Nước Nhật Mua Cả Thế Giới - Piere Antoine Donnet

Discussion in 'Ebook' started by hontuyetlan, Aug 16, 2014.

  1. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Đức và Nhật Bản: cuộc trả thù của những kẻ bại trận

    Người Đức không sợ người Nhật. Nước Đức thống nhất và nước Nhật đều có điểm chung là hai nước bại trận của năm 1945 và đều là hai nước thắng trận của những năm 80. Và có lẽ ít có nước nào trên thế giới như nước Đức lại không hề bận tâm quá đáng đến sự thâm thủng mậu dịch của mình với Nhật Bản. Trao đổi mậu dịch Đức-Nhật đã đạt mức 23,9 tỷ đô la (119,5 tỷ franc) vào năm 1989. CHLB Đức là bạn hàng chủ yếu của Nhật Bản ở châu Âu và Nhật Bản là đầu cầu đầu tiên của Đức ở châu Á. Vì vậy, mức thâm thủng mậu dịch của Đức từ nhiều năm qua giữ ở mức 15 tỷ mark (49,5 tỷ franc). Con số này chỉ là một món nợ nhỏ nhoi đối với một đất nước mà vào năm 1989 đã thực hiện được mức thặng dư mậu dịch lên đến 150 tỷ mark (495 tỷ franc).
    Mặc dù nền công nghiệp của mình trong nhiều lĩnh vực thuộc vào hàng hiện đại nhất trên thị trường thế giới, nước Đức vẫn bị Nhật Bản nhòm ngó. Các nhà đầu tư không hề do dự tấn công vào những hãng nổi tiếng nhất. Đôi khi họ thành công. Chẳng hạn như vào mùa hè 1990, tập đoàn điện tử TDK loan báo đã ký một thỏa thuận với hãng Robert Bosch. Cũng vào tháng ba năm này, hãng Mitsubishi đã đạt được thỏa thuận sơ bộ với hãng Daimler Ben về toàn bộ các hoạt động của họ trừ việc sản xuất vũ khí. Nếu những thương lượng này thành công, giới sản xuất xe hơi châu Âu sẽ không khỏi bị đe dọa. Song cũng đôi khi, người Nhật lại chẳng được xơ múi gì như trong việc tìm cách mua lại hãng sản xuất dụng cụ thể thao Adidas mà cuối cùng một nhà kinh doanh người Pháp là Bernard Tapie đã mua được: Người Nhật đã trả gấp đôi giá mà ông ta đã đưa ra, song những người thừa kế của tập đoàn này đã lịch sự từ chối mọi đề nghị của người Nhật và thích bán cho một nhà công nghiệp ít giàu hơn nhưng là người châu Âu và có quyết tâm giữ gìn cái bản sắc của hãng. Đừng tưởng là người Nhật vắng mặt trong cuộc chơi này bởi vì nhiều ngân hàng Nhật đã dự phần vào cuộc đấu giá của Bernard Tapie. Không có những ngân hàng này, có lẽ ông ta sẽ không đủ tiền để tiến hành vụ mua bán đó một cách trót lọt.
    Để đo lường lợi ích của người Nhật ở Đức, cần biết rằng cộng đồng người Nhật quan trọng nhất ở lục địa châu Âu nằm ở Dusseldorf, thủ đô của Rhénanie-Westphalie và là thủ phủ công nghiệp. 6.300 người Nhật đang có mặt ở đây. Họ làm việc trong 325 xí nghiệp Nhật Bản, tạo thành một cộng đồng đô thị của thành phố này. Dusseldorf còn có một trường học của Nhật Bản tiếp nhận gần một ngàn học sinh Nhật từ 6-15 tuổi.
     
  2. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Bất động sản "de luxe"

    Bất động sản cao cấp ở những thủ đô trên thế giới đã trở thành đối tượng ham muốn của người Nhật. Ai mua ? Đó trước hết là những công ty bảo hiểm vốn không biết đầu tư vào đâu và bằng cách nào bởi quá giàu. Người Nhật lần lượt mua hết New York đến Luân Đôn, Paris, Hồng Kông. Thật ra, họ mới chỉ sở hữu 2% các bất động sản thương mại của Mỹ và nếu xét về số lượng thì còn đứng sau các nhà đầu tư châu Âu. Song cần nhớ rằng tình hình đó không hề dậm chân tại chỗ mà cần phải thấy rõ động lực của tiến trình trên.
    Theo những thống kể chưa đầy đủ, các hãng Nhật đã bỏ ra 2.587 tỷ yên (93,5 tỷ franc) trong ba năm (1986-1988) để mua lại các bất động sản ở nước ngoài. Một nửa các vụ mua bán chuyển nhượng này được tiến hành ở Mỹ (51,3%), gần ¼ ở Úc (22,4%) và ở châu Âu (19,5%), châu Á 6,5% [62]. Các con số này không hề tính đến những vụ mua bán bất động sản nhờ việc hợp nhất về sở hữu do các ngân hàng Nhật và các tổ chức tài chính khác tiến hành. Nếu tính tất cả thì tổng vốn đầu tư của Nhật Bản sẽ lên đến 10.000 tỷ yên, tức hơn 65 tỷ đô la (325 tỷ franc) trong thời gian ba năm này. Tốc độ của các vụ mua bán này xem ra không giảm dần mà trái lại còn đang tăng nhanh. Chỉ trong năm ngân sách 1989, các ước tính của Bộ Tài chính Nhật đã lên đến con số trên 10 tỷ đô la (50 tỷ franc). Theo Hajime Tsuboi, chủ tịch Mitsui Real Estate Development - một trong những hãng bất động sản hàng đầu của Nhật Bản - sự bùng nổ của các vụ mua bán bất động sản của Nhật Bản ở nước ngoài chưa thấy có dấu hiệu sẵn sàng giảm bớt. Thật thế, những gì mà Nhật Bản mua lại của Mỹ chỉ trong vài năm đã nhiều hơn cả những gì nước Anh mua lại của Mỹ trong một thế kỷ [63].
    Tại Mỹ, vào cuối năm 1989, Nhật Bản đã sở hữu một số bất động sản ước trị giá 57,65 tỷ đô la (288,25 tỷ franc). Một năm trước đó, toàn bộ sở hữu của Nhật ở nước này chỉ lên đến 42,88 tỷ đô la (214,4 tỷ franc). Các nhà đầu tư Nhật đã đạt đến cao điểm trong việc mua lại các bất động sản của Mỹ là vào năm 1988 với 16,54 tỷ đô la (82,7 tỷ franc). Năm 1989, tốc độ này có phần nào giảm bớt, mặc dù vào cuối tháng 10, đã làm rùng beng trong vụ mua lại một phần Trung tâm Rockefeller ở New York. Với cái giá 846 triệu đô la (4,230 tỷ franc), một biểu tượng khác của Mỹ cũng đã thuộc về người Nhật. Chỉ một tháng sau vụ mua hãng phim Columbia, công ty bất động sản Mitsubishi đã lại mua trung tâm Rockefeller, trụ sở hãng truyền hình NBC, nơi mà vào mỗi mùa giáng sinh, người dân Mỹ đều đến đây để nhìn ngắm ánh đèn lung linh của cây thông đẹp nhất toàn nước Mỹ.
    Ông chủ mới Nhật Bản đã hoài công hứa hẹn là sẽ không đụng chạm gì đến diện mạo của tòa nhà. Sự lăng nhục này đã quá đủ để lay chuyển ý thức của những người Mỹ bình thản nhất về những trò ngông cuồng của người Nhật. James P. Shenton, giáo sư sử học thuộc đại học Columbia tuyên bố: "Nếu như nước Nhật thắng trận và muốn kéo cờ của xứ sở Mặt trời mọc thì có nơi nào vinh dự hơn là trung tâm Rockefeller ?" [64]. Tháng 11, lại đến lượt khách sạn cao nhất của Manhattan là Royal Concordia, 54 tầng rơi vào tay người Nhật. Vụ mua bán này giá 230 triệu đô la (1,15 tỷ franc) do công ty Royal Hotel tiến hành.
    Bị báo chí Mỹ lên án là muốn mua cả nước Mỹ, các nhà đầu tư Nhật hẳn đã được Bộ Tài chính Nhật ở Tokyo lưu ý: đừng mua những tòa nhà quá lồ lộ, hãy lưu tâm đến những điều tế nhị tại địa phương, hãy tránh những vụ mua bán có tính chất khiêu khích. Các hãng Nhật tự coi việc tuân thủ các mệnh lệnh này của chính phủ như một trách nhiệm đạo đức. Các vụ xì căng đan về đạo đức và tham nhũng từng làm rung chuyển chính phủ Nhật và làm đổ nhào nhiều thủ tướng, đã đặt ra một giới hạn kỷ luật cho các hãng Nhật. Tuy vậy, đa số các hãng vẫn tìm cách đa dạng hóa các vụ mua bán và cố tránh những vụ mua bán quá lộ liễu. Giờ đây mục tiêu là các thành phố trung bình, những điểm nghỉ mát, những trang trại lớn, những cơ sở trượt tuyết. Nhưng trong năm 1989, 82% đầu tư của Nhật Bản vào lĩnh vực bất động sản được tiến hành ở New York, California và Hawai [65].
    Hơn bất cứ ở nơi nào trên đất Mỹ, đảo Hawai đã hoặc đang trở thành một thuộc địa của Nhật Bản. Một điều tương tự cũng đang diễn ra với đảo Guam, nằm giữa Thái Bình Dương. Hai nhà báo Margaret Shapiro và Fred Hiatt, chuyên về Nhật Bản đã viết [66]:
    "Chỉ có bầu trời ở bên trên vùng san hô vốn tạo thành bán đảo nhiệt đới này là còn thuộc về nước Mỹ. Các pháo đài bay B-52 quây quần trên các bãi biển và các trực thăng Chinook gào thét dọc theo Vịnh Tumon. Những gì còn lại thì đều đã thuộc về nước Nhật: khách san, quán bar karaoke, du khách và xe cộ".
    Đảo Guam là một biểu tượng, bởi lẽ năm 1944, nó là mảnh đất đầu tiên mà quân đội Mỹ giành lại được từ tay người Nhật. Các dự án của Nhật Bản trong những năm sắp tới lên đến 3 tỷ đô la (15 tỷ franc). Số tiền này sẽ được đầu tư xây dựng các khách sạn mới, sân golf, sân vận động và các nhà nghỉ hạng sang dành cho các khách du lịch xộp đến đây "đốt" tiền của họ. Quả thật, cũng như ở bất cứ nơi nào khác, tiền bạc chẳng phải là cái để một vài người Nhật giàu có hợm hình vung tay tiêu phí. Nó được đầu tư vào mục đích tiền lại đẻ ra tiền và đẻ ra nhiều hơn nữa.
    Tính chung toàn cầu, các nhà đầu tư hàng đầu của Nhật Bản đều cho rằng sở hữu của nước Nhật tại Mỹ hiện đã đủ và họ đang chuyển hướng cơn đói của mình vào Tây Âu, Úc và Tân Tây Lan. Tuy rằng cũng còn nhiều vụ mua bán phải dứt điểm, bởi vì các vụ mua bán dự định cho năm 1990 tăng từ 13 đến 19 tỷ đô la (từ 65 lên 80 tỷ franc).
     
  3. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Còn tại châu Âu thì sao ?

