nhạt mà thôi!“.

    Quan giám khảo nghe thấy nhà của thí sinh này sang trọng như vậy, hẳn là con quan rồi. Thêm vào đó lại có tài năng, đâu cần phải dựa vào gia đình để thăng quan tiến chức. Thế là, ông ta lập tức giăng bảng cho đỗ.

    Thực ra, gia cảnh của chàng thư sinh này là: Nhà anh ta thuê 9 luống đất của người khác, còn nhà ở thì chỉ là 1 túp lều tranh quây bằng thân ngô ở giữa ruộng, “70, 80 người“ được nói đến chính mà mẹ già 70 tuổi và cha già 80 tuổi, 2 thuyền muối chỉ là 2 con gà mái già đẻ trứng để đổi lấy muối ăn, còn bữa nào cũng canh nhạt chính là nói mỗi bữa cơm chỉ được ăn canh trứng mà thôi.

    Nhưng anh thư sinh đó không hề nói sai. Anh ta chẳng qua cũng chỉ là dùng vài phép so sánh để miêu tả gia cảnh của mình mà thôi. Từ đó làm cho tình hình thực của gia đình mình trở nên mơ hồ, khiến quan giám khảo chuyên chọn người nhà giàu kia đã có phán đoán sai lầm về gia cảnh của anh ta. Lỗi không phải là ở anh thư sinh kia mà là ở vị quan giám khảo luôn nhìn người theo hình thức và gia cảnh.

    Do lời nói mơ hồ có tính đàn hồi và thay đổi rất mạnh, có khoảng trống tiến thoái lui rất lớn, do vậy được mọi người sử dụng rộng rãi. Bởi vì, vận dụng phương pháp này tiến có thể công, lùi có thể thủ, công thủ kết hợp, khiến cho bản thân mãi mãi ở vào thế bất bại.

    Xin các bạn hãy xem những ví dụ dưới đây:

    Chúc Chi Sơn khéo chọc lão địa chủ

    Chúc Chi Sơn - một trong “tứ đại tài tử Giang Nam“, cầm kì thi phú, thư hoạ đều tinh thông. Một hôm, có ông địa chủ vốn hâm mộ danh tiếng từ lâu, sai người đến xin Chúc Chi Sơn tranh chữ để làm câu đối xuân. Chúc Chi Sơn thường ngày rất khinh thường những địa chủ học làm sang dốt nát kia, nay lại thấy ông ta không đích thân đến mà lại sai người đến để xin tranh chữ, chỉ dựa vào mấy đồng tiền mà muốn ra vẻ trước mặt ta! Được, thế thì cứ chờ ta chơi cho ông một vố đã thế còn không làm gì được ta nữa. Nghĩ xong, ông ta tủm tỉm cười rồi vung bút viết trên dải giấy đó như sau: “Kim niên chính hảo hối khí toàn vô tài miên tiến môn“ (Năm nay quả thực đen đủi, chẳng có của cải vào nhà) 12 chữ lớn có trọng lượng này được đưa cho người đến xin chữ, anh ta cảm ơn rối rít rồi ra về.

    Địa chủ nhìn thấy người đầy tớ vui mừng hớn hở trở về, biết là việc đã làm xong, vội vàng mở dải giấy mà Chúc Chi Sơn viết ra, 12 chữ đó vừa hiện ra trước mắt lão địa chủ, lão tức muốn chết đi được. Chúc Chi Sơn, ngươi lại dám chửi ta ngay trong ngày lễ vui vẻ đón xuân về mà không hề kiêng nể. “Năm nay quả thực đen đủi, chẳng có của cải vào nhà“ là có dụng ý gì đây Lão địa chủ vội vàng tìm đến Chúc Chi Sơn để tranh cãi trực tiếp với ông ta, hỏi xem tại sao Chúc Chi Sơn lại chửi bới ông ta như vậy. Chúc Chi Sơn nghe xong lớn tiếng cười. Lão địa chủ ngơ ngác chẳng hiểu gì. Chỉ nghe thấy Chúc Chi Sơn nói rằng: “Ngài đọc sai rồi. Nên đọc là: Năm nay thật tốt, không có vận đen, của cải vào nhà. Đây là một khẩu hiệu tuyệt vời biết bao.“

    Tài chủ nghe xong, tức giận chuyển sang vui và hớn hở ra về.

    Chúc Chi Sơn đã khéo léo lợi dụng đặc điểm không có dấu của chữ Hán cổ, khiến cho ý nghĩa của câu đối do ông viết trở nên mơ hồ, rất có tính đàn hồi và tính biến hoá. Do vậy vừa chọc được tài chủ, lại vừa khéo léo bảo vệ được mình. Có thể thấy rằng, ngôn ngữ mơ hồ thật tuyệt diệu xiết bao.

    Bức thư của bà mai

    Vương công tử nhờ một bà mai làm mối cho chuyện hôn nhân. Bà mai vui vẻ nhận lời. Vương công tử muốn biết cô gái là người như thế nào nên bà mai đã viết cho anh ta một bức thư, giới thiệu về tướng mạo của cô gái này cho Vương công tử. “Cô gái này có tóc đen không rỗ chân không to đứng đắn“.

    Vương công tử sau khi xem xong bức thư hình ảnh của người con gái đó đột nhiên hiện lên trong đầu. Anh ta vui vẻ viết thư trả lời cho bà mai nói rằng anh ta đồng ý cuộc hôn nhân này.

    Nhưng vào ngày thành thân, cô dâu của Vương công tử lại là một người phụ nữ xấu xí, đen đủi, trọc đầu, mặt thì rỗ, chân thì thọt. Vương công tử tức điên lên, vội vàng đem theo bức thư mà bà mai viết cho để đến tìm bà ta, trách cứ bà ta sao lại lừa mình. Bà mai trả lời rằng: “Tôi đâu có lừa công tử. Tôi chẳng phải là đã nói thật với công tử rồi sao? Là do công tử tự đồng ý cuộc hôn nhân này chứ“.

    Vương công tử nghe xong càng thêm tức giận, hầm hầm lấy bức thư đó ra và nói với bà ta: “Để ta xem bà còn dám giảo biện nữa không, bà hãy xem bức thư mình viết mà xem, trong thư chẳng phải bà đã nói “Cô gái này tóc đen, không rỗ, chân không to, đứng đắn sao? Giấy trắng mực đen đây, bà còn muốn giảo biện nữa không?“

    Bà mai cầm lấy bức thư rồi nói: “Tôi lừa công tử ở chỗ nào? Là do công tử đọc sai chứ, trong thư tôi đã viết rất rõ rồi: Cô gái này rất đen, tóc không có, rỗ, chân không bình thường. Tôi đã nói thật với công tử rồi còn gì.“

    Vương công tử chẳng nói lại được câu nào, đành phải tự cho mình là đen đủi.

    Bà mai đó cũng thật đáng ghét, tuy là có thể kiếm được cớ cho hành vi lừa gạt của mình nhờ vào việc sử dụng ngôn ngữ mơ hồ, không rõ ràng, nhưng từ mặt phản diện nó cũng nói rõ được tác dụng của ngôn ngữ trong việc bảo vệ bản thân.

    Vận dụng ý nghĩa không rõ ràng trong ngôn ngữ mơ hồ đôi lúc có thể khiến bạn có thể thoát khỏi tuyệt lộ, chuyển bại thành thắng.

    Xin các bạn xem ví dụ dưới đây.

    Vụ án tranh chấp tài sản thừa kế

    Trước đây, có một phú ông nhà có đến hàng vạn quan tiền, tên là Trương Lão. Trương Lão không có con trai, chỉ có một người con gái nên mới thương con rể như con trai. Rất lâu sau, người thiếp của Trương Lão sinh cho ông ta một người con trai. Trương Lão về già mới có con trai, vui mừng khôn xiết, đặt tên cho con là Nhất Phi. Nhất Phi khi tròn 4 tuổi thì Trương Lão lâm bệnh qua đời. Trương Lão khi bệnh nặng đã nói với anh con rể rằng: “Con do thiếp sinh ra không có tư cách thừa kế tài sản của ta. Ta muốn đem toàn bộ tài sản của mình tặng cho hai vợ chồng con. Nhưng các con phải nuôi hai mẹ con Nhất Phi, để họ không chết vì đói rét, cũng coi như các con đã tích được âm đức rồi đó“. Nói xong, Trương Lão liền cầm bút viết di chúc, trong di chúc có ghi: “Trương Nhất Phi là con ta được hưởng toàn bộ tài sản con rể và người ngoài không được tranh giành“.

    Trong bản di chúc này không hề có dấu câu, nó được viết liền một mạch. Anh con rể cầm lấy bản di chúc và đọc thành: “Trương Nhất, không phải là con ta, gia sản toàn bộ giao cho con rể, người ngoài không được tranh giành.“

    Anh con rể rất vui mừng, không chút do dự chiếm giữ gia sản hàng vạn quan tiền của Trương Lão. Sau đó khi con trai của người thiếp là Trương Nhất Phi trưởng thành, anh ta đã đến quan phủ để kiện, đòi phân chia tài sản với anh rể. Anh con rể giao lại bản di chúc cho quan phủ. Quan phủ xem xong, chẳng thèm để ý đến vụ kiện của Trương Nhất Phi. Một ngày nọ, có một vị quan vâng lệnh cấp trên đến cơ sở để xử án. Nhất Phi lại đến kiện. Anh con rể của Trương Lão lại nộp bản di chúc lên trên. Vị quan này đọc kỹ bản di chúc, cảm thấy không đúng. Nguyên cáo tên là Trương Nhất Phi, nhưng trong di chúc lại chỉ nói đến Trương Nhất, phải chăng là Trương Lão còn có ý sâu xa khác. Viên quan này đọc kỹ vài lượt bản di chúc, trong lòng đột nhiên hiểu ra tất cả. Thế là, ông ta đã xử cho Trương Nhất Phi được hưởng toàn bộ tài sản. Anh con rể của Trương Lão hỏi lý do là gì? Vị quan này mới trả lời rằng: “Bản di chúc phải đọc như thế này: Trương Nhất Phi, con ta, được hưởng toàn bộ gia sản, con rể, người ngoài không được tranh giành. Bởi vì, em vợ của người không phải tên là Trương Nhất mà tên là Trương Nhất Phi, bố vợ của ngươi sở dĩ có ý viết chữ “ “ (phi) thành chữ “ “ (phi)(âm tiếng Hán của 2 chữ này đều đọc là phi) là do con trai ông ấy còn nhỏ, sợ ngươi sẽ hại nó. Bố vợ ngươi đã nói rõ rằng ngươi là người ngoài rồi, cớ sao ngươi còn dám tranh giành tài sản với anh ta chứ?“.

    Anh con rể của Trương Lão nghe xong sững cả người, đành phải trao trả toàn bộ gia sản của Trương Lão cho Nhất Phi. Mọi người vô cùng thán phục kết quả phán quyết của vụ án này, họ đều nói rằng vị quan này liệu việc như thần.

    Thực ra, vị quan xử án này đã khéo léo sử dụng hàm ý mang tính đàn hồi trong ngôn ngữ mơ hồ, mới có thể giải thích lý do phán quyết một cách chặt chẽ, không chút sơ hở như vậy, không hề có chút miễn cưỡng và gò ép nào, khiến anh con rể kia phải tâm phục khẩu phục, phục tùng sự phán quyết. Từ đó, Nhất Phi có thể chuyển bại thành thắng.

    Chính vì đặc điểm tính đàn hồi và tính biến hoá trong ngôn ngữ mơ hồ quá mạnh, do vậy nó thường xuyên được sử dụng trong rất nhiều trường hợp. Trong các trường hợp ngoại giao lại càng hay sử dụng ngôn ngữ mơ hồ, cổ kim trong ngoài cũng không hề ngoại lệ Ví dụ, năm 1977, Ai Cập và Israel được sự giúp đỡ của Quốc vương Monaco - Hasang đệ nhị, đã tiến hành mật đàm bàn về quan hệ giữa hai nước. Khi ngoại trưởng Israel hỏi đại diện của Ai Cập là lúc nào sẽ thiết lập quan hệ ngoại giao, đại diện của Ai Cập nói rằng 5 năm sau khi Israel rút toàn bộ quân ra khỏi Ai Cập và bán đảo Sinai thì Ai Cập, Israel có thể thiết lập quan hệ ngoại giao. Quốc vương Hasang đệ nhị sau khi nghe xong, đã hỏi đại diện của Ai Cập là tại sao lại định ra thời hạn là 5 năm? Quốc vương Hasang đã bảo với đại diện của Ai Cập rằng trong vấn đề ngoại giao, cần đặc biệt chú ý đến cách dùng từ, đừng nên nói rõ thời gian cụ thể khi thiết lập quan hệ ngoại giao, mà nên nói rằng: Sau một khoảng thời gian thích hợp nữa hoặc sau khi rút khỏi bán đảo Sinai không lâu, Ai Cập sẽ thiết lập quan hệ ngoại giao. “Một khoảng thời gian thích hợp“, “không lâu” mà Quốc vương Hasang sử dụng ở đây, đều là ngôn ngữ mơ hồ, có tính linh hoạt tương đối lớn. Nó tương đối chủ động đối với Ai Cập.

    Vậy mà đại diện của Ai Cập lại nói là 5 năm, nếu đến lúc đó không thể thực hiện lời hứa thì sẽ bị Israel chỉ trích là nói mà không giữ lời, và sẽ bị rơi vào thế bị động trong ngoại giao. Chính vì tác dụng độc đáo của ngôn ngữ mơ hồ nên những nhà ngoại giao đã gọi ngôn ngữ mơ hồ là: “Kỹ xảo cao nhất trong ngoại giao“, “là nguyên tắc khiến đối phương không ra quyết định được“

    Chính vì ngôn ngữ mơ hồ có tính đàn hồi, tính biến hoá, khoảng trống tiện tiến thoái lớn, nên chúng ta trong khi giao tiếp hãy sử dụng nhiều ngôn ngữ mơ hồ, cố gắng giữ lại trong câu nói của mình một khoảng trống đầy hữu ích đó.
     
  6. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 26

    Đã là người thì ai cũng có tâm lý thích được người khác nịnh. Trong một số tình huống bất lợi, nói vài câu nịnh có thể người đó từ tức giận chuyển sang vui mừng và sẽ không làm khó cho bạn nữa. Như vậy, bạn có thể ung dung mà thoát thân.

    Hãy nhớ rằng, không ai là không muốn nịnh cả. Ngay cả những người lúc bình thường nói là ghét được người khác nịnh, thì thực ra trong lòng cũng thích được người khác nịnh. Chỉ có điều là, bạn phải nịnh khéo một chút, nịnh chừng mực, không được để lộ quá, không để lại dấu vết gì. Như vậy, người đó sẽ cảm thấy rất tự nhiên và tự đắc, tự khắc sẽ rất yêu mến bạn.

    Xin hãy xem một mẩu chuyện cười trong “Tiếu tiếu lục“ của người Thanh. Tục gọi “nịnh bợ“ là “đội mũ cao“.

    Có 2 học sinh chuẩn bị sang nơi khác để làm quan. Lúc sắp đi, họ đến gặp thầy dậy học. Người thầy nói với họ rằng: “Ngày nay, nếu sống quá thẳng thì không được các con cứ nịnh người ta là được rồi“. Một học trò mới nói rằng: “Lời thầy nói quả là không sai, trên đời này, những người không thích nịnh như thầy chỉ đếm được trên đầu ngón tay.“ Người thầy rất đỗi vui mừng. Vừa ra khỏi cửa, người học trò đó liền nói với bạn mình rằng: “Đã tặng được một chiếc mũ cao rồi“. (Đã nịnh được một người rồi).

    Có thể thấy rằng, những người bình thường nói không thích nịnh cũng là người có lời nói và hành động không nhất quán. Tuy nói là không thích được nịnh, nhưng chỉ cần bạn nịnh khéo một chút, thì họ vẫn bị mắc như thường.

    Nịnh người khác nhiều khi giúp bạn trong lúc nguy khốn có thể bảo toàn được tính mạng, ung dung thoát khỏi hoàn cảnh nguy hiểm.

    Người hầu gái thoát thân trong lúc nguy khốn

    Một ngày nọ, Viên Thế Khải đang ngủ trưa, một người hầu gái theo lệ bưng đến một bát canh sâm đế Viên Thế Khải tẩm bổ sau khi ngủ dậy. Nào ngờ, khi cô bước vào phòng, do không cẩn thận làm rơi chiếc bát ngọc dương chỉ cầm trong tay, rơi xuống đất vỡ tan thành từng mảnh, làm cho Viên Thế Khải đang ngủ say bỗng bừng tỉnh. Cô hầu gái biết chắc rằng đại hoạ sắp, đổ xuống đầu, sợ đến nỗi mặt trắng nhợt, toàn thân run lẩy bẩy.

    Viên Thế Khải tỉnh dậy, vừa nhìn thấy chiếc bát ngọc dương chỉ mà mình yêu quý bị đánh vỡ, liền nổi giận đùng đùng. Ông ta làm sao mà không tức giận cho được? Chiếc bát ngọc dương chỉ này là bảo bối mà ông ta có được từ trong hoàng cung của Triều Tiên. Trước đây, ngay cả đến Từ Hi lão phật gia ông ta còn không muốn tặng, nay lại bị người hầu gái không cẩn thận làm vỡ, Viên Thế Khải tức đến nỗi mặt mũi tím tái lại, ông ta quát tháo: “Hôm nay ta quyết phải lấy mạng con tiện nhân như ngươi“.

    Chính vào lúc sống chết này, người hầu gái dập đầu như bổ củi, xin Viên Thế Khải khai ân. Viên Thế Khải tức giận gạt phắt đi. Người hầu gái lúc đó liền cái khó bó cái khôn, cuối cùng cô ta mạnh dạn trả lời rằng: “Đây không phải là lỗi của con, con có nội tình nhưng không dám bẩm lên trên“.

    Viên Thế Khải quát lớn: “Nói mau, xem xem ngươi lúc chết đến nơi còn có thể phịa ra được chuyện gì“.

    Người hầu gái khóc mà trả lời rằng: “Khi con bưng bát canh sâm vào thì nhìn thấy người nằm trên giường không phải là đại tổng thống“.

    “Đồ khốn kiếp“, Viên Thế Khải càng tức giận hơn. “Người nằm trên giường không phải là ta thì là ai? Ta thấy ngươi đúng là chán sống rồi đó“.

    Người hầu gái khóc rồi nói: “Con không dám nói nữa. Con sợ?“

    Viên Thế Khải tức đến nỗi đứng phắt dậy, nghiến răng rồi nói: “Nếu ngươi không nói thì ta sẽ nghiền ngươi ra thành vạn mảnh“.

    “Vâng, con nói, con nói. Trên giường, trên giường... có một con rồng 5 móng lớn đang nằm. Con nhìn thấy nên sợ quá mới ngã“.

    Viên Thế Khải nghe xong lập tức chuyển từ tức giận sang vui mừng, mình ngày nào cũng nằm mơ được làm hoàng đế, thì ra mình quả thật là châu long truyền thế, và thế là ông ta không những không giết người hầu gái làm vỡ cái bát mà còn thưởng cho cô ta rất nhiều đồ vật và tiền bạc.

    Vào khoảnh khắc giữa cái sống và cái chết, người hầu gái nhanh trí đã phịa ra câu chuyện “con rồng vàng 5 vuốt làm sợ đến nỗi rơi bát ngọc“ đã đội cho Viên Thế Khải “một chiếc mũ cao“, “một chiếc mũ hoàng đế” cao chót vót, khiến Viên Thế Khải đang tức giận cũng chuyển sang vui mừng, đồng thời còn giũ sạch trách nhiệm đánh rơi chiếc bát ngọc của mình và được hưởng “hoàng ân“ mà cô ta không hề ngờ tới. Có thể thấy, nghệ thuật dùng lý lẽ để bảo vệ mình của cô hầu gái thật cao siêu đến chừng nào.

    Những ví dụ nịnh người khác để bản thân mình thoát hiểm giống như vậy nhiều không kể xiết. Xin các bạn hãy xem ví dụ dưới đây.

    Bulerte bình an thoát hiểm

    Tháng 5 năm 1671 , Luân Đôn xảy ra một vụ án hình sự lớn nhất nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Anh tính cho đến nay. Một nhóm tội phạm 5 người do Bulerte cầm đầu, lừa gạt được phó giám đốc của tháp Luân Đôn, trà trộn vào trong tháp Martin cướp được thần khí trấn quốc đặc biệt của nước Anh - vương miện của vua Anh.

    Nhưng đám tội phạm này không may mắn cho lắm, vừa xông vào tháp Luân Đôn đã bị đám thị vệ của vương thất vây lấy, sau khi vật lộn dữ dội 1 hồi, toàn bộ 5 tên tội phạm đã bị bắt.

    Tổng Giám đốc tháp Luân Đôn Taierboxiang đích thân thẩm vấn những tên tội phạm này và xử chúng tử hình, sau đó báo cáo với vua Anh là Charley đệ nhị. Charley đệ nhị thấy rất hứng thú với những tên tội phạm coi thường pháp luật và liều mình này nên đã quyết định đích thân thẩm vấn tên cầm đầu là Bulerte để xem xét rốt cục hắn có phải là người 3 đầu 6 tay hay không, sao lại có thể liều mình làm những chuyện này như vậy. Khi bị thẩm vấn, Bulerte đã phát huy hết tài ăn nói của mình và đã thực hiện một cuộc thẩm vấn hình sự thú vị nhất trong lịch sử nước Anh với quốc vương Anh. Dưới đây, tôi xin giới thiệu với độc giả một đoạn hay nhất trong cuộc đối thoại đó:

    Charley đệ nhị: “Ngươi khi còn là thuộc hạ của Cromwell đã giết Emcron để đổi lấy chức thiếu tá và tước hiệu nam tước?“

    Bulerte: “Bẩm bệ hạ, thần không phải là con trưởng trong nhà, cho nên không có quyền thừa kế tài sản, ngoài bản thân và tính mạng của mình ra thì thần chẳng có gì cả, nên thần phải bán tính mạng của mình cho một người có giá nhất“.

    Charley đệ nhị: “Ngươi còn có 2 lần định hành thích công tước Aomon, phải vậy không?“

    Bulerte: “Bẩm bệ hạ, thần sở dĩ định hành thích ông ta chỉ là muốn xem ông ta có xứng với chức vị cao quý mà bệ hạ ban cho ông ta hay không. Nếu như ông ta dễ dàng bị thần tống cổ đi thì bệ hạ có thể tìm một người thích hợp hơn để thay thế ông ta“.

    Charley đệ nhị trầm ngâm một lúc, ông cảm thấy người này không những to gan lớn mật mà còn là một người đối đáp nhanh nhẹn, nên mới hỏi tiếp rằng: “Ngươi càng ngày càng liều lĩnh hơn, lần này còn ăn trộm vương miện của ta nữa“.

    Bulerte: “Bệ hạ nói rất đúng, thần cũng biết là hành động này của mình là quá cuồng vọng, nhưng thần chỉ có thể dùng cách này để nhắc nhở bệ hạ quan tâm đến một người lính già sống không nơi nương tựa như thần“.

    Charley đệ nhị: “Ngươi không phải là thuộc hạ của ta, sao lại đòi ta phải quan tâm đến ngươi làm gì?“

    Bulerte: “Bẩm bệ hạ, thần từ xưa đến nay chưa đối đầu với ngài bao giờ, giữa những người anh với nhau mà phải đối đầu với nhau thì đã quá bất hạnh rồi. Bây giờ thiên hạ thái bình, tất cả mọi người đều là thần dân của ngài, thần đương nhiên cũng là thuộc hạ của ngài“.

    Mặc dù Charley đệ nhị cảm thấy hắn là một tên vô lại thật sự, nhưng vẫn tiếp tục hỏi: “Ngươi tự mình nói xem, ta nên xử lý ngươi như thế nào?“

    Bulerte: “Xét từ góc độ pháp luật thì thần nên chịu án tử hình. Nhưng 5 người chúng thần mỗi người ít nhất cũng có 2 người thân khóc vì chuyện này. Nếu nhìn từ lập trường của bệ hạ thì nhiều hơn 10 người ca ngợì ngài tốt hơn nhiều so với việc thêm 1 người khóc.“

    Charley đệ nhị không hề nghĩ rằng hắn ta sẽ trả lời thư vậy, ông không kìm được mới gật đầu mà hỏi tiếp ông: “Ngươi thấy mình là một dũng sĩ hay là một kẻ nhát gan?“

    Bulerte: “Thưa bệ hạ, từ khi lệnh truy nã của ngài ban ra, thần không có nơi nào có thể an thân, cho nên năm ngoái thần có làm 1 đám ma giả ở dưới quê, hy vọng lại cảnh sát tin là thần đã chết mà không truy lùng nửa. Đây không phải là một hành cộng dũng cảm. Do vậy, dù cho trước mặt người khác, thần là một dũng sĩ, nhưng trước mặt ngài, bệ hạ tôn kính, thì thần chỉ là một kẻ nhát gan.“

    Charley đệ nhị vô cùng hài lòng với câu nói này, nên không những miễn tội chết cho Bulerte mà còn thưởng cho anh ta một khoản tiền thưởng năm không nhỏ.

    Bulerte sở dĩ thoát chết ngay trong gang tấc, bình an thoát hiểm là chủ yếu do anh ta rất biết ăn nói, khiến cho Charley đệ nhị không hề cảm thấy chán ngán, thêm vào đó Bulerte luôn chọn đúng thời điểm để đội một “Chiếc mũ cao “ cho Charley đệ nhị - “thần

    Bulerte tuy rằng trước mặt người khác là một dũng sĩ nhưng trước mặt ngài, thần chỉ là một kẻ nhát gan.

    Ngài - Charley đệ nhị mới đúng là dũng sĩ thực sự “.

    Những lời nịnh nọt như vậy đã làm cho Charley đệ nhị

    - người được nịnh - cảm thấy rất vui, mặt mày rạng rỡ, cuối cùng đã miễn tội chết cho Bulerte, ngoài ra còn thưởng cho hắn ta một khoản tiền thưởng năm không nhỏ nữa.

    Tục ngữ nói: “Người gặp chuyện vui thì tinh thần sảng khoái“. Khi mọi người làm việc đạt được thành quả, đạt được thành công trong sự nghiệp, được người khác tôn trọng, ca ngợi, khi mọi người có được những niềm vui ngoài ý muốn hoặc sau khi làm một hoạt động vui vẻ, thì đều luôn ở vào trạng thái hưng phấn và vui vẻ. Khi chìm đắm trong niềm vui thì mọi người sẽ trở nên thấu tình đạt lý, đối xử khoan dung hơn lúc bình thường, vui vẻ hợp tác và dễ dàng chấp nhận yêu cầu của người khác. “Đội cho người khác một chiếc mũ cao“ cũng tức là cách nịnh nọt, tán dương người khác, để cho người đó ở vào trạng thái tâm lý tốt, và như vậy người đó mới có thể đối xử khoan dung, ít làm khó cho người khác hơn.

    Giang Ất khéo léo cứu Chiêu Hề Tất

    Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vào thời kỳ Sở Tuyên Vương cầm quyền, thực lực của nước Sở rất mạnh, các nước láng giềng đều không dám đối đầu với nước Sở, Sở Tuyên Vương nghe nói các nước chư hầu ở Trung Nguyên đều sợ đại tướng của nước Sở là Chiêu Hề Tất, trong lòng ông ta cảm thấy rất khó chịu. Thế là, ông ta liền hỏi các đại thần: “Các nước chư hầu đều sợ Chiêu Hề Tất đến như vậy, thực tế thì ông ta là người như thế nào?“ Quần thần nghe xong thì đều im lặng, họ đều không biết phải trả lời như thế nào.

    Lúc đó, một đại thần tên là Giang Ất đứng dậy mà nói rằng: “Xin hãy để cho thần kể cho đại vương nghe câu chuyện. “Cáo mượn oai hổ“. Có một lần, một con hổ đói ra ngoài để kiếm thức ăn. Nó bắt được một con cáo. Con cáo nói với hổ rằng: “Ngài không thể ăn ta được. Thiên đế cử ta đến đây làm chúa tể của muôn loài. Nếu ngài ăn thịt ta thì sẽ làm trái với ý chỉ của thiên đế. Nếu ngài không tin ta thì ta có thể đi ở phía trước, ngài đi sau, để xem xem bách thú thấy ta có sợ không“. Hổ tin lời của cáo, đi ở sau cáo, trên đường đi, hổ thấy bách thú trông thấy họ liền chạy mất, liền tin vào lời lừa gạt của cáo và thả cho cáo đi. Hổ không hề biết rằng bách thú bỏ chạy là vì sợ mình.

    Giang Ất sau khi kể xong câu chuyện liền nói tiếp: “Nay đại vương có hàng nghìn dặm đất, hàng trăm vạn quân, mà quân quyền thì lại giao hết cho Chiêu Hề Tất nên tất nhiên là các nước chư hầu đều sợ ông ta. Thực ra là họ sợ quân đội của đại vương cũng giống như bách thú sợ hổ vậy“.

    Sở Tuyên Vương vốn nghe nói người mà các nước chư hầu sợ là Chiêu Hề Tất chứ không phải là ông ta - đường đường là đại vương nước Sở - nên trong lòng tự nhiên cảm thấy khó chịu. Giang ất biết rõ rằng, Sở Vương đang ghen tị với Chiêu Hề Tất mà một khi vua ghen tị với thần thì thần khó tránh khỏi tội chết nên đã ra sức cứu ông ta. Phương pháp duy nhất là đội cho Sở Vương “một chiếc mũ cao“, nói rằng người mà các nước chư hầu sợ thực ra là Sở Vương, chứ không phải là Chiêu Hề Tất. Như vậy mới làm cho Sở Vương nguôi giận, Chiêu Hề Tất mới được cứu. Thế là câu chuyện ngụ ngôn “Cáo giả uy hổ“ của Giang ất đã ví von, so sánh rất xác đáng, cuối cùng đã không để lộ ra bất kỳ dấu vết nào, đã khéo léo đội cho Sở Tuyên Vương một “Chiếc mũ cao“ khiến cho Sở Tuyên Vương nhân lúc “vui cười hớn hở“ mà bỏ qua cho Chiêu Hề Tất và không làm khó dễ cho ông ta nữa.

    Phong Nhân Tử Cao cũng dùng cách nịnh này mà cứu được một vị quan. Câu chuyện như thế này:

    Theo “Lã Thị Xuân Thu” ghi chép: Hàn Thị xây thành ở Tân Thành, hạn trong vòng 15 ngày phải hoàn thành. Tư không lúc đó là Đoạn Kiều (Tư không tương đương với người nghiệm thu công trình ngày nay). Do công trình ở một huyện X bị chậm 2 ngày, Tư không Đoạn Kiều liền cho bắt quan chủ quản và tống vị quan này vào trong ngục. Con trai của vị quan chủ quản đó liền chạy đến tìm Phong Nhân Tử Cao mà nói rằng: “Cháu biết đại nhân có thể cứu được cha cháu nên mới khẩn cầu đại nhân cứu giúp“.

    Phong Nhân Tử Cao nhận lời. Ông ta cầu kiến Tư không Đoạn Kiều. Đồng thời lấy cớ để cùng ngắm cảnh thành mới xây với Đoạn Kiều. Phong Nhân Tử Cao nhìn quanh một lát rồi liên tục tán dương rằng: “Đây quả là một toà thành tuyệt vời. Để hoàn thành một công trình vĩ đại như vậy quả thật là không hề dễ dàng gì. Ngài nhất định sẽ được trọng thưởng. Từ cổ chí kim, chưa có ai có thể hoàn thành được một công trình vĩ đại như vậy, hơn nữa lại chưa từng phạt ai hoặc chưa từng giết ai.“

    Phong Nhân Tử Cao vừa về khỏi, thì Tư không Đoạn Kiều ngay đêm đó đã thả vị quan chủ quản đang ở trong ngục ra.

    Tại sao lại có kết quả như vậy? Đó chính là do những lời nói của Phong Nhân Tử Cao, là ở nghệ thuật đội “chiếc mũ cao“ cho Tư không Đoạn Kiều của Phong Nhân Tử Cao: Tư không Đoạn Kiều nếu muốn được đúng như lời nịnh thì cần phải thả vị quan trong ngục kia ra. Cái vĩ đại của công trình này chính là ở chỗ chưa từng phạt ai hoặc xử chết ai. Nếu ngài tiếp tục giam vị quan kia ở trong ngục thì công trình này không còn được coi là vĩ đại nữa. Vậy thì Đoạn Kiều cũng sẽ không xứng với lời khen kia nữa. Thiết nghĩ, ai lại muốn bỏ “Chiếc mũ cao“ đang đội kia xuống đây? Phong Nhân Tử Cao đã lợi dụng tâm lý này của Đoạn Kiều để làm cho ông ta thay đổi quyết định.

    Nghệ thuật nịnh của Phong Nhân Tử Cao quả thật là tuyệt diệu. Khi nịnh người khác, họ sẽ chuyển từ tức giận sang vui vẻ, sẽ đối xử khoan dung hơn. Bạn hãy lợi dụng tâm lý này của mọi người, khi người khác gây khó dễ cho bạn, bạn hãy đội cho người đó “một chiếc mũ cao“ một cách thần không hay quỷ không biết, họ sẽ ngại và không muốn gây khó dễ cho bạn nữa.

    Sau khi phơi áo lỡ tay

    Thời xưa, có vị quan tên là Bành Vương Lân, một lần đi ngang qua một ngõ hẻo lánh. Có cô gái đang dùng sào để phơi quần áo, lỡ tay làm rơi chiếc sào xuống, rơi ngay xuống đầu của Bành Vương Lân. Bành Vương Lân nổi giận đùng đùng chỉ cô gái phơi quần áo kia mà quát lớn.

    Cô gái phơi quần áo mới nhìn đã nhận ra ngay đó là Bành Vương Lân, trong lòng càng thêm sợ hãi. Làm thế nào để đối phó với tình huống này đây? Đột nhiên cô gái đó liền “cái khó ló cái khôn“, nghiêm mặt mà nói rằng: “Nghe giọng điệu của ngài chắc là người ở xa đến, cho nên mới ngang ngược vô lễ như vậy, chắc hẳn là ngài phải biết Bành Cung Bảo (tức Bành Vương Lân) ở đây chứ. Ông ấy liêm khiết, thẳng thắn. Nếu để tôi đi mách với ông ấy thì chỉ e rằng ông ấy sẽ đánh cho ngài mấy chục gậy đấy“.

    Bành Vương Lân mới nghe thấy cô gái này ca ngợi mình, lập tức chuyển sang vui vẻ, bình tĩnh hoà nhã rồi bỏ đi.

    Cách “nịnh“ của cô gái phơi quần áo cũng thật tuyệt, rõ ràng là biết thân phận thực sự của đối phương nhưng vẫn cố làm ra vẻ hồ đồ, cố ý ca ngợi ông ta để tạo ra ấn tượng về danh tiếng của ông ta ở bên ngoài, khiến cho Bành Vương Lân không dám trực tiếp “bộc lộ” thân phận thực sự của mình bởi điều đó chỉ làm cho “hình tượng“ của bản thân bị tổn hại mà thôi. Cho nên, ông ta chỉ có thể nguôi cơn giận, làm ra vẻ sợ Bành Vương Lân để bảo vệ hình tượng vĩ đại của mình trong lòng những người dân. Vì vậy, mà cô gái phơi quần áo kia đã thoát khỏi được tình huống khó xử. Bạn thử nói xem, nghệ thuật “nịnh“ của cô gái kia có tuyệt diệu không?

    Tục ngữ nói: “Làm bạn với vua như làm bạn với hổ“, ở cạnh hoàng đế không phải là chuyện chơi, hoàng đế chỉ nổi giận, nhẹ thì giáng chức cho xung quân, nặng thì đầu lìa khỏi cổ, chu di 9 họ. Do vậy, đối với hoàng đế càng cần phải chú ý đến nghệ thuật “nịnh“. Nếu sử dụng quá vụng về thì hoàng đế sẽ không nhận tình cảm này của bạn, và thế là bạn càng thêm thảm hại.

    Chúng ta hãy xem xem một số vị quan trong lịch sử đã làm thế nào để làm cho hoàng đế vui như được ngồi trên nệm.

    Lưu Dung khéo léo trả lời Càn Long

    Càn Long có một vị đại thần, tên là Lưu Dung, giữ chức trung đường. Ông ta nổi tiếng vì đầu óc thông minh, giỏi ăn nói. Một hôm nọ, Càn Long đến “Sơn trang nghỉ mát“ ở Thừa Đức. Lưu Dung đi với hoàng thượng. Khi Càn Long cùng với Lưu Dung ra ngoài dạo bộ, đi đến chùa Đại Phật, Càn Long thấy phật Di lặc với chiếc bụng to đang nhìn mình cười, liền tiện miệng hỏi: “Lưu ái khanh, phật Di lặc tại sao lại cười trẫm?“

    Lưu Dung trả lời: “Khởi bẩm Hoàng thượng, hoàng thượng là truyền thế của bồ tát Văn Thù, là Phật sống ngày nay, hôm nay ngài đến đây, nên phật nhìn thấy phật mới cười.“

    Nịnh cho một câu, Càn Long quả nhiên rất đỗi vui mừng. Nhưng khi Lưu Dung đi đến trước mặt Phật Di lặc thì Càn Long đột nhiên quay người lại rồi hỏi: “Vậy Phật nhìn thấy khanh cũng cười, đó là vì cớ gì?“

    Lưu Dung không ngờ rằng Càn Long lại hỏi như vậy nên sững người một lát rồi ngay lập tức khéo léo trả lời rằng: “Phật thấy thần thì cười, đó là vì cười thần không thành được Phật“.

    Đối với câu hỏi đầu tiên của Càn Long, Lưu Dung nói là Phật thấy Phật nên cười, đối với câu hỏi sau của Càn Long nếu vẫn cứ trả lời như vậy thì sẽ không thể hiện được cốt cách hoàng gia trí tôn của Càn Long, tất sẽ làm cho Càn Long nổi giận. Do vậy, chỉ một câu nói: “Cười thần không thành được phật“ lại nịnh Càn Long thêm một câu nữa. Đương nhiên đây chỉ là so với Lưu Dung. Càn Long nghe xong đương nhiên sẽ mở cờ trong bụng, Lưu Dung cũng ung dung thoát khỏi tình huống khó xử.

    Mặc dù những người làm thần tử không muốn hạ thấp bản thân, nhưng dù gì thì cũng phải đề cao hoàng thượng, để thoả mãn tính hư vinh của hoàng thượng, nếu không sẽ gặp đại nạn. Trong cái xã hội không bình đẳng đó, nói chuyện cũng không bình đẳng, cho nên phải chú ý đến chừng mực và thân phận của mình.

    Bệ hạ và thần đều giỏi nhất

    Vào đời Tề thời Nam Triều, có một nhà thư hoạ nổi tiếng tên là Vương Tăng Kiền, là cháu 4 đời của Tấn Đại Vương, kiểu chữ Hành và chữ Khải ông đều kế thừa được từ tổ tiên, bút pháp rất tài hoa. ông viết chữ Lệ (thể chữ thông dụng thời Hán) đẹp đến nỗi như nước chảy vậy.

    Hoàng đế đương triều là Tề Cao Đế - Tiêu Đạo Thành cũng là người rất giỏi viết chữ, hơn nữa lại tự cho mình là tài nghệ phi phàm, không chịu nghe người khác nói là thư pháp của mình kém hơn thần tử. Vương Tăng Kiền vì vậy mà rất bị gò bó, không dám thể hiện tài năng.

    Một hôm, Tề Cao Đế - Tiêu Đạo Thành đòi được thi tài thư pháp cao thấp với Vương Tăng Kiền. Thế là, hai vua tôi đều chăm chú viết xong 2 bức tranh chữ. Viết xong, Tề Cao Đế - Tiêu Đạo Thành đắc chí hỏi Vương Tăng Kiền: “Ngươi nói xem, ai là số một, ai là số hai?“

    Nếu là những thần tử khác thì đương nhiên sẽ lập tức trả lời rằng: “Bệ hạ là số một “ hoặc “thần không bằng bệ hạ“. Nhưng Vương Tăng Kiền lại không muốn hạ thấp bản thân. Rõ ràng là thư pháp của mình cao hơn hoàng thượng thì tại sao lại phải trả lời ngược lại?

    Nhưng lại không dám đắc tội với hoàng thượng, làm thế nào đây? Vương Tăng Kiền hơi chuyển động con mắt, rồi đột nhiên trả lời một câu tuyệt vời, lưu truyền thiên cổ: “Thư pháp của thần đứng đầu trong số thần tử, thư pháp của bệ hạ đứng đầu trong số các bậc đế vương“.

    Ông ta đã khéo léo chia cuộc thi thư pháp giữa thần và vua thành 2 nhóm, tức là “nhóm thần“ và “nhóm vua“, và lại thêm vào đó lời bình, vừa nịnh được hoàng thượng, nói thư pháp của hoàng thượng là “đứng đầu trong các vị vua“, thoả mãn được ước muốn chiến thắng của hoàng đế lại vừa giữ được uy tín và phẩm cách của mình, khiến hoàng thượng càng thêm tôn trọng cốt cách của ông và cảm thấy ông không phải là kiểu người chuyên đi nịnh hót.

    Quả đúng như vậy, sau khi Tề Cao Đế - Tiêu Đạo Thành nghe xong liền cười lớn, và không còn hỏi xem ai là người nhất nữa.

    Nịnh người khác trên thực tế cũng chính là thoả mãn nhu cầu tâm lý của mọi người. Nhu cầu tâm lý của mọi người rất khác nhau, nhưng đều muốn được thoả mãn trong cuộc sống hiện thực. Chỉ cần bạn biết cách thể nghiệm và quan sát tâm lý, hiểu được nhu cầu bức thiết nhất của đối phương. Sau đó mới phóng tên để kích thích và thoả mãn. Và như vậy họ sẽ đối xử tốt với bạn. Đặc biệt là đối với những đối phương có tính công kích mạnh, bạn nên động não hơn một chút, đừng bỏ lỡ thời cơ, nịnh người đó vài câu, đội cho họ “một cái mũ cao“ để cho tâm lý của họ được thoả mãn tột độ, họ tự khắc sẽ bị giảm bớt nhuệ khí, và chuyển sang đối xử tốt với bạn. Ví dụ như chúng ta thường xuyên gặp những chuyện như thế này trong các chợ tư nhân: ban đầu, nhân viên bán hàng tranh luận rất gay gắt với khách hàng về chất lượng hàng hoá, kiểu dáng và giá cả, nhưng sau đó người bán hàng thông minh sẽ thay đổi chiến thuật, chuyển sang khen ngợi khách có kiến thức và kinh nghiệm phong phú về hàng hóa, cô ta nói rằng: “Xem ra ông là một người rất thành thạo, tôi phải học hỏi nhiều, xin được thỉnh giáo thêm. Dù cho ông có không mua chiếc áo đó thì thu hoạch của tôi vẫn rất nhiều!“

    Nói kể cũng lạ, đối phương được bạn ca ngợi như vậy, liền cảm thấy trong lòng bất an, hành động trở nên không tự nhiên nữa, thậm chí còn có một số khách hàng khi mới được người bán hàng khen liền cảm thấy nếu như mình không mua món hàng này thì sẽ có lỗi với người bán hàng vậy. Bạn thử nghĩ xem, thế có lạ không chứ?