    "Hãng Akira Yamamoto mua bằng tiền mặt tại Paris các loại bất động sản trung bình và lớn cũng như đất đai thuộc mọi loại sở hữu, thanh toán dứt một lần hoặc trả cho hết trọn đời. Để trống hoặc có người ở. Thủ tục mua bán nhanh, bảo đảm "giữ kín".
    Trên đây là một quảng cáo xuất hiện nhiều cột trên mục mua bán bất động sản của nhật báo Le Monde vào ngày 30/9/1989. Cũng có thể nó xuất hiện vào bất kể một ngày nào đó, bởi những thứ rao vặt như thế nào có gì đặc biệt. Tôi nhớ vào một ngày tháng 8/1990, khi tôi đến tòa soạn báo Le Figaro, trên phố Louvre, ở quận Một (một trong những khu được các nhà đầu tư rất ưa thích khi muốn tìm kiếm những văn phòng làm việc hạng sang) và ở ngay giữa thủ đô. Khi tôi dừng xe mô tô ngay trước cổng ra vào thì một người Nhật đứng tuổi gần như "chôn chân" ở đó với một chiếc máy ảnh tự động và đang say sưa bấm lia lịa các kiểu ảnh khác nhau về tòa nhà. Khi tôi trở ra, 20 phút sau đó, tôi lại nhìn thấy ông ta ở một đoạn đường khác, đang tiếp tục chụp ảnh các tòa nhà hai bên đường. Ông khách Nhật này chắc không phải đi du lịch. Đó là một tay săn chuyên nghiệp trong lĩnh vực bất động sản đang kiên trì lập vùng đất săn mới.
    Lần lượt các tòa nhà lịch sử của Paris và của nhiều thành phố khác của châu Âu đã được người Nhật mua lại. Cũng giống như ở Mỹ, xét về số lượng tuyệt đối, người Nhật xem ra chưa nắm được một tỷ lệ có ý nghĩa quyết định trong lĩnh vực bất động sản. Họ còn quá mới mẻ trong cuộc chạy đua này, song quan trọng là họ đã xuất phát. Cần phải theo dõi xem họ sẽ làm gì về lâu về dài. Tại Luân Đôn, trong chưa đầy ba năm, họ đã mua lại các văn phòng làm việc với số tiền trị giá hơn 6 tỷ đô la (30 tỷ franc). Tại Paris, các vụ mua bán có ít hơn. Song thị trường này hiện gần như còn trinh nguyên, đang thu hút đông đảo người mua. Người Nhật đặc biệt thèm muốn cái "tam giác vàng", nghĩa là khu vực bao gồm giữa Chams-Élysées, đại lộ Montaigne và đại lộ George-V. Họ đã đứng chân vững chắc ở khu Nhà hát và Tòa nhà chứng khoán. Tại Paris và trong vùng parisienne, ngoài vụ mua lại Forum des Halles, người Nhật cũng đã mua lại một mặt bằng rộng trên 230.000 m2 với giá hơn 10 tỷ franc. Chỉ riêng năm 1989, họ đã hoàn lại được ít nhất 5 tỷ franc. Trong năm này, chỉ riêng số vốn đầu tư của Nhật Bản đã chiếm khoảng một nửa vốn đầu tư nước ngoài tại Pháp.
    Ngoài 1/3 Forum des Halles, cũng cần phải kể đến tòa nhà Shell trên đường Berri (do công ty mua bán bất động sản Kowa mua lại với giá 4,4 tỷ franc), và mặt tiền của nhà ga Montparnasse đang được hiện đại hóa (cũng do Kowa mua lại với giá 3 tỷ franc). Cột tháp trên mặt tiền nhà ga cũng đang được xây dựng với một diện tích 72.000 m2 dành thiết kế các văn phòng và gian hàng. Cũng còn phải kể đến vụ mua lại tòa nhà Trois Quartiers của Bouygues vào năm 1988 với giá 1,9 tỷ franc (người mua là công ty bảo hiểm Meiji). Một phần đáng kể của Champs- Élysées đang có khả năng trở thành sở hữu của nước Nhật. Tòa nhà cổ kính thuộc sở hữu của Marcel Dassault và là trụ sở của Jours de France đã rơi vào tay Masahiko Sawada, tổng giám đốc hãng Urban, người sáng lập các phòng trưng bày nghệ thuật ở Tokyo, Nagoya, New York và Paris. Tòa nhà này cần được cải tạo lại để từ năm 1991, tiếp nhận cậu lạc bộ thể thao Urban (Urban Sporting Club). Ai muốn vào chốn này sẽ phải trả lời đúng mật hiệu quy định bởi lẽ nơi đây rồi sẽ chỉ tiếp đón những khách quý và bạn bè của nhà nghệ thuật nghiệp dư giàu có người Nhật. Một người Nhật khác cũng đã mua lại khách sạn Trianon Palace ở Versailles, nơi đã diễn ra cuộc đàm phán về hiệp định chấm dứt cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.
    Người Nhật cũng xây dựng nhiều công trình mới ở Paris. Chẳng hạn như Japan Tower đã tổ chức lễ đặt viên đá xây dựng đầu tiên vào tháng 9/1990 ở gần Grande Arche, trong khu tương lai xây dựng La Défense. Dự án này, trên thực tế, là một công trình cải tạo mới thủ đô. Trước đây chưa hề xảy ra việc một công ty thương mại hàng đầu của Nhật Bản như công ty Mitsubishi (doanh số hàng năm là 600 tỷ franc) lại liên kết với một bạn hàng Pháp là Sari - một chi nhánh của tổng công ty thủy cục để cùng thực hiện một dự án có tầm vóc như thế (50.000 m2). Phần đóng góp của Nhật Bản trong công trình tầm cỡ này khá đáng kể: Japan Tower là đồ án của kiến trúc sư nổi tiếng người Nhật Kisho Kurokawa. Theo như cái nhìn của giới chức trách Nhật Bản, nó phải là phần nối dài trục lịch sử của thủ đô Paris: Louvre-Concorde-Étoile-Défense. Công trình này dự định hoàn thành vào năm 1992, sẽ là tủ kiếng trưng bày nền công nghệ và sức mạnh kinh tế của Nhật Bản ở Paris. Nó sẽ bao gồm trung tâm thông tin kinh tế của Nhật Bản, một phòng trưng bày, một giảng đường và 41.000 m2 mặt bằng dùng làm văn phòng để cho các công ty châu Âu và Nhật thuê lại. Tầng cuối cùng, biểu tượng cho sự hòa hợp giữa truyền thống và hiện đại của nước Nhật đương đại sẽ là gian hàng dành cho nghệ thuật trà đạo cùng các nhà hàng nấu ăn theo kiểu Nhật, toàn bộ sẽ nhìn ra một mảnh vườn cũng theo phong cách Nhật. Chi phí dự toán cho công trình là 1,5 tỷ franc.
    Các lâu đài, khách sạn và các tư dinh đầy đủ tiện nghi đang làm người Nhật mê mẩn. Họ mua lại chúng ở khắp nơi trên thế giới. Tại Pháp, hàng chục lâu đài và các tòa nhà cổ xưa đã trở thành sở hữu của Nhật Bản. Họ sẵn sàng mua giá cao. Song trong nhiều trường hợp, họ thường mua với cái giá rẻ mạt bởi điều quan trọng đối với chủ sở hữu người Pháp là làm thế nào việc chuyển nhượng diễn ra nhanh gọn, kín đáo và trả bằng tiền mặt. Thậm chí, các hãng truyền hình Nhật Bản tổ chức cả những cuộc bán đấu giá lâu đài Pháp trực tiếp trên màn ảnh nhỏ khi không phải là những bất động sản bán được, các lâu đài được đem cho thuê. Chính vì vậy, lâu đài Breteuil ở Ile-de-Franc thường được sử dụng để tổ chức lễ cưới cho các đôi vợ chồng Nhật. Cựu Bộ trưởng Du lịch Pháp, Olivier Stirn- người đã bị bãi nhiệm năm 1990 đã ra sức ủng hộ sự hiện diện của các nhà đầu tư Nhật. Ngày 16/4/1990, khi đến Tokyo, ông ta đã đề nghị giao hẳn một hòn đảo ở Polynésie thuộc Pháp cho các nhà đầu tư Nhật để xây dựng thành một khu du lịch. Ông ta khẳng định rằng nước Pháp "chỉ có được cả" khi quan hệ chặt chẽ với Nhật Bản và ông ta tự nhận mình là "trạng sư cho định hướng này trong nội bộ chính phủ Pháp". Olivier Stirn cho rằng "để cho người Nhật cảm thấy thoải mái khi đặt chân đến nước Pháp, thì cần phải biến khung cảnh nước Pháp theo khẩu vị của người Nhật". Đúng là khách du lịch Nhật Bản đang là một nguồn thu quan trọng cho nước Pháp. Năm 1989, có 770.000 du khách Nhật đến Pháp, và năm 1990 có gần một triệu: một kỷ lục ở châu Âu.
    Tại Đức, các vùng đất bên bờ sông Rhin thơ mộng hôm nay cũng đã có sức thu hút đặc biệt đối với các nhà kinh doanh Nhật. Cuối tháng 12/1989, họ đã mua lại khách sạn đẹp nhất của nước Đức, Vier Jahreszeiten (Bốn mùa) ở Hambourg. Các nhà doanh nghiệp Đức cũng tham gia cuộc đấu giá. Song họ chỉ đưa ra một cái giá bằng nửa của người Nhật. Và nước Nhật đã mua được với giá 210 triệu Mark (693 triệu franc). Tòa lâu đài nổi tiếng Katz ở Lorelei, không lâu nữa cũng sẽ biến thành nhà hàng - khách sạn hạng sang. Tòa lâu đài Gymnich, gần Bonn cũng có số phận tương tự. Giá của hai vụ chuyển nhượng sở hữu này là 100 triệu Mark (330 triệu franc).
    Tại châu Âu, các vụ mua bán bất động sản của người Nhật vượt khỏi khuôn khổ các nước Anh, Pháp và Đức. Hãng hàng không Nhật Bản ANA (All Nippon Airways) trở thành hãng hàng không Nhật Bản đầu tiên trước cả hãng hàng không Japan Airlines đã hợp đồng thành lập một công ty hỗn hợp vào tháng 3/1990 với sự tham gia của bốn ngân hàng Thụy Sỹ nhằm tái thiết đại khách sạn tại Viene, một khách sạn lịch sử được xây dựng vào năm 1918. Chính phủ Áo đã biến khách sạn này trở thành một khách sạn hạng sang theo phong cách Viene vào đầu thế kỷ. Đó là cơ sở đầu tiên do một hãng Nhật Bản ở Áo điều hành. ANA đầu tư 75% vốn trong công ty mới này. Vào tháng 3/1990, hãng hàng không Thụy Sĩ (Swissair) đã suýt nữa phải chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của mình trong tập đoàn khách sạn Swissotel cho một nhà kinh doanh Nhật Aoki-Westin. Cùng lúc, 17 cơ sở hạng sang ở châu Âu, Mỹ và châu Á đều rơi vào tay kiểm soát của người Nhật. Aoki và Chi nhánh khách sạn và nghỉ mát Westin của ông ta đã nắm giữ 76 khách sạn lớn ở 11 nước. Cuối cùng, vào tháng 9/1990, Swissair lại đưa ra đề nghị chuyển nhượng "vì tình hình bất ổn gần đây trên thị trường tài chính thế giới".
    Tại Úc và Tân Tây Lan, các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản cũng diễn ra rất lộ liễu. Điều này cho thấy sự mở rộng đáng kể của Nhật Bản ở Thái Bình Dương. Song cũng tại nơi này, Nhật Bản đang gây phiền hà và bực bội. Tại Úc, hoạt động kinh doanh của Nhật Bản là gây sóng gió nhất. Nhật Bản đang mua lại các khách sạn và các khu nhà liên hoàn, đặc biệt là ở bang Queensland, trên bờ biển Golden Coast. Vào tháng 10/1989, người Nhật nắm giữ không dưới 60% số phòng của bảy khách sạn sang trọng nhất tại các thiên đang du lịch của Nam bán cầu. Vào một ngày tháng 1/1989, tại thành phố Cairns đã xảy ra một vụ tai tiếng ầm ĩ khi những người dân ở đây sững sờ nghe tin vụ bán một khu đất rộng cho người Nhật xây dựng một dự án hoàn toàn hoang tưởng: khu an dưỡng hạng sang dành cho 19.000 người Nhật hưu trí. Ở đây mọi sự đều đã được dự kiến để đảm bảo cho họ một cuộc sống hành phúc vào cuối đời: các trung tâm thương mại, phòng xem phim, nhà hàng...
    Khu an dưỡng này không hề do một đầu óc điên loạn nào ở Nhật Bản đề xuất. Nó là một phần của một dự án rộng lớn hơn gọi là Silver Columbia, do MITI trình bày trước dân chúng Nhật vào tháng 7/1986. Nước Nhật đã trở nên quá chật hẹp và đắt đỏ đối với người già, nên cần tìm cách đưa họ ra nước ngoài để an dưỡng những ngày cuối cùng trong cuộc đời. Kitahata Takao, giám đốc phòng công nghiệp dịch vụ của MITI còn nhấn mạnh dự án này được hình thành là "để giúp cho người Nhật được hưởng một cuộc đời hưu trí bình yên tại nước ngoài". Trên thực tế, dự án Silver Columbia sẽ cho phép chính phủ Nhật có được những khoản tiết kiệm khổng lồ - thậm chí rất quan trọng - trong những năm tới do xu hướng lão hóa đang tăng lên nhanh chóng trong dân số Nhật. Nhiều đô thị khác có khu an dưỡng cho người già của Nhật cũng được nói đến ở Tân Tây Lan, Philippines, Canada, Mỹ, Costa Rica, Mêhico, Tây Ban Nha và Hi Lạp.
    Song, trước những phản ứng đầy phẫn nộ đối với dự án này ở nước ngoài, chính phủ Nhật đã phải hoãn lại, thậm chí có thể sẽ phải hủy bỏ dự án đầy tham vọng của họ cũng như dự án về "thành phố tương lại" cho 200.000 dân mà Nhật mơ ước xây dựng dọc bở biển Gold Coast. Phản ứng của dân chúng địa phương về cái đô thị được gọi là Multi-Function Polis (đô thị đa năng) đã dâng lên mạnh mẽ đến nỗi người Nhật buộc lòng phải quay sang một khu vực khác ít bị dư luận lên án hơn là Adélaide ở phía nam nước Úc. Dự án này vẫn chưa hết gặp khó khăn. Ngày 22/10/1990, một đám người giận dữ đã tràn vào cuộc họp của khoảng 300 người Nhật và Úc ở Adélaide, để phản đối "khu vực da beo này của người nước ngoài" và họ tuyên bố trong một kiến nghị rằng: "cũng giống như phần đông người Nhật, đa số người Úc muốn làm chủ tương lai của mình và không muốn lệ thuộc vào các công ty đa quốc gia".
    Tại Tân Tây Lan, người Nhật đã đầu tư hơn 94 triệu đô la (470 triệu franc) trong sáu tháng đầu năm 1990 chủ yếu vào lĩnh vực du lịch [67]. Các nhà đầu tư Nhật đã kiếm chác được khá. Vào tháng 11/1989, công ty EIE của Nhật Bản (EIE corporation) đã mua lại được Trung tâm tài chánh Auckland và Landmark House trong cùng một thành phố, vốn là hai cao ốc lớn do Chase New Zealand bán lại với giá 160 đô la NZ (472 triệu franc). Tháng 4/1990, Nhật Bản lại mua toàn bộ công ty khách sạn du lịch của Tân Tây Lan. Ở Úc, chỉ riêng tập đoàn Daikyo (Nhật Bản) đã đầu tư đến 800 triệu đô la Úc (3,187 tỷ franc) trong nhiều dự án bất động sản. Tập đoàn này thuê đảo Green Island ở ngoài khơi khu tắm biển Cairns và mua lại khách sạn Bốn Mùa của thành phố này. Không nên quên rằng người Úc, người Tân Tây Lan cũng như người Pháp, người Anh đã xô lấn lên nhau để bán cho người Nhật. Hiderio Kikuchi, giám đốc ngân hàng Tokyo ở Sydney đã tuyên bố: "Các cơ quan bất động sản Úc thường xuyên mời gọi chúng tôi đến với họ" [68].
    Nói chung, trừ phi xảy ra một cuộc khủng hoảng thế giới nghiêm trọng, còn không thì các vụ mua bán bất động sản của Nhật Bản trên thế giới chưa sẵn sàng giảm bớt. Vào tháng 2/1990, 3 công ty bảo hiểm hàng đầu của Nhật Bản là Meiji Mutual Life Insurance Co. (đứng hàng thứ tư ở Nhật Bản), Dai-Ichi Mutual Life Insurance Co. (đứng hàng thứ năm) đã thông báo ý định muốn sát nhập với các công ty nước ngoài để đầu tư vào lĩnh vực bất động sản trong các thành phố lớn như Francfort, Paris, Sydney. Theo các báo kinh tế của Nhật Bản, đầu tư sẽ lên đến hai tỷ đô la (10 tỷ franc) để mua lại các bất động sản đã được dự tính thông qua một nhân viên bảo hiểm Mỹ và một công ty tư vấn của Anh.
     
  4. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Người Nhật nhòm ngó các ngân hàng nước ngoài

    Tài chính là ưu tiên hàng đầu của các nhà đầu tư Nhật. Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng lại là địa bàn chiến lược. Chính vì thế, từ lâu các nhà đầu tư Nhật đã rất quan tâm đến các ngân hàng nước ngoài. Trước hết là các ngân hàng ở Califonia. Khu vực phía tây nước Mỹ, do gần gũi về mặt địa lý, đã thu hút trước tiên nguồn tư bản của những tổ chức tài chính hàng đầu của Nhật Bản. Kết quả đã vượt quá những gì mà sức tưởng tượng phong phú có thể hình dung nổi. Trong một vài năm, người Nhật đã kiểm soát hơn ¼ các ngân hàng ở California. Chính vì vậy, vào cuối năm 1989, các chi nhánh của các ngân hàng hàng đầu Nhật Bản tại California đã nắm giữ một số vốn trị giá 93,4 tỷ đô la (467 tỷ franc), nghĩa là 25,2% số vốn của các ngân hàng của bang California. Tỷ lệ này chỉ chiếm 10,7% vào năm 1983. Chẳng cần phải có phép lạ nào để thâm nhập vào California cả bởi lẽ khối lượng các trao đổi mậu dịch qua Thái Bình Dương thuộc hàng lớn nhất thế giới. 41,1 tỷ đô la (205,5 tỷ franc) hàng hóa đã ghé qua California và Nhật Bản vào năm 1987.
    Kết quả: ngoại trừ một ngân hàng, còn toàn bộ vốn ngân hàng nước ngoài khác ở California đều phải nhường chỗ cho người Nhật. Trong số 8 ngân hàng hàng đầu ở California, thì 4 là của Nhật Bản. Với hơn 400 cơ sở, mạng lưới ngân hàng của Nhật Bản ở California ngày nay không chỉ đơn thuần là một sức mạnh tài chính vô danh và trung tính nữa mà đó là cả một lực lượng cắm chốt ban đầu phục vụ cho tiềm năng công nghiệp khổng lồ của Nhật Bản trên đất Mỹ.
    Từ bàn đạp California, các ngân hàng Nhật Bản đã tiến vào đứng chân ở những phần đất còn lại của nước Mỹ. Nguồn vốn của họ vượt quá mức 100 tỷ đô la (500 tỷ franc). Các cơ sở tài chính nổi tiếng nhất đều khuất phục trước các "nữ thần quyến rũ" của Nhật Bản. Vào tháng 1/1990, công ty bảo hiểm Nhật Bản (Nippon Life Insurance Co.) thông báo đã đầu tư 200 triệu đô la vào Hãng tốc hành Mỹ (American Express). Sự tham gia của nó mới chỉ chiếm 1,6% vốn của ngân hàng. Song chàng khổng lồ Nhật giờ đây đã đạt được một chân vào nhà. Giống như chú voi trong cửa hàng sành sứ ? Từ nhiều năm qua, châu Âu cũng đã thu hút các nhà kinh doanh ngân hàng Nhật Bản.
     
  5. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Sân golf, vườn nho và đua ngựa

    Người Nhật "chỉ" xây dựng ở trên nước mình mỗi năm 60-70 sân golf mà thôi ! Đúng là đã quá thừa thãi khi cộng thêm với biết bao tác hại về môi sinh do chúng gây ra. Thêm vào đó là tình trạng khan hiếm đất trống, sự dòm chừng của những người đấu tranh cho môi sinh, giá thành sân cỏ ở Nhật Bản và nhất là tiền bảo dưỡng.Tất cả những yếu tố này đã thúc đẩy các nhà đầu tư Nhật tìm cách mua lại các sân cỏ ở nước ngoài. Và họ đã mua hàng chục sân golf khắp thế giới cho dù đó là ở Pháp, Mỹ hay ở Úc. Tại Pháp, những dân chơi golf sẽ nói với bạn: Người Nhật rất "chịu chơi". Một sân golf cần bán ư ? Dễ thôi, chỉ cần nó cách một phi trường nào đó khoảng hai giờ để thuận lợi cho các nhà kinh doanh Nhật vốn bận bịu. Tốt hơn nữa là nó kèm theo một tòa lâu đài để thu hút giới thượng lưu, nó chắc chắn sẽ rơi vào tay người Nhật ngay thôi. Người Nhật cũng đã xây dựng hàng chục sân golf mới.
    Tại Pháp, đầu năm 1991, người Nhật đã mua 18 sân golf và xây mới 5 sân khác. Tính chung, người Nhật còn hiện diện khiêm tốn với 23 sân so với tổng số 360 sân và 180.000 người chơi golf ở Pháp. Song vấn đề là thời gian: mọi chuyện sẽ diễn ra nhanh chóng chỉ trong vài năm và chỉ cần có thêm nhiều triệu franc. Ở đâu cũng thế, cạnh tranh chỉ khiến giá cả tăng vọt. Vấn đề là ai sẽ thắng ai. Chỉ riêng ở Pháp, tập đoàn Urban đã mua đứt 10 sân golf. Tập đoàn Taiyo International lại cũng đã bám sát với 4 sân golf (Clément-Ader ở Ile-de-France, Ile-d'Or gần Nantes, Fontenailles ở Ile-de-France và Ferté-Saint-Aubin ở Loiret). Taiyo dự tính trong vài năm mua 10 sân golf của Pháp. Nhiều tập đoàn khác như Chisan chẳng hạn còn có ý đồ lớn hơn nữa.
    Một hình ảnh còn đọng lại mãi: ngày 7/10/1990, bà Masako Ohya 70 tuổi, cao 1,50 mét, ăn mặc toàn màu hồng, một phụ nữ giàu có nổi tiếng, là người bảo trợ nghệ thuật, đã khánh thành một sân golf tuyệt vời do bà mới mua trong lâu đài Humières có từ thế kỷ XVII ở phía Bắc thủ đô Paris, gần Compiègne. Bà Ohya chỉ có hai đam mê trong đời: chơi golf và sưu tầm hình ảnh của chính mình qua ảnh chụp và vidéo.
    Để có thể hình dung "hiện tượng Nhật Bản" trên các sân golf Pháp, tôi đã đến phỏng vấn bà Elisabeth Lesieur, trợ lý chủ tịch liên đoàn chơi golf Pháp. Bà cho biết:
    "Khi người Nhật mua lại sân golf đầu tiên, chúng tôi không sao hiểu nổi. Đó là một tài sản đã khánh kiệt. Chính tập đoàn Chisan đã mua lại sân golf Rochefort-en-Yvelines có 18 lỗ. Lúc đó là năm 1980. Mặt nền của nó lõm như một cái ao. Sau đó, năm 1987 tập đoàn HIO mua lại sân golf Seraincourt (Ide-de-France). Tôi còn nhớ rất rõ, bởi đã có tiếng la ó phản đối: "Bà không nhìn thấy sao ? Mọi người đang điên tiết lên ngoài kia kìa ! Họ không có quyền ! Họ không có quyền ! Thực tế là sân golf được đem ra bán và người Nhật đã đưa ra một đề nghị tốt nhất. Giữa đề nghị của người Nhật và của người Pháp, những người chủ sở hữu đã chọn lấy cái có lợi nhất cho mình. Và thế là sân golf Seraincourt đã rơi vào tay người Nhật".
    Bà nói thêm:
    "Trong việc khai thác sân golf, không phải người Nhật bao giờ cũng giống người Pháp. Trong cả hai đều có chung "một ý thức giá trị". Lấy ví dụ điển hình như sân Seraincourt. Người Nhật thông báo quyền vào sân kể từ tháng 1 năm 1988 là 200.000 franc mỗi đầu người. Còn một cặp là 240.000 franc. Tất nhiên, là chẳng có ma nào dám bước vào. Thể rồi họ hạ giá xuống và hiện nay theo chỗ tôi biết giá chỉ còn là 50.000 franc, một số tiền phù hợp với túi tiền của dân Paris. Sau này, mọi chuyện diễn biến còn nhanh hơn nữa. Về sân golf nổi tiếng Bordes, chẳng còn ai nói đến nam tước Bich mà chỉ nói đến người hùn hạp 50% vốn với ông ta là Sakurai. Tiếp theo, người ta lại mở cửa sân golf Vaugouard, gần Montargis. Sân golf này lúc đầu là của người Pháp rồi sau đó bán lại một nửa cho một tập đoàn Nhật. Thế là người ta nói: "Ồ ! Người Nhật lại bắt đầu vơ vét tất cả" Trong năm qua Urban đã mua được nhiều sân golf khác như sân Belesbat (Essonne), Valois (phía Bắc), Chaumont-en-Vexin (phía Bắc), Plessis (Ile-de-France). Kết toán lại là 6 sân golf thuộc về chỉ một tập đoàn trong 3 năm".
    Élisabeth Lesieur tiếp:
    "Việc người Nhật mua lại các sân golf làm cho thị trường biến động một cách giả tạo. Họ quá giàu nên sẵn sàng mua lại mọi sân golf với cái giá trời ơi đất hỡi nào cũng được. Điều đó không chút gì lành mạnh như trường hợp sân golf Vaucouleurs gần Nantes. Sân này mở cửa vào năm 1987. Năm 1985, hai người bạn, một là chủ đất, một là chủ tiệm thịt rủ nhau: "Mình sẽ xây dựng một sân golf". Và thế là họ xây dựng một sân golf. Nó đem lại cho họ nguồn thu nhập tối đa là 7 triệu franc. Đó là sân golf tư nhân đầu tiên mở cửa ở vùng Paris từ khá lâu. Việc làm ăn thành đạt. Họ xây thêm một sân golf 18 lỗ nữa. Đến cuối tháng 6, họ bán sân golf cho hãng đầu tư Mido với giá 90 triệu franc ! Thật ra họ không đặt giá cao đến thế, song người mua đưa ra một giá quá hời như vậy thì họ "đành đồng ý" thôi. Nếu như tôi tặng bạn một chiếc xe hơi Ferrari và tôi nói với bạn "Chìa khóa ở tất cả trong xe" thì bạn biết làm sao bây giờ ? Quả là không thể từ chối".
    "Của trời cho" của Nhật Bản cũng rơi xuống các nơi khác tương tự như thế. Sanyo loan báo ý định xây dựng, với chi phí 50 triệu bảng Anh, một sân golf và tổ hợp khách sạn hạng sang trên nền sở hữu cũ của Charles Rolls, một đồng sáng lập của hãng Rolls Royce, ở Montmouth, về phía Nam xứ Galles. Sanyo đã mua đất trên đó có một trang viên của thế kỷ XIX. Taiyo cũng vừa mua một mảnh đất tại Moatlands thuộc Kent.
    Về việc bán ngựa đua và ngựa thuần chủng, người Nhật đã mò vào tận các chuồng ngựa của các tiểu vương vùng Vịnh. Ngày 25 và 26 tháng 7 năm 1990, tại Lexington (Kentucky) ở Mỹ, người Nhật đã giành kỷ lục về đấu giá ngựa đua. Nhà kinh doanh Tomonori Tsurumaki đã mua hai chú ngựa nòi một năm tuổi với một món tiền nhỏ 4,9 triệu đôla (24,5 triệu franc). Còn Tadahiro Hothehama cũng đã trả 750.000 đôla (3,75 triệu franc) để mua một chú ngựa nòi khác. Ngày 19/8/1990 tại Deauville, ngày đấu giá ngựa nòi đầu tiên trong năm, Kihachiro Watanabe Chủ tịch hãng vận chuyển Toko ở Tokyo (Toko Transporting Co. Ltd), một xí nghiệp vận chuyển hàng đầu của Nhật Bản đã ném ra số tiền kỷ lục 6,5 triệu đôla. Kihachiro đã có cả một chuồng ngựa 70 con. Song đây là cuộc đầu tư đầu tiên của ông ở Châu Âu. Nhiều nhà kinh doanh Nhật khác cũng tỏ ra không kém hào phóng trong đó có Masahiko Sawada, tổng giám đốc Urban, chủ một hành lang nghệ thuật ở đại lộ Montaigne và một chuồng ngựa của Hermitage ở Normandie. Tháng 8/1990, M.Sawada đã mua không dưới tám chú ngựa nòi. Còn Enshaku Zen, một nhà kinh doanh Nhật gốc Triều Tiên cũng đã lập kỷ lục đấu giá năm 1985 và 1987 ở Deauville. Năm 1990, ông ta vẫn là một khách hàng tuyệt vời trong một cuộc đấu giá lên đến 2,2 triệu franc. Nhiều người Nhật chia nhau những cái giá khiêm tốn hơn từ 250.000 đến 900.000 franc.
    Làm thế nào mà các nhà đầu tư này có thể ném ra một số tiền khổng lồ như vậy chỉ để mua những con ngựa đua ? Philippe Ogier, Tổng giám đốc Cơ quan tổ chức bán các loài ngựa thuần chủng của Pháp cho biết : "Ở chỗ họ các hãng thu được lợi nhuận lớn và họ muốn tái đầu tư ngay số tiền này để được giảm thuế. Còn ở Pháp thì ngược lại. Ở đây họ có thể đưa những của báu này tham gia các vòng đua ngựa và các con ngựa của họ được mang nhãn hiệu thương mại hoặc nhãn hiệu sản xuất của họ. Cách làm này cũng giống như tự quảng cáo cho họ vậy". [69]
    Một số vườn nho nổi tiếng của Pháp cũng đã rơi vào tay người Nhật. Có thể kể đến đầu tiên là vùng trồng nho nổi tiếng château-lagrange do hãng Suntory một hãng rượu hàng đầu của Nhật Bản khai thác từ năm 1983. Trước đó, lâu đài này đã rơi vào tình trạng khốn đốn. Còn giờ đây nó chả phải lo gì về tài chánh. Sự hiện diện của người Nhật ở Bordelais từ 1987 - 1989 đã gây nhiều lo ngại. Chỉ trong không đầy vài tháng, Touko House (một tập đoàn kinh doanh bất động sản) đã mua vùng château-citran (Médoc). Otani (tập đoàn công cụ nông nghiệp) đã mua vùng château-lagarosse. Snakaru ( một tập đoàn chế biến nông phẩm) cũng đã mua vùng château-reysson (thuộc Haut-Médoc). Sau đó, các vụ mua bán của người Nhật có phần giảm bớt. Năm 1989, Suntory lại mua thêm hãng sản xuất rượu cognac Louis Royer. Một vài vụ mua bán khác cũng đã được thỏa thuận với người Nhật ở vùng Provence. [70] Gần đây, Sainteneige một hãng tại Saint-Émilion đã sản xuất một loại rượu nhẹ vùng Gers pha trộn với một loại men đặc biệt của Nhật để tạo ra một hương vị phù hợp với người Nhật. Loại rượu này có tên gọi "Fusion France" đã tiêu thụ trong hai năm qua ở Nhật Bản được 700.000 lít.
     
  6. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nghệ thuật : Di sản của phương Tây đang chạy về nước Nhật

    "Một người Nhật nghiêm chỉnh có tiền mặt, đang cần mua tranh ấn tượng Pháp và các tác phẩm hội họa nổi tiếng khác. Cần gấp. Xin gửi chi tiết, hình ảnh và giá cả đến : Jamais, Inc. 127 E.59 St, NY NY 10022 USA, Fax số : 212-360-1747."
    Cái mẩu quảng cáo này trên tờ International Herald Tribune ngày 22- 23/9/1990 hẳn sẽ chỉ là chuyện tầm phào nếu như nó không cho thấy các vụ mua bán tác phẩm nghệ thuật của phương Tây đang diễn ra sôi nổi trong các tay chơi giàu xụ Nhật. Năm 1989, nước Nhật đã nhập khẩu nhiều bức danh họa và tác phẩm nghệ thuật khác giá trị 300,8 tỷ yên (10,8 tỷ franc). Sự bùng nổ trong lĩnh vực này diễn ra thật ồn ào: số lượng nhập khẩu của Nhật Bản từ 116 tỷ yên (4,576 tỷ franc) năm 1987 đã tăng lên 180 tỷ yên (6.48 tỷ franc) năm 1988 rồi lên 280 tỷ yên (10,08 tỷ franc) năm 1989. Đáng chú ý là một phần ba các loại nhập khẩu này thuộc loại đầu tư để được giảm thuế.
    Mọi chuyện đã thật sự bắt đầu từ giữa những năm 80 tại Luân Đôn khi một công ty bảo hiểm Nhật Bản Yasuda Fire and Marine Insurance Co., mua lại bức danh họa "Hoa hướng dương" của Van Gogh với giá 5,8 tỷ yên (208 triệu franc). Kể từ đó, các nhà đầu tư Nhật tỏ ra máu mê với những nhà đấu giá lớn thế giới. Ai mua ? Cũng là những khuôn mặt cũ như các công ty bảo hiểm, ngân hàng, các tập đoàn công nghiệp lớn, tư nhân, các bảo tàng và phòng triển lãm. Những khách hàng này thường thích tranh của các họa sĩ bậc thầy. Nước Pháp là nước cung ứng đầu tiên của họ (78% các vụ bán tranh) đặc biệt là tranh của trường phái ấn tượng.
    Một trong những vụ mua bán gây ồn ào nhất là vụ bán bức danh học "Đám cưới của Pierrette" của Picasso với giá 300 triệu franc ngày 30/11/1989 tại phòng đấu giá Drouot-Montaigne ở Paris. Chưa hề có vụ bán tranh với cái giá như thế. Người mua là Tomonori Tsurumaki, một nhà kinh doanh 47 tuổi, từ Tokyo gọi điện đến, đã trả giá cao. Nhà kinh doanh đồ nghệ thuật nổi tiếng của Pháp là Hervé Odermatt đã dám đẩy lên cái giá 280 triệu franc nhưng rồi đã phải chịu bỏ non. Kẻ thắng cuộc tuyên bố sẽ xây dựng một bảo tàng đàng hoàng cho bức tranh họa vẽ năm 1904, bức cuối cùng trong "Trường phái xanh" của nhà họa sĩ bậc thầy xứ Catalogne.
    Ngày 15/5/1980, lại một vụ mua tranh ồn ào khác với giá 82,5 triệu đôla (412,5 triệu franc) ở NewYork. Lần này là với bức danh họa "Chân dung bác sĩ Gachet" của Vincent Van Gogh. Trong cảnh ồn ào ngày 17/5, một ngày bán đấu giá mới của Sotheby's, nhà tỷ phú Fyoei Saito, 74 tuổi lại mua bức danh họa "Ở cối xay gió Galette" của Renoir với giá 78 triệu đôla. Cả hai bức danh họa đắt nhất thế giới đã rơi vào tay một nhà sưu tập nghệ thuật, Chủ tịch danh dự của Daishowa Paper, một công ty bao bì đứng hàng thứ nhì ở Nhật Bản. Ông ta đã tuyên bố với báo Asahi Shimbun ngày 19/5 là ông sẵn sàng mua tất cả những bức danh họa mà ông ta thích với bất cứ giá nào.
    Không thể kể hết cả một danh mục tranh đã chuyển về Tokyo. Song không thể không kể đến các bức tranh "Sylvette" và "Đầu người" của Picasso với giá 6,6 triệu và 4,5 triệu franc vào ngày 2/2/1990 ở nhà đấu giá Drouot trong một vụ buôn bán được truyền hình trực tiếp về Tokyo, Osaka và Hiroshima. Ngày 22/5/1990 tại New York, nhà Christie's đã bán bức "Những người gặt lúa nằm ngủ" của Jean-Francois Millet với giá 770.000 đôla (3.850.000 franc) cho một người khách Nhật. Cùng ngày, một khách hàng Nhật cũng "ẵm" luôn một bức tranh của Courbet với giá 528.000 đôla (2,640 triệu franc), một cái giá mà không một người phương Tây nào dám trả. Hôm sau, nhà Sothely's cũng lại bán cho một người khách Nhật bức "Cô thợ may nằm ngủ" của Millet với số tiền kếch sù 797.500 đôla (3,98 triệu franc) mà thực ra nó chỉ đáng khoảng 200.000 đôla (tương đương 1 triệu franc). Ngày 19/6/1990, một tay bán đấu giá người Pháp Jacques Tajan, chuyên gia về thị trường Nhật Bản cũng đã bán được cho Tokyo hơn một trăm bức tranh hiện đại của Vilaminck và Matisse trị giá hơn 200 triệu franc. Một phần ba các danh họa nổi tiếng thế giới đã thuộc về người Nhật.
    Không chỉ có tranh của Châu Âu, những nhà kinh doanh nghệ thuật người Nhật còn nhòm ngó đến cả Viễn Đông. Người Nhật đặc biệt bị quyến rũ bởi nghệ thuật cổ Trung Hoa. Điều đó là hoàn toàn tự nhiên bởi người Nhật tìm thấy cội nguồn văn minh của chính họ ở Trung Hoa. Nhờ đã sống một vài năm ở Trung Quốc, tôi biết rõ những người khách Nhật hay lui tới các cửa hàng đồ cổ ở Bắc Kinh và Thượng Hải. Ở đây, những món hàng không hề là hàng dỏm, hàng giả mà là những đồ cổ thật sự, đôi khi hiếm quí. Chúng được Bộ Văn hóa Trung Quốc cho phép bán công khai và có kèm theo một thứ "hộ chiếu" nhỏ trên có một ảnh chụp và những chỉ dẫn chi tiết về món hàng để có thể xuất khẩu. Ở trong những gian hàng này, có lần tôi đã thấy một người Nhật khệ nệ đem tiền đến và mua trong nháy mắt mọi thứ ông ta nhìn thấy. Người Nhật giờ đây cũng thường có mặt ở những cuộc bán đấu giá nghệ thuật Trung Hoa. Ngày 12/12/1989, ở Luân Đôn, trong một cuộc bán đấu giá của nhà Sotheby's, một nhà kinh doanh Nhật Keiichi Shimojo, vốn được xem như một nhà sưu tập của Tokyo, đã mua bức tranh chiến mã đời Đường vào thế kỷ thứ VIII với giá 3.740.000 bảng Anh, tương đương gần 40 triệu franc (so với cái giá đầu tiên từ 825.000 đến 1.100.000 bảng Anh), một cái bình đời Bắc Tống với giá 1.320.000 bảng Anh, một cái bình khác đời Tống với giá 825.000 bảng Anh, tương đương hơn 8 triệu franc (gấp ba lần giá ước tính để bán. Với những cái giá "chọc trời" này, chả có ma nào theo nổi người Nhật nữa.
    Ngày càng có nhiều người Nhật giàu có trở thành các mạnh thường quân tài trợ việc trùng tu các công trình nghệ thuật hoặc các cảnh quan quan trọng. Theo các nguồn tin cao cấp của UNESCO, người Nhật đang thúc đẩy để nhận được tài trợ toàn bộ việc trùng tu Angkor Vat ở Cambodge. Người Nhật khẳng định là họ không hề đòi hỏi một điều gì cả. Tất nhiên, đằng sau sự quảng đại ấy là Nhật Bản muốn tăng cường sự hiện diện của mình ở Cambodge. Đầu năm 1990, người Nhật còn đề nghị xin thuê lại các bức danh họa của thành phố Liège hiện đang bị phá sản nặng nề về tại chánh. Liège không muốn bán trong lúc này song có thể sẽ cho người Nhật thuê những danh họa nổi tiếng của Picasso, Gauguin, Chagall, Monet, Pissarro.
     
  7. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Các sôgô sôsha : Các nhà môi giới mua bán đặc biệt