    Do vậy, trong cuộc sống hiện thực, nếu chúng ta muốn tạo được các mối quan hệ tốt , thì cần phải học cách vận dụng phương pháp “Hãy đội cho anh ta một chiếc mũ cao“ này, hãy nịnh đối phương hơn một chút, hãy tâng bốc anh ta lên một chút, làm cho anh ta được thoả mãn về tâm lý, tự khắc anh ta sẽ không “làm khó“ cho bạn nữa. Đương nhiên, khi nịnh người khác bạn cũng đừng nên nịnh quá, nếu nịnh quá họ sẽ cảm thấy mất tự nhiên rồi đâm ra chán ghét bạn. Tốt nhất đừng nên gọi nhân viên vệ sinh đang quét phòng ở bệnh viện là “Bác sĩ“, hoặc gọi người phụ nữ mặt đầy nếp nhăn là “Cô gái“. Như vậy họ sẽ cho rằng bạn đang chế giễu họ, từ đó mà đâm ra ghét bạn.
     
  7. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 27

    Chúng ta thường nói rằng, khi nói phải chú ý từng trường hợp, phải nhận rõ đối tượng, tuyệt đối không được chỉ dựa vào mồm miệng nhanh nhẩu của mình, mà không để ý đến khả năng chịu đựng về tâm lý của đối tượng đối với những lời nói của bạn. Đặc biệt là khi bạn đối mặt với lãnh đạo của cơ quan mình, thì bạn ăn nói phải cẩn thận hơn một chút, phải chú ý đừng nên nói năng tuỳ tiện, càng không nên nói năng bừa bãi, nếu không bạn sẽ gặp hoạ lớn đó.

    Trong truyền thuyết, dưới cổ của rồng có một lớp vẩy lớp vẩy này lại mọc ngược, nên gọi là “vẩy ngược“, lớp “vẩy ngược“ này tuyệt đối không được sờ vào Chỉ cần bạn sờ vào nó, thì rồng sẽ đau thấu tim, nhất định sẽ giãy giụa đến đảo lộn trời đất.

    Đối với lãnh đạo, đối với cấp trên, khi nói tốt nhất không nên đối đầu, đối đầu không phải là biện pháp giải quyết vấn đề tốt nhất, ngược lại có lúc còn làm cho sự việc trở nên xấu đi. Bởi vì, đã là lãnh đạo, thì đều muốn duy trì uy quyền của mình, để không cho nó bị tổn hại. Nếu như bạn đối đầu trực tiếp với ông ta, chỉ trích ông ta, chỉ ra hết các lỗi sai của ông ta, thì nhất định ông ta sẽ vì hình tượng và quyền uy của bản thân bị tổn hại mà trút giận sang bạn, bạn sẽ bị dồn vào chân tường. Đúng vậy, những người cứ hễ một cái là thích phê bình, chỉ trích thì đều bị lãnh đạo cho là những người điên, không biết trời cao đất dầy là gì.

    Thời xưa, các đại thần khi khuyên can hoàng thượng đều rất chú ý đến điểm này, không tuỳ tiện xúc phạm đến uy quyền của bậc quân vương, không đối đầu trực tiếp với hoàng thượng, mà thường nói vòng, ngữ khí nói cũng rất chậm rãi, từ từ như nước chảy, bình tĩnh để khuyên giải. Bởi vì, rốt cục thì những bậc quân vương sáng suốt, khiêm tốn, tấm lòng khoan dung, độ lượng như Lý Thế Dân rất hiếm. Cho nên, Hán Phi có nói: “khuyên đấng quân vương, điều cấm kỵ nhất là xúc phạm trực tiếp“.

    Danh tướng nước Tề là Án Tử rất thông hiểu đạo lý này, cho nên lời khuyên của ông thường xuyên được tiếp thu. Chúng ta hãy xem câu chuyện dưới đây:

    Nghệ thuật khuyên của Án Tử

    Tục ngữ nói: “Làm bạn với vua như làm bạn với hổ“, nhưng tể tướng nước Tề là Án Tử vẫn bình an vô sự sống qua 3 đời vua: Tề Linh Công, Tề Trang Công và Tề Cảnh Công. Bí quyết của ông là gì? Đó là ở chỗ ông hiểu được cách khuyên “không chạm vẩy ngược“.

    Tề Linh Công thích ngắm phụ nữ mặc quần áo của nam giới, nên bắt tất cả các phi tần và người hầu gái của mình đều mặc đồ của nam giới. Ít lâu sau, khắp cả nước đều rộ lên kiểu mốt này. Tề Linh Công rất tức giận, ông cho rằng điều này làm tổn hại đến phong hoá, tự mình sẽ bị các nước chư hầu chê cười, nên mới ra lệnh rằng: “Tất cả những người nào ăn mặc giả trai, thì đều bị xé rách đai lưng, xé nát quần áo“. Mặc dù như vậy, nhưng phong trào này vẫn không tài nào cấm được.

    Một hôm nọ, Tề Linh Công nhìn thấy Án Tử, mới hỏi rằng: “Quả nhân đã áp dụng các biện pháp cứng rắn, nhưng tại sao vẫn không cấm được?“. Án Tử trả lời rằng: “Không biết là đại vương đã nhìn thấy chưa, có cửa hàng thịt ở ngoài cửa thì treo đầu dê, nhưng trên bàn lại bán thịt chó. Làm sao có thể thế được? Nếu muốn bên dưới không theo thì trước tiên bên trên phải không làm mới được!“

    Tề Linh Công làm theo như vậy. Quả nhiên, 1 tháng sau, phong trào gái giả trai ở nước Tề đã được chặn đứng. “Treo đầu dê, bán thịt chó“ và việc gái giả trai vốn dĩ là những chuyện hoàn toàn khác xa, chẳng có điểm gì giống nhau nhưng Án Tử đã khéo léo nối kết 2 việc này lại với nhau, tự nhiên mà lại xác đáng, không có vẻ gì là gượng ép. Án Tử mượn việc này để nói việc kia, vừa uyển chuyển lại vừa hàm súc, vừa nói được với Linh Công đạo lý “xà trên mà không thẳng thì xà dưới sẽ cong“, lại vừa chú ý đến thân phận làm thần tử của mình, vừa giữ được thể diện là đấng quân vương cho Tề Linh Công lại vừa đạt được mục đích khuyên can của mình.

    Trong vườn hoa sau của Tề Cảnh Công có nuôi rất nhiều chim, người quản lý việc nuôi chim tên là Chúc Trâu. Một hôm, Tề Cảnh Công phát hiện thấy mấy con chim quý đã bay mất, nên rất tức giận, bắt vệ sỹ cầm dao để chặt chân tay của Chúc Trâu.

    Lúc đó, Án Tử đang đứng cạnh để hầu hạ, khi vệ sĩ của Cảnh Công vâng lệnh cầm dao đi, thì Án Tử đã ngăn họ lại, sau đó mới hỏi Tề Cảnh Công rằng: “Không biết là việc chặt chân tay bắt đầu từ đâu?“ Tề Cảnh Công đột nhiên tỉnh ngộ và nói rằng: “Đó là lỗi của ta, nếu phải chặt chân tay thì phải bắt đầu từ ta“.

    Và thế là, ông ta đã từ bỏ ý nghĩ chặt chân tay của Chúc Trâu, và nói rằng: “Vậy thì hãy nhốt hắn vào trong ngục? “ Án Tử nói: “Nếu đại vương làm như vậy sẽ làm cho ông ta không hiểu là mình đã phạm tội gì mà chết oan, xin hãy để thần kể tội của ông ta, để cho ông ta hiểu rốt cục là ông ta đã phạm tội gì, rồi sau đó hãy tống ông ta vào trong ngục“. Cảnh Công đồng ý, thế là án Tử liền nói: “Chúc Trâu, ngươi có 3 tội, ngươi có biết không?“

    “Thần, thần không biết“. Chúc Trâu trả lời.

    Án Tử nghiêm mặt nói: “Ngươi có 3 tội: đại vương bảo ngươi nuôi chim nhưng ngươi lại để chim bay mất, đây là tội đáng chết đầu tiên. Con chim bay mất lại là con chim đại vương thích nhất, đây là tội đáng chết thứ 2 mà ngươi phạm phải, hơn nữa ngươi lại khiến cho đại vương vì mấy con chim mà giết người. Nếu dân chúng mà nghe thấy chuyện này, thì sẽ cho rằng đại vương là kẻ bất nhân. Nếu các nước chư hầu nghe thấy chuyện này, thì nhất định sẽ coi thường nước ta. Ngươi không những để chim bay mất mà còn làm cho dân chúng cho rằng đại nhân là người trọng vật chứ không trọng người, họ sẽ trở nên căm phẫn và oán hận, từ đó khiến cho quân đội của ta yếu hơn quân của các nước láng giềng. Đây là tội đáng chết thứ 3 mà ngươi phạm phải. Xong rồi, bây giờ có thể tống Chúc Trâu vào ngục rồi“.

    Tề Cảnh Công nghe xong, liền thở dài mà nói rằng: “Tiên sinh hãy thả cho ông ta đi. Đừng nên làm hại danh tiếng nhân đạo của trẫm“.

    Tề Cảnh Công vì mấy con chim yêu quý của mình bay mất mà muốn chặt tay chặt chân của người nuôi chim. Đây vốn dĩ là một việc làm quá đỗi hoang đường, nhưng khi Tề Cảnh Công đang tức giận mà phản đối ra mặt, thì nhất định sẽ đổ thêm dầu vào lửa. Do vậy, án Tử đã dùng cách khác, tức là dùng phương pháp “Vu hồi“ để nhắc nhở Tề Cảnh Công nên làm một vị thánh hiền, từ đó mà cứu được tính mạng của người nuôi chim. Sau đó, ông lại lợi dụng cơ hội kể tội của người nuôi chim, để nói tội Tề Cảnh Công một cách khéo léo và hàm súc, không “chạm vào vẩy ngược“, không làm cho Tề Cảnh Công tức giận, cuối cùng đã làm nguội được cơn tức giận trong lòng của Cảnh Công và xá miễn cho người nuôi chim.

    Án Tử rất biết dùng cách “thế thân“ lấp liếm tội của vua, để khuyên vua, câu chuyện sau đây cũng giống như vậy.

    Tề Cảnh Công thích ăn mặc, chỉ một mình mà có biết bao quần áo đẹp và sang trọng. Án Tử đã muốn khuyên can từ lâu nhưng vẫn chưa tìm được cơ hội thích hợp. Mùa đông năm nọ... Tề Cảnh Công sai người làm một đôi giày đặc biệt, giày được dùng những sợi vàng để bện thành, mặt giày giát đầy vàng bạc xung quanh còn trang trí rất nhiều ngọc trai nữa. Tề Cảnh Công đặt tên cho đôi giày của mình là “giày kim ngân bảo“ .

    Một hôm, Tề Cảnh Công có ý đi đôi giày này để tiếp kiến Án Tử. “Giày Kim ngân bảo“ vừa rộng lại vừa to, Tề Cảnh Công đi lại rất khó khăn, khi đi được đến đại sảnh thì đã thở hổn hà hổn hển rồi. Trên mặt ông ta tỏ ra khó chịu về đôi giày này. Án Tử thấy thời cơ đã đến, liền nhân cơ hội này mà khuyên rằng: “Thưa đại vương, mọi người mùa đông thì mặc áo bông, mùa hè thì mặc áo đơn, quần áo mùa hè làm mỏng là để cho mát, nay lại đang là mùa đông, vậy mà đại vương lại không đi giầy bông mà lại đi loại giày 4 mặt đều thông gió này, hơn nữa giày lại vừa to vừa nặng, đi lại thật bất tiện biết bao? Việc này nếu truyền ra ngoài, thì trẻ con sẽ cười“. Tề Cảnh Công bị nói đến phát ngượng nhưng lại không dám nổi giận. Án Tử lại nói tiếp: “ Thực ra thì chuyện này không thể trách đại vương được, mà là do thợ giầy làm ra thứ đồ kỳ quái này, nên mới để cho đại vương bị xấu mặt như vậy. Nếu việc này truyền ra nước ngoài, người ta sẽ chế giễu đại vương không hiểu được tình hình của những người ở dưới, không thương xót lê dân trăm họ. Và cũng vì vậy mà khinh thường nước Tề. Theo thần thì nên giết tên thợ giày này đi“. Tề Cảnh Công trong lòng chợt nghĩ, đóng đôi giày vốn là chủ ý của mình, giết tên thợ giày để làm gì, nhưng ông ta ngại không dám nói ra, chỉ làm ra vẻ như 1 ông vua nhân từ, và nói với án Tử rằng: “Người thợ giày này đã làm giày cho trẫm nhiều năm rồi, hãy nể tình ông ta lần đầu phạm tội mà tha cho ông ta, quả nhân từ nay về sau không đi đôi giày này thế là được chứ gì”. Án Tử thấy mục đích khuyên can đã đạt được rồi, liền chĩa mũi nhọn, nói sang các vấn đề khác. Án Tử làm bạn với vua đã hơn 30 năm nhưng ông vẫn được an toàn ở trong miệng hổ, đó là nhờ nghệ thuật khuyên giải cao siêu của ông ta, vừa khéo léo, hàm súc, lại vừa đạt hiệu quả ngay, đánh trúng chỗ lợi hại, khiến cho “3 vua“ đều buộc phải nghe theo lời khuyên.

    Mỗi một người lãnh đạo đều có sự uy nghiêm và tự tôn của mình. Là người cấp dưới thì phải biết căn cứ vào tình hình, căn cứ vào đối tượng và không nên trực tiếp kịch liệt khuyên can, dù cho đó là những lời trung thành rất có lợi cho dân cho nước lại không hề có hại, cũng không được tuỳ tiện nói ra trực tiếp. Bởi vì, người lãnh đạo cũng còn có một vấn đề nữa, đó là khả năng chịu đựng về tâm lý! Tốt nhất là nên ít nói những lời trung nghĩa chướng tai, nên vận dụng đầu óc nhiều, để cho “những lời trung nghĩa“ này nghe xuôi tai. Như vậy thì vừa có lợi cho nước cho dân, lại vừa có lợi cho người khuyên can và người bị động. Nếu nói thẳng quá cho dù là ý kiến ban đầu có tốt thế nào đi chăng nữa thì cũng khó tránh khỏi làm cho người khác thấy không vui, thậm chí còn mang đến cái hoạ sát thân.

    Nói thêm về việc khuyên can của Nguỵ Chinh

    Can gián, không phải là một chuyện dễ dàng, đặc biệt là trong thời kỳ chuyên chế phong kiến do các bậc đế vương nắm quyền, càng không nói đến những “hôn quân“ chỉ thích nghe quần thần a dua, nịnh hót. Ngay cả những bậc minh chủ như Đường Thái Tông có lúc cũng vì những lời nghịch tai mà trở nên tức giận.

    Một lần nọ, khi Nguỵ Chinh lên triều, chỉ vì một chuyện mà tranh luận với Thái Tông đến nỗi mặt đỏ dừ. Đường Thái Tông quả thực không muốn nghe tiếp nữa, muốn nổi giận, nhưng lại sợ mất đi danh tiếng biết nghe lời hay lẽ phải, tấm lòng khoan dung độ lượng của mình trước mặt quân thần, nên đành phải nén cơn giận lại. Sau khi thoái triều, về đến hậu cung, ông vẫn chưa hết tức giận, không kìm được mới tự nhủ rằng: “Đến một ngày nào đó, nếu như ngươi còn làm ta tức giận thì ta nhất định sẽ giết chết cái đồ nhà quê này!“

    Hoàng hậu Trường Tôn ở bên cạnh nghe thấy vậy liền hỏi: “ Đồ nhà quê là ai vậy?“

    Đường Thái Tông nói; “Đó chính là Nguỵ Chinh. ông ta thường xuyên chọc ngoáy ta trước mặt nhiều người khiến ta rất khó xử“.

    Hoàng hậu Trường Tôn nghe xong, lập tức lui ra ngoài thay triều phục rồi đi đến trước mặt Đường Thái Tông khấu đầu chúc mừng. Thái Tông ngạc nhiên hỏi nguyên cớ. Hoàng hậu Trường Tôn đáp: “Thiếp nghe nói, bệ hạ anh minh thì đại thần mới dám nói thẳng. Giờ đây Nguỵ Chinh dám thẳng thắn khuyên can, đó là do bệ hạ hiền minh, sao thiếp lại ... không chúc mừng cho được?“

    Đường Thái Tông nghe xong, liền tỏ ra vui vẻ, không bận tâm đến chuyện nguỵ Chinh thẳng thắn khuyên can khiến ông khó xử nữa.

    Trong lịch sử, những người do thẳng thắn khuyên can nên bị quân vương trừng phạt nhiều không kể xiết.

    Long Phùng, Tỉ Vu, Phù Sai đều là những trung thần hết lòng trung thành, tấm lòng trong sáng như nhật nguyệt nhưng do sự ngu dốt, bạo ngược của đối tượng được khuyên mà gặp phải bất hạnh. Đương nhiên, trong xã hội phong kiến, tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trung thần đó là: “Quan văn liều chết để khuyên nhủ, quan võ liều chết để chinh chiến“. Tức là khi đấng quân vương có sai lầm, thì các quan văn phải liều chết để can gián, khi sự an toàn của quốc gia bị uy hiếp, thì các quan võ phải liều chết để chiến đấu.

    Nhưng để thực hiện tiêu chuẩn đánh giá trung thần e cũng hơi khó. Một là nếu như nội dung liều chết mà can gián không hợp với lòng vua thì tất sẽ mang lại nguy hiểm cho mình, hơn nữa nếu vua cũng có vấn đề về khả năng chịu đựng tâm lý, mà bạn lại nói thẳng không chút kiêng nể, sẽ làm cho quyền uy của ông ta bị tổn thương, không biết chừng còn nảy sinh tâm lý ngược lại. Điều mà bạn nói, ông ta sẽ không nghe, sẽ “tranh cãi“ với bạn, đối đầu với bạn, lúc đó nếu bạn không chịu được mả bỏ đi thì bạn sẽ thật thảm hại.

    Nguỵ Chinh cũng hiểu rất rõ về điểm này. Chính vì ông biết rất rõ tính cách của Thái Tông nên mới dám khuyên thẳng, mới dám chạm “vẩy rồng“, nói những lời mà vua không muốn nghe. Nếu như ông gặp phải những hôn quân như Kiệt, Trụ, thì hẳn sẽ không dại gì mà thẳng thắn khuyên can cả. Nguỵ Chinh thực ra rất biết cách bảo vệ mình. ông đã từng xin Đường Thái Tông cho ông làm lương thần, chứ đừng cho ông làm trung thần. Thái Tông hơi nghi ngờ, mới hỏi rằng: “Trung thần và lương thần lẽ nào lại có điểm khác nhau sao?“ Nguỵ Chinh đáp: “Tắc Khiết, Cửu Đào thời Nghiêu Thuấn là lương thần, Long Phùng vì khuyên can Hạ Giả mà bị giết, Tỉ Vu vì khuyên Thương Trụ mà bị moi tim, họ đều là những trung thần. Làm lương thần thì bản thân cũng được tiếng tăm, bậc quân vương cũng được tiếng, con cháu nối tiếp, vận nước tốt lành. Làm trung thần thì bản thân bị sát hại, bậc quân vương thì bị tiếng xấu, đất nước bị diệt vong, chẳng qua cũng chỉ là được cái danh hão mà thôi. Điểm khác nhau giữa 2 cái là ở đó. Chính vì Nguỵ Chinh hiểu rất rõ điều này, ông mới có thể “bản thân được tiếng tăm“, mới có thể làm cho “bậc quân vương cũng được tiếng“. Có thể thấy rằng, Nguỵ Chinh cũng rất hiểu cách “sáng suốt giữ mình“, sở dĩ ông dám thẳng thắn can gián vì ông biết Thái Tông là “minh chủ“.

    Nếu Thái Tông là hôn quân giống như Kiệt, Trụ, thì hẳn ông sẽ không muốn làm Long Phùng và Tỉ Vu.

    Những suy nghĩ về bi kịch của Ngũ Tử Tư

    Năm thứ 36 đời Chu Kính Vương, Việt Vương Câu Tiễn cử đại phu Chu Kê dẫn 3 nghìn quân sang giúp nước Ngô đánh Tề. Ngô vương Phù Sai lập tức huy động quân của 9 quận, tấn công ào ạt vào nước Tề. Đúng vào lúc quân Ngô chuẩn bị tiến quân thì Ngũ Tử Tư đã thẳng thắn khuyên can Ngô Vương rằng: “Nước Việt là mối đại hoạ trong lòng của nước Ngô chúng ta, còn nước Tề thì lại không phải là mối nguy hiểm chính của chúng ta. Vậy mà nay đại vương lại dẫn 10 vạn đại quân đi xa ngàn dặm để đánh nước Tề, quên cái đại hoạ trong lòng là nước Việt, thần chỉ sợ rằng đại vương không đánh thắng được nước Tề, trái lại còn khiến cho nước Việt nhân lúc chúng ta yếu mà xông vào để uy hiếp nước Ngô!“

    Ngô Vương tức giận nói: “Ta sắp sửa xuất chinh mà ngươi lại nói những lời không tốt lành này, ngươi đáng tội gì?“. Nhân lúc tức giận muốn giết Ngũ Tử Tư. May mà có Bá Nam khéo léo khuyên can, nhắc nhở Ngô Vương rằng Ngũ Tử Tư là lão thần của tiên vương, không thể giết được, nên Ngô Vương mới không giết Ngũ Tử Tư.

    Ngô Vương Phù Sai đích thân làm tướng của đại quân, thái tế Bá Tài làm phó tướng, Tiền Môn Sào làm tướng thượng quân, vương tử Cô Tào làm tướng hạ quân, 10 vạn đại quân, rầm rầm rộ rộ tiến sang nước Tề. Khi tấn công nước Tề, Ngô Vương đích thân lâm trận, dũng khí của quân Ngô tăng gấp bội, nên đã đánh bại nước Tề. Ngô Vương khải hoàn trở về.

    Khi Phù Sai mang quân trở về, bá quan đều ra chúc mừng, chỉ có Ngũ Tử Tư là trầm mặc không nói. Phù Sai nói với Ngũ Tử Tư rằng: “Ngươi nói quả nhân không nên đánh nước Tề, còn nói rằng ta đánh Tề có thể sẽ thất bại, giờ ta thắng lợi trở về, duy chỉ mình ngươi là không có công lao gì, ngươi có thấy xấu hổ không?“

    Ngũ Tử Tư lạnh lùng trả lời rằng: “Khi ông trời muốn diệt một nước, thì thường cho nước đó có được một số chuyện vui nhỏ, sau đó mới làm cho nó gặp đại hoạ. Lần này thắng Tề chẳng qua cũng chỉ là một chuyện vui nhỏ, thần e rằng đại hoạ của chúng ta sắp đến rồi“.

    Ngô Vương tức giận nói: “Lâu không gặp tướng quốc như ngươi, tai ta cảm thấy rất yên tĩnh, nay ngươi lại đến lải nhải, làm mất cả nhã hứng của ta“.

    Vài ngày sau, Việt Vương Câu Tiễn dẫn quần thần sang nước Ngô để triều bái Ngô Vương. Việt Vương Câu Tiễn hối lộ hết các quan dưới trướng của Ngô Vương. Ngô Vương Phù Sai bày rượu ở trên bàn, Việt Vương Câu Tiễn ngồi cạnh hầu rượu, Phù Sai nói rằng: “Ta nghe nói: Vua không quên thần có công, phụ không quên tử có công. Nay Bá Hỉ trị bệnh cho quả nhân có công nên ban cho chức thượng khanh. Việt Vương Câu Tiễn hiếu sự với quả nhân, nay ban cho danh hiệu Tài năng kỳ quốc, để cảm ơn công lao của Việt Vương đã giúp ta đánh Tề“.

    Các quần thần đều a dua, nịnh hót rằng: “Đại vương anh minh, đại vương anh minh“.

    Phù Sai rất vui, liên tục cười lớn. Nụ cười vừa tắt, đột nhiên nhìn thấy Ngũ Tử Tư quỳ trước mặt mình, mà nói rằng: “Thưa đại vương, ngài đừng nên nuôi hổ để họa về sau, gây họa cho bản thân, đừng nên gây ra hoạ vong quốc khiến đất nước hoang tàn, cỏ dại mọc đầy điện“.

    Đang lúc vui, lại nghe thấy Ngũ Tử Tư nói như vậy Phù Sai cảm thấy rất ngứa tai, tức giận mà nói rằng: “Lão tặc đầy gian xảo kia, là yêu nghiệt của nước Ngô, lại muốn chuyên quyền tự động ra uy, nay bãi chức cho về tự mưu sinh“.

    Tử Tư vẫn thẳng thắn khuyên can “Lão thần nếu bất trung bất tín, thì sẽ không được làm thần của tiên vương. Cũng như Long Phùng gặp phải Kiệt, Tỉ Vu gặp phải Trụ vậy, thần khó tránh khỏi phải chết, vua sẽ bị diệt. Thần may mắn nhờ phúc của vua nên không gặp phải yêu nghiệt“.

    Phù Sai nghe xong, tức giận không để đâu cho hết, bèn ban thanh kiếm “Thuộc Lâu“ cho Ngũ Tử Tư, để ông tự kết liễu đời mình. Tử Tư nhận lấy thanh kiếm, đứng ở trung đình, ngửa mặt lên trời mà kêu to rằng: “Đại vương ơi, hôm nay ngài không nghe theo lời khuyên của thần, lại còn ban cho thần cái chết. Hôm nay, thần chết đi thì ngày mai binh mã của nước Việt sẽ kéo đến, họ sẽ tiêu diệt giang sơn xã tắc của ngài“.

    Nói xong, Ngũ Tở Tư liền vung kiếm tự sát.

    Ngũ Tử Tư một lòng trung thành với Phù Sai, nhưng lại gặp phải kết cục bi thảm như vậy, chủ yếu là ở chỗ ông không xem xét kỹ trường hợp, không phân biệt đối tượng nên đã nói thẳng thắn quá. Điều đáng tiếc hơn là rõ ràng ông đã phát giác ra Phù Sai là một hôn quân giống như Kiệt, Trụ nhưng vẫn liều chết can gián, vẫn không chùn bước mà làm 1 “trung thần“ giống như Long Phùng, Tỉ Vu, cuối cùng rơi vào cảnh bị ban cho cái chết. Thật là đáng thương, những trung thần “ngu trung“, không biết tiến thoái, không biết sáng suốt giữ mình như vậy trong xã hội phong kiến đã phải mất không tính mạng của mình mà không hề được bù đắp. Họ thật không đáng bị như vậy.

    Muốn sáng suốt giữ mình, muốn “tạm thời giữ được tính mạng“ trong xã hội phong kiến, thì đừng nên giống như Ngũ Tử Tư và Khuất Nguyên. “Người đời say chỉ riêng ta là tỉnh“ mà hãy làm theo “Người đời say thì ta cũng say“. Trước tiên là phải giữ được tính mạng “Giữ được núi xanh thì không sợ không có củi đốt“ mà.

    Thời phong kiến, những người thông hiểu đạo lý sáng suốt giữ mình cũng rất nhiều, Ki Tử chính là một người trong số đó. Ki Tử là thần tử của Thương Trụ Vương. Trụ Vương thích ban ngày thì đóng cửa sổ, kéo kín rèm, thắp nến, rồi uống rượu để làm vui không kể ngày hay đêm để đến nỗi quên cả ngày tháng. Ông ta hỏi người hầu rằng, bây giờ là ngày mấy tháng mấy, người hầu chẳng ai biết cả, ông liền sai người hỏi Ki Tử. Ki Tử trả lời người đến hỏi rằng: “Ta say quá, đầu óc cứ mơ hồ, giờ là ngày bao nhiêu ta cũng không nhớ được nữa“.

    Sau khi người đó ra về, người nhà mới trách Ki Tử là đã không trả lời thật. Ki Tử liền nói: “Các ngươi hiểu gì chứ! Trụ Vương là bậc trí tôn thiên hạ, nay đã không biết ngày tháng là gì thì chứng tỏ thiên hạ giờ đã nguy cấp lắm rồi. Cả nước từ trên xuống dưới đều quên hết ngày tháng, nếu chỉ có mình ta tỉnh táo mà biết được ngày tháng thì ta sẽ gặp phải đại hoạ“.

    Câu trả lời của Ki Tử có thể nói là thật sự sáng suốt. Là người như thế nào thì nói những lời như thế ấy. Thế mới gọi là “Gặp người thì nói tiếng người, gặp quỷ thì nói tiếng quỷ” (Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy). Nếu không căn cứ vào tình hình, không xem xét kỹ đối tượng, nói những lời trung nghĩa thẳng thắn với những kẻ ngu dốt, bạo ngược thì chỉ mất mạng mà thôi.

    Trong thế giới đầy rẫy sự xảo quyệt và gian trá thì cần phải để ý 1 chút, nếu bạn không quá thẳng thắn, bạn sẽ không bị người khác gây khó dễ, không bị nguy hiểm đến tính mạng. Phạm Văn Tử, người nước Tần thích nói thẳng, đến nỗi bố của ông là Phạm Vũ Tử đã dùng gậy đánh và giáo huấn rằng: “Người nói thẳng thắn quá thì không được người khác quý. Không ai dám tiếp nhận con, chứng tỏ hoàn cảnh của con rất nguy hiểm, thậm chí còn liên quan đến cả cha nữa“.

    Đúng vậy, nếu nói thẳng thắn quá sẽ không được người khác quý. Nếu chỉ chú ý đến bản tính thẳng thắn của mình mà không chú ý đến khả năng chịu đựng về tâm lý thì sẽ khó tránh khỏi làm cho người khác tức giận, đắc tội với người khác. Từ câu chuyện dưới đây, có lẽ chúng ta sẽ được gợi mở đôi phần:

    Chuyện thị phi của cô gái thẳng thắn

    Cô gái thẳng thắn trong “Khoái chảy Lý Thúy Liên ký“ (Lý Thúy Liên - Cô gái nhanh nhẩu) là người thông minh, đảm đang, kiên cường, dám nghĩ, dám nói, thẳng thắn nhưng cuối cùng bị ép phải làm ni cô.

    Khi đến lúc trai khôn lấy vợ, gái lớn gả chồng, người mai mối đến bàn chuyện hôn nhân, điều mà cha cô lo lắng chính là tính “nói thẳng“ của cô. Cha cô nói rằng: “Con tôi là người nhân hậu, chỉ có điều là hay nói thẳng... tôi không yên tâm“. Quả nhiên, khi đi lấy chồng, cô vì tính khí ưa nói thẳng nên đã chửi mắng người mai mối, đắc tội với em chồng, bác, đốp chát với mẹ chồng. Mới 3 ngày mà mẹ chồng cô đã bắt con trai phải li dị vợ. Sau khi về nhà mẹ đẻ, bị bố mẹ, anh trai, chị dâu oán trách, bản thân cô trong lúc tức giận đã đi làm ni cô.

    Mặc dù “mồm miệng thẳng thắn“ hay “không thẳng thắn“ không phải là giới hạn của cái đúng, cái sai, sai hay đúng là do nội dung của bản thân sự vật quyết định nhưng trong xã hội hiện thực, sự việc không hề đơn giản như vậy.

    Cô phản đối lễ tiết phiền phức trong lễ giáo phong kiến. Khi lên kiệu, bà mối dặn rằng: “Tiểu nương tử, khi cô đến cửa nhà mẹ chồng thì đừng có nói gì“. Đến cửa nhà chồng, bà mẹ chồng lại bưng 1 bát cơm ra, và nói rằng: “Tiểu nương tử, con hãy há miệng ra để nhận cơm nào“.

    Lý Thúy Liên vì thẳng thắn nên đã nói ngay “Bảo con ngậm miệng rồi lại bảo con há miệng, dặn con không được mở miệng, vừa mới ngồi kiệu đến cửa nhà chồng sao lại bảo há miệng ra?“

    Hàng ngàn hàng vạn cô gái trong thời đại phong kiến vào ngày kết hôn, đều bị người ta tuỳ ý sai bảo, sắp đặt, chẳng ai dám phản đối, chỉ có Lý Thúy Liên là không chịu nghe theo “luật lệ phép tắc“, lớn tiếng kêu gào vì phụ nữ. Do vậy, trong con mắt của những kẻ thế tục, cô là một “người phụ nữ xấu xa“ không giữ đạo của người phụ nữ, không tuân theo tập tục.

    Cô phản đối những tập tục hôn lễ nhạt nhẽo, ví dụ như “rắc giường“ rắc ngũ cốc đầy lên giường cô dâu, làm cho vung vãi khắp nơi rồi bắt cô dâu phải quét. Ông thầy xem âm dương còn nói là: “Từ xưa đến nay chồng hát thì vợ phải hoạ theo, chưa từng có ai gầm lên như sư tử hà Đông cả.“ Lý Thúy Liên lại nói luôn: “Rắc giường? Đậu, gạo, lúa mạch rắc đầy giường, thử nghĩ xem, nó ra cái thể thống gì“.

    Cái cách nói không chút kiêng nể này của cô, trong ánh mắt của những kẻ thế tục thì cô đương nhiên là một người không được giáo dục. Nhà chồng bàn với nhau phải dạy bảo cô. Bố chồng bắt cô phải hầu trà. Cô chẳng hề phàn nàn, cởi ngay bộ quần áo cô dâu ra, mặc quần áo vải thô vào, đi xuống bếp rửa nồi và bát; rồi lại đến tận phòng lấy một ít hoa quả, pha một ấm trà, bê đến phòng khách, bày ghế ra rồi cung kính mời bố mẹ chồng, bác trai và bác gái dùng trà. Tất cả người trong nhà chồng đều ngồi cả, chỉ để mình cô đứng phục vụ. Bố mẹ chồng thấy cô tay chân nhanh nhẹn, thái độ khiêm tốn, đang lúc cho rằng là được rồi thì cô em chồng và em trai chồng cũng đòi uống trà. Cô không chịu được, nói luôn: “Bố mẹ uống trà, bác trai, bác gái cũng đến uống trà. Cô chú nếu muốn uống thì đến lấy 2 cái bát ở trên bếp ấy“ Cô vừa vào nhà chồng chưa đầy 3 ngày thì em gái và em trai chồng đã nói ra nói vào, thường xuyên nói xấu cô, nay lại sai cô làm cái này làm cái kia thì làm sao cô chịu nổi đây?

    Lý Thúy Liên có năng lực, hiểu lễ nghĩa, biết ăn nói, lý thuộc về cô, nhưng hiệu quả lại không tốt. Chủ yếu là do cô không chú ý đến trường hợp nói, không phân biệt rõ đối tượng nói, nói thẳng khiến người khác phải bực mình đắc tội với người khác. Vì vậy làm cho bản thân ở vào thế bất lợi, cuối cùng rơi vào cảnh bị buộc phải làm ni cô.

    Người nói thẳng nói thật phải thận trọng !

    Vậy thì, nên nói năng thế nào với cấp trên? Làm sao để có thể đối thoại không bình đẳng?

    Điều quan trọng của đối thoại không bình đẳng

    Thời đại đối thoại đã tới rồi, nhưng thời đại của đối thoại bình đẳng vẫn còn xa lắm. Dù là phái lạc quan mang đậm nét chủ nghĩa lý tưởng, trên sân khấu giao tiếp ngày nay, e rằng cũng không dám mong đến “đối thoại bình đẳng“. Bởi vì, trong thế giới mà sự giàu có và quyền lực vẫn là trục chi phối, là nguyên nhân của thị phi, thì mong muốn giao tiếp ngôn ngữ hoàn toàn bình đẳng, chẳng qua cũng chỉ là chàng ngốc nói mê mà thôi, bởi vì chàng ta không đối mặt với xã hội hiện thực.

    Trên thế giới không có hai chiếc lá hoàn toàn giống nhau. Con người rơi vào những vòng xoáy rắc rối thì còn phức tạp hơn lá cây rất nhiều. Xã hội do con người hợp thành rất phức tạp nên hai bên nói chuyện không hoàn toàn giống nhau, không thể tương đương. Cho nên, dù hai bên trò chuyện thân mật, cử chỉ như nhau, tay bắt mặt mừng hay vòng tay nhau nâng cốc, cùng lắm cũng chỉ là sự bình đẳng có tính hình thức.

    Vì thế mà “đối thoại “ có nghĩa là không bình đẳng. Hiểu được điều này, đối với người ở vào thế yếu, mong muốn bảo vệ bản thân là cực kỳ quan trọng. Nó có thể làm cho người mong muốn bảo vệ bản thân tỉnh táo lại, không còn ảo tưởng nữa.

    Vậy thì nên đối thoại không bình đẳng như thế nào để bảo vệ bản thân? Điều quan trọng khi đối thoại không bình đẳng là gì?

    Đừng vội, hãy xem từng điều sau:

    Điều quan trọng thứ nhất: phải thừa nhận mình ở vào thế yếu, chứ đừng tự lừa mình như tinh thần A.Q. Bạn phải thừa nhận điểm yếu của mình là kém hơn đối phương hoặc đang mong muốn được như đối phương. Điểm yếu của bạn chính là điểm mà đối phương thích công kích, tự nhận thấy yếu điểm của mình, bạn mới có thể có những phòng ngự tích cực đối với nó.

    Điều quan trọng thứ hai: luôn điều chỉnh tâm lý của mình, duy trì tự tin. Yếu thế gây cho người ta có cảm giác đau khổ, sẽ làm cho bản thân không thích ứng nữa, căng thẳng, tâm lý chịu áp lực nặng, rất dễ mất tự tin, dẫn tới suy nghĩ bị bế tắc, dao động lòng tin. Để cân bằng, loại trừ áp lực tâm lý, bạn phải xác nhận tính chân thực, tính đúng đắn và tính khả thi của mục tiêu đối thoại, luôn cổ vũ để bản thân lạc quan, tự tin. Tinh thần tràn trề sức sống, không để đối phương áp đảo, lấy sức mạnh đạo nghĩa, sức mạnh nhân cách và sức mạnh lô-gíc để quật ngã đối phương.

    Điều quan trọng thứ ba: cần xoay quanh mục tiêu đã định trước, bám sát năm chữ “Lí, Nghĩa, Lợi, Tình, Uy“ mà nói, tức là làm cho đối phương hiểu cái lý, truyền cho đối phương cái nghĩa, dụ cho đối phương cái lợi, khiến cho đối phương xúc động, hạn chế cái uy của đối phương. Thông thường, nói chuyện hay nói chen thêm, hi vọng người khác nghe rồi sẽ phục tùng, làm theo yêu cầu của mình. Mọi người nghĩ đến cái “Lợi“ trước tiên, sau đó là “Lí“, “Nghĩa“, “Tình“, cuối cùng mới đến “Uy“. Nhưng so sánh với đối phương có thế mạnh, “nguồn vốn“ chủ yếu người thế yếu khi đối thoại là “Lí“ và “Nghĩa“, chứ không phải là “Lợi“ và “Uy“, (đây chính là nguyên nhân bên yếu lâm vào thế yếu, nếu không đã có thế mạnh rồi).

    Vì vậy chú trọng, dành công sức cho “lý“ và “nghĩa“, khiến đối phương hiểu được cái lý, truyền cho đối phương được cái nghĩa là điều quan trọng cho bên yếu thế tạo bước đột phá. Nhất định phải nói rõ đạo lý, nói đúng nội dung, nói sao cho đối phương xúc động, thích nghe, nói tới mức lòng tự tôn, niềm vinh dự, lòng chính nghĩa của đối phương trỗi dậy và cảm thấy hài lòng. Lúc đó, khéo léo tác động tình cảm sẽ đạt hiệu quả cao. Tất nhiên, không có nghĩa là dùng “Lợi“ và “Uy“ thì vô tác dụng đối với bên yếu thế. Chẳng qua là, bên yếu thế cần phải tính toán kỹ về cái “Lợi“ này, thận trọng như khi dùng dao vậy. Còn với “Uy”, bên yếu thế cũng phải cẩn thận, trường hợp bất đắc dĩ mới được sử dụng. Bởi vì điều này tạo ấn tượng áp đặt đối với người khác, đưa mà cố bẻ sẽ không ngọt, tuy người khác sẽ nhất thời sợ “Uy” của bạn nên nghe theo ý kiến của bạn, nhưng khó tránh khỏi không hận ghét bạn, giả như đến lúc đó phản kích lại bất ngờ, thì chắc khiến bạn thật thảm hại. Giống như cách “Tử gián“ lấy cái chết để bắt ép nhau, áp đặt ý chí cho người khác, nên tỉ lệ thành công không cao, có khi còn uổng phí tính mạng.

    Tóm lại, khi bày tỏ ý kiến với cấp trên của mình, tuyệt đối không được làm thương tổn đến sự tôn nghiêm và quyền uy của họ, cố gây khó dễ cho người khác, không được áp đặt ý chí đối với họ, mà phải chú ý tới địa vị của họ, cân nhắc trong từng lời nói.
     
  8. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 28

    Có một nhà hiền triết từng nói: “ý nghĩ là người mở đường cho hành động“, người phát ngôn trước sẽ truyền cho đối phương những nhận thức của mình nên đối phương sẽ đi theo phương hướng mà người đó vừa chỉ ra. Điều này là hợp với quy luật tâm lý, kết quả thực nghiệm tâm lý học có liên quan cũng cho thấy, trong những kích thích xã hội (tin tức) như nhau kế tiếp tác dụng đối với mọi người, kích thích xã hội nào xuất hiện trước sẽ gây được ấn tượng mạnh nhất đối với mọi người, đây cũng là điều mà tâm lý học gọi là hiệu ứng nhân tố đầu tiên.

    Trong giao tiếp, người cạnh tranh của bạn sẽ tìm cơ hội hạ thấp, bêu giễu bạn trước mặt lãnh đạo, nếu bạn cảm nhận được sự nguy hiểm này, thì nên áp đảo đối phương trước, hãy tuyên truyền một ý nghĩ vào đầu lãnh đạo trước, nói một người nào đó hận ghét bạn như thế nào, có thể sẽ chia rẽ quan hệ giữa lãnh đạo và bạn. Trước khi chuyện đó xảy ra, nếu bạn trấn áp đối phương trước, gặp gỡ trước với lãnh đạo, tạo được sự coi trọng của lãnh đạo, khi sau này thực sự có kẻ muốn bôi nhọ bạn, thì trong lòng lãnh đạo đã vững tin rồi, sẽ không làm khó bạn, thế là bạn có thể bình an vô sự rồi .

    Tuyệt chiêu thắng lợi của Trần Chẩn

    Trần Chẩn là thuyết khách nổi tiếng thiên hạ, trứ danh tung hoành khắp nơi thời Chiến Quốc. Con người này về mưu lược ngoại giao và chính trị đều có những kiến giải rất độc đáo, nhưng lại không trung thành với một nước nào.

    Trong suốt cuộc đời chính trị của mình, Trần Chẩn không được hài lòng lắm.

    Ban đầu, Trần Chẩn và Trương Nghi đều ở trong cung Tần Huệ Văn Vương và đều được trọng dụng. Cả hai là những cao thủ về mưu lược ngoại giao và rất có tài ăn nói. Điều này cũng phản ánh câu tục ngữ “Hai hổ không thể nhốt chung một chuồng“, Trương Nghi du thuyết Tần vương với thuật liên hoành, đã được vua Tần sủng tín, đồng thời còn được phong chức thừa tướng, quyền lực khuynh đảo thiên hạ một thời. Trương Nghi lợi dụng sự tín nhiệm của Tần vương đã dụng kế phản gián, hãm hại rất nhiều quần thần cũ của nước Tần, để củng cố địa vị thêm cao của mình. Trần Chẩn biết Trương Nghi từ lâu đã muốn hãm hại mình nên không đợi Trương Nghi ra tay, Trần Chẩn đã trấn áp đối phương trước, nhờ Điền Cách tâu với Tần vương: “Nước Sở có thể sẽ gây nguy hại cho nước Tần chúng ta, nước Sở biết Hoành Môn Quân giỏi dùng binh; Trần Chẩn tinh thông mưu lược, tất để cho Trương Nghi tới hãm hại hai người, xin đại vương đừng tin lời Trương Nghi“.

    Không ngờ, sau đó quả nhiên Trương Nghi đến nói xấu Trần Chẩn, nhưng ông ta vừa mở miệng thì Tần vương nổi cơn thịnh nộ không thèm nghe.