    Sở dĩ nước Nhật mua được cả thế giới như nó đang làm hiện này là vì nó đã có cả một đội quân âm thầm trợ giúp cho nó mà không hề mệt mỏi. Đó là các sôgô sôsha, nghĩa là các nhà môi giới mua bán và vô số các "Viện nghiên cứu" của các tập đoàn công nghiệp hàng đầu và của của các tổ chức tài chính của Nhật Bản. Viện nghiên cứu đầu tiên loại này là Nomura Research Institute (Viện nghiên cứu Nomura) với trụ sở đặt tại Tokyo. Song nó lại có một mạng lưới dày đặc cắm chốt ở tất cả các trung tâm kinh tế lớn của thế giới như New York, Washington, Luân Đôn, Paris, Hambourg, Francfort, Hồng Kông, Singapour và Sydney. Ở nước ngoài, phần lớn các nhà nghiên cứu và các nhà kinh tế hàng đầu của nó là người Tây phương. Nhiệm vụ số một của những "Viện nghiên cứu" tương tự như Nomura Research Institute này là thu nhập thông tin kinh tế, đặc biệt là của các xí nghiệp nước ngoài. Hoạt động này đôi khi gần như là tình báo kinh tế. Nomura còn tiến hành việc dự báo kinh tế, tài chính, công nghiệp từng nước, từng ngành và từng khu vực kinh tế.
    Các sôgô sôsha được cắm chốt ở khắp thế giới. Về mặt công khai các sôgô sôsha là trung gian cần thiết cho nhà kinh doanh nước ngoài muốn đặt chân đến Tokyo, và chỉ lo việc kinh doanh: bán các sản phẩm Nhật ở nước và mua mọi thứ có thể bán được ở Nhật Bản. Bạn là giám đốc trẻ và bạn muốn bán hàng vào thị trường Nhật ư ? Với vai trò trung gian là một ủy ban bán hàng, sôgô sôsha sẽ là người đại diện trung thành của bạn ở Nhật Bản. Hiện nay, các sôgô sôsha đảm nhận một chức năng khác cõ lẽ ít được thừa nhận: tình báo kinh tế. Nói cách khác là theo dõi mọi nhất cử nhất động trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và công nghệ. Liên lặc chặt chẽ với trung tâm Tokyo nhờ các máy vi tính, các băng từ và fax, các cơ sở kinh doanh này bận rộn suốt ngày đêm với bao thứ báo biếu kinh tế. Nhiệm vụ của chúng thật nặng nề: ghi lại trên phiếu (trên các cơ sở dữ kiện máy tính) toàn bộ những mặt hàng có ghi giá mà nó có thể có được và có thể hình dung ra được, nghĩa là mọi thứ từ thượng vàng hạ cám có thể đem bán, có thể bán được cũng như những gì chưa bán được nhưng cần lưu ý, lượng giá, phân tích, vào danh mục, xếp lại để chuyển về Tokyo.
    Việc xâm nhập để nắm bắt công việc hàng ngày bên trong một sôgô sôsha không đơn giản: Các nhân viên ở đây đều có ý thức bảo mật cùng nỗi sợ hãi bị sa thải đến mức họ không hề hé miệng mỗi khi ai đó muốn đề cập đến những gì cụ thể. Ai cũng rõ qui luật cạnh tranh là qui luật một sống một chết. Khi có một "vụ làm ăn lớn", các ông chủ của các sôgô sôsha luôn ở phòng làm việc suốt 18-20 giờ mỗi ngày và ngủ lại văn phòng của họ hàng nhiều đêm liền để sẵn sàng trả lời lập tức cho mọi cú điện thoại hoặc fax quan trọng từ Tokyo. Mỗi khi thảo luận các hợp đồng, các ông chủ Nhật lại đóng kín cửa để trao đổi riêng với nhau. Thậm chí các bản fax cũng được hủy bỏ bằng các biện pháp tối mật. Thường các nhân viên không phải là người Nhật chỉ được sử dụng vào những công việc thừa hành và tuyệt đối không tham gia vào các hoạt động có ý nghĩa chiến lược. Các mệnh lệnh quyết định đều xuất phát từ Tokyo.
    Marc Paul là một người Pháp, cựu nhân viên của A & A. Là chi nhánh 100% vốn của Tandy (Nhật Bản), A & A từ trước đã là một cơ sở kinh doanh có uy tín. Nó hiện sử dụng đến 600 nhân viên từ Nhật Bản sang và là hãng cung cấp sang Mỹ các mặt hàng điện tử sản xuất tại Châu Á. Về phần mình, Tandy cũng tiêu thụ hàng qua hàng ngàn điểm bán ở Mỹ, Canada và Châu Âu, Marc Paul cho biết:
    "Tôi làm việc cho A & A ba năm cho mãi đến năm 1989. A & A do Tadashi Yamagata, một trong những thành viên sáng lập Hiệp hội giới chủ ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản, thành lập năm 1955. Về mặt chính thức, tôi làm việc cho Tandy-France. Còn trên thực tế, tại Paris, tôi phụ việc cho hai đồng nghiệp Nhật phụ trách cửa hàng. Một người là dân Mỹ gốc Nhật, còn một người vừa tốt nghiệp một trường đại học lớn ở Tokyo thì được A & A tuyển thẳng vào làm. Cho dù về mặt chính thức, A & A không hề tồn tại trên đất Pháp, song qua Tandy, họ vẫn có mặt ở đây. Cơ sở của chúng tôi quả thật là một bộ máy tình báo, bởi vì chúng tôi phải tập hợp cả một khối lượng thông tin khổng lồ về lĩnh vực xuất khẩu, bán và phân phối hàng của Pháp. Song chúng tôi cũng còn là một cái máy bán hàng. Công việc của chúng tôi là làm sao tiêu thụ trên thị trường Pháp các loại hàng hóa của các hãng Nhật như Sharp, Aiwa, Sanyo, Toshiba, NEC, Canon cũng như các mặt hàng dưới nhãn hiệu sản xuất tại Đài Loan, hoặc Nam Triều Tiên của các hãng như Samsung, Goldstar, Realistic và Archer. Máy vi tính, máy tính, hệ thống báo động, điện thoại, radio-báo thức, radio tự động và máy truyền hình. Danh mục hàng hóa được bán thì rất dài. Mục tiêu đặt ra cho chúng tôi không hẳn là thu lợi nhuận tối đa mà quan trọng là tạo ra một thị trường dài hạn".
    Marc Paul nói tiếp:
    "Mạch sống trung tâm của hãng là Telex hoạt động gần như suốt ngày đêm. Chúng tôi nhận được từ 800 đến 1.000 telex mỗi ngày. Trên nguyên tắc, tôi không được quyền đến gần. Song với thời gian, vào cuối thời gian cộng tác của tôi ở Tandy-France, tôi thường cắt và phân loại telex vào sáng sớm trước khi ông chủ đến. Hoạt động của telex không khỏi khiến người ta liên tưởng đến một bộ máy chiến tranh. Có những bức điện thường, và những bức điện "khẩn" được phổ biến hạn chế chỉ dành riêng cho những người phụ trách cơ sở đọc mà thôi. Khi là điện tuyệt mật thì chỉ có "xếp" được nhận ở nhà riêng từ các máy ghi âm tự động do hãng tốc hành Nippon Express đưa đến. Cũng bằng con đường này, ông chủ trả lời điện và chúng tôi không hề được hay biết gì. Để bán được, chúng tôi phải nghiên cứu kỹ lưỡng việc cạnh tranh.
    Ông "xếp" của tôi thường xuyên có mặt ở các trung tâm cạnh tranh lớn để xem xét tình hình giá cả ở các nơi khác như thế nào. Ông ta mệt lử với công việc này. Song dần dần ông ta cũng thích sống theo kiểu Tây. Ông bắt đầu thích uống rượu Tây. Đôi khi, ông dậy muộn. Ông ta dẫn tôi đến những nhà hàng nổi tiếng. Đôi khi ông ta cũng tâm sự với tôi là ông ta không thích trở về Nhật Bản. Ông nói ông yêu nước Pháp, lối sống Pháp và sự tự do của Pháp. Ông "xếp" Tadashi Yamagata đều đặn bay sang Pháp. Đó là một ông già đã quá 75 tuổi và hiện đã về hưu. Khi ông đến, ông đều ở khách sạn Ritz và ăn ở những nhà hàng nổi tiếng. Ông ta rất thích đến nhà hàng Crillon. Song con người thật sự cầm cương A & A lại là vợ ông ta, Élaine Yamagate. Một người đàn bà mạnh mẽ. Đúng là một nhà kinh doanh thứ thiệt. Bà ta đến Pháp ít nhất là một lần trong năm. Các con của Yamagata nắm giữ các vị trí then chốt trong ban lãnh đạo Tandy. Tôi đã phải sửng sốt vì sự đan chéo lẫn nhau trong nội bộ của một hãng kinh doanh cực kỳ phân tán về mặt địa lý như A & A. Hệ thống A & A được tạo thành với những con người quen biết nhau đầy đủ và có những quan hệ làm việc cực kỳ chặt chẽ. Đối với người Nhật, thời gian và tình sâu nghĩa nặng là những nhân tố sống còn để tạo ra một không khí tin cẩn lẫn nhau. Tinh thần đồng đội và ý chí kiên quyết của những con người này không gì sánh bằng và không thể tìm thấy ở những xí nghiệp của chúng ta. Mỗi nhân viên của A & A đều như một người lính chiến đầu vì vị tướng Yamagata".
     
  8. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nước Nhật mua người

    Cũng còn một lĩnh vực mà có thể nói rằng sự tác động của Nhật Bản trên thế giới đang tiềm tàng một mối hiểm nguy, đó là việc gây ảnh hưởng. Một bộ phận của chính phủ Nhật bao gồm cả MITI cùng các ông chủ của các Zaibatsu, những tập đoàn công nghiệp hàng đầu của thời kỳ hậu chiến đã tiến hành một chiến dịch bí mật nhưng rộng lớn nhằm xâm nhập và chi phối các bộ phận khác nhau trong guồng máy chính quyền các nước, các tổ chức khác nhau trong guồng máy điều hành thế giới. Mục đích thật trong sáng: chi phối quá trình thông tin và quyết định. Biết trước những cơ hội thuận lợi cho nước Nhật và chi phối quá trình dẫn đến quyết định để làm sao cho bất kỳ quyết định nào cũng đều có lợi cho nước Nhật. Chiến dịch này đã âm thầm bắt đầu từ hơn một chục năm nay. Căn bệnh hoại thư đã ở thời kỳ đầu phát triển ở một số nước nhất là Mỹ và Anh. Ở những nước này cũng như ở nhiều nước khác, Nhật Bản đang từng bước hình thành một đội quân vận động nhiệt tình và tận tụy. Tốt nhất là những cựu lãnh tụ chính trị hoặc kinh tế của địa phương hoặc thành viên gia đình họ. Còn tệ nhất là các chuyên gia chuyên bán tư liệu.
    Những người này phục vụ cho lợi ích của nước Nhật bằng kiến thức của mình, và bằng cảm tình ủng hộ của bạn bè thân hữu làm việc trong các cấp chính quyền từ thấp đến chóp bu. Nhiệm vụ của họ là bất luận lúc nào và bất luận ở đâu cần thiết cho lợi ích của nước Nhật thì phải tìm cách ngăn cản việc ra quyết định bất lợi cho nước Mặt trời mọc mà không cần có sự can thiệp của nước Nhật. Trong các tình huống khác, là họ vận động để đưa ra các hồ sơ đã bị bỏ quên, giúp các "nhân viên" người Nhật đạt được những thành quả bất ngờ trong công việc.
    Ở Mỹ, chuyện này đang trở thành một xì căng đan chính trị lớn. Đã có nhiều nhân vật cao cấp hoặc nhà kinh doanh Mỹ vốn không để cho đồng tiền của Nhật Bản mua chuộc đã lớn tiếng phanh phui những chuyện "hậu trường" này. Chẳng hạn như Pat choate. Trong cuốn sách nhan đề Agents d'influence [71] (Nhân viên tuyên truyền), nhà kinh tế này đã vạch rõ tầm vóc hiểm họa này đang giăng ra ở Mỹ nếu như không có gì ngăn chặn lại. Với ông ta, con mèo là con mèo.
    "Vào lúc này, nước Nhật đang kiểm soát bộ máy kinh tế - chính trị thuộc loại hiện đại và hoàn hảo nhất của nước Mỹ".
    Ông ta viết tiếp:
    "Bao trùm và có hiệu quả hơn cả một đảng chính trị ở Mỹ hoặc hơn cả nghiệp đoàn công nghiệp và hơn bất cứ một hội đoàn nào ở Mỹ, chiến dịch mà người Nhật tiến hành ở Mỹ có một mục tiêu rất quan trọng: tác động đến các quyết định chính trị của Washington". [72]
    Pat Choate không hề kết tội các hãng Nhật là vi phạm luật pháp Mỹ. Trái lại, ông ta chỉ chứng minh rằng các hãng Nhật đang lợi dụng khai thác những yếu kém trong hệ thống chính trị của Mỹ và tính hám tiền của các nhà lãnh đạo Mỹ vốn ít bận tâm đến lòng yêu nước.
    Để đạt được mục đích và để có thể giựt dây được, người Nhật đã chi ra khoảng 400 triệu đô la hàng năm nghĩa là, như Pat Choate khẳng định, bằng ngân sách của năm tổ chức thương mại và công nghiệp có ảnh hưởng nhất của Mỹ trong đó có Văn phòng thương mại Mỹ về Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia. Số tiền này rơi vào túi các cựu viên chức chính phủ Mỹ và được sử dụng để thành lập các "Ủy ban hành động chính trị", "Hội những người tiêu dùng" và nhiều tổ chức khác mà hoạt động chỉ cốt để truyền bá một tinh thần thân Nhật. Pat Choate đã bị buộc thôi việc tại xí nghiệp công nghệ TRW hai tháng trước khi ông xuất bản cuốn sách do những áp lực từ phía người Nhật. Ông dẫn chứng: một chuyên gia về thương thảo mậu dịch trong lĩnh vực công nghệ cao cấp với Nhật Bản ở Bộ Ngoại giao Mỹ, sau khi không còn làm việc cho chính phủ Mỹ, đã chuyển sang phục vụ cho Fujitsu, mang theo sự am hiểu sâu sắc của mình về chiến lược của Mỹ trong lĩnh vực này. Franck Church, cựu Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ viện Mỹ hiện đang làm việc cho chính phủ Nhật Bản. Bốn trong số tám đại diện thương mại, những nhà thương thảo cho nền mậu dịch của chính phủ Mỹ, đã trở thành những cán bộ tuyên truyền làm việc cho nước ngoài trong đó có ba làm việc cho Nhật Bản. Nhờ những nhân vật này, người Nhật nắm rõ những gì diễn ra bên trong chính phủ liên bang hơn cả những viên chức cao cấp của chính phủ Mỹ.
    Ở Anh, hậu quả của cuộc tấn công này của Nhật Bản không phải là chưa có tác hại. Một trong những biện pháp Nhật Bản sử dụng để xâm nhập các giới cần thiết là việc tài trợ cho các trường đại học, các viện nghiên cứu, các đội bóng. Và người Nhật được lợi cả hai mặt bởi đó cũng là cách quảng cáo cho nhãn hiệu sản phẩm Nhật. Chính vì thế, hãng sản xuất xe hơi Toyota đã hai lần tài trợ hậu hĩ cho trường đại học Oxford nổi tiếng của Anh, để như người ta nói là giúp cho việc học ngôn ngữ và văn minh Nhật. Lần đầu là 11,5 triệu bảng Anh (hơn 100 triệu franc) năm 1979 để xây dựng một Institut Nissan (Viện nghiên cứu về Nhật Bản) ở trường St. Antony. Lần thứ hai là 3,2 triệu bảng Anh (30 triệu franc) vào tháng 6/1990 để lập ra hai học vị phó giáo sư về bộ môn kinh tế và nhân chủng xã hội học.
    Nước Pháp cũng được tài trợ "hậu hĩ" của Nhật Bản. Việc bảo trợ của Nhật Bản len lỏi vào nhiều giới khác nhau đôi khi là những giới mà không ai ngờ nhất. Có ai biết hơn 10% nguồn tài chánh của tổ chức nhân đạo phi chính phủ đáng kính như France-Libertés là do các nhà hảo tâm Nhật ? Người cấp vốn lớn nhất của Nhật Bản cho France-Libertés là Soka Gakkai, một tổ chức ủng hộ đảng Phật giáo Nhật Bản Komeito, có mục đích bên ngoài cũng thật đáng trân trọng là truyền bá một xu hướng Phật giáo khác trên thế giới. Soka Gakkai mở rộng mạng lưới truyền bá của mình khắp hoàn cầu. Nó hoặc có văn phòng hoặc nó kiểm soát các tổ chức ở 115 nước trên thế giới và có khoảng 1,26 triệu tín đồ ở ngoài nước Nhật. Tôi cũng là một người ngưỡng mộ nhiệt tình với Phật giáo. Song đối với tôi, sự sùng bái cá nhân lãnh tụ nổi tiếng của Soka Gakkai là Ikeda Daisaku, thật là điều khó hiểu. Masako Ohya cũng là người bảo trợ cho France-Libertés. Một tổ chức đấu tranh cho nhân quyền của Pháp là Arche de la Fraternité do cựu Bột trưởng ngoại giao Claude Cheysson đứng đầu cũng hoạt động được nhờ vào tiền bảo trợ của sáu mạnh thường quân trong đó có hai là người Nhật: Công ty buôn bán chứng khoán Nomura và Ngân hàng Dai-Ichi Kangyo. Cũng ở Pháp, ai cũng biết là Jacques Chirac đã bị bùa mê của Nhật Bản. Một trong những cộng sự viên thân cận nhất của ông ta ở tòa đô chính Paris đã bày tỏ với tôi những lo ngại của ông khi thấy người lãnh đạo chính trị này cứ lao vào lưới của Nhật Bản mà không nhìn thấy những nguy cơ đe dọa đến mức không còn giữ ý tứ gì cả khi trở thành một người ủng hộ mù quáng cho Nhật Bản.
    Không lạ gì khi nước Nhật hướng đôi mắt tham lam của mình về châu Âu, thì các nhà công nghiệp khổng lồ Nhật Bản lại tấp nập có mặt ở Bruxelles, trụ sở của Ủy ban châu Âu. Họ thành lập nhiều văn phòng đại diện để tiếp cận với các thiết kế châu Âu. Khoảng 185 xí nghiệp của Nhật Bản hiện đã có mặt ở Bruxelles. Khoảng 30 xí nghiệp đã khánh thành cơ sở địa phương của mình nội trong năm 1989. Các giới chức Nhật chẳng có gì phải giữ mồm giữ miệng. Khi được hỏi về sự gia tăng các văn phòng đại diện của Nhật Bản ở Bruxelles đã nói trắng ra rằng: "Cần phải có mặt ở đây để nắm được những thông tin cần thiết và gây sức ép chứ !" [73]
     
  9. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Châu Âu: tưởng niệm một ngành công nghiệp đã quá cố

    Dù muốn hay không muốn, sự cạnh tranh của Nhật Bản cũng đã giáng cho châu Âu những đòn điếng người và hiện nó đang đe dọa giết chết châu Âu. Dù bằng cách nào đi nữa hoặc cửa đóng then cài thắt chặt hoặc là mở toang cho Nhật Bản thì hậu quả cũng không có gì khác đối với hai lĩnh vực sống còn trong nền kinh tế của chúng ta: xe hơi và điện tử. Một trong hai ngành công nghiệp này đang ở trong tình trạng khó khăn. Song khó khăn nhất vẫn đang còn chờ ở trước mặt.
     