    Ở đây, Trần Chẩn đã biết việc sớm muộn Trương Nghi sẽ hãm hại mình, thế là liền chủ động xuất kích, áp đảo đối phương trước, nhờ Điền Cách ra tay, truyền cho Tần Vương ý nghĩ của mình, đó là diệu pháp giành được thắng lợi của Trần Chẩn. Nếu đích thân Trần Chẩn tuyên truyền cho Tần vương ý nghĩ này thì chắc chắn sẽ không đạt hiệu quả bằng nhờ người khác làm hộ. Mọi người thường cho rằng, khi mình nói cho mình thì sẽ bị thiên kiến, không khách quan, chẳng phải là mọi người thường nói “Bà Hoàng bán dưa, vừa bán vừa khoe“ đó sao. Còn lời nói của người bên cạnh mình, gần như thay mặt cho một kiểu dư luận xã hội, bất luận điều đó có chính xác hay không, ấn tượng đối với người khác là, người nói ấy không phải nói cho bản thân họ nên quan điểm đó sẽ tương đối khách quan. Trần Chẩn đã khéo léo vận dụng kiểu tâm lý này của mọi người, vì vậy đã đạt hiệu quả cao.

    Trương Nghi gặp khó khăn như vậy nhưng vẫn không từ bỏ ý đồ của mình, tiếp tục tâu điều giả dối với Tần vương: “Trần Chẩn làm đại thần nước Tần, nhưng lại thường tiết lộ chuyện cơ mật quốc gia với nước Sở, thần không muốn cùng làm chuyện đó, mong đại vương hãy cho bắt ông ta, xử tội chết.“ Có đại thần theo địch phản quốc thật là việc tày trời, vì vậy, Tần Vương cho gọi riêng Trần Chẩn lại hỏi. “Nghe nói, ngươi sắp đến nước Sở, có chuyện đó không?“ Trần Chẩn trả lời đúng sự thực: “Thưa, đúng“, sau đó liền kể cho Tần vương câu chuyện:

    Một người nước Sở có hai vợ, có kẻ tán tỉnh người vợ cả, bị người vợ đó chửi mắng thậm tệ, hắn liền xúi giục, dụ dỗ người vợ bé kia, được cô ta hứa hẹn. Sau này, người Sở kia chết, người ngoài hỏi kẻ dụ dỗ đó: “Anh muốn lấy cô vợ cả hay cô vợ bé đó ?“ Kẻ dụ dỗ trả lời: “Tôi muốn lấy cô vợ cả làm vợ.“ Người ngoài không hiểu hỏi anh ta: “Người vợ cả đó mắng anh, còn người vợ bé kia lại lấy thân mà hẹn thề cùng anh, tại sao anh lại muốn lấy người vợ cả kia?“ Kẻ dụ dỗ trả lời: “Vì tôi muốn vợ của tôi là một người trung trinh, cô ấy có thể vì tôi mà chửi mắng thậm tệ kẻ muốn tán tỉnh cô ấy.“

    Kể xong câu chuyện, Trần Chẩn nói: “Sở vương và Sở tướng đều rất hiền minh, bây giờ làm thần của nước Tần mà thần lại bất trung với đất nước, đi - bán chuyện cơ mật quốc gia với nước Sở, vậy thì liệu nước Sở có tin tưởng được ở nhân phẩm của thần không?“

    Trần Chẩn lại nói tiếp: “Thần sắp đến nước Sở, chuyện này ngay kẻ đi đường cũng biết. Bệ hạ biết không, bởi vì con người Hiếu Kỉ rất hiếu kính với cha mẹ mình, vì vậy cha mẹ trong thiên hạ đều mong muốn có được người con như ông ta; Tử Cốt trung thành với vua của mình nên minh chủ trong thiên hạ đều muốn có được đại thần như ông ta; người con gái tốt thì ai cũng muốn lấy, thần bất trung với nước Tần thì nước Sở sao có thể đón làm trung thần? Trung thành với nước mình thì bị từ chối, thần không đến nước Sở thì còn cách nào khác nữa đây?“

    Trần Chẩn đã thông qua câu chuyện trên để “nói với Tần vương một đạo lý: “Kẻ không trung trinh sẽ không thực sự được người khác hoan nghênh, mà chỉ có người trung thành kiên định mới được tôn trọng, để ngầm cho Tần vương biết chuyện này không thể xảy ra với con người tài năng trí tuệ, đầu óc tỉnh táo như ông. Còn những lời nói sau bỗng có ý khác, từ việc mình được hoan nghênh tới nước Sở để nói bản thân là trung thần của nước Tần. Trần Chẩn nhờ có ảnh hưởng của chiến thắng lần trước lại thêm tài ăn nói xuất sắc của mình mới tiếp tục giành được sự tín nhiệm của Tần vương, làm cho Trương Nghi bị trúng thương, âm mưu hãm hại Trần Chẩn bị phá vỡ, thậm chí Tần Huệ Văn vương phải cảm khái nói với Trương Nghi: “Trần Chẩn là người hùng biện biệt tài trong thiên hạ.“

    Vận dụng sách lược áp đảo đối phương trước chủ yếu tức là trước tiên thông qua lời nói để được lãnh đạo coi trọng, nếu như có người gièm pha bạn, lãnh đạo có thể sẽ lấy những lời nói trước của bạn làm cơ sở xem xét sự việc, đem ra đối chiếu với nhau, vì “hiệu ứng nhân tố trước tiên“ của tâm lý con người luôn rất quan trọng và giành chiến thắng. Như thế, bạn có thể bình an vô sự rồi. Tuy nhiên, dùng sách lược áp đảo đối phương trước cần phải tận dụng mọi khả năng để thu thập các tin tức tình hình của đối thủ, chỉ có “Biết người biết ta“ thì mới có thể “Trăm trận trăm thắng“.

    Bí mật giữ mình của Cam Mậu

    Cam Mậu là người Hạ Tễ thời Chiến Quốc, người này rất thạo nói giỏi biện, nhiều mưu lược, được Trương Nghi tiến cử với Tần Huệ vương. Sau khi Huệ vương qua đời, Vũ vương kế vị, Cam Mậu vì có công bình định nước Sở phản bội, được lên chức làm Tả thừa tướng.

    Cam Mậu sau khi đảm nhiệm chức Tả thừa tướng, có bất hoà với hai đại thần Sơ Lý Tật và Công Tôn Diễn nước Tần. Ông lo sợ Lý Tật, Công Tôn Diễn nói xấu mình trước mặt vua Tần, bất lợi cho mình, liền trấn áp đối phương trước, tìm một cơ hội nói với Tần vương về nỗi lo lắng của mình. Cam Mậu tâu với Tần vương:

    “Thần kể câu chuyện 'Tăng Tham giết người' cho đại vương nghe nhé. Tăng Tham là đệ tử của Khổng Tử, nổi danh thiên hạ vì hiếu kính song thân. Tại quê nhà của ông ta, có một người cùng tên cùng họ với ông. Người đó không biết tại sao đã giết người. Có người nghe được tin này, đã lầm đệ tử Tăng Tham của Khổng Tử giết người. Mọi người sau một hồi áy náy cũng đem tin “Tăng Tham giết người“ nói với mẹ của ông. Tại nhà của Tăng Tham, có người tìm thấy mẹ Tăng Tham đang bận khâu vá, nói với bà: “Tăng Tham giết người rồi“. “Đứa con này không thể giết người.“ Chẳng ai hiểu con bằng mẹ, mẹ của Tăng Tham vẫn cứ thản nhiên khâu vá như lúc đầu. Một lúc sau, lại có người khác đến, nói với mẹ của Tăng Tham “Tăng Tham giết người rồi“. Mẹ Tăng Tham vẫn không tin con trai mình có thể giết người, không hề động lòng, cứ im lặng khâu vá tiếp. Không ngờ, một lúc sau đó, lại có người đến, trịnh trọng nói với bà: “Tăng Tham giết người rồi“. Lần này mẹ của Tăng Tham không thể không tin rồi! Tục ngữ nói: lời bất quá tam. Mẹ Tăng Tham nghe xong lời của người thứ ba, vội bỏ ngay công việc, chạy đi tìm hiểu sự tình.“

    Sau khi kể xong câu chuyện, Cam Mậu tiếp tục bình luận: “Thực ra, với nhân cách của Tăng Tham, thêm sự tin tưởng giữa hai mẹ con Tăng Tham, đáng lẽ rất khó tin những lời nói đó. Song, từ xưa đến nay, lời rêu rao đều đáng sợ, lời rêu rao năm lần bảy lượt truyền đến, ngay đến mẹ Tăng Tham hiểu Tăng Tham đến vậy còn tin vào nó, huống chi người bình thường. Thần là kẻ tầm thường, nhân cách của thần đương nhiên không thể cao thượng như Tăng Tham, mức tin tưởng của đại vương với thần không thể nhiều như của mẹ Tăng Tham đối với ông ấy. Cho nên, hiện giờ thần không lo lắng gì khác ngoài một điều, có một ngày nếu như có người tố cáo thần với đại vương, đại vương chắc hẳn sẽ tin lời người đó. Như vậy, lẽ nào thần không......?“

    Cam Mậu nói một mạch nhiều như thế, Vũ vương cứ im lặng chăm chú nghe. Đợi Cam Mậu vừa ngừng, Vũ vương bèn sốt sắng nói ngay: “Ta có thể thề với trời, ta hoàn toàn tin tưởng ngươi, ta tuyệt đối sẽ không nghe theo lời của hai đại thần bên cạnh ta, huống hồ bọn họ có tư giao rất sâu đậm với nước khác.“

    Vũ vương sợ Cam Mậu không tin, bèn trịnh trọng cùng thề với Cam Mậu.

    Sau này, Sơ Lý Tật, Công Tôn Diễn dù nói xấu Cam Mậu trước mặt Vũ vương như thế nào, Vũ vương đều không nghe. Có thể thấy uy lực của việc Cam Mậu áp đảo đối phương trước, truyền bá trước cho Vũ vương suy nghĩ của mình rất có hiệu quả.

    Cam Mậu còn rất biết lợi dụng một số tin tức tình báo để áp dụng sách lược áp đảo đối phương trước.

    Cam Mậu nhiệm chức Tả thừa tướng cho Tần Vũ Vương, nhưng Tần Vũ Vương cũng vô cùng sủng ái Công Tôn Diễn. Có một lần, Vũ vương vui mừng nói với Công Tôn Diễn: “Không lâu nữa, ta muốn lập ngươi làm tướng quốc.“

    Đúng lúc đó, câu này không sót một từ lọt vào tai Cam Mậu. Ông ta nhận thấy địa vị của mình có thể bị uy hiếp. Để giữ được chức thừa tướng quí báu, ông nghĩ phải có hành động áp đảo đối phương trước. Nếu không, sẽ đúng như lời Vũ vương nói, không lâu sau Tể tướng của nước Tần không phải là ông - Cam Mậu, mà là Công Tôn Diễn.

    Cam Mậu cuối cùng đã nghĩ ra một kế sách, trong một cơ hội ông cho là thích hợp, ông đi bái kiến Vũ vương trước. Cam Mậu áp dụng kế áp đảo đối phương trước, sau khi hàn huyên đôi chút, liền chúc mừng Vũ vương: “Nghe nói đại vương có một hiền tướng, thật là một hỉ sự vô cùng!“

    Tần Vũ vương bất giác giật mình, hỏi Cam Mậu: “Đại sự quốc gia đều nhờ ngươi cả. Việc có được hiền tướng, ngươi muốn chỉ ai?“

    Cam Mậu không chờ Vũ vương nói hết, tiếp lời luôn: “Đại vương chẳng phải đã định sau một thời gian nữa sẽ lập Công Tôn Diễn làm tướng quốc đó sao?“

    Vũ Vương giật mình, vội nói: “Ngươi nghe ai nói vậy?“

    Cam Mậu trả lời: “Là Công Tôn Diễn buột miệng nói với thần, nếu không thần không tin đâu! Ông ta nói đại vương sau một thời gian nữa sẽ lập ông ta làm tướng quốc, cho nên thần đến để chúc mừng đại vương?“

    Chỉ là những câu đối thoại đơn giản này đã làm mất hết sự tín nhiệm của Vũ vương đối với Công Tôn Diễn. Tần Vũ vương nghĩ trong lòng, hoá ra Công Tôn Diễn là kẻ không biết giữ bí mật, thì sao mình lại còn trọng dụng hắn chứ ? Ít lâu sau, Vũ vương bèn tìm cớ, trục xuất Công Tôn Diễn ra khỏi nước. Cam Mậu áp đảo đối phương trước như vậy, chỉ bằng những câu nói dối lung tung, chẳng tốn hơi sức gì đã đánh bại được đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của mình, từ đó yên tâm với chức tể tướng.

    Bàng Thông khéo can gián Nguỵ vương

    Thời Chiến Quốc, Bàng Thông ở nước Nguỵ phải dẫn thái tử Nguỵ đến nước Triệu Hàn Đan làm con tin. Bàng Thông nghĩ, lần này thái tử ra đi, không biết ngày nào trở lại trong lòng vô cùng buồn bã. Để dự phòng sau khi ông đi, Ngụy vương sẽ nghe theo những lời dối trá vu khống mình, ông nhận thấy phải nên cảnh tỉnh Nguỵ vương trước. Thế là trước khi đi xa, Bàng Thông nói với Nguỵ vương: “Nếu bây giờ có người đến báo trên đường có hổ, đại vương có tin không?“

    Nguỵ vương trả lời: “Không tin.“

    Bàng Thông hỏi tiếp: “Nếu bây giờ có hai người đến báo trên đường có con hổ lớn xuất hiện, đại vương có tin không?“

    Nguỵ vương nói: “Thế thì ta có chút hoài nghi.“

    Bàng Thông lại hỏi: “Giả dụ có ba người đến báo với đại vương trên đường có hổ lớn, đại vương có tin không ?“

    Nguỵ vương nói: “Nếu ba người đều nói như vậy, thì ta không thể không tin rồi.“

    Bàng Thông nói: “Trên đường sẽ không có hổ, đây là việc hiển nhiên, nhưng một rồi hai, hai lại ba người nói trên đường có hổ, thực sự đúng là có hổ rồi. Hiện nay, Hàn Đan cách Đại Lương còn xa hơn nhiều so với ở ngoài đường mà người trách mắng thần trước mặt đại vương chắc chắn không chỉ có ba người, mong đại vương phải minh xét mới được.“

    Nguỵ vương gật đầu nói: “Tự ta sẽ xem xét cẩn thận.“

    Bàng Thông thông minh ở chỗ đã liệu được trước sau này có kẻ thù địch của mình sẽ nói xấu ông trước mặt Nguỵ vương, mà ông lại không thể ở bên Nguỵ vương, ngay đến cơ hội giải thích cũng không có, chi bằng áp đảo đối phương trước, nói lời cảnh tỉnh trước, để Nguỵ Vương chú ý. Cơ hội cũng phải chọn được lúc thích hợp, chọn ngay trước đêm đưa thái tử đến Hàn Đan làm con tin, càng khiến cho Nguỵ vương có ấn tượng với những điều ông nói, nếu như sau này có kẻ nói xấu Bàng Thông, Nguỵ vương tất sẽ nhớ đến lời Bàng Thông nói trước khi ra đi, lấy đó làm cơ sở để đối chiếu, hơn nữa, vào lúc không nỡ rời xa này, lời nói càng dễ khiến lòng người cảm động. Nguỵ vương đã quá xúc động nên hứa: “Ta sẽ xem xét cẩn thận.“ Đó tất nhiên là lời hứa mà Bàng Thông hy vọng đạt được sau khi bày tỏ suy nghĩ của mình với Nguỵ vương.

    Quán triệt sách lược áp đảo đối phương trước tức là chủ động xuất kích, giành quyền chủ động về phía mình, khiến cho đối phương phải thuận theo hướng suy nghĩ của mình, từ đó buộc đối phương phải thay đổi hành vi hoặc quan điểm bất lợi cho mình. Xin hãy nghe mẩu chuyện sau.

    Roberpier mưu trí cứu cô gái trẻ

    Roberpier là nhà cách mạng kiệt xuất của giai cấp tư sản nước Pháp. Thời kì đại cách mạng, ông là lãnh tụ chính quyền của phái Yagebin, trước khi tham gia hoạt động cách mạng, là một luật sư ưu tú, vừa thông thạo pháp luật, lại rất công trực, dám lên án những thói xấu và hủ tục, dám bảo vệ cho những người bị ức hiếp lăng nhục. Mưu trí cứu được cô gái trẻ này chính là minh chứng cho việc dám bảo vệ những người bị ức hiếp của ông. Câu chuyện như sau:

    Một hôm, một người thiếu nữ tìm cách tự tử, vừa hay bị Roberpier phát hiện, khéo léo khuyên giải, cuối cùng đã khiến cho thiếu nữ đó từ bỏ ý nghĩ đi tìm cái chết, thiếu nữ Morna kể cho Roberpier, khi cô tới giáo đường cầu nguyện, cha cố có ý đồ xâm phạm cô, cô rất tức giận đã tát cho cha cố mấy bạt tai, cha cố ngượng quá hoá khùng, kiện lên pháp đình, vu tội cho Morna nhục mạ Chúa. Morna cảm thấy không thể tự giải thích, nên mới nghĩ đến lấy cái chết để chống lại.

    Nghe lời kể của Morna, Roberpier không nén nổi sự tức giận, nói với Morna là mình sẽ bào chữa cho cô ấy.

    Moma còn cho Roberpier biết một chi tiết quan trọng: Khi cha cố khiển trách cô đã xâm phạm đến Chúa, cô đã tháo chiếc nhẫn đá, đưa ra trước “Tượng thánh bằng vàng“, để xin chúa bớt giận. Chiếc nhẫn đó có giá trị rất lớn. Cha cố lại nhân lúc cô cầu nguyện, xảo quyệt cho ngay vào túi áo chiếm làm của riêng. Trên chiếc nhẫn có đánh dấu mà cha cô khi mua nó đã dặn người thợ vàng làm. Roberpier đã nhớ kĩ chi tiết này.

    Trước toà án, trận giao chiến giữa chính nghĩa và ác tà đã bắt đầu. Nguyên cáo cha cố khởi tố trước: “ Morna hôm đó vừa xông vào giáo đường đã chạy ngay tới trước tượng chúa mắng chửi ầm lên, tội này Chúa thật khó tha.“

    Roberpier nói: “Thượng đế đã từng nói: Trên đời này tội ác lớn nhất không gì bằng là tội nói dối. Morna đứng trước Thượng đế, chưa từng nói dối một câu nào.“ (Đây là câu nói áp đảo đối phương trước để nắm ngay quyền chủ động, vấn đề Morna nhục mạ thánh thần trong chốc lát sẽ chuyển thành vấn đề ai là người nói dối, hơn nữa, vì là lời của Chúa nên càng dễ khiến mọi người chú ý. Như thế, sẽ gây chú ý rất mạnh đối với nhiều người, mọi người sẽ hành động theo ý muốn của ông ta, quả thực không hổ là cao thủ trong việc áp đảo đối phương trước.)

    Thẩm phán nói: “Ngài, có phải là ngài đã nói cha cố đã đánh lừa Chúa không?“

    Roberpier trả lời: “Không chỉ Chúa, mà còn đánh lừa cả chính nghĩa của toà án, coi thường thánh địa toà án này.“ (Lần này càng nắm chắc quyền chủ động hơn, từ vấn để Morna lừa dối Chúa bỗng chốc đã chuyển thành vấn đề cha cố lừa dối Chúa, đánh lừa cả sự chính nghĩa của toà án và coi thường thánh địa toà án.)

    “Xin mời nguyên cáo đưa ra chứng cớ trước!“. Roberpier khinh thường liếc nhìn cha cố có vẻ đạo mạo trang nghiêm lắm.

    “Vu khống ? Dối trá trước Chúa chính là ngươi! Việc này chính mắt ta đã chứng kiến.“ Cha cố tức giận nói.

    “Xin hỏi, Morna vì cớ gì mà nhục mạ Chúa?“ Roberpier hỏi.

    Cha cố không biết trả lời ngay thế nào, một lúc sau mới nói: “Điều này, điều này, điều này phải hỏi kẻ nhục mạ Chúa, Morna!“

    Morna trả lời: “Tôi không biết tội là ở chỗ nào, chỉ có cha cố hiểu rõ, nên để chính cha cố trả lời.“

    Trước sự bác bỏ chính đáng của Morna, cha cố cảm thấy khó có thể ứng phó được, bèn giả bộ thành kính ngước mắt lên trần nhà, sau khi cầu nguyện vài câu, rồi lẩm bẩm: “Thượng đế thực sự biết, Morna không thể nguỵ biện bào chữa và tiếp tục lừa dối Thượng đế!“

    “Thượng đế tốt bụng nhất thực sự hiểu Morna là thiếu nữ đáng thương bất hạnh. Xin toà án hãy thẩm tra, Morna không hề nhục mạ Chúa, tội danh lẽ nào lại do kẻ khinh thường toà án định?“

    Roberpier nói xong, đưa cho ban bồi thẩm những căn cứ biện hộ. Ban bồi thẩm xét duyệt nửa tiếng, đưa cho từng bồi thẩm viên phân tích, thẩm tra cẩn thận căn cứ biện hộ của Roberpier.

    Nửa tiếng sau, cuộc phúc thẩm bắt đầu.

    Thẩm phán hỏi cha cố: “Người có nhân chứng nghe thấy Morna nhục mạ Chúa không?“

    “Chỉ có một mình tôi.“

    “Morna thần trí tỉnh táo, người nhận thấy chứ?“ Thẩm phán hỏi.

    “Thần trí của cô ấy tương đối tỉnh táo.“ Cha cố đáp, ông ta cho rằng trả lời như vậy thì khó có thể biện minh cho tội nhục mạ Chúa của cô ta.

    Không ngờ thẩm phán hỏi: “Lẽ nào một người đầu óc tỉnh táo, lại vô duyên vô cớ chạy đến trước mặt Chúa mà nhục mạ Chúa? Đây đâu phải là người điên trong viện tâm thần.“

    Câu hỏi của thẩm phán, thực là một lý lẽ mà hai cái khó, vì: Nếu như thần trí Morna tỉnh táo, tất sẽ không vô duyên vô cớ nhục mạ Chúa. Nếu như Morna thần trí không tỉnh táo, tất không nên xét tội cho hành vi của cô ta. Bất kể câu trả lời như thế nào, đều có lợi cho Maria. Cha cố cho rằng Morna thần trí tỉnh táo, lại không đưa ra được lý do Morna nhục mạ Chúa, nên đã khiến cho cha cố rơi vào thế khó xử. Cha cố quả thực không có lời nào để đáp lại câu hỏi của thẩm phán.

    Roberpier lại hỏi: “Giả như tất cả điều đó là có thật, xin hỏi, cha đã làm những gì ?“

    “Ta lập tức đuổi cô ta ra khỏi giáo đường” Cha cố trả lời

    “Lẽ nào những cái tát đó chỉ là phản kháng lại khi bị cha đuổi?“ Roberpier hỏi.

    Cha cố há miệng mắc quai, mặt đỏ bừng.

    Roberpier dồn ép từng bước: “Như lời thẩm phán nói, Moma không phải người điên, Thượng đế sẽ không tin lời dối trá của ông? Morna vì mẹ bệnh nặng nên đã đến cầu nguyện Chúa, không ngờ Morna xinh đẹp như hoa, Chúa không nhìn thấy, mà lại dẫn đến một con ong độc!“

    Roberpier mời ban bồi thẩm đưa ra kết luận tại chỗ.

    Thẩm phán vốn tưởng sẽ không bại lộ “chuyện chiếc nhẫn“, định xử nhẹ cha cố, nhưng không tránh được lời yêu cầu kịch liệt của Roberpier, đành phải cho người đưa chiếc nhẫn ra. Cha cố còn muốn giảo biện, Roberpier lập tức tiết lộ: chỗ vòng xoắn của chiếc nhẫn có ba chữ “ Morna“. Thẩm phán kiểm tra ngay tại chỗ vòng xoắn quả nhiên như thế thật. Đến lúc đó, nỗi oan của Morna mới được xoá bỏ.

    Morna được minh oan, lại còn được một khoản tiền bồi thường của cha cố, cô tìm lại được hạnh phúc của đời mình.

    Trong vụ xét xử ở toà án này, Roberpier đã chọn sách lược áp đảo đối phương trước, ông ta không bị đối phương xỏ mũi, không nhằm vào “tội danh“ mà đối phương đã định. Ông theo hướng chứng minh Morna vô tội, trong sạch, đã xỏ mũi được đối phương là cha cố, khiến cho cha cố phải vất vả ứng phó với tội lỗi của mình. Thế là, Roberpier đã hoàn toàn nắm quyền chủ động về phía mình, cuối cùng chân tướng vụ án đã rõ,vì vậy đã cứu được một thiếu nữ thanh bạch vô tội.

    Trên thương trường, để mình có thể đứng vững hơn, cũng cần phải vận dụng sách lược “áp đảo đối phương trước“, làm cho đối phương cuối cùng phải dựa vào mình, từ đó mà đạt được thoả thuận. Sau đây xin nghe cuộc trò chuyện tiếp thị, vận dụng tuyệt vời sách lược “áp đảo đối phương trước“ của một nhân viên tiếp thị:

    Nhân viên tiếp thị: Trọng lượng hàng trung bình các anh vận chuyển mỗi lần là bao nhiêu?

    Khách hàng: Rất khó nói, khoảng hai tấn!

    Nhân viên tiếp thị: Có lúc nhiều, có lúc ít, đúng không?

    Khách hàng. Đúng vậy.

    Nhân viên tiếp thị: Vậy thì cần loại xe chở hàng nào, một mặt phải xem chở hàng gì, mặt khác phải xem đi trên đường gì đúng không ?

    Khách hàng: Anh nói đúng, song,...

    Nhân viên tiếp thị: Giả như anh đi qua khu đồi núi, hơn nữa mùa đông ở đó tương đối dài, lúc này máy móc của xe và xe phải chịu áp lực chẳng phải là lớn hơn rất nhiều so với bình thường sao?

    Khách hàng: Đúng là như vậy.

    Nhân viên tiếp thị: Số xe các anh xuất đi vào mùa đông nhiều hơn mùa hè đúng không?

    Khách hàng: Nhiều hơn nhiều, mùa hè làm ăn không được lắm.

    Nhân viên tiếp thị: Có khi hàng nhiều quá, lại đi qua vùng đồi núi trong mùa đông, có phải xe thường rơi vào tình trạng quá tải.

    Khách hàng: Đúng, đó là sự thực.

    Nhân viên tiếp thị: Khi các anh chọn mua loại xe, thì phải tính khoảng dư lớn, đúng không?

    Khách hàng: Ý của anh là....

    Nhân viên tiếp thị: Về lâu về dài, nhân tố gì quyết định mua một loại xe là đáng hay không?

    Khách hàng: Đương nhiên phải xem tuổi thọ sử dụng cua nó.

    Nhân viên tiếp thị: Một chiếc xe luôn chở quá tải, một xe khác chưa từng chở quá trọng lượng, anh thấy chiếc xe nào có tuổi thọ dài hơn?

    Khách hàng: Đương nhiên là chiếc xe mã lực lớn, trọng tải nhiều.

    Nhân viên tiếp thị: Cho nên, ý của tôi là mua chiếc xe trọng tải bốn tấn tốt hơn.

    Trong ví dụ này, nhân viên tiếp thị đã dùng sách lược áp đảo đối phương trước, khiến cho khách hàng cứ thuận theo ý mình, nên đã đạt được mục đích tiêu thụ thành công.

    Rõ ràng, trước những khách hàng do dự chưa quyết định, bạn nên chủ động xuất kích, áp đảo đối phương trước, dẫn dắt khách hàng đưa ra quyết định có lợi cho bạn, như vậy, bạn mới có thể đứng vững trên thương trường và ngày càng phát triển.

    Trong thương trường, bạn muốn ngồi đợi khách hàng vào cửa hay là muốn chủ động xuất kích, sớm tìm được khách hàng ?

    Tuy cơ hội trong thương trường là rất nhiều, nhưng còn phải phụ thuộc vào bạn có chủ động khai thác hay không. Nên nhớ, trên đời sẽ có vô số cạm bẫy, cũng chẳng có bữa ăn miễn phí. Hãy chủ động xuất kích! Thành công thuộc về bạn !
     
  9. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 29

    Binh pháp Tôn Tử nói: “Tri binh giả, động nhi bất mê, cử nhi bất cùng“ có nghĩa hiểu biết là tiền đề của hành động, căn cứ của cử chỉ. Biết người biết ta, mới có thể trăm trận trăm thắng. Nói chuyện cũng vậy, cũng yêu cầu phải hiểu đối phương trước. Hiểu được tâm bệnh mới có thể cắt thuốc, nếu không, không biết nói bừa, sẽ rước hoạ lớn.

    Là một người yếu thế, cần phải sáng suốt giữ mình, phải đoán được trước ý đồ trong lòng của đối phương rồi mới nói, nếu như chưa biết được tâm ý của đối phương mà bạ đâu nói đấy, làm cho đối phương phát chán, thì sẽ khiến mình rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm.

    Bài học của Quan Kỳ Tư

    Theo sách của Hàn Phi Tử, thời xưa, Trịnh Vũ Công muốn tiến đánh nước Hồ, đầu tiên gả con gái của mình cho vua Hồ để giấu giếm ý đồ ấy. Sau đó, Trịnh Vũ Công cố tình trưng cầu ý kiến quần thần nói: “Ta muốn dấy binh đánh trận, để kiểm tra xem khả năng chiến đấu của quân ta, các ngươi cho rằng nên đánh nước nào?“

    Có một đại phu tên là Quan Kì Tư tâu: “Nên đánh nước Hồ!“

    Vũ Công tức giận, nói: “Nước Hồ là láng giềng thân mật của ta, hơn nữa chúng ta đã kết làm Tần Tấn thân mật, sao có thể bảo ta đi đánh nước Hồ được?“. Thế là Võ Công ra lệnh xử Quan Kì Tư tội chết.

    Hồ vương nghe được tin này, cứ cho rằng Trịnh Vũ Công thực là bạn tốt của mình, do đó đã phòng bị lỏng lẻo.

    Không lâu sau, đại quân nước Trịnh thừa cơ đánh nước Hồ, đã thôn tính được nước Hồ.

    Trong câu chuyện này, Quan Kì Tư chỉ biết được một mặt Trịnh Vũ Công muốn đánh nước Hồ, mà không biết mặt Vũ Công mưu mô xảo quyệt, mê hoặc nước Hồ, vì vậy bị mất đầu oan uổng. Bài học này, thực là thâm thuý.

    Hàn Phi Tử cũng đã chỉ ra, đối với những sự việc kế hoạch bí mật của vua, nếu thần tử không hiểu nội tình mà nói ra, đó là việc rất nguy hiểm. Nếu Quan Kì Tư suy nghĩ thấu đáo một chút, điều tra dò hỏi, đoán chừng được ý đồ của Vũ Công rồi mới bẩm tấu, cùng làm bộ làm tịch, kết hợp với Vũ Công cùng diễn vở kịch nhà quân sự dùng binh phải biết lừa địch, vậy thì Quan Kì Tư đã không những không bị mất đầu, ngược lại còn được hưởng vận quan, tận hưởng vinh hoa phú quý.

    Người biết cách điều tra dò hỏi tâm tính người khác luôn có thể đứng vững giữa chốn quan trường chìm nổi.

    Cách xử trí của Thân Bất Hại

    Theo sách Chiến Quốc ghi: Khi nước Nguỵ vây đánh Hàn Đan - nước Triệu, tể tướng nước Hàn - Thân Bất Hại muốn vua Hàn liên minh với một trong hai nước đó để giành được thắng lợi, nhưng không biết suy nghĩ của Hàn vương như thế nào, sợ mình mạo muội nói không hợp với ý của Hàn vương. Thế là, ông ta đã nghĩ ra một cách, trước tiên điều tra dò hỏi tâm tư của Hàn vương trước rồi sẽ nói sau.

    Một hôm, Hàn vương và Thân Bất Hại bàn đến chuyện chiến tranh giữa Triệu và Nguỵ. Hàn Vương hỏi Thân Bất Hại: “Ngươi xem ta giúp nước Triệu tốt hay nước Nguỵ tốt?“ Thân Bất Hại trả lời: “Đây quả là đại sự liên quan đến an nguy xã tắc, xin cho phép thần suy nghĩ kĩ đã”

    Sau khi chia tay với Hàn vương, Thân Bất Hại tìm đến hai vị đại thần khác là Triệu Tác và Hàn Tiều nói: “Hai ông đều là trọng thần của đất nước, trước vấn đề chiến tranh Triệu Nguỵ, hai ông nên nói rõ quan điểm của mình cho đại vương, đại vương rất tin tưởng hai người.“

    Thế là Triệu Tác và Hàn Tiều lần lượt đem cách nghĩ của mình về vấn đề Triệu Nguỵ nói với vua Hàn, Thân Bất Hại ngầm quan sát xem Hàn vương rốt cục thích ý kiến của ai, sau đó mới lấy ý kiến của người trúng ý vua Hàn mà can gián vua. Hàn vương tất nhiên rất tán thành chủ trương của Thân Bất Hại.

    Chỗ cao siêu trong việc điều tra dò hỏi của Thân Bất Hại là ông ta giỏi dùng người khác để thử nghiệm, giúp mình tránh được nguy hiểm, tiến thoái đều dễ. Chính vì kiểu tâm kế này mà Thân Bất Hại mới giữ được chức tướng của nước Hàn trong nhiều năm.

    Dùng phương pháp điều tra dò hỏi, đoán chừng tâm tư của đối phương trước rồi mới quyết định hành động của mình, có thể khiến cho mình ở vào thế chủ động. Nếu như ý định của đối phương không giống với mình, ta tất có thể lùi nếu tâm tư của đối phương giống với mình, ta có thể thừa thế tiến lên. Điều tra dò hỏi khiến cho ta tiến thoái đều bình an, đương nhiên ta có thể giành thế chủ động rồi. Còn nếu cứ hồ đồ nói ra chủ trương của mình, nếu chủ trương của bạn không hợp với ý của đối phương, một câu thôi đối phương đã khống chế lời của bạn rồi, bạn sẽ rơi vào thế bị động.

    Cam Mậu khéo thử Tần Vũ vương

    Năm 308 trước Công nguyên, Tần Vũ vương muốn mở một con đường, qua Tam Xuyên đến Châu Triều, để xưng bá chư hầu, bèn sai đại thần Cam Mậu và Hướng Thọ đi sứ sang Nguỵ, du thuyết vua Nguỵ tấn công Nghị Dương nước Hàn. Sau khi đến nước Nguỵ, Cam Mậu và Hướng Thọ nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. Sau đó, Cam Mậu nói với Hướng Thọ: “ Người về nói với đại vương, nước Nguỵ đã đồng ý với ý kiến của chúng ta, nhưng ta mong đại vương sẽ không đánh nước Hàn. Sau khi sự việc thành công, công lao sẽ đều tính cho ngươi hết.“ Hướng Thọ nghe xong, cũng không chần chừ, lập tức lấy ít đồ rồi về nước. Khi yết kiến Vũ vương, ông ta nói lại y hệt lời của Cam Mậu.

    Vũ vương vừa nghe Cam Mậu đã thuyết phục được vua Nguỵ liên minh, đã rất vui mừng. Sau một thời gian, Cam Mậu từ nước Nguỵ trở về, Vũ vương đích thân ra đón, còn hỏi ông: “Tại sao lại không đánh ngay nước Hàn?“ .

    Cam Mậu trả lời: “Xin cho thần được phân tích một chút. Chúng ta muốn tấn công Nghị Dương, nhưng Nghị Dương từ xưa đến nay là nơi hội tụ của những nhà giàu có vùng Thượng Đảng và Nam Dương. Trên danh nghĩa tuy chỉ là một huyện nhỏ, nhưng thực tế thực lực của nó tương đương với một quận. Quan trọng hơn là, nếu chúng ta tấn công Nghị Dương, trên đường phải đi qua rất nhiều vùng đồi núi nguy hiểm, có thể thấy là rất khó khăn, cho nên, suy cho cùng; muốn đánh Nghị Dương không phải là chuyện dễ đâu!“

    Vũ vương nghe đến đây, vẫn chưa tỏ ý gì.

    Cam Mậu tiếp tục nói: “Còn nữa, dù thế nào, thần cũng chỉ là một đại thần, đại vương có thể tiếp nhận ý kiến của thần, đương nhiên rất tốt. Nhưng, nếu như đại thần Sơ Lý Tật và Công Tôn Diễn nói với đại vương, thì tình hình sẽ ra sao? Cần phải biết, bọn họ có tư giao rất sâu nặng với nước Hàn. Như vậy, kế hoạch tiến công nước Hàn sẽ bị bác bỏ, thế là, nước Nguỵ mà thần đã du thuyết xong sẽ tức giận vì chúng ta phản lại họ. Không những mọi nỗ lực trước kia đều phí công vô ích, mà còn về phía nước Hàn, nếu tể tướng nước Hàn - Công Trọng Xỉ biết được Tần Nguỵ liên kết đánh Hàn là chủ ý của thần - Cam Mậu, ông ta chắc chắn sẽ rất hận thần, rồi tính sổ từ trước đến giờ với thần.“

    Cam Mậu bề ngoài thì không đồng ý tấn công Nghị Dương, lại trình bày rất rõ ràng với Tần vương mọi khó khăn khi tấn công Nghị Dương, nhưng mục đích chính là chủ trương đánh Nghị Dương (mục đích đi sứ lần này sang nước Nguỵ chính là muốn liên kết với Nguỵ để đánh Hàn).

    Song ông ta muốn thăm dò xem quyết tâm đánh Hàn của Tần Vũ vương đến đâu. Ngộ nhỡ đánh Nghị Dương không thắng thì cũng đã cảnh báo trước, đấy là ông ta giữ lại cho mình một lối thoát. Có thể thấy cách Cam Mậu khôn khéo giữ mình thật là cao siêu.

    Thông qua đợt thăm dò này, sau khi Cam Mậu biết được quyết tâm đánh Hàn của Vũ vương là rất lớn, bèn lập tức triệu tập quân đội, tấn công dữ dội Nghị Dương và đã giành thắng lợi, bắt nước Hàn sai tể tướng Công Trọng Xỉ đến nước Tần tạ tội, buộc công nhận nước Hàn phụ thuộc nước Tần.

    Mục đích của điều tra dò hỏi chính là phải “biết người“, chỉ có “biết người“, sau khi hiểu được ý đồ của đối phương, mới có ích cho sách lược mà mình quyết định. Để hiểu được tâm tư của đối phương một cách đầy đủ, thì phải để ý đến lời nói, sắc mặt của họ, từ tình cảm, tốt xấu của đối phương mà hành động, đoán chừng tâm lý của đối phương.

    Thuần Vu Khôn “có sở trường đón ý bắt lòng“

    Thuần Vu Khôn là một thuyết khách nổi tiếng của nước Tề thời Chiến Quốc. Có một lần, ông ta qua nước Nguỵ, Nguỵ Huệ vương từ lâu đã nghe nói danh tiếng của ông, nên rất muốn gặp ông ta. Thuần Vu Khôn cũng muốn bái kiến Nguỵ Huệ vương.

    Khi lần đầu tiên gặp Nguỵ Huệ vương, Thuần Vu Khôn trầm mặc không nói gì. Nguỵ Huệ vương cảm thấy rất kì lạ, nghĩ thầm, có lẽ Thuần Vu Khôn ngại các cận thần bên cạnh mình, lần sau khi mời ông ta đến nhất định phải cho các cận thần lui để tiện trò chuyện.

    Không ngờ khi gặp lần thứ hai, Thuần Vu Khôn cũng không nói một câu nào. Huệ vương vô cùng thất vọng, nghĩ bụng, người này đâu có đáng một biện tài, chẳng qua chỉ là một tên ngốc bảo thủ cứng nhắc mà thôi, xem ra người ta đã tâng bốc quá rồi.

    Nguỵ Huệ vương cảm thấy mình như bị đem ra trêu chọc, người khác rốt cục đã tiến cử cho ông một “bọc cỏ“, đó chẳng phải là có ý trêu chọc ông sao? Huệ vương càng nghĩ càng tức, liền mắng người tiến cử Thuần Vu Khôn một trận: “Chẳng phải ngươi đã ca ngợi hắn là tài năng ngang với Quản Trọng, Yến Anh đó sao? Nhưng khi ta gặp hắn, hắn lại không thèm màng tới ta, vì sao vậy? Nếu không làm rõ nguyên nhân cho ta, cẩn thận cái đầu của ngươi đấy.“

    Người tiến cử liền tìm gặp Thuần Vu Khôn để hỏi nguyên do. Thuần Vu Khôn nói: “Khi lần đần bái kiến Huệ vương, ông ấy toàn nghĩ đến chuyện “ngựa“, lần thứ hai gặp, ông ấy trong lòng cứ bị tiếng nhạc ảnh hưởng, ta nói chuyện thì có tác dụng gì? Có nói, ông ấy cũng chẳng nhớ.“

    Người tiến cử nói lại y nguyên lời của Thuần Vu Khôn cho Huệ vương. Huệ vương nghe rồi giật mình, không khỏi thẩm thán phục Thuần Vu Khôn: Ông ta đúng là danh bất hư truyền, khi lần đầu cho gọi ông ta, vừa lúc có người đem tặng ngựa; lần thứ hai, đúng lúc ta đang muốn nghe ca hát, thì Thuần Vu Khôn tới, tuy ta đã cho cận thần lui để gặp riêng với Thuần Vu Khôn, nhưng trong đầu quả thực ta cứ nghĩ đến chuyện nghe hát.

    Theo “Sử kí “, Thuần vu Khôn là một người “có sở trường đón ý bắt lòng“, theo cách nói hiện đại của chúng ta, Thuần Vu Khôn đúng là một người giỏi thông qua quan sát lời nói sắc diện để đoán chừng tâm trạng của người khác. Chính vì có biệt tài này mà ông dễ dàng nhận ra sự phân tán tư tưởng của Huệ vương.

    Không lâu sau, Huệ vương cho gọi Thuần Vu Khôn lần thứ ba. Thuần Vu Khôn thấy lần này Huệ vương có vẻ tập trung tinh thần, rất là chú ý, cũng đã biểu diễn tài nghệ ăn nói cực kì sắc xảo, thao thao hùng biện trước mặt Huệ vương. Điều này khiến cho Huệ vương càng ngưỡng mộ ông, còn định cho ông giữ chức tể tướng. nhưng Thuần Vu Khôn đã từ chối khéo, bởi vì những ngày ở nước Tề quả thực đã rất có ý nghĩa rồi.

    Thuần Vu Khôn chính bằng sở trường “đón ý bắt lòng“, rất biết đoán chừng tâm trạng của Tề Vương, vỉ vậy, nhiều năm ở nước Tề đều được sống vinh hoa phú quí.

    Trong cuộc sống thường ngày, vận dụng phương pháp điều tra dò hỏi này, sẽ giúp cho bạn tránh được khó xử khi bị người khác từ chối, ví dụ, khi bạn mong người hàng xóm không thân không thiết giúp đỡ, hoặc muốn người quen không lấy làm thân mật lắm hỗ trợ, nếu bạn cứ đưa ra yêu cầu của mình, bạn sẽ vô cùng khó xử, rất có thể làm hỏng hoà khí, không chừng còn vô phúc rước hoạ. Thực ra, để tránh tình huống khó xử này, tốt nhất bạn hãy “điều tra dò hỏi“, vô tình hữu ý nói chuyện phiếm cùng người đó trước, sau đó chọn lúc thích hợp nhắc tới vấn đề bạn muốn đối phương giúp, thăm dò xem đối phương có muốn đồng ý giúp bạn giải quyết vấn đề hay không. Nếu khi thấy đối phương có thể bằng lòng giúp bạn giải quyết vấn đề, thì bạn thành thực nêu vấn đề, ngược lại, bạn hãy âm thầm mà rút lại vấn đề, nói lảng sang chuyện khác, như thế sẽ tránh khó xử cho cả hai, các bạn vẫn có thể tiếp tục giữ được mối quan hệ trước đó.