  10. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Công nghiệp xe hơi: sự thống trị trên thực tế của người Nhật

    Để trấn an, trong một số giới, người ta vẫn thường nói trong lĩnh vực xe hơi, Mỹ và châu Âu vẫn luôn là hai kẻ mạnh nhất. Đó thật ra là một lời khẳng định sai và lừa bịp. Về sản lượng xe hơi, điều gì đang diễn ra ? Hai hãng sản xuất đứng hàng đầu là General Motors (6,2 triệu xe hơi được sản xuất trong năm 1989) và Ford (4,2 triệu xe). Toyota đứng hàng thứ ba (3,6 triệu xe), Wolkswagen đứng hàng thứ tư (3 triệu xe), kế đến là Fiat (2,7 triệu xe), Nissan (2,4 triệu xe), Peugeot (2,2 triệu xe) và Renaut (1,8 triệu xe). Người Nhật hiếm khi chiếm lĩnh những vị trí đầu bảng ? Đúng thế, song họ lại đã chiếm 4 trong số 10 vị trí đầu. Còn nếu tính trong số 20 hãng sản xuất xe hơi hàng đầu thế giới, thì với 10,45 triệu xe hơi sản xuất trong năm 1989, Nhật Bản, trên thực tế, đã gần tương đương với cả châu Âu (11,93 triệu xe) và Mỹ (11,6 triệu xe).
    Còn về tình hình tài chánh, trong khi châu Âu càng ngày càng lúng túng, khó khăn nếu không nói là tuyệt vọng thì Nhật Bản càng lúc càng sáng sủa. Liệu Toyota, Nissan và Honda có muốn bành trướng khắp thế giới và tiếp tục đầu tư không ? Tương lai đang thuộc về họ bởi họ có thừa vốn. Tài sản cố định của Toyota đã tăng lên 46,8% năm 1989. Tài sản cố định của Nissan đã tăng lên 37,6%. Cuối năm 1990, Nhật Bản đã sản xuất tổng cộng hơn 120 triệu xe, đã xuất khẩu 64 triệu xe trong khi chỉ nhập khẩu 800.000 xe. Nhiều hãng sản xuất xe hơi phương Tây đang vỡ nợ bởi không vượt nổi Nhật Bản về mặt công nghệ, hàng bán chậm và sản xuất bị tê liệt vì những cuộc bãi công. Các hãng lớn đang rơi vào tình trạng sống thoi thóp chờ phá sản vì tình hình không hề cải thiện chút nào.
    Với người Mỹ, năm 1990 sẽ mãi là một năm đen tối. Với mức lợi nhuận sụt giảm thê thảm và những viễn ảnh tăm tối nhất. Ngay từ năm 1989, các hãng sản xuất trong nước đã bị một vố đau như hoạn. Ở một đất nước còn có chút tự hào dân tộc thì lần đầu tiên trong lịch sử, chiếc xe hơi được bán nhiều nhất đã không còn là xe hơi Mỹ mà là xe hơi Nhật: xe Honda Accord với 362.707 chiếc. Tình hình cứ ngày một tồi tệ. Trong quý I/1990, lợi nhuận của General Motors đã giảm 46,4% nghĩa là đến 1,61 tỷ đô la theo nhịp độ hàng năm (8,05 tỷ franc). Đầu tháng 2/1991, hãng sản xuất xe hơi số một thế giới này đã loan báo sẽ sa thải 1.500 công nhân (15% trên tổng số công nhân) trong hai năm. Đối với hãng Ford, mức lợi nhuận cũng đã thụt xuống đến 58,1% tức 1,28 tỷ đô la (6,4 tỷ franc). Còn hình ảnh của hãng Chrysler thì thật thảm hại. Mức lợi nhuận của nó đã giảm xuống đến 64% vào quý I/1990, tức 251 triệu đô la (1,25 tỷ franc). Chủ hãng này, Lee Iacocca, đã buộc phải áp dụng các biện pháp tiết kiệm hà khắc. Những dự báo cho quý III còn đáng báo động hơn nữa: Chrysler sẽ mất trắng 275 triệu đô la (1,37 tỷ franc) và mức lợi nhuận của General Motors và Ford sẽ giảm 50% tức 248 và 255 triệu đô la (1,24 tỷ và 1,27 tỷ franc). Điều cực kỳ mỉa mai là kẻ duy nhất hưởng lợi và đang tiếp tục bay đến những kỷ lục mới lại không ai khác hơn là những xí nghiệp của Nhật Bản xây dựng trên đất Mỹ. Năm 1989, các hãng sản xuất xe hơi Nhật đã giành được 26% thị trường Mỹ. Năm 1990, tỷ lệ này là 30%. Có 2,5 triệu xe hơi Nhật được sản xuất hoặc nhập khẩu vào Mỹ. Chỉ riêng đối với các loại xe hơi Nhật sản xuất tại Mỹ, vòng nguyệt quế đã thuộc về Honda, hãng này đã vươn lên đứng hàng thứ ba ở Mỹ trong năm 1990 ngang hàng với Chrysler (9,2% số xe được bán) chỉ sau General Motors và Ford.
    Song sự khuynh đảo chủ yếu của ngành xe hơi Nhật diễn ra ở châu Âu. Hơn ở đâu khác, chính trên sân khấu châu Âu sẽ quyết định sự thành bại của Nhật Bản. Thị trường châu Âu về xe hơi là thị trường số một thế giới với 12 triệu xe được đăng ký năm 1988. 325 triệu người châu Âu mua 41% số xe hơi bán trên thế giới. Song các hãng sản xuất xe hơi châu Âu đã tỏ ra có những dấu hiệu thụt hơi. Thật ra, Fiat đã vươn dậy một cách ngoạn mục, cùng lúc Peugeot đang tìm lại được một thế ổn định. Năm 1989, Peugeot đã thu được một khoản lợi nhuận tăng lên đến 16,4% tức 10,3 tỷ franc. Thế nhưng, Renault lại đã công bố mức lợi nhuận dự báo của mình sẽ giảm đến 60% trong năm 1990. Và trong khi 1.600 công nhân hãng Rolls Royce ở Coventry đang bãi công trong các giờ phụ trội để đòi giữ lại giờ giải lao buổi sáng thì số xe Nhật xin đăng ký ở châu Âu đang vượt trên 10%. Cùng lúc, việc bán các nhãn hiệu sản xuất của châu Âu cho nước ngoài đang có xu hướng thu hẹp lại.
    Các hãng sản xuất đang băn khoăn về thời kỳ khó khăn sắp tới. Họ bí mật rình rập xem ai trong số họ sẽ là người rơi xuống vực thẳm trước. Và sự sụp đổ này sẽ gây chấn động. Song nó lại tạo ra chỗ trống cho những kẻ khác nghỉ xả hơi đôi chút. Dầu sao đó cũng chỉ một giây lát thôi. Còn sau đó là tới phiên họ. Trong số các "ứng cử viên", có người cho là BMW, kẻ khác cho là Renault, hoặc Peugeot vốn cũng không hẳn vững vàng cho lắm.
    Vậy mà ngành công nghiệp xe hơi lại là cái xương sống của nền kinh tế kinh tế châu Âu. Khu vực sản xuất này sử dụng hàng triệu người ở khắp CEE và chỉ riêng ở nước Pháp đã là 200.000 người. Ngoài việc giết chết nền công nghiệp quốc gia, sự phá sản của các hãng sản xuất hàng đầu như Renault sẽ còn gây ra những hậu quả xã hội khôn lường. Một chính phủ khó có thể chấp nhận một thảm họa như thế. Bởi vì các phản ứng dây chuyền đối với các khu vực sản xuất khác sẽ là điều không tránh khỏi. Song hiện còn có thể có một giải pháp khác không ?
     
  11. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Sự di trú giết người

    Nhật Bản đã trở nên giàu có một phần nhờ vào việc xuất khẩu xe hơi. Chỉ riêng trong năm 1989, nó đã thu được gần 50 tỷ đô la (250 tỷ franc). Xe hơi vẫn là mặt hàng hàng đầu trong xuất khẩu của Nhật Bản. Tôi đã đến thăm các xí nghiệp của Nissan ở Murayama, gần Tokyo. Các dây chuyền lắp ráp ở đây gần như hoàn toàn tự động, rất sạch sẽ, gọn gàng, các người máy có bánh xe tấp nập như con thoi đưa các bộ phận đến các hành lang phân xưởng. Trong những xí nghiệp này, công nhân làm việc đeo găng tay trắng và việc đình công là chuyện xa lạ với họ. Với một hệ thống kiểm tra chặt chẽ, những chiếc xe khi xuất xưởng đều hoàn chỉnh và có chất lượng không thể chê trách được.
    Song hiện nay, công thức chiến thẳng của ngành công nghiệp xe hơi Nhật Bản đối với các đối thủ cạnh tranh của mình ở châu Âu đã khác xa trước. Đó là sự phi địa phương hóa sản xuất. Các loại xí nghiệp "di trú" phát triển nhanh như tia chớp trong một vài năm qua. Các dự báo công khai của các hãng Nhật cho thấy sự tăng trưởng khủng khiếp này sẽ còn tiếp tục trong những năm tới. Các loại xí nghiệp phi địa phương hóa có nhiều lợi thế: tránh được những chấn động mạnh mẽ trên thương trường do việc xuất khẩu, nắm sát khách hàng, kiểu dáng phù hợp hơn với thị hiếu người tiêu thụ, bù đắp được sự khan hiếm lao động ở Nhật Bản, khai thác được nguồn lao động rẻ mạt tại chỗ.
    Chúng ta biết rằng qua kinh nghiệm có được, người Nhật càng ngày càng có những thủ đoạn tinh vi trong việc phi địa phương hóa đến mức đôi khi biến những kẻ đã kết án họ chỉ dựng lên "những xí nghiệp vệ tinh" thành kẻ nói dối. Bởi vậy, rất khó tìm thấy người Nhật tại nhà máy Nissan ở Sunderland (Anh) được mở cửa năm 1984 với sản lượng dự kiến sẽ đạt mức 200.000 xe hơi vào năm 1983: chỉ có hai người Nhật trên tổng số 2.300 công nhân đủ để duy trì liên lạc với trung tâm nghĩa là một phó tổng giám đốc và một giám đốc tài chánh. Sau thời gian dài do dự và trước sự cạnh tranh của phương Tây (Volkswagen, Peugeot và Citroen), các hãng sản xuất xe hơi Nhật Bản đã chuyển hướng sang Trung Quốc. Từ năm 1993, Suzuki sẽ sản xuất 10.000 xe hơi mỗi năm. Còn Daihatsu thì năm 1990 đã sản xuất 25.000 xe mỗi năm. Nhiều dự án khác đang được thảo luận.
    14,76
    0,060
    0,703
    Pakistan
    5,97
    0,007
    0,551
    Sri Lanka
    1,53
    0,003
    0,446
    Bangladesh
    1,73
    0,001
    0,932
    Miến Điện
    0,82
    -
    0,779
    Nguồn: MITI và Bộ Tài chánh Nhật Bản.
    Sản lượng của các xí nghiệp phi địa phương hóa thuộc các hãng hàng đầu của Nhật Bản (đơn vị: cái và mức tăng hàng năm)
    1989
    1990 (dự kiến)
    Toyota
    472.000 (+93%)
    650.000 (+38%)
    Nissan
    636.000 (+16%)
    683.000 (+7,4%)
    Honda
    531.000
    650.000 (+22%)
    Mitsubishi
    310.000
    410.000 (+33%)
     
  12. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    1992: Châu Âu không thống nhất

    Châu Âu năm 1992 lẽ ra phải hợp nhất để đương đầu với sự cạnh tranh quốc tế. Trong lĩnh vực xe hơi, trừ phi có một sự tỉnh thức của cộng đồng châu Âu mà hiện có hy vọng, còn không thì sự nghiệp này coi như đã mất. Trước viễn cảnh của mối bất hòa này, người Nhật đang xoa tay cười mỉm. Những chia rẽ giữa các nước thành viên CEE hiện đang sâu sắc hơn bao giờ hết. Chuyện đối phó thì dễ song vấn đề là quy mô. Cần phải có được một chiến lược toàn châu Âu về xe hơi để từ năm 1993 có thể đương cự với cú đánh phủ đầu của Nhật Bản mà vẫn đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc tự do mậu dịch trong khuôn khổ của GATT. Các quan điểm hiện rất xa cách nhau. Một bên là Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha với thị trường được bảo hộ chặt chẽ bằng những hạn ngạch nhập khẩu đối với xe hơi Nhật. Các nước này đòi hạn chế nhập khẩu xe hơi Nhật trong một thời gian từ 5-10 năm, để cho ngành công nghiệp xe hơi địa phương chuẩn bị đối phó với việc mở cửa hoàn toàn. Ngược lại là Đức nhân danh các nguyên tắc thiêng liêng của tự do mậu dịch, là Anh vì lợi ích cục bộ của mình. Hai nước này ủng hộ các biện pháp mềm dẻo với Nhật Bản.
    Cuộc chơi càng trở nên phức tạp hơn do sự có mặt của các loại xí nghiệp phi địa phương hóa. Pháp cho rằng các xe hơi ra lò từ các nhà máy này cũng là của Nhật Bản, nên cứ khăng khăng đòi phần sản lượng này cũng phải được tính vào số hạn ngạch quy định. Trong khi đó, vì muốn bán số xe hơi của Nhật Bản sản xuất tại nước mình vào thị trường châu Âu, nước Anh lại cho rằng không thể tính gộp như thế. Thậm chí các hãng sản xuất xe hơi châu Âu cũng không đồng ý được với nhau.
    Raymond Levy, chủ hãng Renault nói:
    "Người Nhật càng ở gần thì càng nguy hiểm. Nói chuyện thương lượng với người Nhật là không nghiêm chỉnh. Đã đến lúc, người châu Âu và những người tự do nhất trong số họ, hiểu rằng cuộc cạnh tranh với người Nhật là không trung thực. Cơ cấu kinh tế của Nhật Bản hướng hoàn toàn đến việc thâm nhập vào thế giới". [74]
    Jacques Calvet khẳng định:
    "Cứ nhập 6 xe hơi Nhật thì châu Âu mất một chỗ làm. Cứ tạo ra 2 chỗ làm cho người Nhật ở châu Âu thì có hai người châu Âu mất chỗ làm. Mở ngõ các biên giới châu Âu có nghĩa là 140.000 người châu Âu sẽ mất chỗ làm". [75]
    Theo Robert Eaton, Chủ tịch hãng General Motors, hy vọng các biện pháp bảo hộ có thể mang lại hiệu quả về lâu dài là một "ảo tưởng". Song theo Michel Rocard:
    "Không một áp lực chính trị hoặc ngoại giao nào, dù có mạnh đến mức nào đi nữa, cũng không thể đẩy nước Pháp và CEE đi đến chấp nhận một cuộc khủng hoảng xã hội lan rộng với hàng trăm ngàn người bị sa thải". [76]
    Người Nhật giống như những ông hoàng tốt bụng, đã cho biết họ sẵn sàng ký kết một thỏa thuận tự giới hạn xuất khẩu xe hơi trong thời hạn 5 năm. Họ không chấp nhận bất cứ điều khoản nào liên quan đến các xí nghiệp "di trú". Kết quả: Frans Andriessen, phó chủ tịch Ủy ban CEE, phụ trách việc thương thảo với Tokyo quả không còn biết đâu mà lần. Bởi đến năm 1993, nếu chưa đạt được một thỏa thuận nào thì 12 nước của châu Âu sẽ đương nhiên áp dụng các luật lệ của cộng đồng chung châu Âu và bãi bỏ các hạn ngạch quốc gia. Còn trong lúc này, tình trạng "ông nói gà bà nói vịt" diễn ra điếc tai mà chỉ có châu Âu là chịu thiệt thòi mà thôi.
     
  13. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Trong lúc đó thì người Nhật chuẩn bị

    Người châu Âu cãi nhau ầm ĩ ư ? Người Nhật thật bình thản. Có thỏa thuận với châu Âu, ván cờ "go" vẫn tiếp tục: âm thầm, không kèn không trống các hãng sản xuất xe hơi Nhật Bản vẫn tiếp tục triển khai cuộc xâm chiếm toàn cầu một cách ồ ạt. Liệu cuộc xâm chiếm này diễn ra tại châu Âu ở quy mô nào ? Đối với Nissan, các dự án đã nói rõ.
    Yoshikazu Kawna, chủ tịch Nissan-Europe đã cho biết:
    "Các dự án mang đầy tính tham vọng. Ở Anh, chúng tôi muốn tăng gấp đôi công suất vào năm 1992. Ở Tây Ban Nha, chúng tôi muốn sản xuất 150.000 xe hơi vào năm 1995". [77]
    Về phần mình, Toyota hi vọng sẽ sản xuất 200.000 xe hơi tại Anh từ nay cho đến giữa năm 1995. Toyota đã "ma lanh" quyết định chuyển trụ sở châu Âu của mình về Bruxelles, nơi đặt trụ sở của ủy ban châu Âu. Năm 1989, Toyota đã bán 400.000 xe hơi tại châu Âu. Tổng cộng số xe hơi của các hãng Nhật ở châu Âu là 1,08 triệu xe trong tám tháng đầu năm 1990, nghĩa là tăng hơn 6% so với củng kỳ năm 1989. Cùng lúc, phần của Nhật Bản xuất sang thị trường châu Âu cũng đã tăng từ 10,9% lên 11,6%.
    Người Nhật đã có mặt dày đặc ở châu Âu. Nhiều dự án táo bạo nhất đang được xem xét. Toyota dự kiến thành lập một xí nghiệp liên doanh ở Thổ Nhĩ Kỳ để năm 1994 sản xuất hơn 100.000 xe hơi mỗi năm và xuất khẩu một phần sang Liên Xô. Mazda không chậm trễ đã xuất khẩu xe hơi sang Liên Xô ngay từ tháng 6/1990. Hãng này cũng phối hợp với Ford để sản xuất 120.000 xe hơi mỗi năm tại Đức kể từ năm 1992. Honda cũng đã bắt đầu bán xe hơi sang Israel từ tháng 4/1990. Để tránh bị tẩy chay có thể xảy ra từ phía các nước Ả Rập, số xe hơi này được nhập từ các xí nghiệp "di trú" của Honda ở Mỹ. Daihatsu đã hủy bỏ một dự án ở Ba Lan, song Toyota vẫn tiếp tục các nghiên cứu khả thi về một xí nghiệp ở Tiệp Khắc. Để không bị chậm chân, Suzuki đã ký một thỏa thuận xây dựng một dây chuyền lắp ráp ở Hunggari.
    Phát súng ân huệ có lẽ phát ra từ phía Mitsubishi. Ngay từ đầu năm 1990, hãng này đã xúc tiến các cuộc thương lượng với Daimler-Benz nhằm tiến hành một sự hợp tác đa phương, đặc biệt là trong lĩnh vực xe hơi. Phát súng quyết định là Mitsubishi vẫn tiếp tục các cuộc thảo luận với Volvo trong khi hãng sản xuất này đã liên minh xong với Renault về mặt tài chánh. Nếu các bạn hảng Thụy Điển và Nhật đạt được thỏa thuận thì Mitsubishi-Volvo sẽ sản xuất tại Bỉ trên 200.000 xe Mitsubishi-Mirage mỗi năm đủ để tràn ngập thị trường châu Âu. Đây không còn là những "xí nghiệp gia công" đơn thuần bởi vì 75% các bộ phận của loại xe này sẽ được sản xuất tại chỗ. Song không ai nghi ngờ rằng bằng cách này Nhật Bản sẽ có được một đầu tàu chiến lược ở châu Âu. Và vì vậy, với thời gian, Renault có nguy cơ chỉ là một thứ bình phong không hơn không kém.
     
  14. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Điện tử và tin học: một chiến thắng hoàn toàn

    Trong lĩnh vực này, tình thế thật cay đắng, đáng lo âu thậm chí là thảm hại. Hồi chuông báo động đã điểm đối với người phương Tây. Lửa trong nhà đã bốc cháy. Một cuộc tháo chạy khủng khiếp đang có nguy cơ xảy ra. Trong khi người Nhật đã tung ra những nguồn tài chánh về nhân lực quyết định vào lĩnh vực nghiên cứu và cải tiến công nghiệp, thì người châu Âu và Mỹ lại sa thải công nhân, không đầu tư hoặc chịu khuất phục trước người Nhật. Chính vì vậy, hãng Philips (Hà Lan), trong khi mức thua lỗ gia tăng (1.06 tỷ đô la, tương đương 5,3 tỷ franc trong 9 tháng đầu năm 1990) thì vào tháng 10/1990 lại loan báo trong hai năm sẽ sa thải từ 35.000 đến 45.000 công nhân. Hãng Bull (Pháp) cũng vậy, đã loan báo bị thua lỗ 3 tỷ franc trong năm 1990 và năm 1991 sẽ sa thải 5.000 công nhân sau khi đã sa thải 2.500 người năm 1990 và 2.000 người năm 1989. Hãng Olivetti (Ý), vào tháng 11/1990, cũng đã loan báo sa thải 7.000 công nhân trong những năm sắp tới. Người khổng lồ tin học ICL (Anh) cũng đã được Fujitsu mua đứt tháng 7/1990. Tình hình này thậm chí còn bi đát đến mức thâm thủng mậu dịch của ngành điện tử châu Âu đã tăng lên gấp 20 lần chỉ trong 10 năm. Theo kết luận của bộ phận phân tích của Pháp thuộc công ty điện tử quốc tế (EIC) thì trừ phi kịp nhận thức được tình hình, còn không thì số dư mậu dịch của ngành điện tử châu Âu có nguy cơ - 50,8 tỷ đô la (254 tỷ franc) vào năm 1995. Vấn đề của châu Âu là "không nhận thức được mối hiểm họa đang giết chết ngành công nghiệp điện tử của mình" [78]
    Số dư mậu dịch của các ngành công nghiệp điện tử (tính bằng tỷ đô la)
    Châu Âu
    Mỹ
    Nhật Bản
    1979
    -1,5
    +4,3
    +13,3
    1989
    -34,2
    -7,7
    +62,7
    1995 (dự báo)
    -50,8
    -17,9
    +86,8
    Nguồn: Electronics International Corp, tháng 10/1990
    Quả là người Nhật không phải luôn giành được chiến thắng trên mọi trận địa. Bằng chứng là tỷ trọng của các hãng Nhật trong thị trường thế giới về bán dẫn (doanh số hiện nay của thị trường này là 58 tỷ đô la hàng năm) đã có sút giảm một chút trong năm 1990 xuống còn 49,5% so với 52,1% năm 1989 theo như số liệu của viện Dataquest (Mỹ). Song, dù có bị gián đoạn đôi chút, chiến thắng chung cuộc của các hãng Nhật trong cuộc chinh phục thị trường này là không thể nghi ngờ. Bằng chứng là năm 1989 và 1990, kết quả kinh doanh của tất cả các tập đoàn điện tử Nhật tăng vọt. Năm 1989, tài sản cố định của Hitachi đã tăng 33,8% (đạt 7.805 tỷ yên, tương đương 281 tỷ franc), của Toshiba tăng 49,7% (đạt 5.181 tỷ yên, tương đương 218,5 tỷ franc), của Fujitsu tăng 28,2% (đạt 2.971 tỷ yên, tương đương 148,5 tỷ franc) [79]. Cuộc đời, ôi lại cũng đẹp sao cho người Nhật. Lợi nhuận của Hitachi tăng 9% trong quý I năm 1990 (đạt 60,25 tỷ yên, tương đương 2,1 tỷ franc), của Toshiba tăng 31% (đạt 64 tỷ yên, tương đương 2,3 tỷ franc) và của Mitsubishi Electric tăng 37% (đạt 34,5 tỷ yên, tương đương 1,2 tỷ franc). Dự báo mức tăng cho cả năm 1990 của ba hãng trên là 17%, 14% và 19%. [80]
    Kết quả: hơn bao giờ hết, ngành điện tử của Nhật Bản đã vượt ra khỏi các biên giới của nó và khẳng đinh ngày một mạnh mẽ trên thế giới. Thông qua việc đầu tư và mua lại các xí nghiệp, Nhật Bản đang từng chút, từng chút gậm nhấm cái bánh của thế giới. Và cũng từng bước từng bước, họ biến khoảng cách giữa họ và các đối thủ cạnh tranh thành cái hố ngăn cách. Ngay từ năm 1989, Bộ quốc phòng Mỹ đã thú nhận rằng Nhật Bản đã dẫn trước Mỹ 6 trong số 22 ngành công nghệ mà Lầu Năm Góc xem là "mấu chót" cho an ninh quốc gia của nước Mỹ [81]. Vào tháng 6/1990, Bộ Thương mại Mỹ đã công bố một báo cáo trong đó tiết lộ rằng ưu thế tuyệt đối của Nhật Bản là một mối đe dọa cho ngành công nghiệp điện tử Mỹ vào trước cuối những năm 90 [82].
    Tình trạng rối ren này là do đâu ? Để mạnh hơn, từ lâu Nhật Bản đã vạch ra những hướng phát triển dài hạn, còn châu Âu thì lại đang cố loay hoay cứu vãn hai dự án tội nghiệp là Esprit và Eurêka của cộng đồng châu Âu mà người ta đã có thể tiên đoán là cả hai sẽ mất cả người lẫn của trong cơn lốc Nhật Bản. Nhật Bản có những tài sản kếch sù, còn châu Âu thì lại nghèo đến mức gặp ai cũng ngửa tay mượn tiền. Ở Nhật Bản, một đường lối công nghiệp cường tráng đang tiếp tục tạo ra những phép lạ kinh tế. Còn ở phương Tây, thứ chủ nghĩa tự do kinh doanh và mậu dịch đang làm tê liệt các chiến lược liên kết và làm lợi cho kẻ thù.
    Chưa hết, đất nước Mặt trời mọc không chỉ đào sâu hố cách biệt với phần còn lại của thế giới, mà nó còn chuẩn bị các ngành công nghệ chiến lược để một ngày nào đó trong tương lai đảm bảo cho nó nắm giữ toàn bộ lĩnh vực tin học và cùng với tin học là một phần lớn cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhật Bản đã tỏ ra tuyệt vời trong nghiên cứu ứng dụng. Từ lâu, họ còn yếu kém trong nghiên cứu cơ bản. Song họ đang khắc phục sự chậm trễ này. Lợi dụng tình trạng suy yếu của phương Tây, những người lãnh đạo Nhật Bản hiện đang có tham vọng thu hút tất cả những nhà nghiên cứu giỏi nhất của nước ngoài làm việc cho Nhật Bản. Một đề nghị hấp dẫn cho những bộ óc không thế phát huy ở chỗ chúng ta: tạo điều kiện cho MITI vừa thành lập ở Tokyo một viện nghiên cứu quốc tế về công nghệ cao cấp.
    Với những nguồn vốn được tài trợ thường xuyên, các tập đoàn hàng đầu của Nhật Bản đang tiến công vào mọi lĩnh vực điện tử của tương lai. Trong số những ứng dụng sẽ ra đời trong tương lai là truyền hình có độ rõ cao mà khả năng tiêu thụ của thị trường sẽ rất lớn, các thiết bị bán dẫn siêu nhỏ, máy vi tính thế hệ thứ năm, thứ sáu, các thiết bị vi-laser, siêu dẫn, bộ nhớ có công suất cực lớn, các nguồn năng lượng mới, các siêu máy tính cực nhanh, các bộ chuyển đổi số theo kênh nối trong các thành phố lớn (cho phép chuyển tiếng nói, hình ảnh và các dữ liệu trên một đường dây duy nhất), trí thông minh nhân tạo và những lĩnh vực đa dạng của công nghệ sinh học. Các ứng dụng từ đó cũng sẽ là vô kể và đó cũng là lời báo trước sự bại trận của phương Tây.
    Đây chỉ là một số lĩnh vực mang tính tiên phong. Sony đã tung ra thị trường loại tự điển và sách trên đĩa Compact, một loại bảng ghi dữ liệu cực nhỏ: 100.000 trang tư liệu được ghi lại trên một đĩa cực nhỏ. Toshiba loan báo đã sản xuất một loại võng mạc nhân tạo có nhiều ứng dụng khác nhau, đặc biệt là tranh y khoa và người máy. Hitachi vừa hoàn thành (tháng 6/1990) bộ nhớ điện tử khổng lồ đầu tiên có công suất 64 mégabit, nghĩa là trên một diện tích cực nhỏ chỉ bằng 1,97 cm2, có 149 triệu mạch điện tử và có khả năng lưu trữ 64 triệu thông tin. Các hãng Nhật còn đứng đầu về số bằng sáng chế. Ở Mỹ, Hitachi dẫn đầu với 1.053 bằng sáng chế, kế đến là Toshiba (949) và Canon (949), Fuji (884). Đứng hàng thứ năm là General Electric của Mỹ với 818 bằng sáng chế.
    Để khẳng định những tiến bộ của Nhật Bản, chỉ cần đến thăm một trung tâm nghiên cứu chẳng hạn như trung tâm nghiên cứu của Nippon Electric Corp (NEC). Trung tâm Miyazakidai, một trong bốn trung tâm lớn của NEC nằm cách Tokyo 30 phút. Tôi đã được Hirozaku Goto đón tiếp. Ông ta là trưởng ban dịch vụ kỹ thuật và kế hoạch hóa của bộ phận nghiên cứu và phát triển của NEC. Có cần nói rằng ông ta làm việc mỗi ngày từ 8 giờ 30 đến 22 giờ 30 chăng ? Rằng ông ta không hề biết đến nghỉ hè chăng ? Rằng cuộc sống gia đình của ông ta bị hy sinh cho cuộc sống nghề nghiệp chăng ? Tôi thì không hề thích một cuộc sống như thế. Song ông ta tự hào với những thành tựu ở trung tâm của ông, một cơ sở sử dụng đến 1.000 nhà nghiên cứu, trong đó có 30 người nước ngoài từ Mỹ, châu Âu và châu Á. Tôi bị thu hút đặc biệt bởi kho tàng những "con bọ" cực nhỏ. Tuy không là người sản xuất đầu tiên những bộ nhớ có công suất 64 mégabit. Song do cạnh tranh, hãng này vẫn tiếp tục đẩy mạnh các nghiên cứu để tạo ra một mạch kết hợp tối ưu bằng cái lớp vi mạch điện tử có độ hoàn hảo cao. NEC, được thành lâp năm 1899, tự hào là đã sáng chế ra máy tính nhanh nhất thế giới vào năm 1983 và bộ nhớ có công suất 4 mégabit đầu tiên vào năm 1986.
    Ở Miyazakidai, "tủ kính" của các công nghệ mũi nhọn của NEC, ngày mai đã bắt đầu từ hôm nay. Một trong những dự án được chủ tịch hãng, "tiến sĩ Kobayashi" rất ưa chuộng là một hệ thống dịch thuật điện tử tự động, cùng lúc và toàn bộ ứng dụng trong điện thoại. Hệ thống này cho phép một người Pháp nói chuyện với một người Nhật, một người Tây Ban Nha nói chuyện với người Hoa, một người Đức nói chuyện với một người Indonésia... mỗi người nói bằng ngôn ngữ riêng của mình, không mất thời gian, không bị phiền hà, không bị hiểu lầm, không cần có sự can thiệp của người khác. Việc hoàn thành hệ thống này cực kỳ phức tạp và sử dụng hàng loạt những yếu tố không thể lường được trên bình diện công nghệ. Cho dù có thể xảy ra những tình huống bất định trong tương lai thậm chí có nguy cơ sai lầm, NEC đã ấn định thời gian hoàn thành cho dự án này vào cuối thế kỷ.
    Hirokazu Goto nói: "Chủ tịch của chúng tôi, tiến sĩ Kobayashi, đã ra lệnh cho chúng tôi hoàn thành trước năm 2.000. Đó là giấc mơ của ông ta". Tôi hỏi liệu ông có nghĩ là công việc sẽ hoàn thành đúng hạn ? Ông ta bình thản trả lời: "Chúng tôi phải làm. Đó là nhiệm vụ của chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi có khả năng làm việc đó. Nhưng không ai biết một cách chính xác. Và các đối thủ cạnh tranh của chúng tôi cũng đã góp phần công sức". Nhưng nếu ông thất bại trong cuộc thử tài này thì điều gì sẽ xảy ra cho ông ? Tôi hỏi liệu với tư cách một Samourai kiểu mẫu của NEC như ông, ông có seppuku không, nói cách khác là ông có tự mổ bụng để lấy máu mình rửa nỗi nhục thất bại không ? Cả cử tọa cười rộ. Ở châu Á, cái cười thường biểu hiện sự lúng túng. Thế rồi Hirozaku trả lời không phải không trang trọng: "Ít nhất thì tôi cũng phải từ chức".
     
  15. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Hàng không và không gian: "Biên giới mới" của Nhật Bản

    Đây là hai lĩnh vực mà Nhật Bản chậm chân sau Mỹ và châu Âu. Người khổng lồ Nhật chưa sản xuất một máy bay, một trực thăng, một tên lửa thương mại nào đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Song những ai vẫn thường ưa gân cổ lên rêu rao (vâng ít ra cũng có một cái để thỏa lòng đấy !) thì hãy im miệng đi. Thế độc quyền này của phương Tây không còn kéo dài lâu nữa. Thật vậy, Nhật Bản đã muốn khắc phục sự chậm trễ này trong thời gian ngắn nhất. Ở Tokyo, chỉ suy nghĩ rằng cần thả mặc cho phương Tây hai lĩnh vực đầy hứa hẹn trên bình diện công nghệ và thương mại này đã là không thể chịu đựng nổi rồi. Riêng Nhật Bản sẽ phải đạt 26 tỷ đô la (130 tỷ franc) về máy bay thương mại từ nay cho đến năm 2.000, tức 8% tổng số máy bay thế giới. Tại sao Nhật Bản phải chấp nhận sự vượt trội của nước ngoài ? Chính phủ Nhật ý thức rất rõ giá trị chiến lược cao của những tên lửa phóng vệ tinh đối với hành tinh trái đất.
    Để làm công việc này, các nhà công nghiệp Nhật đã tìm cách để có những chuyển giao công nghệ. Mitsubishi Heavy Industries, Kawasaki Heavy Industries và Fuji Heavy Industries đang tích cực gia công cung cấp các bộ phận cho máy bay boeing 767. Một thỏa thuận đã được ký kết tháng 4/1990 nhằm hợp tác xây dựng các cơ sở chế tạo máy bay B-777, một loại vận tải cơ mà trong tương lai sẽ là đối thủ cạnh tranh của Airbus A-330. Ba tập đoàn hàng đầu của Nhật Bản sẽ cung cấp 15-20% thân máy bay của loại máy bay hai động cơ tương lai này và tham gia tài trợ các chi phí cho nó. Mặt khác, Nhật Bản cũng đã được tham gia vào việc thiết kế một loại máy bay chiến đấu Mỹ-Nhật mang tên FSX trong đó Nhật Bản sẽ đóng góp phần lớn về mặt công nghệ. Washington không còn chọn lựa nào khác. Hoặc như vậy hoặc không có gì. Người Nhật đã cho biết rằng dù bất kể với lý do gì họ cũng không nhận mua những chiến đấu cơ mà chính phủ Mỹ áp đặt cho họ. Thật ra, người Mỹ cũng không khờ khạo gì. Họ hoàn toàn đánh hơi được mối hiểm họa là một khi làm chủ được những kỹ thuật cần thiết, Nhật Bản sẽ vượt lên trên cả Mỹ cũng như họ đã tống khứ người châu Âu để tiếp tục con đường một mình. Rồi sau đó theo như một kịch bản đã rõ, máy bay Nhật sẽ lao vào cạnh tranh với ngành công nghiệp hàng không của châu Âu và nếu cần thiết thì Nhật Bản cũng sẵn sàng hạ giá và phá giá. Nhưng làm thế nào để từ chối những đề nghị của Nhật Bản ? Nếu như người Mỹ từ chối, họ sẽ làm với châu Âu. Mitsubishi và Daimler đã tiến hành thảo luận những hình thức cho một sự hợp tác trong lĩnh vực hàng không và hàng không vũ trụ. Nhiều quan hệ tương tự trong lĩnh vực này hẳn sẽ được xúc tiến không lâu nữa.
    Về lâu dài, Nhật Bản còn muốn nhắm đến những mục tiêu lớn hơn. Nó ước mơ chế tạo một máy bay vận chuyển siêu thanh có khả năng bay nhanh gấp năm lần vận tốc âm thanh, nối liền Paris-Tokyo trong hai giờ bay. Nhiều khoản đầu tư quan trọng đã được giành cho chương trình nghiên cứu thiết kế một động cơ thích hợp cho loại máy bay siêu - Concorde này. Ba hãng Mitsubishi, Kawasaki và Ishikawajima-Harima của Nhật Bản đã được huy động. Hai hãng United Technologies và General Electric của Mỹ cũng như hãng Rolls-Royce của Anh, và hãng Snecma của Pháp, cũng đã đề nghị những khoản đóng góp lớn để được cùng phối hợp trong những nghiên cứu này. Cơ quan NASA đã tỏ ra lo ngại thật sự trước việc các bí mật công nghệ đang bị đe dọa chuyển giao cho người Nhật. Một điều đã rõ là: kẻ vắng mặt là kẻ thua thiệt.
    Còn trong lĩnh vực không gian, quyết tâm vươn lên đứng vào hàng ngũ những cường quốc không gian của Nhật Bản không chỉ mới bắt đầu từ hôm qua. Những người lãnh đạo Nhật Bản cảm thấy khó chịu khi có nước thậm chí như Trung Quốc còn làm được nhiều hơn Nhật Bản, bởi vì quốc gia này là thành viên trong một câu lạc bộ hạn chế các cường quốc không gian, bên cạnh châu Âu, Mỹ và Liên Xô. Viện khoa học hàng không và không gian quốc gia của Nhật Bản, thành lập năm 1954 đã trở thành cơ quan phát triển không gian quốc gia (NASDA). Các nhà nghiên cứu Nhật không hề thất nghiệp. Song ngành công nghiệp không gian Nhật Bản phải gánh chịu một bất lợi nặng nề: nó không thể dựa trên những tác động quân sự do Nhật Bản không được phép có quân đội riêng. Do lệ thuộc quá lâu vào Mỹ, Nhật Bản đã muốn vượt ra khỏi sự bảo hộ này. Ngay từ 1975, chính quyền Nhật đã quyết định thông qua nguyên lý phát triển một loại tên lửa mang tên H1 có khả năng đưa một khối lượng 500 kg vào quỹ đạo địa tĩnh. Tên lửa H1 nặng 137 tấn và đã được phóng đi thành công 6 lần, chuyến phóng cuối cùng đã lần đầu tiên cho phép đưa vào quỹ đạo cùng lúc ba vệ tinh.
    Năm 1984, Tokyo quyết định chế tạo một loại tên lửa hiện đại hơn với hai tầng đẩy bằng một hỗn hợp lỏng làm lạnh đủ sức đưa một khối lượng nặng hai tấn vào quỹ đạo địa tĩnh và một khối lượng khác nặng bảy tấn vào quỹ đạo thấp. Việc chế tạo những động cơ cho loại tên lửa này không phải không gặp trục trặc. Ngay cho đến tháng 11/1989, tầng một của tên lửa này còn bốc cháy trong một lần phóng thử trên đất. Vào tháng 9/1989, cũng đã xảy ra một thất bại nghiêm trọng. Tuy vậy, cuộc thử nghiệm đã thành công tốt đẹp vào tháng 3/1990 và một tên lửa đầu tiên dự định sẽ được phóng vào năm 1993. Tên lửa này cao 49 mét, đường kính 4 mét, nặng 258 tấn. Nó sẽ là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của tên lửa Ariane-5, loại tên lửa thế hệ mới của châu Âu và của tên lửa Titan-3, loại tên lửa quy ước của Mỹ. Nếu như cần phải chứng minh rằng không gian từ đây đã trở thành một sự nghiệp mới của nước Nhật thì đây là bằng chứng: ngày 5/7/1990, đã là ngày khai sinh một consortium mới mang tên: Rocket Systems Inc, được thành lập với 75 hãng tư nhân. Rocket Systems Inc có mục tiêu chế tạo và kinh doanh loại tên lửa H2 cũng như các tên lửa và vệ tinh tương lai của Nhật Bản. Trong số này có Mitsubishi Heavy Industries, Ishikawajima-Harima và Kawasaki đứng chen vai thích cánh cùng với NEC, Toshiba và Nissan.
    Song đối với Nhật Bản, cuộc thám hiểm không gian không dừng lại ở ngưỡng cửa trái đất. Liên Xô sẽ mãi mãi ghi lại trong lịch sử như là cường quốc đầu tiên đã phóng thành công một vệ tinh vào trong không gian năm 1957. Nước Mỹ đã trở thành quốc gia đầu tiên đưa các phi hành gia đổ bộ lên Mặt Trăng. Bước tiên công nghệ của hai cường quốc này là to lớn. Còn nước Nhật lại vẫn chưa đưa thành công một người nào vào không gian. Cũng giống như không phải người đầu tiên sáng chế ra xe hơi hoặc điện thoại, song điều này không hề ngăn cản nước Nhật tiếp tục các cố gắng của mình. Ngày 2/11/1990, NASDA đã công bố rõ các mục tiêu của nó. Nó đang chuẩn bị để đưa một ê kíp gồm ba nhà phi hành không gian lên Mặt Trăng nhằm trong vòng 20-30 năm, thiết lập một trạm thường trực. Điều này chắc không là tham vọng duy nhất của nước Nhật. Vũ trụ trong tương lai sẽ là một biên giới mở rộng cho công nghệ của Nhật Bản. Và không có gì nghi ngờ là Nhật Bản sẽ lại tung ra các thách thức to lớn bằng tất cả tài năng và phương tiện của nó để trong tương lai, nó lại có thể đảm nhận một sứ mạng tiên phong nhân danh toàn thể nhân loại ở nơi xa tắp trong dải ngân hà của chúng ta.
     