    Muốn dùng phương pháp điều tra dò hỏi, đạt được mục đích khi nói chuyện, buộc phải hiểu tình hình của đối phương, ngoài quan sát ngôn ngữ cử chỉ, còn phải chú ý thu thập “tin tức tình báo “ có liên quan đến đối phương, nếu khi nói chuyện mà ông nói gà bà nói vịt hay phạm phải kiêng kị nào đó của người ta, người ta sẽ vô cùng khó chịu, lúc đó chắc hẳn bạn sẽ cực kì khó xử.

    Cuộc phỏng vấn thất bại

    Một nhà báo trẻ rất hồ hởi đi phỏng vấn một nữ khoa học gia, không ngờ nói được mấy câu thì ra về chẳng mấy vui vẻ gì. Chuyện xảy ra như sau:

    Nhà báo trẻ hỏi: “Xin hỏi, cô tốt nghiệp đại học nào?“

    Nữ khoa học gia đáp: “Xin lỗi, tôi chưa từng học đại học, tôi hoàn toàn là nghiên cứu khoa học, tôi cho là tự học cũng có thể thành tài.“

    Nhà báo rất ngượng, muốn thay đổi đề tài và làm dịu không khí, bèn hỏi: “Con của cô học ở đâu?“

    Sắc mặt của nữ khoa học gia mất tự nhiên, nói: “Tôi từ lâu đã quyết định dồn hết tâm lực cống hiến cho sự nghiệp khoa học. Cho nên, đến giờ vẫn độc thân. Xin thông cảm, vấn đề này không nên nói nhiều.“

    Đến đây, cuộc nói chuyện giữa nhà báo và nữ khoa học gia tự nhiên không thể tiếp tục được nữa. Nhà báo trẻ đành ngại ngùng cáo từ.

    Sở dĩ cuộc phỏng vấn lần này thất bại, chính là vì nhà báo kia không nắm được tình hình cơ bản của nữ khoa học gia nên hỏi lung tung, phạm phải vấn đề kiêng kị, tất nhiên sẽ khiến cô ta không vui, không thể tiếp tục nói chuyện.

    Cùng với sự mở rộng của giao tiếp, không chỉ cần hiểu tình hình cơ bản của mỗi người, mà còn cần phải hiểu được văn hoá tập tục dân tộc đất nước của người đó. Chỉ sau khi hiểu được tình hình đó một cách toàn diện, thì bạn mới biết chú ý vận dụng những “tin tức tình báo“ của mình trong cuộc nói chuyện, để không phạm phải điều người ta kiêng kị, gợi được chủ đề mà họ có hứng thú, khiến họ mở lời thì bạn mới có thể quan sát ngôn ngữ cử chỉ của họ, từ cuộc nói chuyện này, hoặc từ những dấu hiệu khác để đoán chừng tâm tư của họ, rồi điều chỉnh sách lược đàm thoại của mình, giúp mình chiếm thế chủ động.

    Đã từng có người biên một tập truyện cười để nói lên sự khác nhau trong phong tục tập quán các nước. Tại một nhà ăn, có người Anh, người Pháp, người Tây Ban Nha, người Nhật Bản, người Á Rập Xê út, người Mĩ, họ muốn uống một cốc cà phê, đều phát hiện thấy trong cốc có một con ruồi, nhưng cách xử sự của họ với tình huống này lại hoàn toàn khác nhau:

    Người Anh với phong độ thân sĩ dặn người phục vụ: Làm ơn đổi một cốc cà phê khác!

    Người Pháp lại thẳng thắn nhanh chóng đổ sạch cà phê.

    Người Tây Ban Nha không uống, chỉ để lại phiếu thanh toán, bỏ đi không nói một lời. (Bạn cũng đừng hy vọng anh ta sẽ lại đến cửa hàng ăn này)

    Người Nhật thì gọi người phục vụ đến nói: “Gọi giám đốc của các anh tới đây, tôi phải dậy cho anh ta biết thế nào là quản lý cửa hàng ăn.“

    Người ả Rập lại gọi người phục vụ đến rồi đưa cà phê cho anh ta: “Tôi mời anh uống!“

    Người Mĩ tương đối hài hước, anh ta nói với người phục vụ: “Ở nước Mĩ chúng tôi, cà phê và ruồi được để riêng, khách hàng thích ăn bao nhiêu ruồi, thì tự thêm vào, không làm phiền đến các anh phải cho vào trước.“

    Kiểu truyện cười này tuy chỉ là biên tạo, nhưng nó cho thấy cách thức hành vi không giống nhau giữa những người có phong tục tập quán khác nhau. Vì vậy, nói chuyện với mỗi người, phải chú ý tình hình cơ bản của họ, bao gồm cả văn hoá tập tục của họ. Nếu bạn hiểu được tập tục văn hoá của đối phương, như thế đối phương cảm thấy mình được bạn tôn trọng, tất nhiên sẽ nói chuyện rất hợp với bạn, bạn sẽ có thể đoán được tâm tư của họ từ cuộc nói chuyện. Nếu bạn không nắm được tình hình cơ bản của đối phương, phạm phải điều kiêng kị, đối phương sẽ từ chối bạn, bạn đâu còn cơ hội để điều tra dò đoán chứ.
     
  10. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 30

    Tục ngữ nói: Hại người chớ nên, nhưng phải có ý đề phòng người khác. Chúng ta cũng biết, rừng mà già thì có mọi loài chim, xã hội phức tạp thì loại người nào cũng có, khó tránh khỏi sự gian trá, nham hiểm của kẻ tiểu nhân với bạn. Tốt nhất bạn phải biết cách nói năng, không được lỡ ý để lộ thế giới nội tâm của mình, phòng người khác chơi xấu. Dễ dàng tin một người, kể hết mọi điều cho người đó nên bi kịch tạo thành cũng nhiều vô kể. Thế nên, trong tình huống biết người nhưng không hiểu lòng người, thì phải thận trọng hơn, đề phòng dã tâm của người khác, nếu không, hối cũng chẳng kịp.

    Bi kịch của Tôn Tẩn

    Thời Chiến Quốc, Bàng Quyên người nước Nguỵ và Tôn Tẩn người nước Tề cùng theo học tiên sinh Quỉ Cốc Tử - người nổi tiếng khắp chốn. Bàng Quyên học xong, từ biệt thầy xuống núi, xưng thần dưới Nguỵ Huệ, làm đại tướng quân. Tôn Tẩn vẫn theo Quỉ Cốc Tử chuyên tâm đọc sách nghiên cứu.

    Một hôm, môn sinh ở Mặc Trác là Cầm Hoạt Ly du ngoạn đến Quỉ Cốc Tử, sau khi nói chuyện với Tôn Tẩn một hồi, Cầm Hoạt Li thấy Tôn Tẩn kinh luân đầy mình, là nhân tài hiếm có, bèn nói với Tôn Tẩn: “Với học vấn tinh thâm của anh, sao không xuống núi cầu công danh? Làm một đại trượng phu sự nghiệp lẫy lừng.“

    Tôn Tẩn trả lời: “Bạn học - Bàng Quyên của tôi khi xuống núi đã nói với tôi, nếu anh ta cầu danh thành công, nhất định tới gặp tôi, tôi đang chờ tin của anh ta? “

    Cầm Hoạt Li nói: “Kì lạ thật? Bàng Quyên bây giờ đã làm quan đại tướng quân nước Nguỵ, tại sao lại vẫn chưa đến tìm anh? Tôi đi hỏi thăm tin tức hộ anh nhé? “

    Sau khi Cầm Hoạt Li đến nước Nguỵ, nói chuyện với Nguỵ Huệ vương về Tôn Tẩn, đồng thời giới thiệu về quan hệ giữa Bàng Quyên và Tôn Tẩn, điều này đã cực kì gây hứng thú cho Nguỵ Huệ vương, Nguỵ Huệ vương bèn lệnh cho Bàng Quyên đi mời Tôn Tẩn.

    Sau khi Tôn Tẩn đến nước Nguỵ. Nguỵ Huệ vương phong cho ông là khách liêu. Nửa năm sau, có người nói giọng nước Tề, tự xưng là Liễu ất đến tìm Tôn Tẩn, còn mang theo thư của Tôn Bình và Tôn Trác - anh em chú bác của Tôn Tẩn, đại ý của thư là gọi Tôn Tẩn về nước Tề, lập lại gia nghiệp. Tôn Tẩn trả lời thư nói: “Tôi bây giờ đang làm khách liêu, không tiện tuỳ ý hành động.“ Không ngờ, thư trả lời của Tôn Tân bị người nước Nguỵ tịch thu, giao cho Nguỵ Huệ vương, Nguỵ vương rất không vui, cho là Tôn Tẩn không yên tâm ở nước Nguỵ nên trong lòng cảnh giác với Tôn Tẩn, Bàng Quyên lúc này lại nói với Tôn Tẩn: “Anh xa nhà lâu năm, tại sao không xin phép Huệ vương về quê thăm mộ tổ tông?“

    “Tôi cũng muốn về quê thăm mộ tổ tông, chỉ lo Nguỵ vương nghi ngờ, nên không dám nói ra.“

    “Tất cả đã có ta đây, ta sẽ nói thay cho anh trước mặt đại vương.“

    Thế là Tôn Tẩn làm thê chương, xin về quê tế tổ. Huệ vương không xem thì thôi, chứ xem rồi đùng đùng nối giận, mắng Tôn Tẩn tư thông với nước Tề, rồi bắt Tôn Tẩn vào quân sư phủ thẩm vấn. Bàng Quyên thấy tình hình như vậy, vội an ủi Tôn Tẩn nói. “Anh không nên sợ, tôi sẽ xin hộ anh.“

    Một lúc sau, Bàng Quyên vội vàng quay lại nói: “Không xong rồi, đại vương thịnh nộ, nhất định xử anh tội chết, vì tôi nhiều lần xin nên đại vương nể tình tha tội chết cho anh. Song đại vương nói. “Tội chết có thể miễn, nhưng tội sống thì khó chống, phải xử anh biệt hình. Đây là pháp lệnh của nước Nguỵ, tôi cũng chẳng có cách nào khác.“

    Tôn Tẩn sau khi chịu hình phạt, bị chặt xương bánh chè, trở thành một người tàn tật. Bàng Quyên cho người phụng đãi Tôn Tẩn, Tôn Tẩn thế là an phận ở phủ Bàng Quyên.

    Một hôm, Bàng Quyên đến gặp Tôn Tẩn nói: “Binh pháp (binh pháp Tôn Tử) mà Tiên sinh Quỉ Cốc Tử giải thích, đệ có thể viết ra không, để ta đọc, tăng thêm hiểu biết?“

    Tôn Tẩn vì “ân cứu mạng“ của Bàng Quyên, không suy nghĩ gì nhận lời luôn. Từ đó, Tôn Tẩn bắt đầu âm thầm viết binh pháp (binh pháp Tôn Tử) cho Bàng Quyên.

    Một lần, gia nhân chăm sóc Tôn Tản nói chuyện phiếm với người hầu của Bàng Quyên, hỏi: “Đại tướng quân tại sao cứ giục tiên sinh nhà chúng tôi viết sách?“

    Người hầu của Bàng Quyên trả lời: “Anh không biết sao, đại tướng quân thật là hiểm độc, ông ta giữ mạng của ông Tôn, chính là kì binh thư tổ truyền của ông ý, binh thư hễ được viết xong, e rằng tính mạng của Tôn Tẩn cũng kết thúc.“

    Khi gia nhân Tôn Tẩn kể lại cho Tôn Tẩn lời người hầu của Bàng Quyên, Tôn Tẩn như bừng tỉnh cơn mộng, ông hối hận vô cùng, than thở rằng: “Ta đúng là đui mù, lại tin kẻ tiểu nhân, mặt người dạ thú, ta vốn tưởng rằng ông ấy giữ chức quan này cho ta, lần này lại còn cứu mạng của ta, là đại ân nhân của ta, không ngờ, không ngờ ông ấy lại có dụng tâm hiểm độc như vậy, có ý đồ dã man.“

    Sau đó, Cầm Hoạt Li dụng kế, Tôn Tẩn giả điên, mới đưa Tôn Tẩn trốn về nước Tề. Về tới nước Tề, Tôn Tẩn hỏi đến anh em chú bác - Tôn Bình và Tôn Trác về chuyện bức thư, hai người chẳng hiểu gì cả, mới biết là Bàng Quyên đã dựng kế hãm hại mình.

    Tôn Tẩn sở dĩ có bi kịch chịu hình phạt oan uổng, chủ yếu là vì quá cả tin Bàng Quyên. Tôn Tẩn vốn là người thông minh tuyệt đỉnh, chỉ vì tin Bàng Quyên mới loá mắt, mới chặn đứng suy nghĩ của mình. Nếu không có sự phát hiện ngẫu nhiên của gia nhân, e là khi chết ông ta vẫn còn cảm tạ ơn đức của Bàng Quyên. Cả tin thật là tai hại. Mong mọi người đừng quá cả tin.

    Muốn giữ mình an toàn, còn phải giấu được thế giới nội tâm của mình, không được để người khác biết nội tâm cách nghĩ của mình, nhất là về một số việc có liên quan trực tiếp đến lợi hại của bản thân thì càng phải đề phòng lòng người, tránh bị người khác lừa, bất lợi cho mình.

    Phạm Thư tính nhầm

    Phạm Thư trước giờ là một người tương đối trầm tính kín đáo, nhưng đối với những việc lớn liên quan trực tiếp đến lợi ích bản thân lại không giấu được, bất cẩn để lộ nội tâm suy nghĩ của mình cho người khác biết, khiến cho chính mình lâm vào thế bị động.

    Phạm Thư là tể tướng nước Tần. Có một lần, đất phong Nhữ Nam của ông ta bị nước Hàn cướp mất, Tần vương biết được, nói với Phạm Thư: “Người đã bị mất đất phong, vậy người có cảm thấy buồn không?“.

    “Thần chẳng hề lo buồn chút nào cả “ - Phạm Thư trả lời.

    “Tại sao vậy?“- Tần Vương hỏi.

    Phạm Thư bèn trả lời: “Thần được nghe, ở nước Lương có một người tên là Đông Môn Ngô, khi con trai ông ta chết, ông ta không hề tỏ ra đau thương. Thấy vậy, quản gia của ông ta bèn hỏi: 'Ngài trước đây đã rất yêu thương con trai ngài , thật là thiên hạ ít có, nay con trai ngài chết đi, tại sao ngài lại chẳng đau lòng chút nào vậy?'. Đông Môn Ngô đã nói: “Ta vốn dĩ là người không có con trai, khi chưa có con trai, ta cũng chẳng đau lòng, bây giờ con trai chết rồi thì cũng như khi chưa sinh con trai vậy, ta có cái gì để có thể đau lòng kia chứ ?”. Thần trước kia chẳng qua chỉ là một người áo vải, khi là người áo vải thần chẳng lo buồn gì, bây giờ bị mất Nhữ Nam, cũng giống như chuyện mất con trai của Đông Môn Ngô mà thôi, thần vì sao phải lo buồn kia chứ?“

    Tần Vương cho rằng đây chẳng phải là lời nói thật lòng của Phạm Thư. Có một lần, Tần Vương nói với Đại tướng Mông Ngạo: “Bây giờ nếu như ta có một thành ấp bị vây khốn, ta sẽ ăn không ngon, ngủ không yên. Nhưng nay Phạm Thư bị mất đất phong, hắn lại nói là không lo buồn gì đây lẽ nào lời nói thực tâm của hắn?“

    Mông Ngạo: “Thần sẽ thử đi thăm dò lời nói thực lòng của ông ta cho đại vương“.

    Khi gặp Phạm Thư, Mông Ngạo liền nói: “Thực xin lỗi tiên sinh, tôi thật đáng tội chết“.

    Phạm Thư hỏi: “Ngài nói vậy là có ý gì?“

    Mông Ngạo nói: “Tôi thân là một tướng lĩnh của Đại Tần hùng mạnh, lại để cho một nước Hàn nhỏ bé như vậy cướp mất đất phong của ngài, tôi cảm thấy thật không còn mặt mũi nào đến gặp ngài nữa, xin ngài thứ tội?“.

    Phạm Thư nghe xong lập tức chắp tay nói với Mông Ngạo: “Tướng quân có tội gì đâu, nhưng chuyện này tôi vẫn phải trông cậy vào ngài đó!“ .

    Mông Ngạo liền đem lời của Phạm Thư báo lại cho Tần Vương. Sau đó, mỗi khi Phạm Thư bàn đến tình hình của nước Hàn, Tần Vương đều không nghe, cho rằng Phạm Thư vì muốn đoạt lại đất phong ở Nhữ Nam nên mới nói như vậy.

    Phạm Thư lần này đã cả tin Mông Ngạo, nói những lời thật lòng mình, khiến cho Tần Vương mất lòng tin, ngay cả đất phong của ông ta cũng chẳng hề lấy lại được nữa.

    Phạm Thư, một người luôn luôn bình tĩnh, vững vàng nhưng lần này cũng tính sai rồi. “Lòng cảnh giác đối với người khác phải đặt lên hàng đầu”. Điều quan trọng nhất chính là phải khống chế được sự cám dỗ của cái lợi, đặc biệt là sự cám dỗ của cái lợi tự nhiên mà có. Chúng ta cần luôn luôn ghi nhớ trong lòng câu ngạn ngữ “bánh có nhân không thể từ trên trời rơi xuống“. Nhìn chung, có rất nhiều người đã trượt ngã do tối mắt vì lợi. Rất nhiều vụ lừa đảo cũng đều lấy chữ “lợi“ để mê hoặc những người có ý chí mềm yếu, không tỉnh táo.

    Trong xã hội hiện nay, chúng ta có thể thấy một số vụ lừa đảo thường lấy chiêu bài “tuyển dụng“ làm mồi nhử, đã khiến cho nhiều cô gái trẻ ở nông thôn đang ấp ủ trong lòng những ước mơ đẹp đẽ về cuộc sống trở thành đối tượng lừa gạt của chúng. Những cô gái trẻ này sở dĩ gặp phải cảnh ngộ bi thảm như vậy, ngoài yếu tố họ chưa biết gì còn bởi vì họ đã tối mặt vì lợi nên đánh mất tinh thần cảnh giác. Rất nhiều bi kịch vốn có thể tránh được nhưng vì mất cảnh giác mà cứ liên tục tái diễn, điều này há chẳng đau lòng lắm sao?

    Cho nên nói: “lòng cảnh giác“, điều quan trọng nhất chính là phải ngăn chặn được sự cám dỗ của những cái lợi tự nhiên mà có, đối với sự cám dỗ đó cần có sự bình tĩnh phân tích, làm như vậy bạn sẽ không sợ phạm phải sai lầm hay vấp ngã.

    Krubaotekin - nhà cách mạng thông minh

    Krubaotekin là một chính trị gia nổi tiếng của nước Nga đầu thế kỷ 20. Khi còn trẻ, ông đã từng ở trong hội người lưu vong chính trị Nga tại Giơnevơ tiến hành hoạt động phản đối sự thống trị của Sa Hoàng, và đương nhiên, bọn thuộc hạ của Sa Hoàng cũng tìm mọi cách để thâm nhập vào những tổ chức như vậy tại Giơnevơ.

    Một hôm, có người báo cho ông biết có một thân sĩ người Nga muốn gặp ông. Vị thân sĩ người Nga này nói ông ta đã xem qua tờ tập san do Krubaotekin chủ biên và rất tán thành với quan điểm chính trị của tờ tập san này. Ông ta muốn mời Krubaotekin làm một tờ bằng tiếng Nga để phản đối Sa Hoàng, kinh phí sẽ do một mình ông ta đảm nhận. Các đồng chí trong tổ chức đều cảm thấy rất có hứng thú với thân sĩ người Nga này và tích cực yêu cầu Krubaotekin đi gặp mặt ông ta.

    Khi Krubaotekin gặp vị thân sĩ người Nga đó, ông ta đã nói rằng ông ta rất bất mãn đối với các chính sách áp bức dân tộc của Sa Hoàng và cũng cảm thấy rất buồn trước tình cảnh nước Nga hiện nay. Kể từ khi tình cờ đọc được tờ tập san do Krubaotekin và các đồng chí của ông chủ biên, ông ta cảm thấy mình như từ đêm đen nhìn thấy ánh sáng mặt trời, cảm thấy mình phải có trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng Nga. Vị thân sỹ này tự xưng mình là một người giầu có, nhiều đất đai và nhà xưởng. Ông ta còn cho Krubaotekin xem phát minh của mình - đó là một chiếc giá cắm nến và nói rằng đang chuẩn bị đăng ký bản quyền cho phát minh này, tới khi đó ông ta sẽ trở nên giàu to và sẽ có thể đóng góp nhiều của cải vật chất hơn cho sự nghiệp cách mạng thiêng liêng mà Krubaotekin và các đồng chí của ông đang tiến hành.

    Krubaotekin vừa xem qua phát minh của ông ta, trong lòng liền dấy lên một sự nghi ngờ đối với vị thân sĩ này - chiếc giá cắm nến này đâu phải là một phát minh mới, nó đã quá phổ biến rồi, một người tự xưng là có tiền như ông ta mà lại đặt hi vọng vào một chiếc - giá cắm nến như vậy, ông ta liệu có phải là một người thực sự nhiều tiền không?

    Sau khi trong lòng đã có sự nghi ngờ, Krubaotekin quyết định sẽ thử ông ta xem, vì thế Krubaotekin bèn nói: “Cách nghĩ của ông rất đúng, vô cùng cảm ơn ông đã bằng lòng giúp đỡ sự nghiệp của chúng tôi, ông đã tôn trọng, tin tưởng tôi như vậy, thì ông có thể lấy danh nghĩa của tôi mà đem tiền của ông gửi vào ngân hàng. Số tiền đó tôi sẽ chi dùng khi có nhu cầu. Tôi tin rằng ông bằng lòng giúp đỡ hoàn toàn là vì cách mạng nước Nga chứ không phải vì mục đích cá nhân, vì thế tôi có điều này muốn nói với ông. Sau khi tờ tập san được làm xong, ông sẽ không có quan hệ gì với tờ tập san này. Chúng tôi, cũng không muốn ông vì cách mạng Nga mà phải chịu nguy hiểm“.

    Vị thân sĩ nói: “Tờ tập san này đương nhiên do các ông tự chủ biên, tôi không thể tham dự, chỉ có điều, tôi muốn thỉnh thoảng có thể đến xem, lúc cần thiết thì có thể đóng góp một chút quan điểm, hơn nữa tôi cũng có thể giúp các ông bí mật chuyển tờ tập san này vào trong nước“.

    Krubaotekin nói: “Những việc này đều không cần làm phiền đến ông, chúng tôi sẽ cố gắng làm tốt. Ông chịu giúp đỡ đã là sự đóng góp lớn nhất đối với sự nghiệp cách mạng Nga rồi, chúng tôi cũng không tiện làm phiền ông thêm nữa“.

    Sau cuộc nói chuyện, Krubaotekin thầm nghĩ “Nếu ông ta thực sự là người ủng hộ cách mạng Nga, ông ta sẽ không bao giờ để ý xem liệu mình có thể trở thành người lãnh đạo của tờ báo mới này hay không, còn nếu sau khi ông ta biết mình không được tham gia vào công việc làm báo mà từ bỏ ý định giúp đỡ, sau đó lại bặt vô âm tín thì việc ông ta bỏ tiền làm báo nhất định là có ý đồ khác“.

    Quả nhiên, sau đó họ không hề nhận được tin tức gì về vị thân sĩ người Nga này. Không lâu sau, đồng chí Retebob có thông báo với Krubaotekin một chuyện. Đó là gần đây có một tên mật thám của Sa Hoàng đã đến Giơnevơ. Theo sự mô tả của đồng chí Petebob thì đặc điểm của tên mật thám này không khác gì so với vị thân sĩ người Nga nọ.

    Krubaotekin khi đứng trước cái lợi đến một cách bất ngờ, ông đã không đánh mất tinh thần cách mạng và đã khéo léo vận dụng trí thông minh để đối phó với tên mật thám của Sa Hoàng, cuối cùng đã bảo vệ được tổ chức cách mạng Giơnevơ, giúp cho tổ chức này tránh được sự phá hoại của bọn tay chân Sa Hoàng.
     
  11. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 31

    Bạn đã nghe qua câu chuyện “tiệc đầu lưỡi“ chưa? Yso nhà ngụ ngôn nổi tiếng của Hi Lạp cổ đại, khi còn trẻ đã từng làm nô lệ cho một nhà quý tộc. Một lần, chủ nhân của ông mở tiệc mời khách. Các vị khách được mời đều là những nhà triết học nổi tiếng của Hy Lạp đương thời. Chủ nhân ra lệnh cho Yso chuẩn bị tiệc rượu và làm những món ăn ngon nhất để đãi khách. Thế là Yso đã đi tìm lấy các loại đầu lưỡi động vật, chuẩn bị một bữa “tiệc đầu lưỡi“.

    Khi bắt đầu khai tiệc, chủ nhân vừa ăn một miếng liền kinh ngạc hỏi: “Đây là cái gì vậy?“.

    Yso trả lời: “Ngài đã bảo tôi phải chuẩn bị món ăn ngon nhất cho các vị khách quý, đầu lưỡi chính là nơi bắt nguồn của các loại học vấn uyên bác, vì vậy, đối với các nhà triết học đây mà nói, đầu lưỡi chẳng phải là món ăn ngon nhất hay sao?“

    Các vị khách nghe Yso nói xong đều gật đầu lia lịa và cười ồ cả lên. Chủ nhân ra lệnh cho Yso: “Vậy thì ngày mai người lại làm một bữa tiệc nữa, lần này thì là các món ăn tồi nhất“.

    Sang ngày thứ hai khi mọi người ngồi vào bàn tiệc thì vẫn thấy toàn là lưỡi, chủ nhân bèn vặn hỏi, Yso bình tình trả lời rằng: “Lẽ nào tất cả những chuyện xấu xa đều không phải từ miệng mà ra sao, vì vậy đầu lưỡi vừa là thứ tốt nhất cũng vừa là thứ xấu xa nhất“.

    Chủ nhân im lặng không nói gì. “Lưỡi vừa là thứ tốt đẹp nhất, cũng vừa là thứ xấu xa nhất“. Câu nói trên mang ý nghĩa khá sâu sắc và đầy tư tưởng biện chứng.

    Quả thật, tài ăn nói có tính hai mặt: những người nói năng hoạt bát, nói những lời hay ý đẹp thì làm việc bao giờ cũng thuận lợi như ý. Những người nói năng không khiêm tốn, hay dùng những lời lẽ cay nghiệt để hại người thì chỉ gây ra những chuyện thị phi và mang hoạ vào thân mà thôi.

    Như vậy thế nào mới không bị mắc hoạ từ miệng?

    Người viết cho rằng chủ yếu có hai điểm cần chú ý:

    * Tránh những lời lẽ thô tục.

    Khi nói chuyện phải coi trọng sự văn minh lịch sự, đây là yêu cầu tối thiểu nhất. Những lời lẽ và thái độ khi nói chuyện không văn minh như ngôn ngữ thô tục, trong miệng đầy những lời nói vô văn hoá tục tĩu, cay nghiệt làm hại người khác .... thường dẫn đến những kết quả chẳng vui vẻ gì, ảnh hưởng đến giao tiếp, làm bại hoại phong cách sống.

    Xin hãy xem ví dụ dưới đây:

    Thời gian đi làm và tan sở, người đi xe buýt rất đông, người A khó khăn lắm mới chen được lên xe, anh ta xì dài một tiếng, không cẩn thận đụng trúng người B đứng đằng trước. Người B không hề khách khí nói ngay: “Dũi gì mà dũi, ai mà không biết năm nay là năm lợn“.

    Người A nghe qua tức quá cũng không chịu kém, đốp lại: “Năm chó qua rồi, anh sủa cái gì?“

    Hai người cãi cọ, mọi người xung quanh nghe xong đều không nhịn được liền phá lên cười, kiểu châm biếm này không tránh khỏi hơi chanh chua cay nghiệt.

    Nếu hai người đều có thái độ đối xử đúng đắn, anh kính tôi nhường thì sẽ không dẫn đến tình cảnh nực cười như vậy Ví dụ, người B nói: “Xin anh chú ý một chút, anh chen vào tôi rồi“, người A thì nói: “Thật không phải, xin anh thông cảm“, như vậy sẽ có thể tránh được tình trạng nói trên.

    Lại có một câu truyện như sau: Ở một làng nọ có một thằng bé đang học lớp 7, thành tích học tập của nó không tốt, có rất nhiều môn dưới điểm trung bình, cha nó tức giận không kịp suy nghĩ mà mắng chửi nó: “Ông mày nuôi một con lợn, một năm cũng có thể bán được mấy trăm đồng, nuôi mày thì được tích sự gì! Thi lại cũng không nên thân, mày xéo đi cho ông?“ Thằng bé tự biết sức học của nó không thể bỗng chốc khá lên được bèn viết một lá thư để lại rồi bỏ đi, báo hại cho phụ huynh phải chạy Đông chạy Tây tìm nó, còn phải đăng quảng cáo tìm người. Kết quả là tốn mất mấy ngàn đồng, qua mấy tháng trời mới tìm được. Mẹ của thằng bé cũng vì lo quá mà mắc bệnh tinh thần. Suy nghĩ của trẻ con rất đơn thuần, hơn nữa ý chí lại rất mềm yếu, dễ bị tổn thương, vì vậy không nên mắng chửi, nói những lời cay nghiệt với chúng, trẻ con cũng có lòng tự trọng của chúng chứ.

    Chúng ta lại xem một câu truyện dưới đây:

    Có một gã choai choai nhìn thấy một thiếu phụ dung nhan xinh đẹp, thân hình đẫy đà bèn cố ý chạm vào người cô khi gã đi ngang qua, lấy tay vuốt vào mông cô. Thiếu phụ thoạt đầu thì giật mình sau đó tức giận không nói lên lời: “Cậu ...“ gã choai choai đểu cáng nói: “Tôi, tôi thì làm sao, cô cũng đi, tôi cũng đi, đó là do mông của cô chạm vào tay tôi đấy chứ?“. Thiếu phụ không nén nổi cơn giận lôi gã lại và chửi cho một trận. Sau cùng cảnh sát đến bắt gã đi, nhất định gã sẽ nhận được một bài học thích đáng, thật đáng kiếp.

    Những người dân thường cần chú ý nói năng văn minh lịch sự, đối với những vị lãnh đạo thì ngôn ngữ lại càng không thể dung tục, tuỳ tiện, nếu không sẽ chỉ làm cho vấn đề trở nên rắc rối thêm. Xin hãy xem câu chuyện dưới đây:

    Tháng 7 năm 1959, trước khi phó tổng thống Mỹ Nixon đi thăm Moscow, Quốc hội Mỹ đã thông qua nghị quyết cho phép khống chế các nước. Trong cuộc gặp giữa Khrushchev và Nixon, Khrushchev rêu rao rằng đây là một sự khiêu khích nghiêm trọng, là một nghị quyết mang tính đe doạ ngu xuẩn. Ông ta dùng tay đấm lung tung xuống mặt bàn, lại còn tức giận thốt ra vài câu thô lỗ, đến người phiên dịch ngồi cạnh ông ta cũng phải đỏ cả mặt, một lúc sau, người phiên dịch mới nói: “Nghị quyết này tiếng tăm rất hôi thối, như mùi bốc lên từ đống phân ngựa vừa được thải ra, chẳng có mùi nào có thể khó ngửi hơn mùi này nữa“.

    Do Nixon biết rằng Khrushchev trước đây đã từng là người chăn lợn nên cũng không hề chịu kém mà đớp lại rằng: “E rằng ngài chủ tịch đã nhầm rồi, có một mùi còn khó ngửi hơn cả mùi phân ngựa, đó chính là mùi phân lợn“.

    Sau khi nghe phiên dịch nói lại lời của Nixon, mặt Khrushchev bỗng đỏ bừng, nhưng cũng không tiện tức giận ra mặt, ông ta chỉ ngượng ngập cười và nói: “Về điểm này có lẽ ông đã đúng, bây giờ chúng ta hãy chuyển sang vấn đề khác đi“.

    * Tránh chỉ ra điểm yếu của người khác.

    Ai cũng có những điểm yếu riêng. Vì vậy, khi nói chuyện với người khác cần phải tránh đề cập đến những thứ mà đối phương kiêng kỵ. Bởi vì, tâm lý kỵ huý là điều mà ai cũng có. Đến ngay cả AQ - nhân vật trong truyện của Lỗ Tấn - người mà thường sử dụng phép thắng lợi tinh thần cũng không phải là ngoại lệ. Hắn ta thường sử dụng biện pháp này để tự an ủi mình, vì vậy mà rất ít khi đối mặt với những chuyện phải lo nghĩ nhiều. Cho dù người khác lừa hắn, chửi hắn, hắn vẫn có thể kiềm chế được bản thân. Chỉ một chốc là có thể lấy lại được cân bằng, duy chỉ có một điều hắn ghét nhất, đó là bị người khác gọi là điên.

    Chỉ cần có người đứng trước mặt hắn nhắc đến chữ điên hoặc phát ra một âm gần giống với từ “lại“, hoặc đề cập đến những chữ “hoảng“, “lượng“, “đăng“, “chúc“. Hắn sẽ tức đến đỏ mặt tía tai. Nếu nó mạnh thì hắn chửi, nếu nó yếu thì hắn đánh. Trong thời đại phong kiến, số người do không lưu tâm, nói năng phạm vào điều cấm kỵ dẫn đến hoạ rơi đầu cũng có vô số. Vị anh hùng áo vải Trần Thắng, người trước đây từng làm tôi tớ nhưng sau này đã dựng nên nghiệp lớn rất kỵ người khác nhắc đến xuất thân hèn kém của mình. Một vài huynh đệ đã từng vào sinh ra tử với ông vì vô tình đã làm tổn thương đến “hình tượng lãnh tụ” của ông nên đã chuốc lấy hoạ diệt thân.

    Hoàng Đế khai quốc nhà Minh là Chu Nguyên Chương cũng đã từng là “hòa thượng“, là “giặc“ (từ để chỉ những người khởi nghĩa trong thời đại phong kiến). Từ khi làm hoàng đế, ông rất kỵ người khác nhắc đến việc “mất thể diện“ đó. Nếu như có người nhắc đến những từ như “hoà thượng“, “tăng“, “sinh“ trước mặt ông thì cũng có nghĩa là tự lãnh cho mình tội chết. Ông cũng không cho phép người khác nhắc đến chữ “tặc“ (giặc), thậm chí cả từ có cách đọc gần giống là “tắc“ cũng không được nhắc đến nếu không sẽ bị chặt đầu.

    Trong thời đại phong kiến, bước phát triển đỉnh cao của tâm lý kỵ huý này chính là sự mọc lên của những “nhà tù văn tự”. Có rất nhiều văn nhân học giả vì phạm huý đối với những nhà cầm quyền đương thời mà phải chịu cảnh lao tù trong suốt cuộc đời còn lại, thật đáng tiếc làm sao.

    Những người bình thường cũng có tâm lý kỵ huý. Nếu như bạn gặp những người bị hói đầu mà nói những câu như “Tức đến mức khó mà dựng cả tóc tai lên được“ hay là “Cái đèn này sao tự nhiên không sáng vậy?“ hoặc là “Hôm nay mặt trời chiếu sáng quá“ thì nhất định người này sẽ biến sắc mặt vô cùng tức giận quay ngoắt bỏ đi và hẳn bạn sẽ cảm thấy rất bối rối.

    Vậy phải làm thế nào mới không phạm huý?

    Chúng tôi cho rằng trước tiên phải tìm hiểu những điều mà đối phương kiêng kỵ. Đối với những việc mà đối phương cho là cấm kỵ thì nhất nhất phải luôn chú ý không nhắc tới để tránh làm tổn thương đến họ.

    Trước mặt người hói đầu không nên nói từ “bóng“, trước mặt người béo không nên nói từ “mỡ”, trước mặt người gầy không nên nói từ “khỉ“, trước mặt người lùn không nên nhắc đến “Võ Đại Lang“ (một nhân vật trong truyện Thuỷ Hử có chiều cao rất thấp), trước mắt người có dung mạo không đẹp không nên nói “xấu xí“, người có tật ở chân không nên nói “chấm phẩy“, trước mặt người gù không nên nói “gánh vác nặng nề“. Đối với những người có một tâm nguyện chưa được hoàn thành thì cũng nên tránh nói đến nỗi đau của họ. Ví dụ như không nên thao thao bất tuyệt về cuộc sống trên đại học trước mặt những người học hành không đỗ đạt, không nên nói nhiều đến chuyện sinh con đẻ cái đối với những người hiếm muộn, đối với những người có hành vi trộm cắp thì không nên nhắc đến “Lầu A Thử“.

    Tránh phạm huý không chỉ là vấn đề nghệ thuật ngôn ngữ và khéo léo trong quan hệ giữa con người mà còn là vấn đề về thái độ đối với bạn bè, đồng nghiệp. Tôn trọng người khác cũng có nghĩa là tôn trọng chính mình. Vì vậy, trong giao tiếp nhất thiết phải tránh phạm huý, giữ gìn lời ăn tiếng nói để tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra do nói năng thiếu suy nghĩ gây nên.
     
  12. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 32

    Ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất để biểu đạt tình cảm ý nghĩ, để trao đổi thông tin giữa người với người.

    Những tổ hợp khác nhau của ngôn ngữ và cách sử dụng chúng trong từng trường hợp đều có thể tạo ra những hiệu quả khác nhau, thậm chí là tương phản. Ngôn ngữ được thốt ra từ miệng những người có tài ăn nói thì cũng giống như những trò ma thuật trong tay các ảo thuật gia vậy. Các kỹ năng vận dụng ngôn ngữ một cách biến ảo như: Lợi dụng sự đồng âm khác nghĩa của ngôn ngữ để khéo léo tạo ra những cái bẫy, vận dụng sự ngừng ngắt một cách cố ý trong câu nói để làm thay đổi kết cấu lời văn, biết dẫn chuyện bằng nhiều cách khác nhau và biết sử dụng các phương pháp loại suy, suy lý... thường mang lại hiệu quả rất cao. Vậy bạn có muốn tìm hiểu hay thậm chí muốn có những kỹ năng này không?

    Chương 1 : Sự Tuyệt Diệu Của Cách Dùng Đồng Âm Khác Nghĩa

    Cuộc sống quanh ta thật rực rỡ sắc màu và ngôn ngữ được sinh ra từ thực tiễn cuộc sống cũng rất phong phú và đa dạng. Chúng ta có thể dùng những ngôn ngữ khác nhau để biểu đạt những tư tưởng khác nhau, đồng thời cũng có thể sử dụng cùng một loại ngôn ngữ để biểu đạt những ngữ ý không giống nhau. Thí dụ chúng ta có thể lấy cách đọc gần giống hoặc giống nhau giữa các từ ngữ để hiểu lời nói của đối phương theo một cách khác hoặc có thể mượn tính đa nghĩa của ngôn ngữ để ngầm chỉ một ý nghĩa khác.

    Trong cuộc sống và quan hệ giao thiệp với bạn bè, nếu chúng ta có thể vận dụng một cách hiệu quả kỹ xảo về đồng âm khác nghĩa của ngôn ngữ thì sẽ không chỉ làm cho ngôn ngữ của chúng ta trở nên sinh động, dạt dào cảm xúc mà còn có thể giúp giải quyết được rất nhiều vướng mắc lúng túng không đáng có, thắt chặt thêm tình hữu nghị và gặt hái được nhiều thành công mà bạn không ngờ tới trong cuộc sống cũng như trong công tác.

    Kính Nhất Đan khéo léo xin đề từ

    Ngày 7 tháng 10 năm x là một ngày rất đặc biệt đối với chuyên mục “Phỏng vấn toạ đàm về những vấn đề nóng hổi“. Buổi chiều ngày hôm đó, thủ tướng Chu Dung Cơ cùng với các nhà lãnh đạo sẽ tiến hành một cuộc toạ đàm với các biên tập viên, phóng viên của chuyên mục này. Trong buổi nói chuyện đó, thủ tướng Chu Dung Cơ đã tặng cho chuyên mục lời đề từ: “Giám sát dư luận, tiếng nói quần chúng, tai mắt chính phủ, tiên phong cải cách“. Mọi người đều biết rằng thủ tướng Chu Dung Cơ từ trước tới giờ rất ít khi ông tuỳ tiện viết đề từ những chuyên mục “Phỏng vấn toạ đàm về những vấn đề nóng hổi“ lại có được lời đề từ của ông. Bạn có biết chuyên mục này làm thế nào để có được lời đề từ đó hay không?

    Thì ra, trước hôm thủ tướng Chu Dung Cơ đi thị sát đài truyền hình trung ương một ngày, các vị lãnh đạo trong đài đã nói với Kính Nhất Đan, muốn cô khi thủ tướng tới thị sát phải nghĩ cách để có được lời đề từ của ông. Điều này đối với Kính Nhất Đan mà nói quả thực có đôi chút khó khăn. Cô băn khoăn suy nghĩ mình sẽ phải đưa ra lời thỉnh cầu này với thủ tướng như thế nào mới ổn đây? Ngày hôm sau, thủ tướng Chu Dung Cơ cùng với bộ trưởng bộ tuyên truyền Đinh Quan Căn tới thị sát đài truyền hình trung ương. Khi thủ tướng bước vào phòng quay của tổ chuyên mục “Phỏng vấn đàm thoại về những vấn đề nóng hổi“, mọi người đều đứng dậy vỗ tay đón chào ông. Bầu không khí bỗng chốc trở nên náo nhiệt, mọi người đều tranh nhau bắt chuyện với thủ tướng. Một vị biên đạo nói: “Trên người những vị có sức hấp dẫn đặc biệt thì luôn luôn có điện trường. Trước đây tôi đã được nghe người khác nói như vậy tôi thấy trên người ngài cũng có loại điện trường như vậy”. Thủ tướng Chu Dung Cơ chỉ cười mà không nói gì.

    Bầu không khí trong phòng quay cũng trở nên náo nhiệt hơn. Kính Nhất Đan cảm thấy đây là một cơ hội ngàn năm có một, nếu mình không biết nắm bắt thì nó sẽ qua đi rất nhanh. vì vậy cô liền bước đến trước mặt thủ tướng và nói: “Thưa thủ tướng, số người đang đứng cạnh ngài trong phòng thu này ngày hôm nay chỉ là 1/10 số nhân viên của tổ chuyên mục chúng tôi thôi ạ“. Thủ tướng nghe vậy bèn hỏi: “Các đồng chí có nhiều người đến vậy sao?“ Kính Nhất Đan đáp: “Thưa đúng vậy, bọn họ đại đa số đều đang đi phỏng vấn ở bên ngoài, vất vả không ít. Bọn họ cũng rất muốn đến đây, muốn có cơ hội được nói chuyện trực tiếp với thủ tướng nhưng bọn họ đã lấy công việc làm trọng vì thế mà hôm nay không thể đến đây được. Thủ tướng có thể để lại cho họ vài lời được không ạ?“. Kính Nhất Đan nói với giọng rất thành khẩn lại rất uyển chuyển. Sau đó cô cung kính đưa giấy và bút lên trước mặt thủ tướng. Thủ tướng Chu Dung Cơ nhìn cô một cái, ông mỉm cười rồi nhận lấy giấy bút vui vẻ đặt bút viết 16 chữ “Giám sát dư luận, tiếng nói quần chúng, tai mắt chính phủ, tiên phong cải cách“. Khi thủ tướng viết xong, toàn trường vang lên một tràng vỗ tay, đưa bầu không khí của chuyến thị sát lên cao trào.

    Kính Nhất Đan đã hoàn thành nhiệm vụ mà lãnh đạo giao cho cô, qua phân tích lời nói của cô, chúng ta có thể thấy rằng Kính Nhất Đan là người có kỹ năng vận dụng ngôn ngữ rất tốt. Thứ nhất: bởi vì lời thỉnh cầu này không phải là của cá nhân cô mà cô lại có thể bạo gan đưa ra. Thứ hai: do Kính Nhất Đan biết rằng thủ tướng Chu Dung Cơ rất thích các phóng viên trẻ tuổi của chuyên mục này vì vậy cô đã vẽ ra cho thủ tướng một một cảnh tượng: Các phóng viên bôn ba tứ phương, lăn lộn đường xa, thậm chí phải gánh chịu cả những nguy hiểm đang rình rập để đi khắp nơi phỏng vấn, tìm hiểu dân tình, phản ánh tiếng nói của người dân, thực hiện nhiệm vụ giám sát dư luận cho xã hội nhưng trong lòng họ vẫn có một nguyện vọng đó là được gặp gỡ trò chuyện với thủ tướng. Họ đã vì sự nghiệp của chuyên mục mà không thể đến được, điều này đã khiến cho thủ tướng về mặt tình cảm mà nói không thể cự tuyệt lời thỉnh cầu rất hợp lý kia. Thứ 3 khi thủ tướng Chu Dung Cơ đã nhận lời để lại vài câu cho các phóng viên vắng mặt buổi hôm đó thì ông sẽ nhắn lại vài câu hay là dùng bút viết lên giấy để gửi lại? Điều này hoàn toàn dựa vào khả năng nắm bắt thời cơ của Kính Nhất Đan. Cô đã nhanh nhẹn lấy giấy và bút đưa cho thủ tướng làm cho thủ tướng Chu Dung Cơ trong bầu không khí sôi nổi như vậy không còn cách nào khác đã phải vui vẻ múa bút.

    Không phải là đang đánh vợ

    Trong một số trường hợp chúng ta đang sử dụng những ngôn ngữ khác nhau để biểu đạt những ngữ ý tương đồng thì hiệu quả lại có sự khác biệt. Có khi lời ở chỗ này mà ý lại ở chỗ khác khiến cho người khác phải vắt óc suy nghĩ.

    Có một cặp vợ chồng nọ, người vợ rất thích hát, nhưng chị ta lại hát rất dở, có nhiều lúc quấy nhiễu làm cho anh chồng không cách nào nghỉ ngơi được. Anh chồng đã nhiều lần khuyên vợ nhưng đều vô ích. Có một lần khi chị vợ đang hát, anh chồng liền vội vàng chạy ra đứng ở ngoài cửa. Chị vợ ngơ ngác không hiểu chuyện gì bèn hỏi: “Sao mỗi lần em hát anh đều chạy ra đứng ở ngoài cửa làm gì vậy “ Anh chồng trả lời rằng: “Anh làm như vậy để cho hàng xóm biết rằng không phải anh đang đánh em“. Câu trả lời của anh ta nhìn bề ngoài có vẻ như là hỏi một đằng trả lời một nẻo nhưng kỳ thực anh ta đã áp dụng phép giương đông kích tây. Người vợ thoạt nghe xong, cũng chẳng hề để ý gì, thế nhưng sau khi hiểu ra thì lại dở khóc dở cười như thể vừa nuốt phải một con nhặng vậy. Ý nghĩa chính của câu nói này là nhằm châm biếm người vợ hát rất khó nghe, giọng của cô cứ như bị ai đánh đau mà la lên vậy. Câu trả lời như thế rõ ràng có hiệu quả thật thấm thía, đã nghe qua thì khó có thể quên được.

    Mỗi người đều có vật báu của riêng mình

    Trong “Tả truyện “ năm thứ 15 đời vua Tương Công có ghi một đoạn: Ở một địa phương có một vị quan tên gọi Tử Hãn làm quan rất liêm khiết chính trực. Một hôm có một người cứ khăng khăng đòi đem viên ngọc thạch của mình dâng lên Tử Hãn, Tử Hãn không nhận. Người dâng ngọc nói: “Tất cả các thợ làm ngọc đều cho rằng đây là ngọc quý vì vậy tôi mới dâng lên ngài“. Tử Hãn trịnh trọng đáp: “Ta lấy sự liêm khiết làm đầu, ngươi coi ngọc là vật báu, nếu ngươi đem nó cho ta thì hai chúng ta đều bị mất đi vật báu, chi bằng mỗi người chúng ta hãy tự giữ lấy vật báu của mình“. Trong câu trả lời của mình, Tử Hãn đã khéo léo sử dụng chữ “bảo“ (vật quý, vật báu) trong lời nói của người dâng ngọc, từ đó mà mở rộng ra và chuyển sang nói đến chữ “bảo“ của mình - đó là sự thanh liêm. Cách nói của ông đã khiến cho hàm ý của chữ “bảo“ được nâng lên ở một tầm cao hơn. Hai chữ “bảo“ một thực một hư, lấy cái thực làm nổi bật cái hư, làm nổi bật bảo vật vô giá - sự thanh liêm. Sau khi nghe xong câu nói của ông, mọi người không chỉ cảm thấy kính trọng phong cách cao đẹp “thấy lợi chẳng tham“ của ông mà còn khâm phục sát đất tài đối đáp của Tử Hãn. Lời nói của ông không giống như cách nói theo lễ tiết tầm thường của các vị quan đương thời, nó không chỉ thể hiện được cái tâm trong sáng như ngọc của ông mà còn có tác dụng giáo dục người khác có thể từ chối một cách khéo léo, thật khiến người ta vô cùng bái phục.

    Tiên sinh và hậu sinh

    Trước đây, có một vị tiên sinh không đứng đắn, ông ta nhìn thấy một thiếu phụ trên tay bế một đứa trẻ, còn trên lưng lại cõng một đứa trẻ khác thì trong lòng nảy ra một ý định đen tối, muốn chọc ghẹo thiếu phụ kia. Ông ta bèn hỏi: “Đại tẩu này, hai đứa con trai của chị, đứa nào là của tiên sinh?“ Thiếu phụ thấy ông ta không có ý tốt bèn cười và đáp: “Tiên sinh hậu sinh đều là con trai của tôi“.

    Vị tiên sinh không đứng đắn đã sử dụng đại từ nghi vấn đặc chỉ “đứa nào“ để hỏi, muốn người thiếu phụ lựa chọn 1 trong 2 cách nói “đứa trẻ bế trên tay là con của tiên sinh“ hoặc “đứa trẻ cõng trên lưng là của tiên sinh“ để trả lời. Do từ “tiên sinh“ mang 2 ý nghĩa: có thể chỉ bản thân người tiên sinh này (Đây chính là ý nghĩa mà ông ta muốn nói) hoặc mang nghĩa “được sinh ra trước“. Nếu thiếu phụ trả lời căn cứ vào phạm vi của đại từ nghi vấn “tiên sinh“ ở trong câu thì cô sẽ bị trúng kế, mắc lỡm đến thảm hại. Tuy nhiên, cô lại không trả lời theo cách trên. ở đây cô đã tách phạm vi được xác định trong đại từ nghi vấn “đứa nào“ ra để nói thành “tiên sinh hậu sinh đều là con của tôi“. Thiếu phụ đã áp dụng cách thay đổi chủ đề làm đòn phản công, khiến cho kẻ thích chọc ghẹo người khác bị một phen bẽ mặt. Đúng là gậy ông lại đập lưng ông.

    “Tiêu diệt phát xít“

    Có một lần, thủ tướng Chu ân Lai mở tiệc tiếp đón các vị đại sứ các nước Đông âu. Trên bàn tiệc, các vị khách đều tấm tắc khen ngợi các món ăn Trung Hoa, bầu không khí vô cùng thân mật và thắm thiết. Lúc đó, nhà bếp bưng ra một món ăn rất cầu kì và lạ mắt, các miếng măng trong đĩa được tỉa thành hình chữ “lạc“( vui vẻ) nhưng khi chúng bị lật nghiêng đi thì lại trở thành biểu tượng “chữ thập“ của bọn phát xít. Các vị khách nước ngoài rất lấy làm lạ, hỏi: “Tại sao món ăn này lại có biểu tượng của phát xít vậy?”

    Thủ tướng Chu ân Lai bèn giải thích: “Đây chính là biểu tượng của chữ “vạn“, cũng có nghĩa là 'vạn sự như ý, phúc thọ an khang', chính là một lời chúc tết lành của người dân Trung Quốc chúng tôi dành cho quý khách“.

    Tiếp đó Chu ân Lai bèn gắp một miếng măng lên và nói: “ Nếu coi là biểu tượng của phát xít thì cũng được, mọi người chúng ta đang đấu tranh tiêu diệt phát xít, vậy thì cùng ăn hết chúng đi“.

    Mọi người nghe thấy vậy liền cười ồ cả lên, bầu không khí càng thêm ấm cúng. Kết quả là số măng đó đã bị ăn hết sạch một cách ngon lành.

    Rơi đũa mà vẫn vui

    Có một lần, Tiểu Vương ăn cơm cùng với một vị giám đốc doanh nghiệp, vừa ăn vừa bàn bạc việc quảng cáo sản phẩm của doanh nghiệp. Trong lúc sơ ý, Tiểu Vương đã làm rơi mất đũa của vị khách, nhất thời cảm thấy có phần bối rối. Mọi người trong bàn ăn đều nhìn anh ta để xem anh xử trí ra sao. Tiểu Vương trong bụng rất lo lắng nhưng đúng là “cái khó ló cái khôn“, đã nhanh trí nói rằng: “ Tôi xin được nói rõ, tôi ‘đánh rơi đũa' cũng chính là chúc ông 'vui vẻ' bởi vì 'đũa rơi' cũng có nghĩa là 'vui vẻ' (trong tiếng Hán từ 'đũa rơi' phát âm gần giống với từ 'vui vẻ’). Trong lần gặp mặt đầu tiên này, tôi muốn dùng một cách đặc biệt chúc ông vui vẻ để thể hiện tấm lòng của tôi và hy vọng rằng ông sẽ giao công việc quảng cáo sản phẩm cho tôi được không?“.

    Vị khách kia nghe xong rất lấy làm thích thú mà trả lời rằng: “ Nói hay lắm, nói hay lắm“.

    Mọi người xung quanh lại cười nói vui vẻ. Sau sự việc đó, một người bạn hỏi Tiểu Vương: “Nếu như có người làm rơi mất đũa của anh thì nên xử trí ra sao?“

    Tiểu Vương chớp chớp mắt trả lời : “Điều này dễ thôi? Tôi sẽ nói: Rất cám ơn tấm lòng của anh. Đũa rơi cũng chính là vui vẻ. Anh muốn làm cho tôi vui nên đã dùng cách biểu đạt mới mẻ này, tôi rất lấy làm cảm kích“.

    Bạn thấy đấy, lấy việc “đũa rơi“ mà hiểu thành “vui vẻ“, việc đó không chỉ làm dịu đi sự căng thẳng mà Tiểu Vương còn nhân cơ hội này đã đạt được mục đích. Thật đúng là “Một mũi tên trúng hai đích“.

    Đời đời bình an

    Việc sử dụng những từ đồng âm hoặc có cách giải thích khác đi đối với một sự việc chính là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ có kết hợp khả năng vận dụng vốn ngôn ngữ khéo léo của bản thân với sự việc xảy ra trong thực tiễn. Điều này nhiều khi đem lại những kết quả bất ngờ và thú vị.

    Đêm 30 tết, cả nhà quây quần cùng ngồi xem tivi. Cụ ông không cẩn thận làm rơi mất phích nước, chỉ nghe “bịch“ một cái, ruột phích vỡ, nước chảy ra sàn nhà. Mọi người không ai nói gì cả nhưng cụ ông lại cảm thấy không vui vì cho rằng sang năm mới mà làm vỡ đồ thì sẽ gặp điều không may. Cô con dâu đã nhanh trí nói “Không hề gì, không hề gì, theo các cụ thì đây còn là việc tốt ấy chứ, như thế gọi là “đời đời bình an“. Hơn nữa, rơi bình nước cũng có nghĩa là nhà ta sẽ phải mua một chiếc bình mới to hơn, đẹp hơn, như thế cũng có nghĩa là nhà ta sẽ ngày càng phát đạt hơn“. Lời nói của cô con dâu đã giúp cụ ông vui vẻ trở lại. Thế là việc dùng những từ đồng âm để giải nghĩa khác đi bỗng chốc đã có thể làm thay đổi tính chất của vấn đề, làm cho vấn đề đó mang một ý nghĩa khác nữa, có thể làm ông cụ bớt phần lo lắng lại giúp cho cả nhà đón năm mới một cách vui vẻ.

    “Mất một được hai“

    Lần đó, Tiểu Lý cùng mấy người bạn vừa ăn tối vừa bàn bạc việc mở công ty. Một người trong lúc nói chuyện đã làm rơi vỡ chén rượu. Mọi người đều tỏ ra lo lắng vì cho rằng công ty còn chưa thành lập thế mà đã “đổ vỡ” thế này thì thật không may. Lúc đó, Tiểu Lý đã nhanh trí nói “Mọi người đừng lo, đấy là việc tốt ấy chứ. Tục ngữ có câu: “Mất một để được hai“. Công ty của chúng ta sắp được thành lập, mấy ngày hôm nay tôi đang đi tìm cái gì đó để “mất“ đây. Vừa hay hôm nay làm vỡ chén rượu, như vậy là công ty của chúng ta nhất định sẽ được thành lập, sẽ “được hai“ và còn nhiều hơn nữa“. Mọi người nghe nói vậy cảm thấy rất vui.

    “ Người bạn cũ của chúng ta“

    Chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc đời mình đã tiếp đãi vô số các vị khách. Vì ông là một vị lãnh đạo tối cao, được nhiều người kính trọng nên người được tiếp kiến với ông thường có một tâm trạng thấp thỏm, không được tự nhiên. Mao Trạch Đông tính cách vốn cởi mở, ông thường có những câu nói hóm hỉnh làm phá tan bầu không khí căng thẳng.

    Năm 1972 tổng thống Mỹ Nicxon thăm Trung Quốc đã có cuộc hội ngộ lịch sử với chủ tịch Mao Trạch Đông.

    Quan hệ Trung - Mỹ đã có 20 năm không được mặn mà nên hai vị nguyên thủ quốc gia lần đầu tiên gặp mặt không khỏi có phần ngại ngùng, lúng túng, thăm dò đối phương.

    Tuy vậy, Mao Chủ Tịch sau khi nói chuyện hàn huyên với tổng thống Mỹ Nicxon đã nói “Người bạn cũ Tưởng Uỷ Viên Trưởng(Tưởng Giới Thạch) của chúng ta có lẽ sẽ không thích việc này đâu nhỉ“. Ông ngừng một lúc rồi nói tiếp: “Kỳ thực, mối thân tình của chúng tôi với ông ấy (Tưởng Giới Thạch) đã có trước các ông từ lâu rồi kia“.

    Câu nói này nhất thời đã làm cho bầu không khí nhẹ nhõm hơn. Những lời nói như “ Người bạn cũ của chúng ta“, “mối thân tình“ đã biểu đạt được rất nhiều ý tứ, làm cho mọi người đều cảm thấy bớt căng thẳng.

    “Khổng Tử khuyên can“

    Trần Hầu cho xây một cái đài cao phải huy động rất nhiều nhân công. Đến ngày xây xong còn bắt thêm ba người nữa. Khổng Tử khi đó cũng đang dừng chân ở nước Trần. Trần Hầu bèn cho mời ông cùng lên đài thưởng lãm. Khổng Tử vốn không đồng tình với sở thích hao tiền tốn của này của Trần Hầu, đặc biệt là việc 3 người bị bắt đáng thương kia. Khổng Tử lên tới đài cao, quan sát một lượt rồi chắp tay cung kính nói với Trần Hầu rằng: “Đài này thật là đẹp, quân vương thật là sáng suốt“. Trần Hầu nghe nói vậy trong lòng cảm thấy vô cùng khoan khoái. Nhưng ngay sau đó, Khổng Tử đã đổi giọng nói rằng: “Từ xưa đến nay, các bậc thánh vương xây đài, không có ai không giết người mà xây được ngôi nhà đẹp như thế này“.

    Trần Hầu lặng im một lúc, sau đó cũng hiểu ra ngụ ý của Khổng Tử, cảm thấy có phần hối hận bèn hạ lệnh tha tội cho ba người bị bắt kia.

    “Phải tranh luận mới hiểu được nhau“

    Chủ tịch Mao Trạch Đông khi đàm phán thường có cách nói chuyện khá thú vị. ông thường dùng những lời mở đầu nhiều khi có tính hài hước làm cho hai bên bớt căng thẳng và có thể bước vào đàm phán trong bầu không khí thân mật hơn.

    Năm 1973, Điền Trung Giác Vinh đến thăm Trung Quốc đã cùng hội đàm với Chu ân Lai nhằm cải thiện mối quan hệ Trung- Nhật và tiến tới bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Sau đó, ông đã được tiếp kiến chủ tịch Mao Trạch Đông. Mao Chủ Tịch bất chợt hỏi Điền Trung và Chu ân Lai: “ Cuộc tranh luận của các ông đã kết thúc chưa?“, không đợi trả lời Mao Chủ Tịch lại nói: “ Tranh cãi là tốt cho các ông đấy vì không có tranh luận thì làm sao mà hiểu nhau hơn được?“.

    Những câu nói này đều ngụ ý chỉ việc đàm phán giữa hai bên. Mới nghe thì có vẻ như những câu nói đùa nhưng nếu suy xét kỹ thì cũng ẩn chứa rất nhiều ý tứ. Những lời nói dễ nghe thường để lại trong lòng người khác những ý nghĩ tốt đẹp. Việc Mao Chủ Tịch gọi cuộc đàm phán cấp cao là “Tranh luận“, “ cãi cọ“ đã phần nào giảm bớt tính căng thẳng, làm cho mọi người cảm thấy thân mật với nhau hơn.

    “Múa rìu qua mắt thợ“

    Vào năm 1931 , Hồ Thích Điền lúc đó là chủ tịch tỉnh Hồ Bắc đã mời Bộ trưởng Bộ Giáo Dục Hoàng Kiến Trung và nhà địa chất học Lý Tứ Quang đến dự một buổi giao lưu tại trường trung học tỉnh Hồ Bắc.

    Sau khi đọc lời phát biểu, ông Hồ đã mời các vị khách lên giao lưu. Vị Bộ trưởng với phong thái nho nhã, lịch sự của một nhà nho đã hoàn toàn chiếm được cảm tình của hàng nghìn người có mặt trong hội trường ngày hôm đó.

    Câu chuyện của ông chủ yếu chỉ xoay quanh chủ đề của câu tục ngữ “Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa“. Ông nói, đây là một câu tục ngữ hoàn toàn có cơ sở khoa học. Tại sao “nhai kỹ“ lại có thể “no lâu“; “cày sâu“ lại có thể “tốt lúa“. Chúng ta nên nhìn nhận sự thật, hiện tượng dưới con mắt của một nhà khoa học, phải dùng cách phân tích dựa trên cơ sở khoa học để nhìn nhận một vấn đề rồi đưa ra kết luận. Không nên chỉ răm rắp nghe theo lời của người xưa hoặc là nghi ngờ mà không dám làm theo. Đó cũng chính là tinh thần của một con người ham học tập.

    Ông còn nói: “Tôi đứng trước ngài Lý Tứ Quang mà giảng giải về khoa học thì cũng như là đứng trước mặt Khổng Tử mà đọc “Tứ thư“ vậy. Thật đúng là “múa rìu qua mắt thợ“. Thôi bây giờ xin mời “Khổng Tử“ lên nói chuyện với các bạn học sinh“. (Ông vừa nói vừa đưa tay mời Lý Tứ Quang)“. Cả hội trưởng nghe thấy vậy đều cười vui vẻ.

    Chuyện kể về Lâm Đại Ngọc

    Trong giới nữ nhân Trung Hoa, Lâm Đại Ngọc nổi lên như một tài năng xuất chúng. Nàng vừa thông minh đĩnh ngộ, lại am hiểu văn chương, là một thi nhân được nhiều người biết đến. Có được vốn kiến thức sâu rộng, đương nhiên tài ăn nói của nàng cũng vô cùng sắc xảo bởi những lời nói uyên thâm ẩn chứa nhiều hàm ý thường xuất phát từ một tâm hồn sâu sắc và vốn kiến thức uyên thâm.

    Nàng lúc thì rất thích châm chọc kẻ khác bằng lời nói đầy ẩn ý, lúc thì lại nói toàn lời hay ý đẹp, rung động lòng người. Có một lần, Bảo Ngọc nghe lời Bảo Thoa không uống rượu nguội. Điều này khiến cho một con người mẫn cảm như Đại Ngọc cảm thấy rất không bằng lòng. Vừa hay có người sai con hầu Tuyết Nhạn mang tới một cái lò sưởi nhỏ Đại Ngọc bèn nhân cơ hội này cười nói với Tuyết Nhạn rằng: “Thật là thiệt cho ngươi khi phải nghe lời kẻ khác. Những điều thường ngày ta nói, ngươi đều để ngoài tai. Tại sao những lời người khác nói, ngươi đều làm theo răm rắp vậy?“. Lời nói này chứa nhiều ẩn ý, mới nghe thì tưởng là nói với con hầu nhưng kỳ thực là nàng đang ám chỉ người khác. Rõ ràng là nói với Tuyết Nhạn nhưng lại ngụ ý chỉ Bảo Ngọc, lại cũng có ý trách Bảo Thoa nhưng vì là lời nói bóng gió nên Bảo Thoa cũng phải giả câm giả điếc làm ngơ. Đến Bảo Thoa cũng phải thốt lên rằng: “Con bé này cũng thật không vừa, làm cho người ta yêu không được, ghét cũng chẳng xong“.

    Một lần khác, khi Bảo Ngọc đang chăm chú ngắm nhìn cánh tay trần trắng như tuyết của Bảo Thoa thì bị Đại Ngọc bắt gặp. Bảo Thoa bèn hỏi nàng tại sao lại đứng một mình trước ngưỡng cửa như vậy. Đại Ngọc cười đáp: “Chỉ vì em nghe thấy có tiếng kêu, chạy ra xem hoá ra là một con ‘chim ngốc’”. Bảo Thoa liền hỏi: “Chim ngốc ư? ở đâu vậy? Chị cũng muốn xem xem“. Đại Ngọc trả lời: “Khi em chạy ra chỉ nghe thấy nó vỗ cánh một tiếng rồi đã bay đi“. Nàng vừa nói vừa chỉ chiếc khăn tay về phía Bảo Ngọc. Ở đây, tác giả đã miêu tả thật sâu sắc và tinh tế tâm lý của người con gái. Khi gặp những chuyện không vừa ý, Đại Ngọc thường không dùng những lời lẽ cay nghiệt để phê phán mà hay dùng những hình ảnh ngụ ý để biểu lộ tình cảm của mình. Một mặt vừa giữ được thể diện cho Bảo Ngọc, mặt khác lại có thể bày tỏ thái độ của mình. Đại Ngọc thường hay nói những câu tưởng chừng như bâng quơ, vừa tự nhiên lại không để lộ ra chỗ sơ hở của mình. Con “chim ngốc“ vừa ám chỉ Bảo Ngọc lại cũng ám chỉ cả Bảo Thoa.

    Tào Tuyết Cần hao tâm khổ tứ suốt mười năm để xây dựng nên kiệt tác “Hồng Lâu Mộng“ trong đó có Lâm Đại Ngọc với những câu chuyện thú vị về khả năng ứng đối, cách sử dụng ngôn ngữ tài tình đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

    Tiền lương và tờ giấy

    Jack được tuyển làm giám đốc phòng sản xuất, anh áp dụng một số biện pháp mới để tăng năng suất, nên vừa làm việc trong công ty được 3 tháng, sản lượng đã tăng 30%. Jack vẫn áp dụng biện pháp mới, vài tháng sau, sản lượng lại tăng 10%. ông chủ rất vui, vỗ vai Jack nói: “Cậu làm việc rất cừ! Hãy tiếp tục cố gắng làm việc tốt hơn nhé?“

    “Vâng, thưa ông“ - Jack nói, “nhưng sao ông không cho những lời này vào phong bì tiền lương của cháu?“

    “Nhất định tôi sẽ làm thế.“ - ông chủ nói. Và quả thật ông ta đã giữ đúng lời hứa ấy.

    Sang tháng sau, khi Jack nhận được phong bao tiền lương, Phát hiện bên trong có kèm theo một tờ giấy viết : “Anh làm rất tốt. Hãy tiếp tục cố gắng để thể hiện tốt hơn nữa“.

    Chính sách đà điểu

    Đại hội lần thứ 26 của Liên Hợp Quốc năm 1971 đã khôi phục lại địa vị hợp pháp của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc.

    Kiều Quan Hoa được Mao Chủ Tịch cử dẫn đầu đoàn đại biểu tham gia đại hội. Tài hùng biện của ông ta tại các diễn đàn quốc tế đã mang lại niềm vinh dự cho nhân dân Trung Quốc, khiến toàn thế giới thấy được phong cách của một nhà ngoại giao Trung Quốc. Trong chuyến bay tới dự đại hội, không biết từ đâu xuất hiện một nhóm các nhà báo nước ngoài, họ vừa chụp ảnh vừa quay phim, đồng thời liên tiếp đặt ra hàng loạt câu hỏi.

    Đối mặt với tình huống bất ngờ như vậy, Kiều Quan Hoa rất bình tĩnh, từ tốn bắt đầu câu chuyện, điều đó giúp ông ta không bị hoang mang và không cứng nhắc khi nói chuyện. Đầu tiên ông ta chủ động mở đầu bằng cách nói vui với các nhà báo phương Tây : Có phải các vị từ trên trời bay xuống không đấy? Người Trung Quốc chúng tôi có một câu nói cổ gọi là “phiêu phiêu dục tiên“, bay lơ lửng trên trời chẳng phải là tự do tự tại sao? Nói xong cả Kiều Quan Hoa và các nhà báo đều bật cười.

    Một nhà báo hỏi “Thưa ông Kiều, với tư cách là trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc tham gia đại hội lần thứ 26, ông có suy nghĩ gì về nghị quyết khôi phục lại địa vị của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc mà đại hội đã thông qua? Liệu ông có cảm thấy bất ngờ?“

    Kiều Quan Hoa : “Tôi không hề thấy bất ngờ. Hãy dùng một thành ngữ Trung Quốc để nói về điều này, đó là: “Trăng đến rằm trăng tròn“. Một tổ chức lớn như Liên Hợp Quốc thì không thiếu một nước lớn như Trung Quốc. Có nước không áp dụng chính sách ngoại giao hiện thực chủ nghĩa mà sử dụng những chính sách gần giống như loài chim đà điểu : nó chui mình vào đống cát và nghĩ rằng đó là niềm vui cho bản thân, nhưng thực chất thì sao? Con đà điểu chui sâu vào đống cát thì càng cho thấy là nó không thông minh, phần hông vẫn bị hở ra ngoài“.

    “Ông ám chỉ ai vậy .“

    “Các vị đều là những người thông minh, có cần tôi phải nói rõ không?“

    Cuộc nói chuyện diễn ra trong không khí vui vẻ hài hước và thân thiện khiến cho mọi người cảm thấy đó thực không phải là cuộc phỏng vấn hay một cuộc tranh luận. Chỉ điều đó thôi cũng đủ cho mọi người phải kính nể.

    Thể diện

    Khi chúng ta lâm vào những tình huống khó xử thì lúc đó hài hước là chất bôi trơn trong quan hệ giao tiếp, hãy đừng ngại nói vui đùa với họ. Nhà khoa học nổi tiếng Einstein là một người có tính hài hước. Một lần, có một cặp vợ chồng trẻ do ông ấy làm chủ hôn trước đấy mang con tới thăm ông. Đứa trẻ vừa nhìn thấy ông ta đã khóc oà lên khiến cho cặp vợ chồng này rất khó xử. Còn Einstein thì vui vẻ xoa đầu đứa bé nói : “Cháu là người đầu tiên trước mặt nói ra ấn tượng của cháu đối với ta“.

    Câu đối đáp khéo léo, thẳng thắn và chân thành ấy vừa không làm cho chính nhà khoa học đó bị mất mặt, lại vừa giữ thể diện cho cặp vợ chồng đó. Không những thế, nó còn làm cho không khí cuộc nói chuyện sôi nổi hơn và mối quan hệ cũng hoà hợp thân thiện hơn.

    Có con lúc cuối đời

    Dùng một từ đồng thời mang cả hai nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng, thì cái mà người ta thường nhấn mạnh vẫn là hàm nghĩa ẩn chứa bên trong - nghĩa bóng. Từ ngữ thì như thế này nhưng ý nghĩa lại khác, hàm ý rất sâu sắc khiến cho người ta phải suy ngẫm, suy xét và liên tưởng.

    Theo mục “ích lợi của nụ cười“, có một nhà nghiên cứu khi sắp 70 tuổi sinh một đứa con trai, đặt tên là “Niên Kỷ“, hàm ý là ông ta đã già rồi mà vẫn có con. Một năm sau lại sinh thêm một đứa con trai nữa, là một người được ăn học, ông đặt tên con là “Học Vấn“, hàm ý bản thân ông ta là một nhà nghiên cứu và có học vấn. Đến năm sau ông lại sinh thêm một đứa con trai thứ ba, nhà nghiên cứu tự giễu mình nói : không ngờ đến cái tuổi cổ lai hy mà vẫn có con, thật buồn cười! Do đó ông ta đặt tên con là “Tiếu Thoại“.

    Khi các con trưởng thành, nhà nghiên cứu liền sai các con lên núi đốn củi. Sau đó ông ta hỏi vợ xem ai trong số ba đứa con đốn được nhiều? Bà vợ nói : “Niên Kỷ được một bó to, Học Vấn không được chút nào, còn Tiếu Thoại thì đốn được một gánh“. Ở đây bà vợ đã lợi dụng sự đồng âm để nói đến hai ý khác nhau nhằm châm biếm về sự cổ hủ của ông chồng.
     
  13. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 33

    Đối với mỗi người, cuộc sống đầy rẫy những cám dỗ mê hoặc, đồng thời cũng tạo ra vô số những cạm bẫy, đặc biệt là trong giao tiếp ngôn ngữ giữa người với người thì những cám dỗ và cạm bẫy càng thể hiện rõ, khi kẻ mạnh dùng nó thì kẻ đó càng mạnh hơn; khi kẻ yếu dùng nó thì có thể “lấy thủ làm công“, chuyển bại thành thắng; người giỏi dùng nó thì có thể mang lại sự giàu có vô cùng; hay thậm chí một tên trộm nếu dùng đúng lúc thì vẫn có thể thoát thân một cách yên ổn, biến nguy thành an ... Nếu không tin hãy xem dưới đây :

    Võ Tòng đả hổ

    Trong “Môn ngoại văn đàm“ do Lỗ Tấn viết, có một đoạn nói hai người A và B - một mạnh một yếu đang đóng kịch “Võ Tòng đả hổ“. Đầu tiên A đóng vai Võ Tòng, B đóng vai con hổ và B bị A đánh cho một trận gần chết nên rất oán giận A. A nói : “Anh là hổ, nếu không đánh hổ thì chẳng phải là để hổ cắn sao?“. Vì vậy B liền yêu cầu đổi vai nhưng lần này lại bị A cắn cho gần chết nên lại oán trách A. A nói “Anh là Võ Tòng, nếu hổ không cắn thì chẳng phải là để anh đánh chết à?“

    Ở đây nói đến một loại người mà thường dùng tài ăn nói của mình để lấn lướt người khác, giành phần thắng về mình. A dường như đã tận dụng triệt để điều đó: Khi đóng vai Võ Tòng, anh ta nói trên góc độ “đánh hổ để không bị cắn“, còn khi đóng vai hổ anh ta nói trên góc độ “cắn để không bị đánh“. Điều này là do A lấy “cái tôi“ làm trung tâm để khéo léo chọn lấy góc độ nói chuyện, luôn đặt cái tôi ở thế thắng, đẩy B vào tình thế khó khăn.

    Trong thực tế, khi nói chuyện, người nói nên lựa chọn góc độ biểu đạt hay nhất để người nghe có thể hiểu được mạch tư duy nói chuyện và cách thức phân tích suy luận. Khi người nghe tham gia vào chủ đề câu chuyện mà bạn đưa ra, thì tự nhiên bạn sẽ đạt được hiệu quả mình mong muốn.

    Có người đã thổi phồng với Afanti về người mới đến sống ở chỗ họ: “Ông ấy là một người rất thông minh và có trí tuệ“.

    “À, điều đó thì có thể“. Afanti nói “Bởi vì anh ta rất ít khi sử dụng trí tuệ nên trong đầu ông ấy đầy trí tuệ“.

    Hai người nói về một người, kẻ khoác lác thì ca ngợi người kia về mặt trí tuệ, còn Afanti lúc đầu nói “Điều đó cũng có thể“ là biểu thị sự tán đồng, sau đó ông giải thích rõ hơn bằng một hướng đi khác nói rằng người kia không thông minh mà có trí tuệ, vì trí tuệ chỉ bộc lộ thông qua sử dụng, trí tuệ mà không được sử dụng thì không được gọi là trí tuệ. Afanti đã đẩy đối phương vào cái bẫy của mình bằng cách dùng chính câu nói của họ.

    Tôi có thể hút thuốc được không?

    Ở một giáo đường, sau khi kết thúc buổi hành lễ, hai vị tu sĩ tự nhiên cảm thấy thèm thuốc, một vị hỏi bề trên “Khi con cầu nguyện thì có thể hút thuốc không?“, kết quả là bị bề trên trách mắng. Vị kia rút kinh nghiệm từ câu chuyện trước nên hỏi “Khi con hút thuốc có thể cầu nguyện được không?“, bề trên mỉm cười gật đầu.

    Hai vị tu sĩ đều đưa ra câu hỏi trên để thoả mãn nhu cầu trong đó thông tin chính đưa ra là “hút thuốc“. Trong khi vị tu sĩ thứ nhất nhấn mạnh đến việc hút thuốc mà xem nhẹ việc cầu nguyện. Hút thuốc trong khi cầu nguyện là vi phạm quy định của giáo đường do đó bị trách tội là đáng đời. Còn ý chính trong câu nói của vị tu sĩ thứ hai được thay đổi, vấn đề được ông ta nói tới khá kín đáo trong đó nhấn mạnh tới việc cầu nguyện mà xem nhẹ chuyện hút thuốc. Cầu nguyện là công việc tất yếu mà một vị tu sĩ phải làm, do đó khi hút thuốc thì không thể quên cầu nguyện, chính vì sự thành kính đó mà được bề trên cho phép hút cũng là điều có thể hiểu được.

    Dạy cho bọn lưu manh một bài học

    Khi Trương Tác Lâm sống ở Đông Bắc, từng trải qua một chuyện :

    Một lần có hai tên lãng du người Nhật đến Trương phủ cầu kiến : “Nghe nói đại nhân tinh thông thư pháp, liệu có thể ban tặng một vài chữ được không?“. Trương Tác Lâm tuy không giỏi về văn hoá nhưng lại là một người rất thâm thuý, liền viết chữ “hổ“ rất sống động, và còn viết dưới chữ “hổ“ dòng chữ “Trương Tác Lâm thủ mặc“. Nhưng đáng tiếc là do không quen viết chữ “mặc“ nên ông ta viết thành chữ “hắc“. Khi hai tên lãng du người Nhật nhìn thấy thì rất lấy làm đắc ý, còn người thư ký của ông Trương vội chạy đến nhắc nhở : “Đại soái, đây là chữ “hắc“, chữ “mặc“ ở dưới có bộ “thổ“. Trương Tác Lâm không những nhận ra mà còn cười lớn : “Ta đường đường là Trương đại soái, chẳng lẽ lại không biết ở đây còn có bộ “thổ“ sao, nhưng ta không viết bộ “thổ“, có người sẽ nghĩ đó là chủ ý của ta mà nhớ đến đất đai của vùng Đông Bắc, một tấc đất ta cũng nhất quyết không cho! Ta đây chỉ viết chữ “thủ hắc“, tức là ai dám ngông cuồng ta nhất quyết không khách khí với kẻ đó!“. Thật tuyệt! Một lời nói mà nghe như sấm dậy bên tai. Hai kẻ lãng du người Nhật thấy mất hứng liền lặng lẽ chuồn thẳng.

    Trương đại soái thật đáng khâm phục, rõ ràng là viết sai nhưng đã hoá hung thành cát, hoá đá thành vàng, mở ra một cục diện hoàn toàn mới, khéo léo đuổi cổ hai tên lưu manh người Nhật.

    Ông già bảo thủ

    Đó là câu chuyện : Sau đại hội toàn quốc Trung Quốc lần thứ ba, ở nông thôn bắt đầu thực hiện chế độ tự chủ trong sản xuất, không ít gia đình đã giàu lên nhanh chóng nhưng có một ông lão họ Hoàng vì hai vợ chồng quanh năm ốm đau bệnh tật nên vẫn không giàu lên được. Nhìn hàng xóm láng giềng giàu có nên cảm thấy buồn bã, ông lão Hoàng bỗng có một suy nghĩ không đúng, cho rằng điều đó chính là do phong thuỷ nhà ông không tốt gây ra, nguyên nhân là: cả hai bên hàng xóm đều họ Trần, còn ông ta thì họ Hoàng, ông phải “gánh nặng“ cho hai bên đó.

    Chính vì vậy ông ta quyết định chuyển nhà, ai khuyên cũng không được. Người chị dâu cả thông minh nghe tin biết được câu chuyện liền nói với ông ta : “Ông thật ngốc, chẳng phải ông họ Hoàng sao? Mà 'Hoàng' thì có nghĩa là hoàng thượng, hai nhà hàng xóm là hai vị đại thần, ông xem có phải đúng là hai vị đại thần ở hai bên để bảo vệ hoàng thượng không? Đó chẳng phải tuyệt lắm sao! Nếu ông chuyển nhà, ở đâu mới có được vận may như vậy?“. Ông lão nghe xong, quả nhiên hiểu ra và từ đó không nhắc đến hai chữ “chuyển nhà“ nữa.

    Thật lý thú? Chỉ vì dựa vào âm đọc của các chữ mà có thể thuyết phục được ông già cố chấp thay đổi như vậy. Bạn thấy đấy! Sức mạnh của sự suy diễn chẳng phải là thông qua những cái bẫy trong tư duy ngôn ngữ mà có được đấy sao?

    Cô gái ngông cuồng

    Một lần, Puskin nhận lời tham dự một vũ hội, khi đó anh ta vẫn chưa nổi tiếng. Không ngờ khi anh ta lịch thiệp mời một cô gái trẻ đẹp nhảy, cô gái ngông cuồng đó lại ngạo mạn liếc nhìn anh ta nói . “Không được đâu. Tôi chẳng muốn nhảy với trẻ con tẹo nào“. Vậy thì làm thế nào đây? Đối phương đã ngạo mạn một cách vô lý như vậy thì nên “ăn miếng trả miếng“, Puskin cười và lập tức xin lỗi : “Thật xin lỗi cô, tôi quả thực không biết là cô đang có mang“. Xin hãy để ý, ở đây chữ “trẻ con“ trong câu nói của đối phương rõ ràng là chỉ Puskin, tuy nhiên cũng có thể hiểu “trẻ con“ là bào thai trong bụng cô gái, nếu như vậy thì cũng không thể tránh được việc người ta dùng “li miêu“ để đổi lấy “thái tử”, lấy “cái trước“ kín đáo đổi thành “cái sau”. Đương nhiên, sự thay đổi như vậy đã bảo vệ được danh dự bản thân, chuyển từ phòng thủ sang tấn công, trừng trị đích đáng cô gái ngông cuồng đó.

    Tiền bạc và chính nghĩa

    Có lúc khi nói chuyện, để đạt được một mục đích nào đó của mình, ban đầu người ta thường không bộc lộ ngay ý định, thậm chí đôi lúc chỉ trả lời những câu hỏi của đối phương, và cho đến khi đối phương rơi vào cái bẫy mà mình đặt sẵn. lúc ấy người đó mới ra tay và giáng cho đối phương một đòn chí mạng. Có một lần, nhà vua hỏi Afanti : “Nếu trước mặt nhà ngươi là chính nghĩa và tiền bạc thì ngươi chọn cái nào?“. Afanti trả lời “Thần chọn tiền bạc“. Nhà vua lại nói “Nếu là ta thì ta chọn chính nghĩa, không cần tiền bạc“. Afanti trả lời tiếp : “Thưa đúng, người nào thiếu cái gì thì cần cái đó“. Afanti đã dũng cảm mưu trí lựa chọn tiền bạc không phải vì ông ta tham tiền mà là để dẫn dụ, chi phối và điều khiển nhà vua, đầu tiên là đưa nhà vua vào bẫy, sau đó mới tế nhị bày tỏ quan điểm của mình, khiến nhà vua lâm vào tình thế dở khóc dở cười không thể nói được lời nào. Điều đó có thể coi thật là kỳ diệu.

    Định giá theo giá trị sản phẩm

    Tại một buổi giao lưu nhỏ, có một khán giả nữ hỏi Triệu Bảo Sơn : “Nghe nói trong giới danh hài toàn quốc, ông là người có cát xê cao nhất, mỗi vở hơn một vạn đồng, có đúng không?“. Những câu hỏi như vậy thường làm cho người ta cảm thấy lúng túng, khó xử. Nếu như Triệu Bản Sơn trả lời là đúng thì sẽ rất không hay, còn nếu như là đúng có chuyện đó thì anh ta cũng không thể phủ định.

    Song đối với câu hỏi khó xử như vậy, Triệu Bản Sơn không hề do dự trả lời vòng vo như sau: “Câu hỏi cô đặt ra thật bất ngờ, xin hỏi cô làm ở đâu?“

    “Tôi. ở công ty kinh doanh liêu thụ điện khí Đại Liên“. Cô ta nói.

    Triệu Bảo Sơn lại hỏi : “Vậy các cô kinh doanh mặt hàng gì?“

    “Đầu Video, Ti vi, Catssette ...“

    “Một cái đầu video bao nhiêu tiền?“

    “Bốn nghìn đồng“

    “Vậy thì có người trả cô bốn trăm đồng cô có bán không?“

    “Đương nhiên là không. Giá của một loại hàng hoá phải được tính trên giá trị của chúng“. Cô gái trả lời một cách thẳng thừng.

    “Đúng là như vậy, giá trị của một diễn viên thì do khán giả đánh giá“. Ý mà cô gái muốn hỏi là “Cát xê mà anh được trả cho một vai diễn là hơn một vạn đồng có đúng không?“. Nhưng Triệu Bảo Sơn lại chuyển hướng câu chuyện thành “Cát xê diễn xuất mà diễn viên nhận được là do cái gì quyết định“.

    Trước khi đi đến câu trả lời cuối cùng, anh ta tạm gác lại vấn đề nói tới, những vấn đề dường như chẳng có gì liên quan, và sau một loạt những dẫn dắt loại suy đối với câu chuyện phiếm đó, Triệu Bảo Sơn mới đi đến kết luận cuối cùng chủ đề mà anh ta đã lái sang.

    Làm như vậy thì vừa có thể trả lời thẳng vào vấn đề, lại không để lại ấn tượng hỏi một đằng trả lời một nẻo, “ông nói gà bà nói vịt“ khiến cho không khí của cuộc nói chuyện trở nên nhẹ nhàng thân mật.