  16. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    II. Nước Nhật muốn thống trị thế giới ?

    Không có sự kiêu ngạo thông minh.
    Céline, Cuộc hành trình qua đêm.
    Những người có suy nghĩ độc lập quan tâm đến vấn đề này đang tự đặt câu hỏi: nước Nhật muốn gì và sẽ làm gì bằng sức mạnh mới của họ ? Trước tầm hoạt động rộng lớn của Nhật Bản trên thế giới, người ta không thể không đặt vấn đề này một cách nghiêm túc. Cuộc tranh luận về vấn đề này có ý nghĩa sống còn. Câu trả lời có thỏa đáng và sẵn sàng hay không tùy thuộc vào việc xác định nhanh hay chậm chiến lược của phương Tây. Những năm sắp tới sẽ là những năm quyết định. Dù vì nguyên do nào, dù với chiến lược nào, thế giới cũng sẽ biến đổi một cách căn bản. Nếu phương Tây chọn hạ sách là lùi về cố thủ, chúng ta sẽ thấy xuất hiện những cực mới, một bên là châu Á với Nhật Bản đứng đầu, một bên là sự suy thoái đã quá rõ của nước Mỹ. Chính sách cô lập và bảo hộ mậu dịch không phải là giải pháp lâu dài. Nếu thế giới phương Tây dùng biện pháp chiến tranh nhằm loại trừ sự cạnh tranh của Nhật Bản thì chắc rằng hành tinh chúng ta sẽ trở lại thời đại hoang dã. Song nếu phương Tây chọn con đường hòa nhập với phương Đông, có thể thế giới ngày mai sẽ là thế giới hài hòa và thanh bình.
    Để thử làm sáng tỏ ít nhiều cuộc tranh luận khó khăn đó, tôi nghĩ điều quan trọng là phỏng vấn những diễn viên và khán giả của vở vũ kịch hấp dẫn này và tập hợp một số ý kiến của họ. Cũng không có gì phải ngạc nhiên khi thấy những lời tuyên bố của họ rất khác nhau, dù họ là người Âu hay người Nhật. Người Âu thì biểu lộ một sự bất an sâu sắc, đôi khi là mối lo âu, nếu như không phải là một sự ác cảm ra mặt. Còn người Nhật thì trầm tĩnh hơn, tự tin đôi khi cao đạo, nhưng không kiêu căng. Chính vì thế cuộc tranh luận còn lâu mới kết thúc, bởi đôi bên còn cách biệt sâu sắc, cả ở phương Đông và cả ở phương Tây. Nhưng có điều khích lệ cả từ hai phía là ngôn ngữ quanh co đã được thay thế bằng những bài diễn văn thẳng thắn hơn. Những dấu hiệu đó cho thấy một bên là mối quan tâm của giới trí thức Nhật Bản về sự hội nhập của nước họ vào thế giới và một bên là mối quan tâm của phương Tây về một đối sách trước những thách đố đang hình thành.
     
  17. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nước Nhật, kẻ thù số một ?

    "Người Nhật là những kẻ giết người ?". Đó là dòng tít đậm trên trang bìa tờ Le Nouvel Economiste số ra ngày 12/1/1990 cùng ảnh một võ sĩ đạo Nhật dáng ngạo nghễ. Tờ báo viết: Để khống chế thị trường, Nhật Bản "tìm diệt kẻ thù bằng cách bao vây, siết chặt và bóp nghẹt". Vẫn theo tờ báo "đằng sau vẻ lịch sự tuyệt vời và những lời lẽ thân thiện thì người Nhật đang thực sự là những kẻ giết người". Tờ Le Nouvel Economiste không ngần ngại nói về tính "hai mặt" của Nhật Bản, rằng Nhật Bản đã đặt ở châu Âu "một đội quân thứ năm". "Nhật Bản: đất nước làm người ta sợ hãi", tờ Le Point quả quyết như vậy trong số ra ngày 18/12/1989 và viết: "Một vai trò lãnh đạo ngày càng được khẳng định, ngày càng đè nặng, ngày càng có tính yêu sách, đang làm lo sợ những người hùng của chiến thắng năm 1945 mà cho đến nay vẫn còn mơ màng trong những dáng vẻ của hiện trạng".
    Khi Thủ tướng Nhật đến thăm chính thức nước Pháp đầu năm 1990, một số báo chí Pháp đã chụp lấy cơ hội này để điểm lại mối quan hệ kinh tế với Nhật Bản. Tờ Le quotidien de Paris đã nói trắng ra rằng: "Ông Toshiki Kaifu không phải đi du lịch (...). Đơn giản là ông ta đến để làm ăn, nghĩa là đi sắm hàng trong cái châu Âu già cỗi này. Ai cũng biết, nhưng chẳng ai chịu tin vào điều đó. Tuy nhiên, mọi việc đã rõ cả: Bắt đầu từ năm nay, nước Nhật tung ra một cuộc tiến công tài chính, thương mại, công nghệ vào châu Âu (...). Người Nhật chẳng hề xót thương gì. Điều đó thì đã rõ, chính xác và đầy đủ. Nếu người Nhật đạt được mục tiêu này, thì đến những năm 90 cứ 10 người châu Âu sẽ có 3 người làm việc trong các xí nghiệp do người Nhật kiểm soát. Cứ hai chiếc xe hơi thì một chiếc mang nhãn hiệu Nhật Bản, và hơn 1/3 những nhà sáng tạo châu Âu sẽ biến mất (...). Điều đáng lo ngại là ngoài một vài nhà công nghiệp sáng suốt hoặc có liên quan còn không ai ở châu Âu thật sự ý thức được tầm quan trọng của tiến công này".
    Đối với Alain Gomez, chủ tịch kiêm tổng giám đốc hãng Thomson, "Người Nhật thắng vì họ lường gạt" [83]. "Thị trường Nhật là thị trường hoàn toàn đóng kín" và "Người tiêu dùng Nhật Bản đã tài trợ cho cuộc chiến tranh ngoài nước Nhật bằng cả nền công nghiệp", bởi họ "không mua một máy thu hình, một máy ghi âm hay một đĩa compact với giá ngang với người mua ở Pháp và người Mỹ mua ở Mỹ". Theo Alain Gomez, "Người lao động Nhật tài trợ cho chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản bằng cách chấp nhận điều kiện làm việc và hệ thống xã hội mà với chúng ta (châu Âu) không thể nào chấp nhận được". Ông nói thêm: vấn đề đặt ra là "liệu vì sự lường gạt này, chúng ta có chấp nhận để cho bản thân hệ thống xã hội của chúng ta, lối sống của chúng ta bị xóa bỏ hay không". Trên tờ Le Point ra ngày 18/12/1989, ông ta còn đi xa hơn: "Đã đến lúc phải báo động. Cỗ máy nghiền của Nhật Bản đang quay với một tốc độ ngày càng tăng. Người ta đã có kinh nghiệm là chủ nghĩa bành trướng đế quốc thường đi song song với bước tiến trong công nghiệp. Thắng lợi lại đẻ ra thắng lợi. Đến một lúc nào đó sự rút lui trở thành một cuộc tháo chạy thảm hại không hịp hối. Chúng ta không còn xa cái ngày đó đâu".
    Phải chăng Alain Gomez là người theo chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch chống Nhật Bản ?. "Chống bọn lường gạt thì đúng hơn. Châu Âu không thể tồn tại nếu không có hàng rào quan thuế". Trên tờ báo Le Figaro Magazine ngày 13/4/1990, bản thân Alain Gomez lại nhấn mạnh: Cần ra lệnh động viên mọi lực lượng toàn châu Âu. "Những hãng lớn của Đông Nam Á đang thống trị thế giới, họ ra vẻ phỉnh phờ, thật ra họ đang tiến hành một cuộc chiến tranh thật sự, song giống như những cuộc chiến tranh ngày xưa, bọn cướp giả làm thương nhân, chỉ kéo cờ đen vào phút chót, lúc chúng bắt đầu nổ súng. Tất nhiên, điều đó hoàn toàn không thể bào chữa cho sự ngây thơ của những thương nhân tốt bụng hàng đầu của châu Âu".
    Và ông ta thêm: "Các nguồn sinh lực của Nhật Bản đã được huy động toàn bộ để chinh phục thị trường nước ngoài". Chính vì vậy, vấn đề không phải là buông xuôi tay, mà phải tiếp tục tái cấu trúc lại việc sản xuất, cải tiến và tìm kiếm các hình thức hợp tác liên xí nghiệp.
    Theo Michel Charzat, nghị sĩ Paris và ủy viên thư ký Đảng Xã hội, phụ trách công nghiệp và khu vực công cộng: "Đã đến lúc phát động một chiến lược phản công của châu Âu một cách thẳng thừng, không quanh co, đối mặt với cuộc tiến công của Nhật Bản" [84]. Ngay như Bộ trưởng công nghiệp Pháp, Roger Fauroux dù ít có tâm lý sợ Nhật cũng đã tuyên bố ngày 26/2/1990 rằng đối mặt với chiến lược của Nhật Bản thì "việc cả thế giới đứng lên chống lại cũng là chuyện bình thường". Ông nhấn mạnh: vấn đề không phải là giữa nước Pháp và nước Nhật, mà là giữa Nhật Bản và phần còn lại của thế giới". Theo Roger Fauroux "Nền kinh tế của Nhật Bản đã trở thành một hiểm họa đối với phần còn lại của thế giới".
    Những tuyên bố của Jacques Calvet, chủ tịch hãng xe hơi PSA có ảnh hưởng trong giới kinh doanh. Chính ông cũng lên giọng cứng rắn. Trên trang nhất báo Le Monde, ông ta tuyên bố: "Châu Âu là pháo đài cát". "Thế giới hiện nay như đang chia thành ba khu vực kinh tế riêng biệt: hai khu vực đã là những pháo đài vững chắc, đó là thế giới Bắc Mỹ và thế giới Nhật Bản, khu vực thứ ba là châu Âu, vừa ủy mị vừa hơi ngây thơ, chỉ nghĩ đến việc bù đắp sự chậm trễ của mình bằng cách thiết lập cũng một thực thể kinh tế vững chắc như của Bắc Mỹ và Nhật Bản".
    Theo ông, sự thách đố của Nhật Bản có luật chơi rất rõ ràng: "Người Nhật hơn bất kỳ ai khác, hiểu rằng nều mậu dịch quốc tế giống như một trận quyền anh mà luật chơi là ra đòn và không bao giờ nhận đòn".
    Trong lĩnh vực xe hơi, cuộc chiến đấu đặc biệt là không cân sức: "Năm 1988, thị trường chung châu Âu (CEE) nhập 1.212.000 xe Nhật; trong cùng thời gian đó. Nhật Bản chỉ nhập 111.500 xe của châu Âu".
    Ông ta nói tiếp: "Nhật Bản, một nước tự do mậu dịch, lại nhập của cả thế giới một số xe ít hơn cả số lượng họ xuất sang nội nước Pháp, vốn là một nước được "bảo hộ" với một quota hạn chế việc nhập xe Nhật".
    Jacques Calvet cho rằng các loại xí nghiệp phi địa phương hóa của các xí nghiệp Nhật Bản nằm ở giữa châu Âu chính là hiểm họa đối với các nhà chế tạo châu Âu. "Nếu trong thập kỷ tới 1.500.000 xe hơi Nhật được chế tạo ở châu Âu theo mức đầu tư đã được công bố, thì điều đó theo logic "toán học" là một trong sáu nhà chế tạo xe hơi của châu Âu sẽ tiêu vong (Fiat, Volkswagen, PSA, Ford châu Âu, Opel-Vauxhall hay Renault)".
    Chủ hãng Peugeot lại lập luận: Người Nhật đến châu Âu không tạo thêm công ăn việc làm. Ngược lại, họ tạo ra sự thất nghiệp. Điều mà Jacques Calvet yêu cầu là sự hòa hợp châu Âu chứ không phải là sự tự do-mậu dịch không cân xứng với Nhật Bản. Cho nên, châu Âu phải áp dụng chế độ hạn ngạch trong việc nhập xe Nhật vào CEE bao gồm trước hết là xe từ Nhật Bản và cả xe chế tạo ở các xí nghiệp của Nhật Bản tại châu Âu. Những hạn ngạch này phải được duy trì trong một thời gian chuyển tiếp ít nhất là 10 năm, đủ cho nền công nghiệp xe hơi của châu Âu có thể tổ chức lại và có sức đề kháng. Và ông ta kết luận: "Không nên bối rối, chúng ta mạnh, chúng ta chủ trương sự cạnh tranh và chúng ta thực hiện điều đó hàng ngày. Nhưng sẽ là tự sát nếu mở rộng sự cạnh tranh với những nhà doanh nghiệp mà bản thân họ không muốn có cạnh tranh, vì họ có nền văn hóa riêng của họ. Đối với họ, cần nhân danh những nguyên tắc của chúng ta".
    Jacques Delors, chủ tịch cộng đồng châu Âu cũng không còn giữ nổi sự dè dặt. Trong cuộc tranh luận trên tạp chí Alternatives Economiques vào đầu tháng 10/1990, ông đã cho rằng châu Âu đã thất thế khi đối mặt với Nhật Bản vì sự chia rẽ giữa các nước trong khối CEE vốn không có một đối sách chung trước sự cạnh tranh của Nhật Bản. Bằng lập luận đanh thép của một luật sư, ông nói thêm: "Đối với người Nhật, cần phải biết tấn công, trong giới hạn sự lịch sự cho phép. Không có cách nào khác". Một số quan chức trong bộ công nghiệp và thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI) đang theo đuổi "cuộc chiến tranh Thái Bình Dương đằng sau bàn giấy của họ" và "áp đặt một hình thức thống trị ở châu Âu mà chúng ta phải đối đầu".
     