    Vấn đề mới

    Công ty Hoa Luân và một vài nhà cung cấp hàng trong khu vực có mối quan hệ công việc, một lần khi đàm phán với một trong những nhà cung cấp, vấn đề giá cả phải thương lượng khá lâu mà vẫn chưa có kết quả, vì vậy lần này công ty Hoa Luân bất ngờ đưa ra một vấn đề mới. “Nghe nói phía các vị thu mua xi măng bán lẻ của một số nhà máy lân cận với giá xuất xưởng, sau đó đem về đóng gói lại rồi đem bán cho chúng tôi, xin hỏi việc đó có không?“

    “Làm sao có chuyện đó được?“

    “Lần trước cũng có công ty X nói như vậy, vì thế chúng tôi cần được chứng thực“

    “Không thể có điều đó đâu! Những gì nhà máy làm chúng tôi phải biết chứ?“

    “Chúng tôi cũng không tin là phía các vị làm như vậy nhưng ...“

    Cuộc đàm phán vẫn tiếp tục xung quanh vấn đề này, một bên thì tỏ ra bán tin bán nghi, một bên thì thề thốt “điều đó quyết không thể có“, đến khi phía người mua nói “đã muộn rồi, chúng ta hãy nghỉ ngơi một chút, ngày mai lại tiếp tục được không?“. Và mục đích của họ đã đạt được lần sau lại đàm phán tiếp, thì trong lòng người bán vô hình trung lại dấy lên sự lo lắng vì biết khách hàng đã giảm lòng tin đối với mình.

    Nếu nhân loại không tồn tại

    Năm 1994, “Cuộc thi hùng biện Hán ngữ quốc tế lần thứ hai được tổ chức với chủ đề : Bệnh Aids là một vấn đề ý học hay một vấn đề xã hội. Trong cuộc thi, bên chính biện hỏi : “Xin hỏi, nếu như bây giờ chúng ta phát minh ra một loại vắcxin phòng bệnh Aids thì sẽ nảy sinh những vấn đề xã hội gì? Xin các bạn hãy nói rõ“.

    Bên phản biện : “Nếu điều “nếu như“ trở thành sự thật thì có thể cho toàn bộ Paris vào một cái bình, các vị chưa nói như vậy. Nếu như nhân loại không tồn tại thì lúc đó bệnh Aids có còn không?“ (Có tiếng cười và tiếng vỗ tay)

    Bình thường mà nói, trong biện luận không dùng giả thuyết mà những điều cần thiết là lý do đưa ra có thể thuyết phục được người nghe hay không. Bên phản biện đã vận dụng những suy luận Logic để tận dụng cái sai của bên chính biện và đẩy nó đến cực đoan, khi ấy thì hiệu quả của nó không nói cũng rõ.

    Điều đó cho thấy, trong cuộc tranh luận mà hai bên hoàn toàn đối lập thì chúng ta không nên xem thường những sai sót trong lời nói của đối phương. Khi đó, quan điểm và lập trường của anh ta mỗi lúc có những thay đổi rất lớn chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.

    Những thay đổi như vậy sẽ nhanh chóng qua đi và tất yếu sẽ lập tức làm rõ vấn đề. Nó thường trở thành bước ngoặt quan trọng đối với sự thành bại của hai bên trong cuộc tranh luận.

    Anh chàng bất trị

    “Vờ tha để bắt chặt“ là cách thức khuyên bảo một người mà trước tiên ta đón ý lựa lời rồi mới chỉ bảo , ban đầu là nói xấu những điều không hay rồi sau đó mới nói tốt, vòng vo tam quốc rồi cuối cùng mới đi vào vấn đề chính. Cách nói này vừa tế nhị, vừa tự nhiên mà lại đạt được kết quả tốt hơn mong đợi.

    Ông chủ tìm gặp một anh chàng bất trị trong công ty của mình để nói chuyện. Ban đầu ông ta thăm hỏi rất lịch sự “Chào anh Tiểu Lý“. Khi ông chủ muốn anh ta lý giải tại sao thu nhập hàng lại thiếu thì Tiểu Lý đáp với giọng bất cần rõ rệt: “Vì tôi là kẻ khốn nạn nổi tiếng trong công ty mà!“

    Ông chủ lúc đó không những không chỉ trích anh ta mà ngược lại còn lý giải: “Anh không ăn cắp, không ăn cướp, không làm việc xấu xa, vậy thì sao anh lại khốn nạn cơ chứ!“

    “Có người nói là tôi “hết thuốc chữa rồi!“

    “Nói như vậy là sai, anh không phải là người xấu. Nói anh “hết thuốc chữa“ không những là phủ định anh mà còn phủ định cả người dạy dỗ chính mình“.

    Câu nói đó đã bắt trúng vào tâm lý của Tiểu Lý khiến anh ta cười vui “Ha ha, vậy là tôi và ông chủ có cùng quan điểm rồi“.

    “Tôi nghe nói anh đã từng cứu người?“ ông chủ tiếp luôn.

    Đây lại là một “đòn tấn công“ mà ông ta đã dày công suy nghĩ sắp đặt từ trước.

    “Chuyện đó qua rồi, hảo hán thì không nhắc lại làm gì, Anh ta nói cho qua chuyện.

    “Trước kia anh có chí khí, đã từng là một trang hảo hán, vậy bay giờ thì sao? Anh chửi người, đánh nhau, đe doạ người khác, là “anh hùng“ thì sao lại làm những việc ngu xuẩn như vậy?“ .

    Và thế là sau một hồi vòng vo tam quốc, ông chủ mới bắt đầu khéo léo nói đến vấn đề,của Tiểu Lý, ôn tồn nhẹ nhàng, đánh trúng vào tâm lý anh ta. “Thế nào là chân-thiện-mỹ, thế nào là đểu giả độc ác, xấu xa? Anh không thể xấu xa. Khổng Phu Tử ba mươi tuổi mới thành danh, anh năm nay cũng vừa tròn ba mươi, giống như bông hoa nở muộn, đã đến lúc bắt đầu rồi đấy“.

    Một hồi khuyên bảo thẳng thắn, chân tình khiến Tiểu Lý tâm phục khẩu phục, cuối cùng xúc động đứng dậy nắm tay ông chủ nói : “Thật chí tình?“

    Cái anh chàng Tiểu Trâu này khá thật

    Ông chủ của công ty giao cho Tiểu Vương và Tiểu Trâu tiến hành công việc triển khai một loại sản phẩm mới. Sau vài ngày, Tiểu Vương quay lại tìm ông chủ và trình bày đủ loại lý do để thoái thác công việc. Ông chủ không tỏ rõ ý kiến gì, chỉ nói : “Cái anh chàng Tiểu Trâu này khá thật, mới làm việc chưa được vài năm mà đã có nhiều tiến bộ, đặc biệt là rất nhẫn nại, chịu khó, dám đi sâu nghiên cứu, quả là rất có triển vọng“.

    Ông ta chưa nói hết, Tiểu Vương đã không thể ngồi yên, đứng dậy nói : “Ông chủ, để tôi làm thử lại xem sao “.

    Chỉ vài ngày sau, Tiểu Vương đã đem đến một bản kế hoạch mới. Rõ ràng đây là kết quả của việc ngầm khích bác Tiểu Vương mà ông chủ đã làm.

    Khích bác ngầm là sự chủ ý khen một người thứ ba trước mặt đối phương, kín đáo hạ thấp anh ta khiến cho anh ta bị kích động và quyết tâm vượt qua kẻ thứ ba đó. Cách này không phải là sự khích bác thẳng thừng mà dùng cách nói “ý tại ngôn ngoại“. “Giương đông kích tây“ là một cách nói khôn khéo để chuyển tải thông tin cần khích bác.

    Trên thực tế, mỗi người đều muốn được người khác tôn trọng mình, tuy nhiên khi có một người khen một người thứ ba trước mặt mình thì tự nhiên trong anh ta cảm thấy bị kích động và nảy sinh tâm lý muốn so tài cao thấp với kẻ đó và ví dụ trên là một điển hình minh hoạ cho điều đó.

    Tên trộm cầm nhầm áo

    Ở một cửa hàng quần áo, một tên trộm đã ăn cắp một chiếc áo khoác rồi thản nhiên khoác áo trên tay đi ra cửa. Sau đó có người phát hiện ra và bắt được tên trộm này. Hắn quay lại và nói với người đó : “Ô xin lỗi, tôi cầm nhầm“.

    Nếu như người này chỉ hồ đồ một chút và chỉ cần tên trộm đem chiếc áo trả lại lên giá thì sự việc coi như không còn có chuyện gì để nói. Nhưng điều cần chú ý ở đây là “từ câu nói của tên trộm “tôi cầm nhầm“, ta rút ra một giả thuyết là “tôi đã có một chiếc áo gần giống như thế này“, người ta sẽ dễ dàng có cách đối phó, chẳng hạn như hỏi lại luôn : “Vậy xin hỏi chiếc áo của anh đâu?“

    Thông thường tên trộm sẽ không thể kiếm đâu ra chiếc áo hoặc chí ít cũng không thể đưa ra một chiếc áo giống với chiếc áo bị lấy trộm. Khi đó đích xác hắn là kẻ trộm, chứng cứ đã rõ ràng.

    Cơm và sạn

    Có một vị khách ăn cơm tại một quán ăn, do trong cơm có rất nhiều sạn nên ông ta phải nhổ sạn lên bàn, chủ quán thấy vậy vừa cảm thấy áy náy vừa cảm thấy không thể làm ngơ liền hỏi : “Toàn là sạn sao?“

    Vị khách cười nói : “Không, cũng có cơm đấy chứ”. Ở đây, cái mà chủ quán và vị khách nói đến đều là về một đối tượng đó là bát cơm có nhiều sạn. Từ bát cơm có sạn đó, người ta có thể nói đến từ góc độ “cơm“ hoặc cũng có thể từ góc độ “sạn“. Và khi nói đến nó, chủ quán đã chọn hạt sạn làm đối tượng đề cập trong câu nói của mình, còn vị khách lại chọn hạt cơm để làm đối tượng nói đến bằng cách dùng chữ “không“ ở đầu câu để diễn đạt ý ngược lại.

    Như vậy, việc chọn góc độ đề cập ngược lại hoàn toàn này vừa làm cho câu nói rất thâm thuý, vừa mang tính di dỏm cao.

    Ngụy Sửu Phu tuẫn táng

    Thời Chiến Quốc, Tuyên Thái hậu nước Tần ở goá trong cung, rất sủng ái Ngụy Sửu Phu. Trước khi lâm bệnh nặng sắp qua đời, bà ta ra lệnh : “Khi nào ta chết rồi, phải chôn Ngụy Sửu Phu theo!“

    Ngụy Sửu Phu rất lo sợ liền mời quan đại thần Dung Nhuế vào cầu xin Thái hậu tha cho ông ta.

    Khi Dung Nhuế can ngăn Tuyên Thái hậu, ông nói : “Người chết thì còn có cảm giác không?“

    Tuyên Thái hậu nói : “Người chết thì làm gì có cảm giác“.

    “Vậy một người anh minh sáng suốt như Thái hậu, rõ ràng biết là người chết thì không còn cảm giác, thì tại sao Thái hậu lại khăng khăng đòi một người còn sống mà Thái hậu sủng ái phải bị tuẫn táng theo một người chết không còn biết gì? Hay nói nhẹ đi là nếu người chết có cảm giác đi nữa thì tại sao tiên vương không có người tuẫn táng theo, ắt hẳn ông ấy đã oán hận từ lâu lắm rồi. Khi Thái hậu xuống dưới đó có tạ tội với ông ấy cũng không kịp nữa. Vậy thì làm gì còn thời gian rỗi để sủng ái Nguỵ Sửu Phu nữa?“.

    Tuyên Thái hậu nghe xong nói “Ngươi nói có lý, vậy thì bỏ chuyện đó đi“.

    Lúc ấy, ý nghĩ buộc Nguỵ Sửu Phu phải tuẫn táng theo qua đi. Sự khôn khéo trong lời nói của Dung Nhuế thể hiện ở hai điểm : Một là sự đối đáp rất tế nhị, không đi thẳng vào vấn đề mà mở đầu bằng những vấn đề xa xôi, đặt ra những câu hỏi có tính gợi mở. Hai là để tiếp cận vấn đề cần nói, ông xuất phát từ vấn đề con người ở hai khía cạnh là có cảm giác và không có cảm giác : Người chết rồi thì không còn cảm giác, buộc người sống phải bị chôn theo là một điều vô nghĩa, không cần thiết. Nếu như người chết có cảm giác thì liệu Tiên vương có tha thứ cho những việc làm của Thái hậu không? Sinh thời Thái hậu đã có lỗi với tiên vương, chết đi lại đem theo người của ông ấy, há chẳng phải giống như đổ thêm dầu vào lửa sao, chả phải tự mình chuốc thêm phiền phức sao?

    Vậy thì ở cả hai phương diện, Thái hậu đều không thể biện minh được, do đó buộc phải từ bỏ ý định vô lý kia.

    Hãy cởi bỏ những trang phục không muốn mặc

    Để tôn trọng tập tục tôn giáo, nữ phóng viên nổi tiếng của Italia, Farach, khi phỏng vấn Homeni đã mặc trang phục của phụ nữ đạo Hồi, khoác choàng dài trông rất kín đáo nghiêm mật. Thực sự, cô không hài lòng với cách cưỡng ép lấy danh nghĩa tôn giáo này, nhưng cô vẫn mặc nó để có thể phỏng vấn thuận lợi. Và khi nói chuyện với Homeni về vấn đề quyền của phụ nữ, cô đã đưa ra vấn đề trang phục.

    Farach: Ví dụ, một mặt họ yêu cầu tôi mặc áo choàng dài đến gặp ông, một mặt ông muốn duy trì, gìn giữ chiếc áo mà tất cả phụ nữ đều mặc. Hãy nói xem, tại sao ông lại bó buộc họ trong bộ trang phục vừa không thoải mái vừa có phần quái đản đó, làm cho người ta làm việc, cử động đều bất tiện. Và ở đây, phụ nữ cũng thể hiện rõ sự bình đẳng với nam giới. Họ cũng chiến đấu, chịu tù tội, cực hình, góp bao nhiêu sức lực cho cuộc cách mạng.

    Homeni: Những người phụ nữ đóng góp cho cuộc cách mạng đã là quá khứ rồi. Bây giờ là những người phụ nữ mặc áo choàng Hồi giáo chứ không phải những người ăn mặc gọn nhẹ, cầu kỳ như chị. Đi lại khắp nơi mà không kín đáo thì sẽ kéo theo sau lũ đàn ông.

    Farach: Giáo trưởng, đây không phải là sự thật. Cho dù thế nào, tôi không chỉ nói về mỗi chuyện trang phục mà còn nói tới những gì mà bộ trang phục đó đại diện cho. Đó chính là thực trạng phụ nữ bị cách li. Sau cách mạng, phụ nữ cũng rơi vào tình trạng bị cách li cô lập. Ý tôi muốn nói đến sự thực này. Ví dụ như phụ nữ không được học chung trường với nam giới, không được ra bãi biển hoặc bơi cùng nam giới, họ phải bơi ở một nơi khác, phải mặc áo choàng. Tiện đây, tôi xin hỏi, họ mặc áo choàng thì bơi như thế nào?

    Homeni: Cô không nên đề cập đến điều này. Cô có muốn thay đổi phong tục của chúng tôi cũng không được. Nếu không thích trang phục của đạo Hồi, cô không nhất thiết phải mặc nó.

    Farach: Giáo trưởng, tôi thừa nhận ý tốt của ông. Ông đã nói như vậy thì bây giờ tôi có thể bỏ cái đồ rách nát giữa thế kỉ này. Tốt rồi, cởi nó ra thôi ...

    Thật khiến người ta bất ngờ và thán phục. Farach từ lúc không muốn mặc, mặc đến khi cởi bỏ trang phục mỗi lúc đều thể hiện sự mưu trí và năng lực vận dụng ngôn ngữ đạt tới trình độ cao của cô.

    Trương sinh và Thôi Điểu Điểu

    Trong vở kịch nổi tiếng của Trung Quốc có tên là: “Tây Sương Ký“, Trương Sinh và Thôi Điểu Điểu có thể nên vợ nên chồng, mọi người đều biết đó là nhờ vào tài ăn nói, ứng xử linh hoạt của Hồng Nương. Nhân vật Hồng Nương để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng khán giả trong đoạn trích “Thẩm vấn Hồng Nương“.

    Lão phu nhân vừa nhìn thấy Hồng Nương liền phủ đầu ngay: “Mày biết tội chưa?“. Hồng Nương khi được gọi đến đã liệu tính trước dù có thế nào cũng giả bộ không biết tội gì. Nhưng khi thăm dò sắc mặt lão phu nhân thì đoán rằng lão phu nhân đã biết ít nhiều sự việc. Vì vậy, khi nghe phu nhân hỏi: “Ai cho mày với tiểu thư ra vườn?“, biết rằng không thể giấu được nữa, Hồng Nương liền thay đổi sách lược, thật thà kể lại rõ ràng sự việc từ đầu đến cuối.

    Hồng Nương chậm rãi kể: “Đêm đó khi đang thêu thùa cùng tiểu thư, nghe tin Trương Sinh ốm, chúng con vội trốn đi thăm anh ta.“

    Lão phu nhân liền hỏi: “Nó đã nói những gì?“

    Hồng Nương đáp: Anh ta oán trách phu nhân lấy oán báo ân khiến anh ta từ vui thành sầu mà sinh bệnh. Anh ta bảo con về trước, tiểu thư sẽ về sau.

    Lão phu nhân lo lắng : “Nó là con nhà gia giáo, bảo nó về sau sao được?“

    Hồng Nương nói : Con chỉ nghe đó là cách tốt để chữa bệnh cho anh ta, nào ngờ họ đã thành thân, ở cùng nhau hơn một tháng rồi. Phu nhân không nên quá lo lắng. Họ rất vui vẻ, tâm đầu ý hợp. Phu nhân thấy họ là an tâm ngay. Tục ngữ nói thật chẳng sai: Con gái lớn không nên giữ lâu.

    Hồng Nương trong câu nói của mình đã hàm chứa những dụng ý khéo léo. Ban đầu, cô kể lại quá trình đôi uyên ương cảm mến nhau. Tiếp đó Hồng Nương nói: Kết quả hôm nay hoàn toàn do lỗi của phu nhân. Hôm đó phu nhân đã tuyên bố chính thức: Ai đánh đuổi được cướp thì gả tiểu thư cho. Bây giờ đã đuổi được cướp, nhà yên rồi, phu nhân lại không muốn gả tiểu thư cho Trương Sinh. Phu nhân không tán thành cho họ lại không đuổi Trương Sinh đi lại còn giữ anh ta ở lại trong thư viện, để cho họ trai chưa vợ gái chưa chồng gặp nhau nên mới đến cơ sự này.

    Lúc này lão phu nhân đuối lí, không nói được gì nữa, Hồng Nương thừa cơ chuyển chủ đề: “Cho nên, nếu phu nhân không dàn xếp cho êm xuôi thì sẽ làm nhục gia phong tướng quốc, mang tiếng thất tín với Trương Sinh. Lại còn nếu kiện lên quan phủ phu nhân sẽ bị tội trị gia không nghiêm ...“

    Mục đích của Hồng Nương là tán thành hôn sự cho Trương Sinh và Thôi Điểu Điểu, vì vậy trách lão phu nhân chỉ là thủ đoạn để đạt được mục đích này. Giờ đây, lão phu nhân phải lo lắng xem sẽ giải quyết vấn đề với Trương Sinh và Thôi Điểu Điểu ra sao.

    Hồng Nương đã ra đòn quyết định khi nhắc tới việc kiện ra quan phủ. Đó chính là điểm yếu của lão phu nhân. Mọi người mà biết tiếng xấu này của tướng phủ thì uy danh bấy nay bỗng chốc tiêu tan sao? Lão phu nhân đành phải chấp nhận điều mà không muốn cũng phải làm: “Theo ngu ý của Hồng Nương, bỏ qua lỗi lầm của họ, tán thành hôn sự cho Trương Sinh và Thôi Điểu Điểu, như thế vừa tránh được tiếng xấu cho tướng phủ. Thật là vẹn cả đôi đường. Tiểu thư là do phu nhân đứt ruột sinh ra, phu nhân nỡ đẩy tiểu thư vào đường cùng sao?“

    Rốt cuộc, lão phu nhân đành phải chấp nhận hôn sự của Trương Sinh và Thôi Điểu Điểu.

    Hồng Nương đã thành công nhờ tài ăn nói hoạt bát của mình.

    Bộ mặt của diễn viên hề

    Trong cuộc sống nhiều khi ta có thể tìm thấy sơ hở, lời nói hớ của đối phương trong cách tư duy và ngôn ngữ của họ để dùng chính điều đó dồn họ vào thế bí, há miệng mắc quai.

    Durov - một diễn viên hề nổi tiếng nước Nga, trong một lần nghỉ giữa buổi diễn, có một khán giả đi đến hỏi một cách chế diễu: “Anh hề, khán giả rất thích anh có phải không?“

    Durov đáp: “Cũng tàm tạm.“

    “Để được khán giả ưa chuộng, phải chăng anh hề phải có bộ mặt đần độn xấu xí? “

    “Rất đúng.“ Durov đáp: “Giá mà tôi có được bộ mặt như anh, tôi sẽ được gấp đôi lương.“

    Câu trả đũa của Durov làm đối phương không thể đắc ý được.

    Người dân nước Tấn bất hoà?

    Tương truyền, thời Xuân Thu, Tấn Huệ Công Di Ngô nhờ Mục Công nước Tần giúp đỡ mới được lên ngôi vua. Trước đó ông đã hứa ngay sau khi làm vua sẽ tặng cho nước Tần 5 thành ở vùng Hà Đông. Nhưng sau đó lại thấy tiếc, không thực hiện lời hứa của mình. Nước Tấn bị nạn đói phải vay nước Tần lương thực. Tần Mục Công khẳng khái giúp đỡ. Nhưng khi nước Tần bị nạn đói, nước Tấn một hạt thóc cũng không giúp đỡ. Hai việc đó khiến Tần Mục Công rất tức giận. Đợi nước Tần qua nạn đói, lập tức phát binh tấn công nước Tấn. Kết quả, nước Tần đại thắng, bắt được Tấn Huệ Công. Huệ Công bèn lệnh cho Lữ Nam tới Tần giảng hoà, giải cứu.

    Lữ Nam phụng mệnh tới Tần. Mục Công gặp ông ta ở Nam Thành hỏi: “Người nước Tấn có hoà thuận không?“

    Lữ Nam đáp : “Không hoà thuận.“

    Đáng lẽ phải nói hoà thuận mới đúng. Vì như vậy vừa che giấu được yếu điểm của mình lại vừa giữ được sự tôn nghiêm của quốc gia. Nhưng Lữ Nam lại làm như vậy khiến Mục Công vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Thế là, Mục Công bèn hỏi: “Vì sao bất hoà?“ - ông ta định qua câu hỏi này xem nhà ngoại giao này đánh giá thế nào về yếu điểm của nước mình.

    Lữ Nam thưa: “Bọn tiểu nhân nhân lúc quốc vương bị bắt đi, tranh nhau làm thái tử, làm vua. Còn những bậc quân tử, trung thành với Tần vương thấy được sai lầm của mình, chẳng quản thu thuế luyện binh đợi mệnh lệnh của Tần vương. Họ nói rằng nhất định sẽ báo đáp ân đức của Tần vương, thậm chí phải chết cũng không ăn ở hai lòng. Vì vậy người nước Tấn mới bất hoà.“

    Tần Mục Công cũng không phải là người tầm thường, đương nhiên ông hiểu rõ hàm ý trong câu nói của Lữ Nam. Bạn thấy đấy, người nước Tấn tuy thái độ đối với nước Tần không giống nhau nhưng họ đều “chẳng quản thu thuế luyện binh“, đồng lòng bảo vệ nước nhà. Đây chẳng phải trong ngoài như một sao? Chẳng hề bất hoà chút nào. Điều mà Lữ Nam nói là giả, hoà thuận mới thật.

    Vậy chiêu bài thực sự của Lữ Nam là gì? Lữ Nam đã ngầm báo cho Tần vương thấy hai con dao qua câu trả lời “Bất hoà“. Một là “con dao cứng“:mượn lời của kẻ tiểu nhân để nói lên rằng người nước Tấn không sợ cường bạo, thề chết để báo thù cho nước, chống đối Tần vương, bắt chẹt Tần vương sớm thả Tấn Huệ Công. Con dao cứng này rất mạnh, dùng không cẩn thận sẽ gây hậu quả xấu. Vì vậy Lữ Nam đồng thời dùng một “con dao mềm“, mượn lời lẽ thuận tai của các bậc quân tử, bày tỏ niềm hi vọng của người nước Tấn rằng Tần Mục Công sẽ thả Tấn Huệ Công. Dưới sự cưỡng bách dẫn dụ của hai con dao, Lữ Công đã làm mất uy phong của Tần Mục Công, tỏ rõ chí khí của mình. Ông vừa cứng rắn, vừa mềm mỏng, nói rõ lợi hại, chỉ cho Tần vương một cách tốt nhất là ngay lập tức thả Tấn vương. Tần vương nghe xong câu nhắc lợi hại, nói: “Đây chính là ý của ta“. Rồi ngay lập tức thả Tấn Huệ Công, 'còn' có cả hậu lễ.

    Thế là Lữ Nam đã giành thắng lợi.

    Vấn đề vô lễ

    Trên chương trình truyền hình hữu tuyến của Nhật Bản, một trăm chính trị gia được mời tới. Người dẫn chương trình lần lượt hỏi họ các câu hỏi. Ban đầu họ đều lặng thinh hoặc trả lời dè dặt. Nhưng đến khi người dẫn chương trình hỏi họ một số câu hỏi thiếu lễ độ, họ đều phẫn nộ nói: “Các anh đùa cợt kiểu gì vậy? Sao lại hỏi tôi những điều như thế?“

    Có người nói xong liền đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi. Camera ở phía sau họ không bỏ lỡ cơ hội, không bỏ qua một cảnh thú vị nào.

    Nhiều người tưởng lầm đây là chủ ý của người dẫn chương trình, thực ra là sự sắp xét của đơn vị sản xuất chương trình. Phải làm cho các chính trị gia không giữ nổi bình tĩnh thì họ mới bộc lộ con người thật của mình. Bởi vì trong các cuộc họp quốc hội hay họp báo họ đều trả lời một cách có lí trí, bài bản với phong độ đĩnh đạc đường hoàng của đấng quân tử. Người dẫn chương trình lần này đã làm thay đổi lập trường, thái độ cứng nhắc đó, dụ họ phải tức giận.

    Quả nhiên, không ngoài dự đoán của những người làm chương trình, các chính trị gia này đã tức giận ra mặt, lộ rõ tính cách họ vốn che giấu.

    Hẹn làm việc với những người nổi tiếng

    Một biên tập viên của một toà báo nọ nổi tiếng vì luôn mời được những người nổi tiếng và bận rộn để viết bài cho tạp chí của họ. Anh ta không có bí quyết gì đặc biệt.

    Nhưng đối với những lời từ chối của đối phương như: “Tôi hiện nay rất bận, sợ rằng không giúp gì được...“. Họ đã có một câu ứng dối rất hiệu quả: “Đương nhiên tôi biết ngài rất bận. Nhưng chính vì ngài bận, tôi mới mời ngài viết cho báo chúng tôi. Đối với những người vô công rồi nghề, tôi không nghĩ họ có thể viết được những tác phẩm hay.“

    Theo như anh ta nói, cách này không bao giờ thất bại, lần nào cũng đạt được mục đích như mong muốn.

    Anh lại đánh vợ à?

    Trương Tam gặp Lý Tứ liền hỏi: “Anh có lại đánh vợ nữa không đấy?“

    Lý Tứ đáp : “Không đâu?“

    Ở đây Lý Tứ đã rơi vào bẫy của Trương Tam, trong lời nói của Trương Tam đã ngầm nói rằng: Lý Tứ trước đây đã đánh vợ. Khi trả lời “Không“, tuy anh phủ định việc “bây giờ lại đánh vợ” nhưng thực tế đã vô tình thừa nhận mình từng đánh vợ. Nếu hai vợ chồng Lý Tứ từ trước tới nay yêu thương nhau, không lời qua tiếng lại thì Lý Tứ oan uổng vô cùng, tự mình chuốc lấy những oan ức không đâu.

    Những câu nói thế này được dùng trong giao tiếp, ngôn ngữ học gọi nó là “đã định sẵn“.

    Báo viết, có một quán ăn Âu, kinh doanh trứng gà làm đồ ăn sáng không có hiệu quả lắm. Về sau, ông chủ quán phát hiện ra vấn đề là ở chỗ người phục vụ. Nhân viên phục vụ khách hàng của quán này thường có thói quen hỏi khách: “Có ăn trứng gà hay không?“. Phải có đến gần một nửa khách nói là không. Người chủ quán thông minh này đã yêu cầu nhân viên phục vụ của mình thay đổi cách hỏi, như: “Ông ăn trứng gà chứ ạ?“ bằng “Quý khách cần dùng mấy quả ạ?“ Chính điều này đã đem lại cho ông ta một món lời khổng lồ. Rõ ràng, đó là tác dụng của ngôn ngữ đã định sẵn. “Có ăn trứng gà hay không?“ thì có thể là có, có thể là không, nhưng nếu hỏi: “Quý khách cần mấy quả trứng gà?“ thì lại nhất định cần trứng gà và cho người ta cảm giác cần phải ăn trứng gà. Thông thường, những người khách cần ít nhất một quả.

    Bạn thấy đấy, một tiểu xảo ngôn ngữ nho nhỏ không phải đã mang lại một món lời khổng lồ sao?
     
  14. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 34

    Dù trong giao tiếp hàng ngày hay những cuộc nói chuyện nghiêm túc có tính chất công việc, các cuộc hội đàm trang trọng, mọi người rất khó tránh khỏi xảy ra những lần khẩu chiến. Trong trường hợp này, nếu bạn khéo léo sử dụng nghĩa khác nhau của ngôn ngữ, dẫn dắt cuộc nói chuyện với đối phương vào mạch tư duy của mình, dùng luận cứ của đối phương để chứng minh quan điểm của mình, thì rất có lợi. Ngôn ngữ trau chuốt chính là ở chỗ lên bổng xuống trầm. Trong khi nói chuyện với người khác, ngừng ngắt đúng lúc không chỉ làm khả năng biểu đạt ngôn ngữ của bạn thêm phong phú đa dạng mà còn tạo cho người nghe một không gian tư duy kịp thời, làm cho những lời đó và nội dung cần biểu đạt sau có sự cộng hưởng mạnh, hiệu quả đạt được tốt hơn.

    Tôi làm sao có thể là kẻ hai mặt đây?

    Còn nhớ năm đó, trong cuộc tổng tuyển cử, khi tổng thống Lincoln đã bị đối thủ chỉ trích là kẻ hai mặt, ông đã nói hóm hỉnh rằng: “Tôi làm sao có thể là kẻ hai mặt được? Nếu vậy thì tôi sẽ không thể nào xuất hiện trước công chúng được (Lincoln sinh ra vốn đã không được bảnh trai lắm). Ở đây, Lincoln đã sử dụng thủ phép “lấy xà thay cột“ để trả lời câu hỏi của đối phương, ông đã chuyển “kẻ hai mặt“ thành diện mạo của mình và tự mình chữa ngượng một cách khéo léo, làm người nghe cảm thấy thoải mái và thư giãn như có một cơn gió mát thoảng qua vậy. Lincoln tránh không đáp lại câu hỏi này, thử nghĩ xem, e rằng lịch sử nước Mỹ sẽ phải viết lại.

    Trung Quốc có vấn đề mại dâm không?

    Hiện nay trong các cuộc thi hùng biện, các thí sinh tham gia phải chịu tư tưởng “thắng bại“ quá nhiều nên sợ khi trả lời đối phương rơi vào thế bị động và hiểu sai nghĩa. Thầy giáo của họ đã nói thẳng rằng “tránh những câu hỏi của đối phương“. Chính vì những lý do này nên bạn chỉ cần lưu ý một chút sẽ thấy khi hùng biện, các thí sinh thường tránh trả lời đúng câu hỏi. Trên thực tế, hùng biện xuất sắc có nghĩa là phải ứng đối thông minh, hóm hỉnh - đây là điều các thí sinh cần rèn luyện.

    Thời kì đầu của công cuộc xây dựng đất nước, tại một cuộc gặp gỡ với các nhà báo, sự tranh luận giữa Chu ân Lai và các nhà báo phương Tây đã để lại ấn tượng sâu sắc và đáng nhớ cho đến ngày nay. Các nhà báo này cố ý hỏi khó Chu ân Lai.

    Nhà báo hỏi: Các nước đều gọi là “công lộ“ vì sao nước ông lại gọi là “Mã lộ“ ( “công lộ“ và “mã lộ“ đều là danh từ chỉ con đường cái )?

    Chu ân Lai đáp: “Chúng tôi đi theo con đường chủ nghĩa Mác nên gọi như thế (Trong tiếng Hán, tên của Mác có âm đầu đọc là “Mã“).

    Nhà báo hỏi : “Trung Quốc có chuyện “mại dâm“ không?“

    Chủ tịch Chu đáp: “ Có ...“

    Trong lúc mọi người đang hết sức ngạc nhiên thì ông nói tiếp: “Đó chính là ở tỉnh Đài Loan nước tôi.“

    Trên đây, Chủ tịch Chu ân Lai đã triệt để vận dụng tính nhiều nghĩa và ngừng ngắt một cách linh hoạt, đúng lúc để sáng suốt trả lời hết sức hóm hỉnh các câu hỏi của nhà báo phương Tây, khiến họ chẳng biết nói sao chỉ nhìn ông kính nể.

    Trí tuệ của người được tỏ tình.

    Một anh chàng sinh viên đem lòng yêu một người bạn gái. Anh đã từng nói với cô ấy như thế này: “Khi anh xa em, em là mặt trời sưởi ấm tâm hồn anh, là mặt trăng soi đường cho anh, là sao bắc đẩu chỉ lối cho anh và là sao mai mỗi sáng đánh thức anh.“

    Cô nữ sinh rất thông minh, mặc dù đã hiểu những lời tỏ tình nồng nhiệt của chàng trai nhưng bản thân chẳng thích anh ta chút nào, vậy phải làm sao đây? Nếu đột nhiên nói “Tôi không thích anh“ thì sẽ làm đối phương rơi vào tình trạng bối rối khó xử, còn nếu không tỏ rõ ý kiến thì chẳng phải là vô trách nhiệm với anh ta hay sao? Vậy thì cô nữ sinh sẽ nói thế nào đây?

    Cô ấy chỉ có một câu: “Thật tuyệt! Anh thật am hiểu thiên văn học. Nhưng em xin lỗi, em chẳng thích thiên văn học của anh chút nào cả.“

    Tuyệt! Rõ ràng là khi bị đối phương tỏ tình, cô gái đã khéo léo lái những lời nói của anh chàng hiểu thành thiên văn học. Nhưng cũng khó trách, lời nói của đối phương là thiên thể vũ trụ đơn thuần một màu một vẻ vừa là mặt trời vừa là mặt trăng, vừa là Vị bắc đẩu lại vừa là sao mai, không phải là thiên văn học thì là cái gì?

    Hoàng đế và Nhân Chủ

    Có một người tên “Nhân Vương“, hoàng thượng nghe rất không vui, trong lòng nghĩ: Mình mới là vua chứ.

    Thế là sai người đặt cho anh ta một cái tên khác là “Nhân Ngọc“. Nhưng người này lại không thích cái tên đó nên cố tình nói một cách trịnh trọng: “Dấu chấm trong chữ Ngọc là thứ Hoàng Thượng ban cho, đặt nó ở phía dưới là không lễ phép, phải đặt nó ở phía trên “. Nói rồi anh ta viết dấu chấm lên phía trên, biến chữ Ngọc thành chữ Chủ. Tin đến tai Hoàng Thượng,

    Hoàng Thượng đành gọi anh ta là Nhân Chủ.

    Suy nghĩ kỹ một chút thì sẽ thấy có chút hài trong đó Chữ Ngọc nếu biến đổi một chút sẽ nói lên được một đạo lý mà đến Hoàng Thượng cũng phải chịu, hơn nữa lại tạo nên một cái tên cực kì có ý nghĩa.

    Không ăn cơm cũng không thể chết

    Trương Tam và Lý Tứ hai người cùng nói về chủ đề “Người ta không ăn cơm nhưng cũng chẳng thể chết được”.

    Trương Tam nói: Con người không thể một ngày không ăn cơm, không ăn cơm trong một thời gian dài thì đói chết mất.

    Lý Tứ phản bác ngay: Không đúng, một tháng rồi tôi có ăn cơm đâu, sao vẫn còn sống khoẻ mạnh đấy thôi?

    Trương Tam hỏi: Thế có đúng là anh không ăn cơm không?

    Lý Tứ trả lời: Đúng là không ăn cơm mà chỉ ăn mỳ thôi.

    Lý Tứ rõ ràng đã lợi dụng tính đa nghĩa của từ “cơm“. Cơm vừa chỉ cơm gạo cụ thể, lại vừa chỉ thực vật nói chung làm thành lương thực. Thậm chí còn chỉ thực vật ở nghĩa rộng hơn. “Cơm“ mà Trương Tam nói đến có nghĩa chung chung, “cơm“ mà Lý Tứ đề cập đến mới là chỉ cơm gạo cụ thể. Lý Tứ ở đây đã sử dụng khái niệm này để chứng minh quan điểm của mình: không ăn cơm cũng không thể chết.

    Nếu như không có Mao Chủ tịch

    Báo viết, một vị khách người Mỹ sau khi tham quan nơi ở của Mao Trạch Đông, vào một quán ăn gần đó, bà chủ đã nhiệt tình phục vụ các món khiến anh ta rất hài lòng. Sau khi trả tiền, anh ta đột nhiên hỏi: “Nếu như Mao Trạch Đông còn sống thì bà có được phép mở quán không?“

    Thật khó trả lời cho câu hỏi này: Nếu nói rằng được phép, thì rõ ràng không đúng sự thực, nếu nói không được phép thì lại có ý phủ định, hạ thấp, còn không trả lời thì cũng ảnh hưởng tới không khí nói chuyện. Nhưng sau một thoáng suy nghĩ bà chủ điềm nhiên trả lời: “Nếu không có Mao Chủ tịch, thì tôi đã chết đói từ lâu rồi, làm sao còn có thể mở quán được nữa.“

    Câu trả lời thật khéo léo, cách chuyển chủ đề câu chuyện cũng thật nhanh trí.

    Thông thường, trong quá trình tư duy thống nhất của mọi người, sử dụng ý nghĩa của lời nói đều phải phù hợp với quy luật logic, không thể tuỳ tiện thay đổi phạm vi khái niệm. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, người ta lại lợi dụng tính không xác định và tính mơ hồ của ngôn ngữ để ngầm thay đổi khái niệm làm cho ý chính của khái niệm trong chủ đề nói chuyện giữa hai bên không tương đồng, nhằm đạt được hiệu quả đặc biệt. Trong lời nói của vị khách người Mỹ thực chất đã bao hàm một phán đoán:

    Mao Trạch Đông sẽ không cho phép bà mở quán, vì thế Mao Trạch Đông phải bị phủ định. Bà chủ quán đã hiểu ý của vị khách này đã khéo léo chuyển ngay đề tài, dùng những thành quả Mao Chủ tịch gây dựng cho Trung Quốc và ảnh hưởng của cuộc sống hiện thực của chính mình để trả lời người khách trong vấn đề phủ định Mao Trạch Đông, vừa không coi thường người khách, lại có thể bảo vệ được địa vị lịch sử của Chủ tịch Mao Trạch Đông.

    Sản phụ ít rồi

    Một câu có ý nghĩa liền mạch ăn khớp với nhau, nếu như cố ý ngừng ngắt, khéo léo để người nghe nghe theo quán tính, sau đó ngừng lại một chút rồi lại chuyển tiếp ngay, tạo cho người nghe có cảm giác mong đợi vừa hợp lí vừa bất ngờ - cách ngừng ngắt này thu được hiệu quả rất hữu ích. Chẳng hạn như: “Bây giờ sản phụ ít rồi “, lại thấy bụng của đàn ông to dần lên (ngừng ngắt). Bụng rượu bia ý mà, uống quá nhiều ...

    Một phụ nữ đang bế con nói: “Ngoan nào, con yêu, không cần như thế nữa, không cần phải mang bánh mỳ đến chỗ chú cất nữa ---- Mẹ xin lỗi ( Ngừng ) Mẹ đem nó đến vườn bách thú rồi.“

    Lời nói này không cần phải tô vẽ thêm, chỉ cần ngừng ngắt để tăng thêm sự hồi hộp. Sự biểu đạt đang diễn ra một cách bình thường bỗng chuyển đổi đột ngột, làm thay đổi nhanh chóng tâm lý con người.

    Mười phút không nhiều

    Một đội xây dựng có vài công nhân trẻ cho rằng nói chuyện phiếm trong giờ làm việc là rất khó tránh khỏi, không chịu tiếp thu sự phê bình, mà còn lý luận: “Chúng tôi chỉ nói chuyện khoảng mười phút có gì là ghê gớm đâu nhỉ?“

    Người thư ký biết chuyện, trong một lần đại hội liền đề cập vấn đề này, đột nhiên ngừng nói và xem đồng hồ, thời gian ngừng khoảng 80 giây.

    Đang lúc mọi người lấy làm lạ thì người này mới tiếp tục nói: “Vừa rồi các vị có cảm giác 80 giây không được thoải mái, đó chính là thời gian vừa đủ để công nhân xây thêm một viên gạch. Khoảng 10 phút thì có thể xây được bao nhiêu viên gạch? Xây dựng một toà nhà 100 m2 thì cần tất cả bao nhiêu viên gạch, các vị cũng đều tính được. Việc xây dựng cũng cần tốc độ nhanh chóng, tranh thủ từng phút từng giây. Câu này nên hiểu như thế nào? Làm sao có thể nói mới nói chuyện hơn 10 phút, có gì là ghê gớm cơ chứ?“

    Người thư ký đã lợi dụng triệt để điều kiện thời gian, vận dụng cách ngừng ngắt về mặt thời gian, lấy nhân tố thời gian để phản bác quan điểm sai lầm, dùng thời gian để biểu đạt nội dung cụ thể, khiến người khác tin phục.

    Anh em công nhân chúng ta làm hay không?

    Một nhà máy đồ chơi, đã nhận làm hai lô hàng. Lượng đặt hàng thì nhiều, thời gian lại gấp, nếu cứ theo khả năng sản xuất bình thường thì không thể giao hàng đúng hạn. Nếu không giao hàng đúng hạn thì không những phải bồi thường khoản tiền phạt lớn do trái hợp đồng, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của nhà máy. Ông chủ vì chuyện này đã tiến hành một cuộc họp, phát biểu hết sức nhiệt tình: “Anh em công nhân, hôm nay, có một chuyện thực sự quan trọng cần bàn bạc một chút, việc này có liên quan đến sự sống còn của nhà máy đồ chơi chúng ta. Mọi người đều biết, cạnh tranh thị trường trong hai năm gần đây rất gay gắt, lợi nhuận của nhà máy đồ chơi chúng ta liên tục giảm sút đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của mỗi người. Là một giám đốc, tôi không có khả năng để mọi người có mức lương cao hơn, thật vô cùng xin lỗi các bạn.

    Thế nhưng, bây giờ cơ hội đã đến, có khách đặt một lượng hàng trị giá 100000 đô la Mỹ, tôi biết trong thời gian ngắn ngủi, việc hoàn thành nó là rất khó khăn, nhưng giành được hợp đồng này cũng chẳng dễ dàng gì, không làm thì chúng ta sẽ không có cơm ăn.“

    Đến đây, ông chủ ngừng nói, nhìn những người công nhân, rồi đột nhiên nói tiếp: “Anh em công nhân, chúng ta làm hay không làm?“

    “Làm.“ Cả hội trường đồng thanh hô vang. “Cho dù tăng ca thêm giờ, sống chết gì cũng phải hoàn thành công việc.“

    “Tốt, anh em công nhân, có được lời này thì tôi yên tâm rồi. Bây giờ giải tán, mong mọi người trở về, chuẩn bị nhận nhiệm vụ. Tôi đảm bảo sau khi công việc hoàn thành mỗi người sẽ được nhận một phong bao hậu hĩnh.“

    Do ông chủ biết lợi dụng kỹ xảo ngừng ngắt câu một cách tài tình, khiến cho những người công nhân nảy sinh sự đồng cảm, đã cổ vũ lòng nhiệt tình của từng công nhân, khiến mọi người đồng tâm hiệp lực, nỗ lực sản xuất, tăng ca thêm giờ. Quả thật, ba ngày trước hạn giao hàng đã hoàn thành toàn bộ công việc đó.

    Người chồng hoàn mỹ

    Theo sự giải thích của từ điển “Diệc dư“ là một kiểu chế giễu, nhưng chế giễu (diệc dư ) một cách nghệ thuật cần phải nói đó là một kỹ xảo vận dụng ngôn ngữ.

    Có một lần tôi đến làm khách tại nhà một người bạn, đúng lúc hai vợ chồng họ đang treo một bức tranh.

    Người chồng hỏi vợ: “Treo thẳng chưa?“

    Ngươi vợ trả lời: “Thẳng rồi. “

    Sau khi treo xong, người chồng vừa nhìn đã thấy vẫn còn chỗ lệch, liền trách móc: “Em việc gì cũng qua loa đại khái, nhưng anh thích người hoàn mỹ.“

    Người vợ cảm thấy hơi bẽ mặt nhưng có tôi ở đó nên lịch sự đáp lại: “Anh nói đúng lắm, nếu anh không lấy em, em cũng được gả cho anh đấy.“

    Đây thật là sự chế giễu khéo léo, không chỉ giữ được thể diện mà còn tạo không khí vui vẻ, người chồng cũng cho là mình lỡ lời, liền mỉm cười ngỏ ý xin lỗi.

    Chiếc răng nanh của Củng Lợi

    Sau khi vai nữ chính trong bộ phim “Cao Lương Đỏ“ nhanh chóng nổi tiếng, Củng Lợi bắt đầu thu hút được sự chú ý của thế giới. Lần đầu tiên “Cao lương đỏ“ được trình chiếu ở Hông Kông, trong buổi chiếu đầu tiên đó có một nhà báo Hồng Kông đã hỏi khi phỏng vấn cô: “Cô đánh giá như thế nào về dung nhan của bản thân?“

    Người nhà báo này muốn Củng Lợi tự đánh giá về dung nhan của mình, khiến cô khó tránh khỏi phiền phức cho dù đẹp hay không đẹp. Lúc đó Củng Lợi nhanh trí chỉ chiếc răng nanh của mình mà cười và nói rằng: “Tôi cảm thấy răng của tôi rất đẹp bởi nó thẳng, đều và không giống với mọi người.“

    Câu hỏi nhà báo muốn Củng Lợi trả lời là “đánh giá bản thân đẹp hay xấu“, nhưng Củng Lợi lại chuyển sang đề tài khác, thành một đề tài gần giống với ý của nhà báo là “đánh giá răng lợi của bản thân đẹp hay xấu?“ “Răng đẹp“ với “dung nhan đẹp“ có liên quan nhất định, chỉ có điều phạm vi mà Củng Lợi trả lời hẹp hơn nhiều so với phạm vi mà nhà báo muốn hỏi.

    Hãy so sánh, xem xét ở một vài cửa hàng

    Một cậu sinh viên muốn mua một dàn thiết bị âm thanh nhưng vì chủng loại quá nhiều, thêm vào đó là điều kiện kinh tế có hạn, nên quyết định cần mua như thế nào đó mới có thể phù hợp với điều kiện kinh tế bản thân.

    Khi anh đang đi đi lại lại trên phố bán dàn âm thanh, một vị giám đốc của cửa hàng nọ đã hiểu thấu tâm trạng của anh ta, liền đến hỏi: “Tôi thấy cậu rất muốn mua bộ dàn âm thanh, giá cả của thiết bị ở đây quả thật rất đắt. Cậu cần phải thận trọng đấy. Hãy quyết định cẩn thận, cậu nên đến các cửa hàng khác so sánh. Điều này rất có lợi cho cậu. Tục ngữ có câu “Đi mua hàng muốn không bị thiệt thì phải đi nhiều của hàng“. Cậu cần phải thận trọng một chút.“

    Thế là, cậu sinh viên này vào các cửa hàng khác quan sát, so sánh cũng chưa thấy có kết quả gì. Cuối cùng, cậu quay trở lại cửa hàng của vị giám đốc kia để mua một bộ dàn âm thanh.

    Sự thông minh của vị giám đốc này ở chỗ ông ta không trực tiếp giới thiệu điểm tốt của sản phẩm của cửa hàng mình và tuyệt vời ở chiến thuật làm cho cậu sinh viên kia quay lại. Ông ta đã để đối phương tự quyết định, thực chất lúc này đối phương đang do dự. Cuối cùng để anh ta quyết định có lợi cho mình một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng thoải mái.

    Sự im lặng của Edison

    Sau khi nhà phát minh nổi tiếng Edison phát minh ra máy gửi tin, vợ ông nói rằng phải trả hai vạn nhân dân tệ mới bán. Lúc đó, Edison vừa mới mở công ty, cần gấp nhiều tiền, nhưng ông không ý thức được cái máy mà mình phát minh ra đáng giá bao nhiêu, cho rằng giá cả này đối với khách hàng có thể quá cao. Do không thể xác định giá cả được khi bàn bạc thương lượng với khách hàng, ông quyết định sử dụng chiến thuật “im lặng là vàng“, dựa vào sự quan sát của đối phương mà nâng giá lên.

    Người mua giục ông ra giá một lần nữa, Edison vẫn do dự: Cuối cùng vị giám đốc tức giận nói: “Mười vạn đồng, ngài có bán không?“

    Sự im lặng của Edison đạt được hiệu quả kinh tế cao đến nỗi bản thân ông cũng không nghĩ tới ! “Im lặng là vàng“, chủ yếu gây áp lực tâm lý cho người khác, trước áp lực tâm lý như vậy, đối phương do không chịu nổi, mất hết nhuệ khí nên thất bại.

    Phòng làm việc tinh xảo đẹp đẽ

    Isman, người sáng lập ra công ty Kodak nổi tiếng của Mỹ, đã bỏ ra một khoản tiền xây dựng một trung tâm hoà nhạc, một nhà kỷ niệm và một kịch viện ở Luoquesite.

    Để nhận được hợp đồng của công trình này, rất nhiều nhà sản xuất đã cạnh tranh quyết liệt nhưng những người mà muốn tìm Isman hợp tác đều “nhân dịp vui mà đến rồi lại cụt hứng ra về“, hoàn toàn không thu được kết quả gì.

    Trước tình hình này, Adamson, vị giám đốc của công ty nọ cũng đến gặp Isnian, hi vọng có thể nhận được vụ làm ăn trị giá 9 vạn USD.

    Sau khi Adamson được mời vào phòng làm việc của Isman, thấy Isman đang chăm chú giải quyết một văn kiện trên bàn, anh ta im lặng đứng đó quan sát kĩ gian phòng.

    Được một lúc, Isman ngẩng đầu lên, nhìn thấy Adamson, liền hỏi: “Anh có chỉ giáo gì không?“

    Adamson không hề nhắc tới chuyện làm ăn mà nói : “Ngài Isman, trong khi tôi đợi ngài, tôi đã quan sát kỹ căn phòng này. Bản thân tôi làm trong nghề trang trí nội thất đã nhiều năm nhưng từ trước tới giờ tôi chưa thấy qua một văn phòng nào tinh xảo đẹp đẽ như thế này.“

    Isman đáp: “Ồ anh đã nhắc tới một chuyện mà tôi suýt quên mất. Căn phòng này là do tự tay tôi thiết kế đấy. Khi vừa mới làm xong, tôi rất thích. Nhưng về sau bận quá, không có thời gian ngắm kỹ gian phòng này.“

    Adamson đến bên tường, dùng tay chà lên miếng gỗ và nói: “Tôi nghĩ, đây là gỗ cây sồi của Anh, có phải không? Chất gỗ cây sồi của Ý không như thế này.“

    “Đúng đấy.“ Isman vui vẻ đứng dậy trả lời: “Đó là gỗ cây sồi nhập từ Anh quốc, do người bạn của tôi chuyên gia nghiên cứu về gỗ đi Anh đặt cho tôi đấy.“

    Tâm trạng Isman rất vui, nên đưa Adamson đi thăm quan kỹ căn phòng của mình.

    Cố gắng để cho đối phương nói ra những điều mà họ muốn nói cũng có nghĩa là làm cho toàn bộ những điều mà họ nghĩ thể hiện ra ngoài và tránh việc trả lời những câu hỏi đặt ra cho mình. Về sau họ sẽ làm theo sự sắp đặt của mình.

    Ngài thích cô ấy không?

    Trong khi giao tiếp và nói chuyện, nếu gặp phải trường hợp khó xử thì hãy lợi dụng tính mơ hồ và đa nghi của ngôn ngữ để đối phó, có thể thoát khỏi một cách khéo léo và thông minh. Một lần, Kissinger trong chuyến xuất ngoại tạm dừng chân ở Teheran. Buổi tối hôm đó, thủ tướng Iran mời Kissinger đi xem buổi biểu diễn của vũ nữ Parsha. Kissinger xem rất chăm chú. Hơn nữa khi buổi biểu diễn kết thúc, ông còn tán dóc với cô ấy một hồi.

    Ngày hôm sau, một nhà báo hỏi khó ông: “Ngài thích cô ấy không?“

    Kissinger nghe xong rất bực mình, nhưng ông trả lời nhà báo kia với vẻ mặt lại như không hề có chuyện gì: “Không sai, cô ấy là một cô gái quyến rũ, hơn nữa lại có hứng thú đối với công việc ngoại giao.“

    Nhà báo kia nhanh chóng bị mắc bẫy: “Thật thế ư?“

    Kissinger trả lời: “Sao không thật? Chúng tôi cùng nhau thảo luận về cuộc hội đàm hạn chế vũ khí chiến lược. Tôi đã mất khá nhiều thời gian giải thích cho cô ta về việc cải tiến tên lửa đạn đạo SS7 thành tên lửa phóng trên tàu ngầm như thế nào.“

    Vị nhà báo này vốn muốn nghe điều gì đó thú vị, không ngờ Kissinger lợi dụng tính mơ hồ của ngôn ngữ để ứng đối khiến anh ta cụt hứng.

    Kỹ xảo của nhân viên tiếp thị

    Một nhân viên tiếp thị nọ đang tiếp thị hai căn nhà A và B. Nhưng lúc đó, anh muốn bán căn nhà A. Vì vậy, khi nói với khách hàng, anh ta nói như sau: “Anh xem, căn phòng A này như thế nào? Hiện tại, mấy hôm trước căn nhà này đã có người muốn mua rồi, nhờ em giữ lại cho anh ta. Vì thế, hay là anh xem phòng B nhé. Kỳ thực nó cũng rất tốt.“

    Người khách đương nhiên muốn xem cả hai phòng, nhưng người tiếp thị đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng họ, làm họ có tâm trạng: “Nhà A đã có người đặt trước rồi nhất định là rất tốt.“ Trước tác dụng của dụng ý tâm lý, người khách cảm thấy căn phòng B không bằng căn phòng A. Cuối cùng, anh ta ra về với tâm trạng tiếc nuối.

    Bảy ngày sau, nhân viên tiếp thị này vui mừng tìm đến họ, nói với anh ta rằng : “Bây giờ, anh có thể mua được căn nhà A rồi. Anh gặp hên đấy. Thật may là người khách đã đặt mua trước căn A tạm thời chưa chuyển nhà được. Em đã khuyên họ nếu không mua ngay thì để lại cho anh vì hôm nọ em thấy anh có ý mua“.

    Nghe đến đây, người khách đương nhiên thấy vui mừng vì mình có cơ hội mua được căn A. Bây giờ, thứ mình muốn đã được đưa đến tận cửa rồi, không mua ngay thì còn đến khi nào nữa. Do đó cuộc mua bán căn A đạt kết quả tốt.

    Thần vi quân cương

    Trong một lần trả lời ở cuộc thi kiến thức, người dẫn chương trình hỏi: “Điều mà “Tam cương“ muốn nói là gì?“

    Một cô gái tranh trả lời: “Thần vi quân cương, thê vi phụ cương, tử vi phụ cương.“

    Trả lời xong, cả hội trường cười ồ lên. Thì ra cô ta đã nói ngược “Tam cương“. Cô gái này ngay lập tức ý thức được điều này, nhưng cô không có vẻ ngồi xuống một cách gượng gạo. Trái lại, cô ung dung tiếp tục nói: “Mọi người cười gì chứ? Cái tôi muốn nói là “Tam cương“ mới cơ. Đất nước ta, nhân dân lấy nhà làm chủ, là chủ nhân, nhưng lãnh đạo dù to đến đâu cũng là đầy tớ của nhân dân. Thế không phải là “thần vi quân cương“ư ? Hiện nay, đất nước thực hiện chính sách kế hoạch hoá gia đình, mỗi cặp vợ chồng chỉ có một con, những người con này đều trở thành những “tiểu hoàng đế”, thế không phải là “tử vi phụ cương“ ư? Trong gia đình, quyền lực của người phụ nữ nhiều khi hơn cả đàn ông, “vợ quản nghiêm“, “chồng gương mẫu” ngày càng phổ biến, thế không phải là “thê vi phụ cương“ là gì?“

    Tạm thời không nói đến câu trả lời của cô gái này có thể cộng 10 điểm hay không, nhưng cô đã lợi dụng được tính đa nghĩa của từ để tiến hành phân tích một cách ung dung, bình tĩnh, làm tiếng cười chế giễu tắt hẳn. Nhanh trí biến sai sót của lời nói thành cách giải thích mới mẻ, xoay chuyển được tình thế, khiến mọi người tán thưởng khả năng ứng đối linh hoạt khi nói chuyện của cô gái.

    Không cần râu, cần lông mày

    “Ý nghĩa khác nhau của từ“ chỉ sự giải thích sai có khả năng xảy ra đối với một sự vật mà có hai hay vài cách giải thích khác nhau. Ý nghĩa khác nhau của từ vốn là hiện tượng tiêu cực trong ngôn ngữ và là điều kiêng kỵ lớn nhất khi nói chuyện. Thế nhưng, trong ngữ cảnh và mục đích đặc biệt, biết lợi dụng tài tình thì có thể đem lại hiệu quả tu từ tốt hơn mong muốn.

    Theo truyền thuyết, Afanti khi làm thợ cắt tóc, có một thầy tế không chịu trả tiền. Một ngày nọ, thầy tế đến cắt tóc Afanti muốn trả đũa ông ta liền hỏi: “Thầy tế ông có cần lông mày không?“

    Thầy tế đáp: “Đương nhiên là cần, lại còn phải hỏi nữa.“

    Afanti nói: “Ủa, ông muốn thì tôi chiều ông. “

    Nói đến đây, thổi thổi máy cái, cắt xoẹt hai đường lông mày của thầy tế.

    Thầy tế giận giữ không biết làm thế nào - Ai bảo lại tự nói ra là cần cơ?

    Afanti: “Thầy tế, có cần râu không?“

    Thầy tế: “Không cần, không cần“. Thầy tế sợ hãi vội đáp.

    Afanti: “Được, không cần thì không cần. “

    Nói rồi huơ huơ, cắt xẹt túm râu của thầy tế rơi xuống đất.

    Thầy tế tức quá trợn mắt nhìn - ai bảo lại nói ra là không cần cơ!

    Sự thông minh của Afanti chính là sử dụng các nghĩa khác nhau của từ để trừng phạt cái con người ích kỷ này.

    Chữ “cần“ của afanti mang hai nghĩa: một nghĩa là muốn lấy được muốn có được trong tay; một nghĩa khác là muốn giữ lại, vẫn để nguyên vị trí cũ. Nhưng Afanti lúc hỏi lại không nói rõ nghĩa nào, làm cho thầy tế bị mắc lừa.

    Ông Lý ở đâu?

    Có một cô gái hỏi bà trông cửa: “Này ông Lý ở đâu?“

    Bà trông cửa thấy cô gái hỏi trống không liền nói : “Đi theo tôi“.

    Đợi đến khi cả hai cùng hổn hển thở dốc leo lên đến tầng 16, cô gái toan gõ cửa thì bà trông cửa lại nói thêm: “Ông ấy đang tỉa hoa trong vườn dưới kia kìa“.

    Đúng là làm cho người ta mừng hụt, bề ngoài thì “ở đâu” là hỏi “nơi ở”, thực ra ý đúng của câu hỏi là “có thể tìm thấy ông ấy ở đâu?“ Bà trông cửa cố ý chỉ hiểu nghĩa đen của từ này, khéo diễn một vở kịch vừa gây cười vừa có thể dạy cho cô gái bất lịch sự kia một bài học.
     
  15. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 35

    Trong cuộc sống có rất nhiều sự việc có thể đem ra loại suy. Bạn có thể dùng phép loại suy đối ngẫu để nhấn mạnh cảm xúc. Bạn cũng có thể dùng phép so sánh đối lập để phân tích và chứng minh một quan điểm sai lệch hay để đối phó khi bạn bị người khác trêu ghẹo. Lúc bị chọc tức, bạn có thể dùng so sánh đối lập để quay phản kích hay để phản đối ý kiến của đối phương, không cần tranh luận đã thấy đối phương sai; bạn lại càng có thể dùng cách này để thuyết phục khách hàng nghe theo bạn ...

    “Bạn nên đến vườn Viên Minh.“

    “Bạn nên đến vườn Viên Minh?“ Những nơi hiện nay bạn đi thăm, Cố Nghi cũng đẹp, Bắc Hải cũng đẹp, Di Hoà Viên cũng đẹp... Tất cả đều mười phân vẹn mười, rực rỡ màu sắc, chỉ có vườn Viên Minh đã bị huỷ hoại vì bị cháy, giờ chỉ còn là di chỉ? Chỉ khi bạn đứng trên di chỉ này, bạn mới có thể cảm nhận được sự tủi hổ và tai hoạ mà dân tộc Trung Quốc phải chịu đựng. Cũng như bạn, một nhà văn đến Bắc Kinh không thể không đến thăm vườn Viên Minh vì ở đó có thơ, có văn, có thể tạo cảm xúc mãnh liệt. Khi một nhà văn nổi tiếng của Đài Loan là Quỳnh Giao đến Đại Lục, có một nhà báo nói chuyện qua điện thoại gợi ý bà đến thăm vườn Viên Minh. Tại đây, vị nhà báo này đã dùng thủ pháp so sánh đối lập để diễn tả lịch sử đau thương và tình cảm dân tộc thân thiết, tạo cho ngôn từ của anh ta một sức truyền cảm và chứa đầy tính trữ tình. Quỳnh Giao nói rằng: “Đây là những lí lẽ rất hay và có sức thuyết phục cao.“

    Gia đình chúng ta rất giàu có phải không?

    Cho dù hoàn cảnh gia đình bạn như thế nào, khi con cái hỏi bạn về của cải của bạn, câu trả lời của bạn nên là phủ định. Một chuyên gia giảng dạy về kinh tế chính trị cho học sinh Mỹ là Willierd nói rằng: “Cho dù gia tài của bạn rất lớn, bạn cũng không nên để con bạn nghĩ rằng có thể muốn gì được nấy hoặc có thể sang nhà hàng xóm khoe khoang. Nếu nhà bạn thiếu tiền, bạn cũng không nên để con cái lo lắng quá là không có nơi ăn chốn ở. Để thoả mãn sự hiếu kì của con trẻ về tình hình kinh tế nhà mình, bạn có thể nói cho bọn trẻ là gia đình bạn thuộc tầng lớp trung lưu, cũng có nhiều người nghèo hơn và cũng có nhiều người giàu hơn. Sau đó bạn tổng kết lại: “Chúng ta vừa có đủ tiền để mua cơm ăn, áo mặc và những thứ khác chúng ta cần.“ Nên thông qua cách so sánh để dạy con trẻ trong thế giới tiền bạc có người tốt mà cũng có người xấu để chúng biết rằng: người giàu có không hẳn đã tốt hơn người nghèo khổ.

    Trẻ con thường so sánh mình với các bạn khác. Đối với vấn đề này, bạn không nhất thiết phải tranh luận với con bạn là nhà ai giàu hơn, nhà ai tốt hơn. Bạn có thể khéo léo dẫn dắt câu chuyện sang việc thảo luận cách tiêu tiền của mỗi gia đình, nêu ra việc nhà bạn mỗi năm đi du lịch một lần hay bạn muốn dành tiền cho con cái bạn đi học đại học, vì thế mà bạn không chọn những chiếc xe hơi sang trọng hay những căn hộ rộng rãi.

    Nếu thu nhập nhà bạn kém xa so với thu nhập nhà bạn của con bạn, bạn hãy thẳng thắn nói với con bạn là hoàn cảnh của mỗi người không giống nhau - như cả hai bố mẹ đều đi làm so với cả hai bố mẹ đều ở nhà thì việc kiếm tiền sẽ nhiều ít khác nhau và cách chi tiêu cũng khác nhau.

    Tật lắm điều của các bà vợ.

    Bà vợ ông Kiến Tài là Vu Tinh Hảo lúc đầu thì ngoan ngoãn vâng lời nhưng giờ lại rất lắm lời. Nếu cứ thế mãi sẽ gây phiền phức cho ông. Thế là, trong một tối khuya, ông mới rủ vợ đến nơi mà họ hẹn hò trước đây rồi nói với bà: “Này bà, trong cảnh tĩnh lặng, lãng mạn và êm ái này, bà có cảm thấy gì không?“

    “Tôi cảm thấy nhẹ nhõm lạ thường, rất thoái mái và dễ chịu.“ Bà nói.

    “Tôi kể bà nghe câu chuyện được không? Eugenie, vợ của vua nước Pháp, Napoleon đệ tam là một cô gái có tật nói nhiều, cô ta có thể vì một chuyện không đâu mà nói liên hồi. Có lần, trước mặt khách khứa, cô ta trách móc Napoleon thế này không được, thế kia không được, không những làm cho Napoleon tức giận mà còn khiến ông vô cùng xấu hổ. Kết quả là cứ buổi tối, ông lại lén ra ra sau nhà để hẹn hò với một cô gái xinh đẹp khác, còn để kệ Eugenie.“

    “Được rồi được rồi, ông đừng kể nữa, chẳng phải ông đang muốn dùng câu chuyện này để ám chỉ bệnh nói nhiều của tôi sao? Tôi xin nhận là có lúc như vậy.“

    Và đúng như thế, bà vợ rất nhanh chóng bỏ được tật nói nhiều của mình.

    Tên trộm và tên cướp

    Ý nghĩa thực sự của chữ “biện luận“ là ở chữ “biện“, khi con người chẳng có giao tiếp, mâu thuẫn thì chữ “biện“ cũng không còn tồn tại nữa. Ở một chừng mực nào đó, sự cố gắng tranh luận chính là tập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn. Khẩu khí của một đại biểu Quốc hội quan trọng là Ngô Nghi đã sớm được mọi người biết đến trong thời gian bà mới nhậm chức thứ trưởng bộ Thương mại. Có một lần, trong khi đàm phán với một nước phương Tây, đối phương mới nói rằng: “Chế độ bản quyền của nước bà rất không nghiêm, người ăn cắp bản quyền của chúng tôi há chẳng phải là tên ăn trộm sao?“

    Ngô Nghi không chút do dự, thản nhiên đáp lại ngay: “Nếu cho rằng chúng tôi là tên trộm như vậy thì di chỉ vườn Viên Minh cho chúng ta thấy: Các ông mới chính là những tên cướp chính cống.“

    Giằng co một hồi, Ngô Nghi bằng cách so sánh đối lập đã khiến cho đối phương há miệng mắc quai.

    Dưới cái mũ có thứ đồ chơi gì?

    Trong giao tiếp, có những lúc không vui vẻ vì bị người khác công kích là khó tránh khỏi, nếu bạn không muốn bị thua thiệt, bạn có thể tấn công lại đối phương bằng cách châm biếm. Muốn dùng được cách này, bạn cần phải lợi dụng một cách khéo léo, nhanh trí các sơ hở trong các câu chữ của đối phương mới có thể phản công lại sự khiêu khích ác ý và giải thoát cho bạn khỏi thế bí.

    Anderson là một học sinh rất giản dị, chất phác, đã có lần đội mũ rách đi trên phố, gặp một người qua đường muốn trêu ghẹo cậu: “Thứ đồ chơi bọc bên ngoài cái đầu của cậu là gì vậy? Có thể gọi là mũ được không?“

    Anderson liền đáp lại ngay một cách nhã nhặn: “Thế thứ đồ chơi dưới mũ của anh là gì vậy? Có thể gọi đó là cái đầu được không?“

    Sự đối đáp nhanh trí của Anderson chính là dựa vào cách nói của đối phương để chế giễu đối phương, khiến người ngoài nghe thấy vô cùng khoái trá.

    Đi mua xe tải bốn tấn.

    Một cơ quan vốn đang cân nhắc mua một xe tải loại bốn tấn của một nhà máy nọ. Về, sau để giảm chi nên từ bỏ ý định đó, định mua xe tải loại hai tấn của một nhà máy khác Nhà máy ban đầu biết được, thấy mọi việc không ổn như thế, sẽ ảnh hưởng đến việc kinh doanh của nhà máy sau này nên đích thân ông giám đốc đã tìm đến ban lãnh đạo của cơ quan đó, tìm hiểu ngọn nguồn và thuyết phục cơ quan đó mua sản phẩm của nhà máy mình.

    Vị giám đốc này quả nhiên không để các công nhân của mình thất vọng, đã thành công mĩ mãn. Nhờ khả năng ăn nói xuất sắc, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi vận dụng cách so sánh, phân tích hợp tình, hợp lý cho đối phương nghe, khiến đối phương cảm động phải nghĩ lại.

    Sau đây là cuộc nói chuyện giữa họ.

    Giám đốc: Trọng lượng bình quân của phương tiện vận tải mà các ông muốn mua là bao nhiêu?

    Bên mua: Rất khó nói, cứ cho là hai tấn đi!

    Giám đốc: Có lúc nhiều có lúc ít đúng không?

    Bên mua :Đúng vậy.

    Giám đốc: Rốt cục thì loại xe tải các ngài cần, một mặt căn cứ vào số lượng, trọng lượng hàng hoá, một mặt cũng phải xem là đi trên loại đường nào, trong điều kiện nào, đúng không?

    Bên mua: Đúng, nhưng mà.. ..

    Giám đốc : Ví dụ các ngài đi trên những địa hình không bằng phẳng, hơn nữa lại đi vào mùa đông. Lúc này, áp lực mà động cơ của ô tô phải chịu sẽ lớn hơn so với mức bình thường, đúng không .

    Bên mua: Đúng vậy.

    Giám đốc: Theo những gì tôi biết, ở cơ quan các ngài, xe đi vào mùa đông nhiều hơn vào mùa hè có phải không?

    Bên mua: Đúng vậy, việc kinh doanh của chúng tôi vào mùa hè không được chạy lắm nhưng vào mùa đông lại rất tốt .

    Giám đốc: Vậy thì ý các ngài là như thế này rồi: Trong điều kiện bình thường chuyên chở hàng hoá sẽ cần xe loại hai tấn, còn vào mùa đông ô tô sẽ bị quá tải khi đi trên những địa hình gồ ghề.

    Bên mua: Đúng vậy.

    Giám đốc: Nhưng lúc đó lại đang là thời gian mà việc kinh doanh của các ngài bận rộn đúng không?

    Bên mua: Đúng vậy, lại đứng vào mùa đông.

    Giám đốc: Khi các ngài quyết định mua loại xe bao nhiêu mã lực, liệu có tính đến một khoản dư nhất định không?

    Bên mua: Ý của ông là.. ..

    Giám đốc: Về lâu dài mà nói thì yếu tố gì sẽ quyết định mua một chiếc ô tô đáng mua hay không đáng mua?

    Bên mua: Vậy thì đương nhiên là phải xem xem nó có thể sử dụng thường xuyên trong bao lâu.

    Giám đốc: Ngài nói tất cả đều đúng. Giờ hãy để tôi so sánh xem. Có một chiếc xe mã lực khá lớn, ít phải chở quá tải, còn một chiếc xe khác luôn phải chở quá tải, thậm chí phải chở như thế thường xuyên, vậy các ngài thấy loại nào tuổi thọ sẽ cao hơn?

    Bên mua: Tất nhiên là chiếc xe có mã lực lớn hơn rồi.

    Giám đốc: Lúc quyết định mua loại xe nào, các ngài chủ yếu xét đến tuổi thọ của nó đúng không?

    Bên mua: Đúng, đều phải xem xét tới tuổi thọ và giá ca.

    Giám đốc: ở đây, tôi có một vài số liệu về hai loại xe này. Ngài có thể so sánh giá cả và hai tuổi thọ của xe qua những con số này.

    Bên mua: Hãy để tôi xem nào.( tập trung xem các con số )

    Giám đốc: Thế nào, các ông nghĩ thế nào?

    Bên mua tự mình hoạch toán. Kết quả của cuộc nói chuyện là:

    Bên mua: Nếu chúng tôi bỏ ra thêm 5 nghìn tệ, chúng tôi có thể mua được một chiếc xe sử dụng thêm 3 năm.

    Giám đốc: Một cái xe trong một năm có thể thu được bao nhiêu doanh lợi?

    Bên mua: ít nhất thì cũng phải 500000 hay 600000 tệ.

    Giám đốc. Bỏ thêm 5 nghìn, trong ba năm thu thêm đến tiền vạn, còn không đáng sao? Ông nói xem có đúng không?

    Bên mua: Đúng vậy.

    Vị giám đốc nhà máy trong cuộc nói chuyện này đã lí giải từng bước một, cuối cùng bằng cách so sánh đã thuyết phục được bên mua và kí được hợp đồng.

    Đóng tốt những vai khác nhau.

    Tiểu Vương là một giáo viên tiểu học dạy môn ngữ văn, anh ta rất bất mãn với một số hiện tượng xã hội, hay kêu ca phàn nàn, thậm chí ngay cả trong giờ học, có lúc anh ta cũng bỏ cả nội dung bài giảng để kêu ca. Rõ ràng anh ta thiếu ý thức tâm lý cần phải có trong vai trò một người thầy giáo. Hiệu trưởng sau khi biết được việc nảy đã nói chuyện với Tiểu Vương một cách rất chân thành.

    Hiệu trưởng nói: “Anh không có cảm tình với xã hội và bất mãn với sự đãi ngộ vật chất của nghề giáo viên, điều này có thể hiểu được. Cho dù trong lòng có bực tức, anh có thể trút giận vào tôi, chứ nhất định không được nổi cáu với ca thán trước học sinh. Bởi vì chúng ta là những người thầy, thiên chức của chúng ta là giảng dạy, giáo dục con người. Tâm hồn của trẻ em còn rất trong trắng, chân thật, anh bất mãn về xã hội thì tại sao lại không giảng cho các em học sinh rằng việc chấn hưng Tổ quốc là nhiệm vụ của thế hệ mới. Như vậy mới chính là một nhà giáo mẫu mực.“

    Nghe xong những lời nói từ đáy lòng của thầy hiệu trưởng, Tiểu Vương hiểu rõ là một người thầy không được phép kêu ca phàn nàn, tâm lý bất mãn đó sẽ ảnh hưởng xấu đến các em học sinh. Từ đó không còn thấy Tiểu Vương có biểu hiện như vậy trong giờ học nữa.

    Đàn ông sinh con

    Thiếu phụ họ Xảo trong truyện dân gian lưu truyền ở Phúc Kiến là một người có tài ứng đối. Một lần, hòng chiếm đoạt tài sản của Sử Lão Hán, tên tri huyện đã cố ý đưa ra một điều kiện rất khó: Nội trong ba ngày phải đem nộp ba con trâu đực có chửa, nếu trái lời thì tài sản sẽ bị sung công. Xảo thiếu phụ đã an ủi bố chồng không nên khóc, đến khi đó sẽ có cách. Lão Hán liền chấp nhận yêu cầu của tri huyện.

    Ba ngày sau, tri huyện đến nhà Sử Lão Hán, ra tiếp đón tri huyện lại là người con dâu. Hai người, một người hỏi, một người đáp như sau:

    Tri huyện: Lão Hán đi đâu?

    Người con dâu: Bố tôi đang ở nhà, không thể ra ngoài.

    Tri huyện: ông ta sợ không gặp tôi, phải chăng là muốn trốn?

    Người con dâu: Đâu dám, bố tôi đang sinh con trong phòng.

    Tri huyện: Láo, đàn ông làm sao sinh được con?

    Người con dâu: Đàn ông không thể sinh con, vậy sao ngài lại bảo là trâu đực mang thai?

    Có thể thấy rằng, đối với những lời nói hoang đường thì cơ bản không cần tranh cãi làm gì, mà hãy dùng ngay cái đạo của họ để trị họ, vừa hay lại vừa hữu dụng.

    Lời cam đoan khi bầu tổng thống

    Trong cuộc tranh luận, dùng những lời phản vấn để trực tiếp phản bác rất có hiệu lực, đặc biệt trong sự phối hợp với nhau thì hiệu quả càng cao.

    Một lần, trong cuộc họp hội nghị quốc tế, một nhà ngoại giao phương Tây nói với vị đại biểu Trung Quốc với ý khiêu khích. “Nếu các ngài không hứa với nước Mỹ rằng không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan, thì rõ ràng là không có thành ý giải quyết bằng biện pháp hoà bình.“ Vị đại biểu Trung Quốc nghiêm nghị trả lời. “Vấn đề Đài Loan là vấn đề nội bộ của nước chúng tôi, dùng hình thức gì để giải quyết là việc của nhân dân Trung Quốc. Không cần phải cam đoan với các nước khác. Xin hỏi: Lẽ nào các ngài bầu cử tổng thống cũng cần cam đoan gì đó với chúng tôi?“.

    Vậy là, một câu phản vấn mà làm cho các nhân sĩ ngoại giao phương Tây không nói được điều gì nữa.

    Người Trung Quốc trọng tình cảm

    Năm 1985 , tổng giám đốc Nhiệm Truyền Tuấn của công ty công nghiệp sợi nhân tạo Nghi Chinh - Giang Tô khi đàm phán đòi công ty Jienma - Tây Đức bồi thường đã gặp rất nhiều khó khăn. Bên Trung Quốc đòi 11 triệu đồng Mác Đức, bên Đức chỉ đưa 3 triệu Mác Đức, khi hai bên vẫn chưa thống nhất, bên Trung Quốc đưa ra một lời đề nghị mời đối phương đi thăm quan Dương Châu. Tại chùa Đại Minh, Nhiệm Truyền Tuấn xúc động nói: “Đây là nơi tưởng niệm của một vị hoà thượng vì đạo Phật đã sáu lần đến xứ sở Phù Tang, bị mù cả hai mắt, ngày nay nhân dân hai nước Trung Nhật vẫn không quên được ông. Các ngài vẫn thường thấy lạ là vì sao người Nhật thường dễ dàng đầu tư vào Trung Quốc, một nguyên nhân rất quan trọng là người Nhật hiểu được tâm lý của người Trung Quốc và biết rằng Trung Quốc là một dân tộc trọng tình cảm, trọng nghĩa bạn bè.“

    Những đại biểu bên phía Đức rất xúc động, khi trở lại bàn đàm phán đã thoả hiệp một cách vui vẻ.

    Chỉ đắt hơn hai đồng

    Ông Felliston, giám đốc một trong những công ty săm lốp lớn nhất nước Mỹ - công ty cao su săm lốp Nonstone - thời kỳ đầu lập nghiệp là một ông chủ làm kinh tế không gặp may mắn. Với tinh thần “điếc không sợ súng“, ông đã tìm đến ông hoàng xe hơi Ford, quảng cáo sản phẩm săm lốp mới của mình. “Thưa ngài Ford, nghe nói ngài đang chế tạo xe mới, tôi đem cho ngài một loại săm lốp cũng mới đây.“

    “Anh biết đấy, đặc điểm loại xe mới này của tôi là giá rẻ,“ ngài Ford cười nói, “không thể dùng loại săm tốt như thế này.“

    Ông Felliston đã khôn khéo thuyết phục: “Tôi dám bảo đảm rằng nó rất phù hợp với loại xe mới của ngài. Loại sản phẩm mới này người khác chưa từng nhìn thấy bao giờ.“

    Lời chào hàng rất mới lạ, dí dỏm này làm cho ngài Ford chú ý, kết quả thử nghiệm khiến ông ta rất hài lòng, nhưng giá lại hơi đắt. “Tôi nhất định một đồng cũng không giảm, cung cấp cho ông theo giá thành phẩm, loại săm lốp này so với loại trước chỉ đắt hơn hai đồng, mà với loại xe mới thì sẽ không ảnh hưởng lớn lắm.“

    Lời nói khéo léo của ông Felliston hợp tình hợp lý, khiến người ta không thể không mua. Ngày loại xe mới của Ford lên ngôi cũng là ngày công ty cao su của Felliston bắt đầu phát triển. Hai người do đó mà trở thành bạn tốt của nhau.

    Người đồ tể và mục sư đọc thư.

    Mùa xuân 1935, Hồ Thích được hiệu trưởng Lý Yến Chủng, trường đại học sư phạm Bắc Bình và viện trưởng viện văn học Lê Miên Sáng mời làm giảng viên giảng về Thiền Tông trong Phật học cho sinh viên khoa văn trường đại học sư phạm Bắc Bình. Sau khi giới thiệu xong, Hồ Thích nói: “Hiệu trưởng Lý Yến, ngài Lê Miên Sáng lúc đầu hẹn tôi giảng một lần, hôm nay họ không thể không mời tôi giảng nhiều lần giảng giải hết về Thiền Tông. Chà, hôm nay tôi bị họ bóc lột nặng nề rồi.“

    Câu nói đó làm cho cả lớp cười ồ lên. Không khí trở lên vui vẻ, đã mất đi cái không khí trầm mặc nghiêm trang, ông lại tiếp tục nói' “Ngài Lý Miên Sáng muốn tôi kể cho các em nghe một câu chuyện như sau:

    Có một thợ may già dành dụm được một số tiền cho con của ông ta lên học đại học ở Luân Đôn. Một lần con gửi thư về, ông ta không biết chữ đành phải nhờ anh đồ tể giết lợn hàng xóm đọc thư, anh đồ tể không biết nhiều, lấy tờ thư xem đi xem lại rồi nói với ông ta rằng: 'Con của ông nói rằng, tiền ông gửi lần trước đã tiêu hết rồi, ông hãy gửi cho nó 20 đồng nữa.' Người thợ may hỏi: 'Con tôi nói không có cái gì?' Anh đồ tể nói: 'Cái gì cũng không có.'

    Người thợ may trở về nhà càng nghĩ càng tức, trong lòng nghĩ: Ta làm mười mấy năm trời khổ cực may quần áo cho mọi người, ăn thì ít tiêu thì dè xẻn, không dễ dàng gì mà nuôi nó ăn học đại học, nó không biết tốt xấu lại còn bảo mình nhanh gởi cho nó 20 đồng, ngay cả một câu hỏi thăm an ủi cũng không có.Thật là phí công nuôi nó? Mình không gửi xem nó làm thế nào?'

    Trong khi đang buồn bực thì một vị mục sư đến nhà ông ta may quần áo, hỏi ông ta sao lại bực bội. ông ta kể lại đầu đuôi câu chuyện. Mục sư bảo 'Đưa tôi xem lá thư.'

    Mục sư đọc thư từ đầu đến cuối một lần rồi nói với thợ may rằng: 'Con của bác viết thư rất hay, tôi đọc cho bác nghe.Trong lá thư viết rằng. “Bố kính mến! Gần đây con vẫn khoẻ. Bố hàng ngày vất vả, khó nhọc tiết kiệm ăn uống tiêu dùng không dễ kiếm ra tiền nhưng bố vẫn gửi cho con mọi thứ. Con rất không an lòng, chỉ biết cố gắng học tập thật giỏi, sau này sẽ báo đáp bố, mới đây con đã học một môn mới, cần phải mua một số sách và tạp chí để tham khảo, ngoài ra tiền ăn cuối tháng cũng đã trả rồi. Vì thế con muốn bố gửi cho con một ít tiền. Nếu như bố gửi được 10 đồng con rất cám ơn, nếu như 20 đồng con cảm ơn bố vô cùng.“

    Người thợ may không tin, hỏi: 'Chuyện có thật như vậy không?'

    Mục sư nói: 'Tôi đâu dám dối bác! Bác nghĩ xem mấy trang giấy mà viết tiền con tiêu đã hết, nhanh gửi cho con 20 đồng, chỉ có vài chữ đã hết thư sao?'

    Bác thợ may hiểu ra, ông ta rất vui liền gửi cho con 20 đồng ngay lập tức.

    Hồ Thích nói tiếp: “Cùng một lá thư, cách nói của hai người không giống nhau nên hiệu quả cũng không giống nhau. Hôm nay tôi đã kể cho các em nghe một câu chuyện là cũng giống như anh đồ tể đọc thư, tốt nhất là mời ngài Lê Miên Sáng làm mục sư kể cho các em nghe lại một lần“, cả hội trường lại ồ lên tiếng cười.

    Sợ ngồi máy bay.

    Mấy năm trước, ở nhiều nơi trên thế giới, đi máy bay thường xảy ra tai nạn, những người thường hay ra nước ngoài giảng dạy rất lo sợ.

    Một hôm, khi đang mua vé máy bay ở công ty hàng không, có người đã nói đùa với nhân viên phục vụ rằng: “Máy bay thường xảy ra tai nạn, chẳng may tôi gặp tai nạn thì nguy quá. Tôi nghĩ mình sẽ tự lái xe, làm một chuyến giảng dạy đường dài thôi ?“ Nhân viên phục vụ chẳng hề ngạc nhiên nói: “Thưa ông, việc máy bay xảy ra tai nạn là sự việc rất nghiêm trọng và không bình thường. Vì thế mà các du khách kinh hãi, thật sự tỷ lệ máy bay xảy ra còn ít hơn nhiều so với tỉ lệ trúng xổ số, còn chưa đến hai phần triệu.“

    “Trúng sổ xố kỳ nào cũng có người trúng. Lẽ nào mỗi chuyến đều xảy ra một lần tai nạn?“

    “Không thể thế được! Không thể thế được, mấy năm gần đây tỷ lệ máy bay xảy ra tai nạn là rất ít. Nói một cách chính xác là tỷ lệ máy bay xảy ra tai nạn không đến một phần tỷ.“

    Anh ta giải thích một cách tự tin.

    Lời giải thích của anh ta dùng những con số để chỉ sự so sánh khiến cho khách hàng bình tĩnh lại. Cảm giác không an toàn đã mất hẳn, sức mạnh của con số chính là đem đến cảm giác chân thật.

    Làm việc không có tiền công.

    Buster là một nhà nguỵ biện thời Hy Lạp cổ. Ông ta khua môi múa mép nói đen thành trắng, tự cho mình bằng lời nói có thể lừa thiên hạ.