  18. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Edith Cresson: Nước Nhật đang làm bá chủ

    Cuộc phỏng vấn bà Edith Cresson diễn ra tại phòng làm việc của bà trên đại lộ Raymond-Poincaré ở Paris, lúc đó bà còn là Bộ trưởng phụ trách các vấn đề châu Âu. Bà tiếp tôi rất nhiệt tình. Nước Nhật là một đề tài bà say mê. Cuộc đấu tranh hàng ngày của bà rất dũng cảm và đáng kính phục: Huy động toàn châu Âu hợp nhất để chống lại áp lực của nền công nghiệp Nhật Bản. Về điều đó, bà không hề sợ bị quấy rầy. Với sự ủng hộ ngầm của tổng thống F.Mitterrand - ông không bao giờ nhắc nhở bà phải "trở lại trật tự", bởi bà rất gần gũi với F.Mitterrand trên bình diện chính trị - bà không ngần ngại bày tỏ công khai những điều mà nhiều người khác có thể e ngại, chỉ dám suy nghĩ thầm kín. Ngày 10/1/1990, bà tuyên bố:
    "Rõ ràng là giờ đây Nhật Bản là một đối thủ không tuân theo luật chơi và đang nuôi quyết tâm thống trị thế giới. Thật ngây thơ và mù quáng nếu không ý thức được điều đó". [85]
    Ngày 30/4/1990, bà dự định thành lập ở Pháp một "Bộ chỉ huy tối cao của cuộc chiến tranh kinh tế" để đối đầu với sự chiến tranh của Nhật Bản và Hoa Kỳ [86]. Ngày 8/7/1990, chỉ vài ngày trước chuyến viếng thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Pháp, bà đã khuyến cáo Michel Rocard không được "hạ mình" trước người Nhật và tuyên bố rằng đối mặt với mối hiểm họa Nhật Bản ngày càng tăng: "Tôi cho rằng chúng ta đã bước đến gần thảm họa quốc gia ở một số ngành công nghiệp và chúng ta đã "buông xuôi hai tay rồi" [87]. Sự rời bỏ chính quyền của bà, coi như một sự từ chức, đã được thông báo ngày 2/10/1990. Hôm sau, bà tuyên bố trên đài phát thanh rằng bà muốn từ chức là vì bà có cảm giác "nói vào khoảng không".
    Ngồi trước "người đàn bà sắt" của nước Pháp (danh hiệu đó chắc chắn không phải để vui lòng bà), tôi trao lại cho bà bản sao những cuộc trao đổi của tôi ở Nhật Bản. Edith Cresson rõ ràng rất vui khi biết rằng cũng có những người Nhật chia sẻ quan điểm của bà. Gương mặt bà bỗng rạng rỡ một nụ cười thông cảm và bà rời bàn giấy đến ngồi cạnh tôi. Ở Nhật Bản những tuyên bố của bà gây chấn động lớn. Ở châu Âu, hành động của bà là nhằm thống nhất châu Âu vào năm 1992. Song liệu bà có được châu Âu lắng nghe hay không ?
    "Ồ, có chứ, tôi tin như thế. Hơn nữa tôi đã nhận được nhiều thư, không chỉ ở Pháp, mà từ nhiều nước ở châu Âu, có cả những người đã tiếp xúc, quan hệ làm ăn với người Nhật. Tôi tin rằng những điều tôi phát biểu phản ánh điều nhiều người đã nghĩ đến mà không nói ra, ít nhất là theo những gì họ đã viết cho tôi. Tôi luôn ngạc nhiên thấy rằng người ta không nói ra điều mình suy nghĩ, nhất là khi họ giữ những trọng trách trong chính trường. Trong lĩnh vực chính trị, đương nhiên người ta không thể nói hết những điều người ta suy nghĩ. Nhưng tôi cho rằng cần phải bày tỏ quan điểm trên những vấn đề trọng đại, nếu những lời nói đó không gây ra những tác động cho chính sách đối nội, không làm cho thất cử. Tôi không thể hiểu tại sao những nhà chính trị có trách nhiệm lại không lên tiếng báo động chính phủ họ. Tôi nghĩ họ được trả lương vì nhiệm vụ đó và đó là vai trò của họ".
    Tôi hỏi bà Bộ trưởng liệu những đồng sự của bà có chia sẻ ý kiến của bà về mối đe dọa của Nhật Bản không ?
    "Có những nước vấn đề ấy không được đặt ra. Ví dụ như Irlande mà mãi gần đây còn giữ chức chủ tịch Cộng đồng châu Âu. Vấn đề Nhật Bản đối với họ hầu như không đặt ra. Càng có nhiều xe Nhật đến Irlande, càng cạnh tranh thì giá càng hạ; đối với giới trung lưu Irlande, như vậy tốt hơn. Họ không nhìn xa hơn. Tôi nói với họ "Khi các ông có thêm hàng trăm ngàn người thất nghiệp trong Cộng đồng châu Âu thì chúng tôi có thể sẽ giảm mức đóng góp cho quỹ cứu trợ của Cộng đồng châu Âu dành cho những vùng khó khăn của Irlande". Thế nhưng đó là một khía cạnh của vấn đề mà họ không hề nghĩ đến. Người khác thì nghĩ đến điều đó ngay. Và cũng có người có tư duy chính trị. Tôi lấy ví dụ như người Hy Lạp, nền kinh tế Hy Lạp giống Irlande, là không có công nghiệp xe hơi. Nhưng người Hy Lạp là những nhà chính trị; họ chia sẻ quan điểm của tôi trong cộng đồng Âu châu. Còn người Anh, người ta đã biết đến lập trường của họ, họ cũng không có công nghiệp xe hơi, họ đang cố xây dựng công nghiệp đó. Ngoài ra tôi cũng khẳng định những ý kiến phản đối của người Anh nhấn mạnh đến việc: tất cả lợi nhuận đều được chuyển về Tokyo. Như vậy, một số nơi đã có ý thức. Người Đức, bao giờ cũng vậy, quan điểm của họ hàm hồ hơn. Những nhà chế tạo Đức rất sợ sự xâm nhập của Nhật Bản; họ phát biểu điều đó trong những cuộc gặp riêng, còn chính phủ của họ thì cứ nói chẳng có gì phải sợ hãi. Thói thường xưa này ở Đức vẫn nói: "Chúng tôi không sợ gì cả vì chúng tôi mạnh hơn và không gì có thể cưỡng lại chúng tôi". Đó là một lập luận hơi phi lý, vì khi khó khăn xảy đến thì có thể đã quá chậm. Tuy nhiên, như vẫn thường xảy ra ở châu Âu. chúng tôi cũng đã có được một thỏa thuận tổng quát về một lập trường phù hợp trong vấn đề xe hơi. Và đặc biệt giới chức trách Đức cũng đã cảm thấy mối đe dọa thực sự đang tồn tại. Tôi cho rằng cảm giác đó đã được chia sẻ kha khá".
    Người Nhật cũng có cuốn sách Mein Kampf của họ [88]
    Nếu như châu Âu đã thỏa thuận được với nhau rồi thì tại sao lại còn có quá nhiều thái độ dè dặt đối với chính phủ Nhật Bản ? Tại sao lại im hơi lặng tiếng như vậy ? "Đó là điều tôi không sao hiểu nổi. Tại sao người ta không nói ra điều đó ? Tôi không có câu trả lời. Có phải là một thứ lịch sự không đúng lúc không ? Bà Cresson đề cập đến một tác phẩm của ông chủ hãng Sony. Akio Morita, và của nghị sĩ cánh hữu, Shintaro Ishihata, Nước Nhật có thể nói "không". Cuốn sách đó kêu gọi nước Nhật trở nên hùng mạnh để cuối cùng trả lời "không" trước các yêu sách của nước Mỹ, ông ta đề cập đến siêu đẳng về chủng tộc của người Nhật. Edith Cresson nói tiếp:
    "Rốt cuộc thì người Nhật cũng viết cuốn "Mein Kampf" của họ, Nước Nhật có thể nói "không", điều đó giống hệt như cuốn Mein Kampf thật. Cuốn sách ấy đã mô tả tất cả những gì sẽ xảy ra. Hồi đó cuốn Mein Kampf còn được dịch ra tiếng Pháp. Người Pháp nào không muốn đọc nó thì không cần đọc. Ông thấy đấy, khi người ta không muốn nhìn thấy điều gì thì người ta không cần nhìn nó. Cuốn Mein Kampf không được dịch ra một cách chính thức. Nhưng cuối cùng những bản dịch lén lút vẫn xuất hiện, những người "thạo tin" sẽ có sách đọc".
    Để ngăn chặn những quyết định bất lợi cho họ, hoặc để sửa lại những quyết định một khi đã được ký, người Nhật quả là những nhà vô địch trong thủ đoạn vận động giới lãnh đạo Mỹ.
    "Những người ở chỗ chúng tôi gọi là "thạo tin", thì có tất cả các văn bản mà đại diện thương mại của chúng tôi ở Washington gởi về - chẳng hạn như tài liệu về hoạt động hành lang của người Nhật. Họ biết rõ cách thức mà người Nhật đã tiến hành để "mua" người như thế nào. Thô thiển như là với một tấm séc. Nhưng cũng có những thủ đoạn tinh vi hơn. Một giáo sự đại học hào phóng nào đó thành lập một tổ chức. Rồi tổ chức này gặp khó khăn. Thế là, người ta trợ cấp cho nó v.v... Tất cả điều đó được giải thích rất hợp tình hợp lý. Khắp nơi đều như thế cả, chúng tôi quá biết rõ".
    Bà Bộ trưởng phản ứng công khai chống lại người đồng sự của bà thời đó là ông Roger Fauroux, Bộ trưởng Bộ công nghiệp. Đối với ông ta, nếu công nghiệp xe hơi Pháp không đương cự được với công nghiệp Nhật Bản thì đó là vì xe Nhật tốt hơn xe Pháp.
    "Khi tôi nghe ai đó trong giới chức trách của nước Pháp nói: "Đó là lỗi của chúng ta, vấn đề là phải làm tốt hơn", thì tôi cho rằng nói như thế chưa đủ. Không phải là hoàn toàn sai. Đúng là chúng ta phải làm tốt hơn. Nhưng ở Pháp và ở châu Âu, việc phân tích cặn kẽ chiến lược của Nhật Bản mới chỉ được tiến hành trong một phạm vi rất hạn hẹp".
    Điều đó có nghĩa là ông Fauroux không hiểu gì về ý đồ thực sự của người Nhật ?
    "Đúng vậy ! Ông ta tỏ rõ điều ấy mỗi ngày. Đặc biệt là trong vấn đề xe hơi giữa Pháp và Nhật Bản. Ông có biết là hãng Mazda đã sử dụng điều ông ấy nói trong quảng cáo của họ như thế nào không ? Ai đã báo cho tôi biết điều đó ? Chị bạn tôi là bà Anne Marie Lizin, người Bỉ, Bộ trưởng châu Âu 1992, chị gởi cho tôi mẫu quảng cáo của hãng Mazda. Điều đó có nghĩa là ở cộng đồng châu Âu, trong đó có nước Bỉ, là nước không sản xuất xe hơi - đã tỏ rõ thái độ phản đối trước cái quan điểm vừa ngây thơ vừa rất vô trách nhiệm như vậy".
     
  19. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Đường lối chiến tranh, chiến lược chinh phục

    Trước bao mức độ cảm nhận khác nhau ở châu Âu, liệu CEE có thể tiến hành một chiến lược chung không ?
    "Tất nhiên là được. Chúng tôi sẽ thỏa thuận được với nhau thôi. Trước hết là về vụ xe hơi. Một thỏa ước đang gút lại. Có một thiểu số chủ trương phong tỏa mạnh gồm Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp cũng đã đứng về phía chúng tôi. Ngoài ra, một số nước có lập trường cực kỳ mềm dẻo, đó là Bỉ và Đan Mạch, nói chung là họ có xu hướng giống như Đức là giao cho cộng đồng châu Âu. Ông Andreissen, người đại diện đàm phán của châu Âu, sắp ký với Nhật Bản một thỏa ước hạn chế việc thành lập các xí nghiệp Nhật Bản ở châu Âu".
    Edith Cresson nói thêm:
    "Nhưng trường hợp xe hơi là một trường hợp riêng. Tôi cho rằng không nên đặt vấn đề Nhật Bản chỉ trên cơ sở vụ xe hơi. Người Nhật theo đuổi chiến lược chiến tranh và chinh phục. Họ có khả năng mua một phần thị trường bằng cách chịu thua lỗ trong một thời gian nào đó. Họ có khả năng tiến hành một chính sách tài chính, tiền tệ bằng cách hạ giá đồng yên và lại đẩy giá lên theo từng đợt tấn công liên tục. Bởi lẽ các nhà kinh doanh ngân hàng Pháp giải thích rất rõ cho chúng tôi: mỗi cuộc biến động của đồng yên đều diễn ra trước một đợt tấn công mới được tính toán kỹ lưỡng đối với tất cả các sản phẩm. Đó thực sự là một đường lối chiến tranh mà người ta buộc người dân Nhật phải chịu đựng bằng một mức sống như thời chiến. Dân tộc Nhật chấp nhận chiến lược chinh phục đó với một thái độ thụ động mà người phương Tây không thể hình dung nổi. Bởi vậy, chúng ta phải cư xử với họ theo cách của họ. Họ không như chúng ta. Họ có một triết lý sống khác chúng ta và chúng ta phải chú ý đến điều đó. Quả là ở Âu châu, vì ngây thơ, vì quyền lợi trước mắt mà một số người không nhận thức được điều đó. Nhưng tôi tin rằng một lần nữa sứ mệnh của một chính khách là phải nói ra điều đó".
    Tuy nhiên, người ta còn nhớ là vào những năm 60, đầu tư của Hoa Kỳ lúc đó cũng bị la ó. Một bộ phận dư luận đã lên án Hoa Kỳ và những công ty đa quốc gia hàng đầu là tiến hành chủ nghĩa thực dân mới về kinh tế. Tuy nhiên, cuối cùng, khi xem xét tình hình một vài năm sau đó, thì tư bản Hoa Kỳ lại đã có vai trò cứu tinh, vì nó thúc đẩy nền kinh tế Âu châu. Edith nhất trí nhận định này:
    "Vâng, đúng là vậy. Trong những năm 60, bản thân tôi chưa hề chống lại đầu tư của Hoa Kỳ. Nhưng Mỹ và Nhật là chuyện không giống nhau. Người Mỹ có chiến lược của một tập đoàn công nghiệp mạnh nhằm chiếm lĩnh thị trường. Nhưng cái Targeting tức là xác định mục tiêu để tiêu diệt đối phương bằng cách chọn một khâu yếu, một mắt xích mỏng manh trong chuỗi xích, sau đó mở rộng và chuyển sang các mục tiêu khác, điều đó người Mỹ không làm. Họ không làm bởi vì điều đó không nằm trong nền văn hóa của họ. Đầu tư của Hoa Kỳ không gây ra vấn đề gì, thường họ hợp tác với hệ thống sản xuất tại chỗ. Nhưng khi tôi xem xét các thống kê về công nghiệp xe hơi Nhật ở Mỹ, tôi phát hiện thấy dưới hình thức gia công đặt hàng, các xí nghiệp Nhật Bản mua của các công ty Nhật Bản một tỷ trọng cực lớn hoặc nhập khẩu từ Nhật Bản, hoặc từ các công ty Nhật Bản tại chỗ. Điều đó có nghĩa là, kể cả dưới hình thức gia công đặt hàng, tức là một hình thức làm ăn bao quát nhất, người Nhật vẫn chỉ làm ăn giữa họ với nhau. Điều đó là rõ. Ở đây có một chiến lược không hề giống chút nào với chiến lược của người Mỹ".
     
  20. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nhật Bản, kích thích tố cứu nạn ?

    Nhật Bản có thể đóng vai trò một kích thích tố nhằm đánh thức một lục địa già nua đang ngủ yên trên những chiến tích huy hoàng của nó chăng ? Edith đồng ý.
    "Chắc chắn như vậy. Cuộc tiến công của Nhật Bản có thể và phải đóng vai trò kích thích tố. Nhưng, muốn cho vai trò đó có hiệu quả, thì châu Âu và trước hết là nước Pháp, phải được tổ chức lại. Việc tổ chức lại đó, tôi xin nói ra ngay là chưa diễn ra. Chừng nào nó còn chưa diễn ra thì mọi việc còn hỏng bét".
    Đúng là thảm kịch ! Các chính phủ châu Âu lại chưa nhận thức đầy đủ về tính chất nghiêm trọng của tình thế.
    "Trong dư luận đã nhận thức được rồi. Nhưng, như thói thường, dư luận ở Pháp lại nói: "Ồ, ta thua ở hệ PAL và hệ SECAM rồi thì lại cũng sắp thua trong lĩnh vực truyền hình có độ nét cao thôi". Cái lối nói liên tục như vậy chỉ có thể bị chặn lại khi chính phủ nhận thức được điều đó, nhưng hiện nay chưa có được điều đó, mặc dù tôi đã cố gắng hết sức. Chừng nào mà còn chưa có được sự nhận thức ở cấp nhà nước, thì theo tôi, là còn tai họa (...) Ở Pháp, chúng ta đang nằm trong một cơ chế mà trong đó bộ máy hành chính lãnh đạo, cả các bộ trưởng và ở đó người ta không nói thẳng sự việc. Bởi vì điều đó không tốt, bởi vì điều đó thiếu chính trị. Tôi sẽ ngạc nhiên nếu có một cựu sinh viên trường hành chính nào đó nói công khai một điều có thể gây khó chịu, hoặc chỉ đơn giản là gây hoài nghi".
    Khi được hỏi, người Nhật thường trả lời rằng chính sách bảo hộ mậu dịch của châu Âu là vũ khí của kẻ yếu. Bà Bộ trưởng nghĩ gì về ý kiến này ?
    "Quả đúng vậy. Tuyệt đối đúng. Chính sách bảo hộ mậu dịch là vũ khí của kẻ yếu. Và tôi xin nói thêm: đó chỉ có thể là tạm thời. Nhưng nếu chúng ta ở vào thế yếu so với người Nhật thì:
    - Một là, bởi vì người Nhật có một hệ thống chính trị, một nền văn hóa khác hẳn chúng ta. Chúng ta ở trong thế yếu, là bởi vì chúng ta không vận động theo cách như họ. Từ nhiều thập kỷ nay, chúng ta không chuẩn bị điều kiện cho việc đọ sức với một hệ thống khác hẳn.
    - Hai là, bởi vì cũng giống như hệ thống chính trị của chúng ta, chính phủ chúng ta, "giới tri thức ưu tú của chúng ta" còn chưa nhận thức được mối hiểm họa, để từ đó tự tổ chức lại.
    Chúng ta yếu kém tới hai lần. Ông thấy đấy chẳng vui thú gì khi phải đi giải thích cho người Đức tại bàn hội nghị ở Bỉ rằng chúng ta còn phải mất nhiều năm nữa. Trong khoảng thời gian đó, tôi biết người Đức họ nghĩ gì. Điều đó chẳng làm tôi thích thú gì. Tôi muốn có thể tuyên bố như ông Helmut Haussman (Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đức): "Chúng tôi không sợ bất cứ ai". Ngay cả khi theo ý tôi ông ta sai lầm, kể cả trong bảo vệ quyền lợi của chính người Đức".
     

Share This Page