    Ông ta từng nói với một người bạn rằng: “Anh không mất đồ thì đồ vật này còn không?“. Sau khi có được câu trả lời khẳng định chắc chắn ông ta nói: “Anh không mất sừng trên đầu, như vậy trên đầu anh vẫn có sừng. “Người bạn không phục tranh cãi lại với ông ta, hai người tranh cãi cho đến tận nhà của Đại Công. Đại Công là một người thông minh, nói với Buster rằng: “Trong thành này, anh không mất cơ hội ngồi tù ở đây, vậy được thôi, xin mời anh ở đây thưởng thức ba ngày?“

    Ông Buster trong lòng rất hận, tìm cách bãi công trong tù. Một hôm trời sắp nổi bão, Đại Công sai người đi thu hoạch ngũ cốc. Buster làm lề mề, kết quả là đống ngũ cốc của ông ta bị ướt hết cả, Đại Công quở trách ông ta, ông ta ngược lại nói rằng: “Một hạt ngũ cốc không phải là một đống ngũ cốc, thêm một hạt nữa cũng không thể trở thành một đống, cứ như vậy mỗi lần thêm một hạt đều không trở thành một đống ngũ cốc được. Do vậy mà từ trước đến nay đống ngũ cốc không tồn tại. Ngài sai tôi vận chuyển đống ngũ cốc này, tôi sao có thể làm được.“ Đại Công cười nhạt, không nói không rằng phát tiền công ngày hôm đó, Buster không được đồng nào, đùng đùng nổi giận đến tìm Đại Công. Đại Công nói: “Một đồng không phải là tiền công của anh, thêm một đồng nữa cũng không phải là tiền công của anh, tiền công của anh thực ra không tồn tại.“

    Vì thế, tiền công của Buster bị dùng đền bù cho đống ngũ cốc kia.

    So bì trâu với dê.

    Có một lần, Mạnh Tử đi gặp Tề Tuyên Vương đàm luận về đạo lý thống trị đất nước. Hai người đã có đoạn hội thoại sau:

    Tề Tuyên Vương: “Như ta đây có thể làm cho cuộc sống nhân dân ổn định ấm no chăng?“

    Mạnh Tử: “Có thể.“

    Tề Tuyên Vương: “Vì sao?“

    Mạnh Tử: “Thần thường nghe nói rằng: Đức vua ngồi trên ngai vàng. Có người mang con trâu đi qua dưới điện. Đức vua hỏi con trâu từ đâu đến. Bẩm báo rằng giết trâu để tế thần. Đức vua khuyên người dắt trâu rằng thả cho nó sống, bởi vì nhìn thấy con trâu run lẩy bẩy đáng thương không một chút tội lỗi mà lại bị tế thần thì thực ra trong lòng đức vua không nỡ giết nó. Người kia hỏi rằng có phải là không tế thần nữa? Đức vua nói rằng hãy thay con trâu này bằng con dê, không biết chuyện ấy có thật hay không? Với tấm lòng như vậy là có thể thống nhất thiên hạ. Dân chúng cho rằng Tề Tuyên Vương keo kiệt tiếc con trâu, thần thì đã sớm biết rằng đức vua không nhẫn tâm.“

    Tề Tuyên Vương: “Đúng, dân chúng đa nghi như vậy đó nước Tề tuy không lớn nhưng chẳng lẽ ngay cả một con trâu cũng tiếc? Vì không nhẫn tâm nhìn thấy dáng vẻ run lẩy bẩy đáng thương của nó nên mới lấy dê thay thế trâu.“

    Mạnh Tử: “Nhưng dân chúng nói đức vua là người keo kiệt bủn xỉn, ngài cũng không nên lấy làm lạ. Dê nhỏ, trâu to, dân cho rằng là tiếc rẻ con trâu, làm sao mà có thể hiểu được tình cảm sâu sắc của đức vua? Nếu thật sự thương hại con trâu không xử nó thì con dê cũng có khác gì đâu .“

    Tề Tuyên Vương: “Điều này ta cũng không rõ lắm, xét cho cùng, ta không phải là kẻ bủn xỉn về tiền tài mà lấy con dê thay con trâu. Ông nói như vậy thì lời của dân chúng quả thực cũng có chút đạo lý.“

    Mạnh Tử: “Thực ra cũng không sao. Sự không nhẫn tâm đó của đức vua chính là lòng nhân ái, còn vì sao lại có thể giết con dê ư? Bởi vì đức vua tận mắt trông thấy con trâu, chứ không trông thấy con dê đó. Người quân tử đối với những loài chim thú nếu đã nhìn thấy chúng thì sẽ không muốn nhẫn tâm giết chúng, nghe thấy tiếng chúng kêu than sẽ không nỡ ăn thịt chúng nữa, người quân tử xây nhà bếp ở xa chỗ mình, cũng chính là vì đạo lý này“.

    Tề Tuyên Vương: “Ngài nói như vậy đã giúp ta hiểu thấu cả rồi.“

    Như vậy, thông qua pháp phân tích mổ xẻ từng lớp, dùng phép suy lý phân tích vấn đề, không ngừng đi sâu vào lòng người, tiếp cận thực tế làm cho bản chất vấn đề bộc lộ ra một cách rất tự nhiên.
     
  16. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 36

    Ngôn ngữ là câu chữ hợp thành các loại tổ hợp khác nhau, có thể dẫn đến những kết quả mà bạn không hề nghĩ tới. Nếu chúng ta có thể vận dụng một cách thuần thục những tổ hợp khác nhau về câu chữ, tuỳ cơ ứng biến, đang ở thế yếu thì không chỉ có thể làm đảo ngược tình huống đối thoại mà còn tạo ra hiệu quả thuyết phục lớn hơn gấp bội.

    Nếu như trong cuộc sống đối thoại, bạn muốn điều khiển đối phương thì việc nghiên cứu, luyện tập nghệ thuật kết hợp câu chữ ngôn ngữ càng trở nên quan trọng. Nếu như bạn muốn nâng cao khả năng nói chuyện với người khác thông qua việc học cách kết hợp câu chữ thì ví dụ có thực sau đây chắc chắn sẽ giúp bạn rất nhiều.

    Bạch mã phi mã (ngựa trắng không phải là ngựa)

    Thời Xuân Thu Chiến Quốc, có một vị đại sư nổi tiếng về tài nói chuyện tên gọi là Công Tôn Long. Ông ta đã đưa ra chủ đề ra cho mọi người bàn luận: “Bạch mã phi mã“. Công Tôn Long nói rằng. Ngựa là đặt tên từ hình dáng, màu trắng là đặt tên từ màu sắc. Ngựa trắng có nghĩa là ngựa và màu trắng, ngựa và màu trắng có phải là ngựa không? Vì thế “Bạch mã phi mã“ theo quan điểm của Công Tôn Long, ngựa là tên gọi về hình dáng, trắng chỉ tên gọi về màu sắc, ngựa trắng có nghĩa là hình dáng con ngựa có thêm màu trắng, hình thêm sắc thì làm sao có thể bằng hình? Nói theo cách ngày nay, tức là nói khái niệm về ngựa không bao gồm các thuộc tính của ngựa trắng. (Nói chung là không bao gồm tất cả các thuộc tính cá biệt). Do vậy, ngựa trắng khác với ngựa. Cá biệt không giống với cái chung. Tư tưởng này có phần hợp lý, chúng ta nhận biết sự vật, xử lý vấn đề không thể vì cái chung là do những đặc điểm cá biệt khái quát lại mà thành mà phủ định sự khác biệt giữa cái chung và cái cá biệt.

    Vừa phải chú ý đến những tính chất giống nhau của sự vật vừa phải chú ý đến những tính chất đặc thù của chúng. Ngày nay, chúng ta nói phải xuất phát từ nguyên lý chung nhất định, kết hợp với tình hình cụ thể của thực tế. Căn cứ của lý luận, đó chính là tính khác biệt giữa cái cá biệt và cái chung. Công Tôn Long đã phóng đại sự khác biệt giữa cái cá biệt là cái chung dẫn đến một kết luận sai lầm. Nhưng ông đã chỉ ra được sự khác biệt và cái chung. Rõ ràng là có ý nghĩa tích cực đối với sự nhận biết chính xác sự vật.

    Tây Thi không đẹp.

    Trung Quốc thời cổ có một nhà tư tưởng tên là Trang Tử, ông nói với mọi người rằng không có điểm khác biệt giữa mỹ nhân và cô gái xấu xí. Ông nói rằng: “Mọi vật đều có nguyên do của nó, mọi vật đều có thể tồn tại. Không có cái gì không có nguyên do, không có cái gì không thể tồn tại. Ví như Lệ và Tây Thi và đều là người. Trang Tử đã chứng minh quan điểm cái đẹp và cái xấu không có gì khác biệt như sau: Tây Thi là một mỹ nhân, cá nhìn thấy cũng phải giấu mình dưới nước, cũng như cô Lệ xấu xí, chim nhìn thấy nàng cũng vậy, vậy thì làm sao mà biết được hai người ai đẹp ai xấu?

    Chúng ta hãy bỏ qua việc cá và chim. Không thể nhận biết được sự xấu đẹp của con người. Trang Tử ở đây đã dùng những tiêu chuẩn so sánh khác nhau để phủ định tính khách quan của cái đẹp. Sự khác biệt giữa cái xấu và cái đẹp là tương đối. Nhưng khi đối tượng so sánh đã được xác định đối với cùng một tiêu chuẩn thì trong sự khác biệt tương đối giữa cái xấu và cái đẹp hàm chứa cả nội dung tương đối, đặt cô Lệ xấu xí cạnh người đẹp Tây Thi để so sánh thì Tây Thi đương nhiên là người đẹp.

    Vạn vật đều có cơ sở tồn tại và tính hợp lý của nó, đây là một điều hoàn toàn đúng, nhưng nếu nói vạn vật đều có ý nghĩa tương đối với nhau không nghi ngờ thì đó là sự nguỵ biện. Ở đây, Trang Tử đã đảo lộn các tiêu chuẩn so sánh không giống nhau của các sự vật làm cho mọi người theo chủ nghĩa tương đối đạt mục đích mà ông muốn chứng minh.

    Thượng đế có tồn tại.

    Thượng đế có tồn tại, xem ra ngày nay, tất cả mọi người đều không cho rằng điều này có cơ sở khoa học, mà chỉ là một đạo lý giả tưởng. Tuy nhiên, thời trung cổ, Anselon bằng việc chứng minh luận chứng này đã tuyên bố đó là sự thật. Anselon đã nói rằng. “Khi chúng ta suy nghĩ về Thượng đế, chúng ta coi rằng thượng đế là sự tổng hoà của tất cả cái đẹp của con người trước tiên phải tồn tại. Bởi vì những vật không tồn tại thì tất nhiên không thể coi là hoàn mỹ. Do vậy mà chúng ta nhất thiết phải coi sự tồn tại là một trong những sự hoàn mỹ của Thượng đế, vì vậy Thượng đế nhất định có tồn tại”. Tiền đề của luận chứng đó là những vật có trong suy nghĩ đều tồn tại. Tuy nhiên, đây là một tiền đề giả tưởng, lẽ nào chúng ta nghĩ đến một người có ba đầu sáu tay nên quái vật đó sẽ có thật? Ngoài ra kết luận mà cần chứng minh “Thượng đế có tồn tại“ đã bao hàm trong tiền đề rồi.

    Thỏi vàng giá một nửa không cần tiền.

    Trước kia, có một ông quan huyện đến cửa hàng vàng bạc mua thỏi vàng, chủ cửa hàng cầm ra hai thỏi vàng. Ông quan huyện hỏi: “Giá hai thỏi vàng này bao nhiêu?“

    Người chủ cửa hàng trả lời: “Nếu đại nhân muốn mua, tiểu nhân chỉ bán cho ngài giá một nửa thôi.“

    Huyện quan không hỏi giá tiền nữa, lấy một thỏi, còn một thỏi trả lại cho người chủ cửa hàng rồi bước ra khỏi cửa hàng. Chủ cửa hàng vội vàng nói: “Xin đại nhân trả tiền ngài đã mua một thỏi vàng.“

    Ông quan huyện: “Không phải là ta đã trả cho ngươi rồi.“

    Chủ cửa hàng ngạc nhiên nói: “Tiểu nhân đâu có nhận được tiền.“

    Ông quan huyện đổi giọng: “Tên hạ dân to gan kia, bản quan mua của hai ngươi hai thỏi vàng, ngươi nói chỉ lấy một nửa giá, ta đã trả lại cho ngươi một thỏi vàng coi như là trừ giá tiền một nửa. Ta mà lừa ngươi ư?“

    Nói xong rồi đi thẳng. Xem ra thì cũng có lý. Một nửa giá hai thỏi vàng chẳng phải là một thỏi vàng? Kỳ thực không đúng. Hai khái niệm “thỏi vàng“ và “giá vàng“.

    Một thỏi vàng là hai nửa thỏi vàng, chứ không phải là một nửa giá của hai thỏi vàng, ví dụ: giá của hai thỏi vàng là 100 lạng bạc. Mỗi thỏi giá 50 lạng bạc, giá của nửa thỏi giá 25 lạng bạc. Không thể ngang bằng với giá của hai thỏi vàng. Nếu như cho rằng một thỏi vàng giá bằng một nửa hai thỏi vàng thì có khéo cho không.

    Điều này rõ ràng là không hợp lý: Vấn đề là ở chỗ nào? Ở chỗ: ông quan huyện đã lấy khái niệm một nửa thỏi vàng để đổi lấy một nửa giá của một thỏi vàng. Theo logic của vị quan này, một nửa giá của hai thỏi vàng chẳng phải là bằng một thỏi vàng? Do hai khái niệm chỉ gồm những từ “thỏi vàng“ và “một nửa“ lại lẫn lộn thêm với khái niệm giá một nửa và giá toàn bộ. Do vậy, nếu không suy nghĩ kỹ thì tuy biết rõ ông huyện quan này không đúng nhưng ngay lúc đó lại không nói lại được ông ta nói sai ở chỗ nào.

    Chu Nguyên Chương gây khó dễ với tiến sỹ.

    Triều Minh có một tiến sỹ tên là Giải Tấn rất giỏi nịnh, được Chu Nguyên Chương xem trọng, dần thăng chức.

    Một hôm, Chu Nguyên Chương đột nhiên hỏi ông ta rằng: “Ngài có biết đêm hôm qua có chuyện gì vui?”

    Ông tiến sỹ nghĩ tới việc thái tử vừa được sinh ra nên ngâm câu thơ rằng: “Quân vương đêm qua sinh rồng vàng.“ ông ta muốn ví thái tử với rồng vàng.

    Hoàng đế nghe xong rất vui, đâu ngờ Chu Nguyên Chương lại nói rằng: “Người sinh ra là bé gái.“

    Sự thay đổi này làm cho Giải Tấn hơi sững người. Nhưng ông ta lập tức đọc một câu thơ thứ hai: “Biến thành mỹ nhân xuống cửu trùng.“

    Chu Nguyên Chương lại nói tiếp một câu: “Đáng tiếc là sau khi sinh ra thì chết yểu.“

    Giải Tấn nghe xong lại ngâm tiếp một câu thơ thứ ba: “Đoán rằng nhân gian ở chẳng đặng.“ Có nghĩa là nàng ta đã về trời rồi.

    Nhưng Chu Nguyên Chương lại nói : “Nhưng đã quẳng nàng vào trong lòng biển.“

    Câu này khiến cho Giải Tấn lúng túng, vừa nói nàng đã bay lên trời rồi làm sao mà xuống biển được? Nhưng ông ta trầm tĩnh đọc tiếp: “Quay mình nhảy xuống thuỷ tinh cung.“

    Chu Nguyên Chương vừa làm khó cho Giải Tấn nhưng Giải Tấn trong khi nguy cấp, ông ta đã rất thông minh biến nguy thành yên, tự bào chữa, giúp mình tránh khỏi tình cảnh khó xử. Thật là nếu không có sự tu luyện ngôn ngữ xuất sắc như vậy thì không thể có được sự cao siêu như thế.

    Hoàng Mi Tăng ra câu đố khó cho Thanh Bào Khách.

    Trong “Thiên long bát bộ“, khi Hoàng Mi Tăng đánh cờ với Thanh Bào Khách. hai người đều muốn đánh trước, sau đó Hoàng Mi Tăng muốn Thanh Bào Khách đoán câu đố, nếu như đoán đúng thì sẽ cho Thanh Bào Khách đi trước, nếu không đoán được thì ngược lại. Hoàng Mi Tăng đố Thanh Bào Khách: “Ông thử đoán xem, lão tăng hơn 70 tuổi, ngón chân của hai bàn chân là số lẻ hay số chẵn?“

    Thanh Bào Khách trả lời: “Là số chẵn.“

    Hoàng Mi Tăng nói: “Ông đoán sai rồi, là số lẻ.“

    Thanh Bào Khách nói: “Bỏ giầy ra sẽ rõ.“

    Sau khi Hoàng Mi Tăng cởi giầy ra, quả nhiên ông cũng như người thường có mười ngón chân, nhưng Hoàng Mi Tăng nhấc thỏi thép ở bàn chân trái ra rồi Hoàng Mi Tăng cười đáp: “Năm nay lão tăng 19 tuổi đến khi 70 tuổi, ngón chân của ta là số lẻ.“

    Mỗi người đều có mười ngón chân, điều này ai cũng biết, nhưng ông ta ngược lại hỏi Thanh Bào Khách rằng khi ông hơn 70 tuổi, ngón chân của ông ta là số chẵn hay lẻ. Đây chính là ông đã cố tình dựng chuyện huyễn hoặc.

    Đối phương sợ ông ta cố ý huyễn hoặc nên đoán là số lẽ vậy là ông ta đoán sai. Bởi vì ông ta vốn cũng có mười ngón chân như mọi người. Nếu như Thanh Bào Khách đoán là số chẵn thì cũng sẽ bị sai bởi vì một ngón chân của Hoàng Tăng có thể tháo ra. Ở đây, Hoàng Mi Tăng đã đưa ra một vấn đề, đó là khi ông hơn 70 tuổi thì vận mệnh của ngón chân ông sẽ ra sao. Như vậy trước khi ông ta 70, số ngón chân của ông ta chẵn hay lẻ đối với người đoán chẳng hề quan trọng, nhưng không ai có thể đoán được ngón chân ông ta đến 70 tuổi sẽ như thế nào.

    Buộc phải làm chưởng môn.

    Tô Tinh Hà biết rằng sư phụ trước khi lâm chung đã truyền hết võ công cho Hư Trúc, vì vậy muốn Hư Trúc làm chưởng môn của phái Tiêu Dao, nhưng Hư Trúc lại chẳng hề muốn đảm nhiệm chức vụ này, Tô Tinh Hà bèn dùng cách tự sát để ép Hư Trúc. Hư Trúc thấy vậy rất lo, vội vàng ngăn cản, Tô Tinh Hà nói. “Anh muốn tôi chết, tôi sẽ chết. Anh muốn tôi sống, tôi sẽ sống. Đây là lệnh của người đứng đầu trong thiên hạ. Nhưng anh chẳng phải là chưởng môn, vậy sao có thể bắt tôi chết hay sống?“

    Hư Trúc chịu thua, đành nói: “Như vậy, những lời tôi vừa nói là sai, tôi huỷ bỏ là được.”

    Tô Tinh Hà nói: “Anh bỏ lệnh không cho phép tôi tự vẫn, tức là cho phép tôi tự vẫn. Vậy là tôi phải chết thôi. “

    Hư Trúc không muốn làm chưởng môn thì Tô Tinh Hà sẽ chết, Hư Trúc chẳng đành lòng thấy anh ta chết, nhưng nếu không có quyền của chưởng môn thì không thể ra lệnh cho anh ta sống hay chết. Vì thế, Hư Trúc không muốn anh ta chết thì phải làm chưởng môn. Anh không muốn làm nên huỷ bỏ lời của mình. Anh vừa nói là “không cho phép Tô Tinh Hà tự vẫn. “ Bây giờ huỷ bỏ nó, tức là hai lần phủ định. Câu “Anh huỷ bỏ lệnh không cho phép tôi chết“ lại có ý nghĩa: Tôi không cho phép anh không tự vẫn. Hư Trúc đã muốn Tô Tinh Hà chết thì Tô Tinh Hà sẽ nghe theo, như vậy anh sẽ là chưởng môn. Bởi vì chưởng môn mới có quyền ra lệnh sống hay chết.

    Việc của thái tử cũng như việc của quả nhân

    Theo ghi chép, vào thời Chiến Quốc, Sở Bình vương đã từng tuyển chọn giai nhân Mạnh Doanh về làm vợ thái tử Kiến, nhưng sau đó lại nuốt lời, lấy Mạnh Doanh làm thiếp của mình, điều thái tử Kiến ra khỏi kinh thành và để Phấn Dương đi bảo vệ thái tử, lúc sắp lên đường, ông ta đã nói nước đôi với Phấn Dương rằng: “Việc của thái tử cũng như việc của quả nhân!“. Sau đó một mực đòi Phấn Dương giết chết thái tử với tội mưu phản. Phấn Dương rất thông cảm với thái tử nên đã mật cáo với thái tử và yêu cầu anh ta chạy chốn. Sau khi thái tử chạy chốn, Phấn Dương đã tự hỏi mình để đến gặp Bình Vương, tấu viết: “Thái tử đã chạy trốn rồi ! Thần đến để xin chịu tội.“ Bình Vương nghe xong nổi giận đùng đùng: “Chuyện này vừa ra khỏi miệng ta là đến tai ngươi, ai nói cho thái tử Kiến biết?“ Phấn Dương không né tránh mà tấu rằng: “Thần nói cho thái tử biết“.

    Chỉ một câu nói thôi nhưng đã làm cho Bình Vương tức đến nỗi nổi giận lôi đình, chỉ hận một nỗi là không lập tức vung dao giết chết Phấn Dương được. Ông ta nói rằng: “Ngươi đã tự động thả thái tử thì chẳng khác nào con thỏ trong miệng hổ, tuyệt đối không có hy vọng được sống sót“ Nhưng Phấn Dương rút cục vẫn là một người tài năng vượt bậc, mưu trí dũng cảm và giỏi ăn nói, nào chịu thua được? Thế là ông ta liền biện bạch rằng: “Khi thần đi Thành Văn, đại vương có nói rằng việc của thái tử cũng như việc của quả nhân, nên thần đã tuân theo mệnh lệnh lúc ban đầu, cứu thái tử cũng như cứu đại vương, thần chẳng có tội gì phải sợ cả. Nếu đại vương trách thần không tuân theo lệnh về sau, bắt tội thần và giết thần, thần vì cứu thái tử mà bị giết thì chết cũng vinh quang. Cái chết vinh quang thì làm gì phải sợ. Huống hồ thái tử không hề làm phản, thần không giết oan người vô tội, dù thần có bị định tội và bị giết thì chết cũng không hối hận, việc gì phải sợ Thái tử vì vô tội mà trốn thoát được đó là tâm nguyện của thần, thần chết cũng cam lòng, việc gì phải sợ?“

    Cuối cùng đã làm cho Bình Vương cảm động tha mà không giết, lại còn phong làm tư mã Thành Văn nữa.

    Phân tích việc tự biện bạch lỗi lầm của Phấn Dương thì thấy rằng ông ta chỉ dựa vào câu nói “Không sợ tội sao?“ của Bình Vương để tung ra phản đòn, nói ra bốn từ “việc gì phải sợ” nhằm gợi được lòng trắc ẩn của Bình Vương để ông ta nhận thức được sự bỉ ổi của hành vi cầm thú của mình, cuối cùng buộc phải thả Phấn Dương. Bốn từ “việc gì phải sợ” của Phấn Dương thứ nhất là bịt được miệng của Bình Vương -Ngài yêu cầu tôi “Việc của thái tử cũng như việc của quả nhân“, nay tôi cứu thái tử cũng như là cứu ngài, tôi vô tội vậy việc gì phải sợ? - Thứ hai là nói về việc chết vì thái tử, sự vinh quang của cái chết. Đã là vinh quang thì chẳng có gì đáng sợ cả. Thứ ba là Phấn Dương căn cứ vào việc thái tử chưa từng mưu phản để xoá bỏ cái án oan này đối với một người vô tội như thái tử thì Phấn Dương không những không có tội mà còn có công. Đương nhiên là cũng chẳng có gì phải sợ. Điều này buộc người đương sự phải suy nghĩ về lỗi lầm giết oan người vô tội của mình. Tiếp đó, Phấn Dương thà lấy cái chết của mình để đổi lấy cuộc sống cho thái tử, thể hiện lòng trung thành tuyệt đối và càng làm cho người khác cảm động. Bốn từ “việc gì phải sợ” thì dù cho là người có tấm lòng sắt đá cũng phải mủi lòng, làm sao không khiến cho Bình Vương phải tự kiểm điểm kỹ cho được?

    Phấn Dương quả là biết tác động vào tình cảm, thông hiểu lý lẽ, đã làm rung động lòng trắc ẩn của Bình Vương, khiến ông ta lấy lại được lương tri, từ trong sự hối hận nhận thức được “lòng trung thành, thẳng thắn đáng khen ngợi” của Phấn Dương, không những không thể giết mà còn khôi phục nguyên chức.

    Cách chiết khấu của người Mĩ

    Chỉ chiết khấu không thì chưa đủ, thêm một chút yêu cầu cổ quái không những không phải chiết khấu quá nhiều mà còn có thể lấy lòng được các thượng đế nữa.

    Xin hãy xem người Mĩ làm như thế nào:

    Có một ông đến phòng bán vé của công ty hàng không miền Tây và nói với cô bán vé rằng: “Cho tôi mua hai vé đi Jiujinshan“.

    “Ngài có phải là người da đỏ của Mĩ không?“

    “Không phải. Cô hỏi chuyện đó để làm gì?“

    “Thật đáng tiếc, thưa ngài, nếu ngài là người da đỏ, bay vào lúc 4 giờ sáng và lại quay về vào sáng ngày hôm sau thì chúng tôi có thể giảm giá cho ngài 30%, nhưng bây giờ chỉ còn lại 8%.“

    “Ôi, Chúa ơi, xin hỏi các chị còn những điều kiện ưu đãi gì nữa không?“

    “Ồ, nếu ngài đã kết hôn được hơn 50 năm mà vẫn chưa li hôn, hơn nữa lại còn đi tham dự kỉ niệm ngày cưới, thì chúng tôi sẽ giảm giá cho ngài 20%.“

    “Điều này chẳng phù hợp với tôi, có còn nữa không?“

    “Ồ thế vợ của ngài vẫn chưa đến 60 tuổi chứ? Nếu vẫn chưa đến 60 tuổi, hơn nữa lại không vội để đi du lịch vào cuối tuần thì có thể được hưởng giá ưu đãi 2%.“

    “Nhưng cuối tuần chúng tôi mới rỗi.“

    “Ồ ngài đừng nản lòng, xin hỏi ngài và vợ ngài có ai đã từng là sinh viên chưa? Nếu trong hai người có người đã từng học đại học, hơn nữa lại đi máy bay vào ngày thứ sáu thì chúng tôi có thể giảm giá 45% cho ngài.“

    “Trời ơi! Rẻ được gần một nửa. Nhưng đáng tiếc là hai năm trước tôi đã học xong đại học rồi. Thế này đi! Cô đừng ưu đãi cho tôi nữa, cám ơn cô đã giới thiệu.“

    Bạn xem, biết bao nhiêu là điều kiện ưu đãi với những màu sắc hài hước như vậy, người khách này tuy cuối cùng không được hưởng ưu đãi là bao nhưng cũng vui vẻ mua vé máy bay.

    Nhà triết học và kẻ tầm thường

    Sông núi nhờ có sự độc đáo mà thu hút được con người; các nhà khoa học nhờ có những ý tưởng lì lạ nên mới có thể nhóm nên những ánh lửa trí tuệ, ngạn ngữ có những câu nói đặc biệt mới có thể thâm nhập được vào tâm hồn con người. Trong cuộc sống thường nhật và trong các quan hệ xã hội, nếu đối đáp khéo léo, có thể gợi mở cho người ta suy nghĩ hoá giải sự khó xử, biến chủ động thành bị động, hơn nữa còn giàu ý vị và tạo hiệu quả sâu xa.

    Có người hỏi nhà triết học Aristotles rằng: “Ngài có gì khác so với người tầm thường?“ Ông ta trả lời rằng: “Họ sống là để ăn cơm, còn tôi ăn cơm là để sống.“ Câu trả lời của nhà triết học chỉ thay đổi vị trí trật tự của các từ, nhưng đã vẽ ra hình tượng một cuộc sống tầm thường của những người “ăn no cứng bụng, chẳng hề lo nghĩ, đi đứng như loài chó lợn“, vừa thể hiện được tất cả những vĩ nhân có những đóng góp trác tuyệt đối với nhân loại bao gồm cả Aristotles trong đó, họ ăn cơm cũng giống như máy móc cho thêm dầu mỡ để chuyển động mà thôi, so sánh một cách mới mẻ về hai kiểu người hoàn toàn đối lập nhau, một ti tiện, một cao cả; một bình thường, một vĩ đại, sự tôn ti cao thấp có sự phân biệt rõ rệt. Câu trả lời này thoạt nhìn tưởng đơn giản, kì thực là rất khó khăn, tưởng bình thường mà lại rất đặc biệt, có thể nói là vô cùng tuyệt vời.

    Con đường của những kẻ đánh bạc.

    Tương truyền một người bố nọ biết con mình nhiễm phải thói xấu là đánh bạc, liền viết cho anh ta một bài thơ răn đánh bạc, dùng thơ để khuyên can. Thơ viết rằng: “Bối giả thị nhân bất thi nhân, chỉ nhân kim bối khởi hoạ căn - hữu hiệu nhất nhật phân bối liễu, đáo đầu thành vi khiếm nhân.“ Người con trai nghe xong vẫn không hiểu được ý của cha. Cha anh ta mới giải thích rằng: “Người nợ nần là kẻ cờ bạc“, “Kim khiếm thị bần“ (trong tiếng Trung nếu ghép hai từ “kim “ và “khiếm “ thì sẽ thành chữ “tham “ có nghĩa là “tham lam“), “phân bối thị bần“(trong tiếng Trung, nếu ghép hai từ “phân” và “bối “ thì sẽ thành chữ “bần“ có nghĩa là bần hàn). “Bối giới thị tặc “(trong tiếng Trung, nếu ghép hai từ “bối “ và “giới “ thì sẽ thành chữ “tặc “ có nghĩa là cướp). “Cờ bạc, tham lam, bần hàn, cướp giật, là con đường tất yếu của những kẻ đánh bạc“.

    Người con trai nghe xong, chợt tỉnh ngộ, từ bỏ chuyện cờ bạc để quay lại con đường lương thiện, tự hưởng theo công lao mà mình làm ra. Cách mà người cha khuyên con từ bỏ chuyện cờ bạc hay là ở chỗ: Thứ nhất, dùng phương pháp khuyên bằng thơ rất mới mẻ để khiến cho người con buộc phải suy nghĩ về hàm ý của nó. Thứ hai, khi người con suy nghĩ mãi mà vẫn chưa hiểu thì ông đã dùng một câu nói để nói hết ý thơ, nói ra được đạo lí: “đánh bạc tất nhiên sẽ nghèo khổ, kẻ cướp giật cũng từ những kẻ cướp giật mà ra“, khiến cho người con tỉnh ngộ. Câu thơ của người cha có cấu tứ độc đáo, vừa trình bày được ý tưởng lại vừa nói rõ được đạo lí.

    Trác Văn Quân khéo khuyên chồng

    Việc tài nữ Tây Hán là Trác Văn Quân khéo dùng con số để khuyên lang quân có thể coi là tuyệt tác.

    Trác Văn Quân là một tài nữ nổi tiếng thời Tây Hán, vì một tình yêu thiêng liêng, cô không để ý đến việc mọi người trách cứ, lén thành thân với Tư Mã Tương Như, mở quầy bán rượu mà không hề hối hận. Mới đầu hai vợ chồng rất tôn trọng nhau, tình cảm đằm thắm, sống những ngày vô cùng hạnh phúc. Nhưng về sau, Tư Mã tương Như ra làm quan, tình cảm đối với Trác Văn Quân ngày càng lạnh nhạt. Từ lá thư chỉ có 13 chữ: “Một hai ba bốn năm sáu bảy tám chín mười trăm nghìn vạn“ mà Tư Mã Tương Như viết cho mình, Trác Văn Quân đã hiểu Tư Mã Tương Như đã thay lòng đổi dạ. Cô lo Tương Như xa mặt cách lòng thì tình như mây khói. Thế là cô như hoá thân vào 13 chữ mà Tương Như viết cho mình rồi viết một bức thư khuyên chồng tình sâu nghĩa nặng, chứa đầy ai oán: “Sau một ngày chia cách, hai bên cùng mong nhớ. Dù nói là đi ba bốn ngày, ngờ đâu là 5,6 năm. Đàn bảy dây thiếp không buồn đánh, sách bát hành cũng chẳng muốn xem, bẻ gãy cả thế cửu liên hoàn, 10 dặm trường đình trông mòn con mắt. Trăm nhớ, ngàn thương, oán trách chàng hàng vạn lần. Hàng ngàn hàng vạn lời nói ra không hết. Chán ngán trăm phần đứng dựa lan can, tết Trùng Dương lên lầu trông bóng nhạn. Tháng 8 Trung Thu người đi không trở về. Cuối tháng 7 đốt nến châm hương khấn hỏi trời xanh. Tháng sáu mùa nóng nực mà lòng thiếp giá lạnh. Tháng 5 cây thạch lựu hồng như thắp lửa, bao trận mưa rào rơi xuống nhành hoa, tháng 4 Phê Ba chưa vàng, thiếp muốn soi gương mà trong lòng rối bời, lo lắng. Tháng 3 hoa đào trôi theo dòng nước, cánh diều phiêu du tháng hai đã đứt dây. Lang quân ôi, những mong kiếp sau những mong chàng là phận gái thiếp là phận trai.“

    Trong bức thư khuyên chồng có một không hai này của Trác Văn Quân có hai điều kì diệu, một là nàng đã khéo léo dùng 13 ba con số trong bức thư của chồng, qua đó nêu lên tâm sự của mình, bày tỏ nỗi niềm ai oán đối với người chồng phụ bạc. Hai là nàng ví von tinh tế, trong đó không có lời nào là trực tiếp khuyên chồng cả. Tư Mã Tương Như sau khi đọc xong bức thư khóc lóc ai oán này của vợ, ông đã vô cùng xúc động và hối hận trước tình cảm sâu nặng của vợ mình.

    Học sĩ đá và học sĩ ngói

    Sự bùng phát thông minh và nhanh trí, sự đối đáp khéo léo và thông minh thường khiến cho bạn vào những lúc lâm nguy có thể có được những hiệu quả bất ngờ, từ tuyệt lộ trở về.

    Nhà văn Thạch Mạn Khanh đời nhà Tống được người khác gọi là “Thạch học sĩ“. Một hôm sau khi uống rượu xong, liền cưỡi ngựa đến chùa Báo Quốc để dạo chơi, đột nhiên con ngựa sợ hãi lồng lên, hất Thạch Mạn Khanh từ trên mình ngựa xuống. Vậy mà, chỉ thấy Thạch Mạn Khanh đứng dậy phủi bụi trên người rồi cầm lấy roi ngựa, sau đó nói với những người xung quanh một cách hài hước rằng: “May mà ta là “Thạch“ học sĩ, chứ nếu như là “Ngõa“ học sĩ thì đã vỡ tan rồi“. Thạch học sĩ đã giải thích họ của mình với một cách khác, khéo léo thoát khỏi cảnh khó xử, được người đời khen là hay.

    “Tôi“ là người theo chủ nghĩa tập thể

    Nhà thơ nổi tiếng của Liên Xô Maiacopski một lần trong hội nghị, sau khi nhà thơ ngâm xong một tác phẩm mới của mình thì nhận được một mảnh giấy viết: “Ông nói là ông là một người theo chủ nghĩa tập thể, nhưng trong bài thơ của ông chỉ toàn thấy: “tôi, tôi...“ điều này nghĩa làm sao?“

    Nhà thơ đọc to mảnh giấy đó lên sau đó bình tĩnh trả lời: “Nichola đệ nhị thì không như vậy, khi nói toàn dùng “chúng tôi, chúng ta...“ lẽ nào bạn cho rằng ông ta là người theo chủ nghĩa tập thể? “ Trong hội trường bỗng vang dậy tiếng vỗ tay tán thưởng.

    Maiacopski đã nắm lấy từ “tôi“ trong lời nói của đối phương, ông không giải thích trực tiếp, mà đã chuyển chủ đề dùng “chúng tôi“ trong lời nói của Nichola đệ nhị để trả lời, khéo léo công kích lại đối phương.

    Cô gái lẳng lơ cầu tỏ tình

    Có một nữ diễn viên lẳng lơ dung nhan xinh đẹp tỏ tình với Shobona, nói rằng cô không quan tâm đến tuổi già và dung mạo xấu xí của ông vì ông là một thiên tài. Nếu một cô gái xinh đẹp kết hôn với một thiên tài như thế thì “Con của chúng ta sẽ có trí tuệ giống ngài còn dung mạo giống em, chắc chắn sẽ rất tuyệt vời.“

    Shobona phản bác lại: “Nhưng, nếu con của chúng ta có tướng mạo giống tôi, còn trí tuệ giống em, thì biết làm sao?“

    Câu hỏi này thật khó trả lời! Nó đã khiến cho cô gái không bao giờ dám gặp lại ông nữa.

    Trăm cánh cửa sẽ mở được mười cánh

    Một ông chủ khi bắt đầu sự nghiệp thiếu vốn rất nhiều, kinh doanh lại không tốt, ông bèn cùng với công nhân tận dụng mối quan hệ của mỗi người, tới các ngân hàng vay vốn. Ban đầu, tình hình vay vốn thật khó khăn, chạy vay khắp nơi, khi mọi người tụ hợp nhau lại mới biết uổng công cả ngày trời. Một công nhân hơi nản lòng, dự định bỏ công việc vất vả này, một lần trong cuộc họp đã dẫn câu “10 cánh cửa thì 9 cánh không mở được“ để hình dung khó khăn của công việc đi vay vốn.

    Trong hội nghị mà nói những câu như thế này thì thật khiến nhiều người nản chí! Nhưng, ông chủ kia đã nói một câu giống như vậy song lại ứng dụng trên một góc độ khác Lời nói thì giống nhau đấy nhưng hiệu thì hoàn toàn khác biệt.

    Ông nói: “Đúng vậy, tình hình của chúng ta bây giờ là '10 cánh cửa có 9 cánh không mở được'; nhưng cũng có nghĩa là '10 cánh sẽ mở được 1 cánh'. Như vậy, chúng ta phải gõ mười cánh cửa, cố gắng một chút, gõ nhiều hơn một chút là thành công rồi.“

    Ông chủ đã xử lý tình huống thật khéo léo, đã phát triển câu '10 cánh cửa có 9 cánh không mở được' thành ‘100 cánh cửa sẽ mở được 10 cánh', điều này cổ vũ công nhân rất nhiều, thuận lợi cho việc hoàn thành hoạt động vay vốn như đã định.

    Toát mồ hôi và không toát mồ hôi

    Một hôm, Nguỵ Văn đế cho truyền hai anh em Chung Dục, Chung Hội vào cung. Do lần đầu gặp mặt hoàng đế nên hai người rất căng thẳng, Chung Dục toát đẫm mồ hôi.

    Hoàng đế thấy vậy cười hỏi Chung Dục: “Vì sao ngươi toát mồ hôi?“

    Chung Dục vừa lau mồ hôi vừa trả lời: “Nơm nớp lo sợ mồ hôi như suối.“

    Hoàng đế lại hỏi Chung Hội: “Vì sao người không toát mồ hôi?“

    “Nơm nớp run sợ, mồ hôi chẳng dám toát.“

    Hai anh em, một người toát mồ hôi, một người không toát mồ hôi, nhưng đều dùng chữ nghĩa trả lời khiến hoàng đế phải khen ngợi, các quan trầm trồ tán dương.

    Hoàng đế là “ lão đầu tử “ (cách xưng hô đối với người già: ông già )

    Đại thần triều Thanh Kỷ Hiểu Lam học vấn uyên thâm, tư duy nhanh nhạy, trí tuệ hài hước, rất được hoàng đế Càn Long sủng ái. Một lần, Kỷ Hiểu Lam đang gọi hoàng đế Càn Long là “lão đầu tử“ thì bị Càn Long nghe thấy. Hoàng đế rất tức giận, ngay lập tức trách mắng Kỷ Hiểu Lam “Sao nhà ngươi lại gọi trẫm là 'lão đầu tử'? Nếu giải thích có lý thì toàn mạng, ngược lại thì mất mạng.“

    Nếu là người khác thì đã sớm hồn bay phách lạc, nhưng Kỷ Hiểu Lam trong cái khó ló cái khôn, lập tức đáp: “Hoàng thượng được tung hô 'vạn tuế’ chẳng phải là 'lão' ư? Hoàng thượng đứng đầu trăm họ, chẳng phải là 'đầu’ sao? Hoàng thượng là con trời (thiên tử), chẳng phải là 'tử' ư?“

    Hoàng thượng nghe xong, cảm thấy rất có lý, cũng chuyển giận làm vui.

    Anh trai của Tống Cao Tông

    Tháng 9 năm 1957, Mao Trạch Đông tới Thượng Hải, được mời gặp Triệu Siêu Cấu, giám đốc toà soạn báo Tân Dân. Lúc đó, tinh thần anh Triệu rất bất an vì tình hình chính trị bấy giờ. Chẳng ai ngờ, vừa gặp anh Triệu, Mao Trạch Đông đã nói với người bên cạnh: “Anh trai của Tống Cao Tông đến rồi kìa?“. Ông đã từ tên gọi 'Siêu Cấu’, nhanh trí liên tưởng tới tên gọi của Tống Cao Tông là 'Triệu Cấu’. Như thế chẳng phải là anh trai của Tống Cao Tông sao? Những lời nói đó khiến mọi người không ngờ tới, thoạt nghe sẽ giật mình, khi nghĩ kỹ một chút mới thấy hết nghĩa trong đó, đặc biệt còn có chút khôi hài, làm cho cả hội trường bỗng chốc tràn ngập tiếng cười. Gánh nặng trong tư tưởng của Triệu Siêu Cấu cũng lập tức được giải toả. Mao Trạch Đông liên tưởng đến tên họ của nhân vật lịch sử, lấy tên họ của Triệu Siêu Cấu để giải thích, để mọi người cùng vui vẻ lúc chợt hiểu ra khi suy nghĩ kỹ.

    Lãnh đạo không có tài ăn nói

    Khả năng ứng biến linh hoạt biểu hiện ở trình độ vận dụng tổng hợp có trí tuệ trên các phương diện quan sát, cảm thụ, suy nghĩ, phân tích..., nó đòi hỏi con người phải luyện tập thành thục để phân tích tổng hợp đối với văn tự và lời nói, trong một khoảng thời gian ngắn có thể quan sát kỹ càng, hiểu thấu biết sâu, tư duy nhanh nhạy, biện luận chuẩn xác.

    Có một vị diễn giảng đến trường đại học để diễn giảng, lãnh đạo trường đã ngồi ở dưới để nghe, khi vị diễn giảng này nói đến: “Chúng ta có một số lãnh đạo không có tài ăn nói, ở trên bục họ cứ ấp a ấp úng, nói chẳng lưu loát, người nghe rất khó chịu.“, thì học sinh ngồi ở dưới bỗng cười ầm lên, ông ta ngay lập tức nghĩ rằng mình đã nói sai, liền lập tức đính chính, nhanh trí cứu vãn sai sót. Ông ta đã nói thế này: “Nhưng điều này có thể trách họ không? Tôi nhớ là trong thời gian chiến tranh giải phóng, một số lãnh đạo của chúng ta rất có tài ăn nói. Nhưng sau này do có sự nhiễu loạn của 'mặt trái', mọi người không dám ăn nói tuỳ tiện, sau khoảng 57 năm, mọi người không dám nói thật, mọi người bắt đầu nói dối, nói khoác, lãnh đạo của chúng ta không chỉ mở bài viết ra nói, ngay cả khỉ đọc bài viết cũng nơm nớp lo sợ, chỉ e đọc sai một chữ thì sẽ bị 'phản đối kịch liệt'. Lâu nay, lãnh đạo của chúng ta không dám nói nên dần dần ít nói, ít nói thì làm sao có thể nâng cao được tài ăn nói đây?...“

    Hết
     

Share This Page