Nước Nhật Mua Cả Thế Giới - Piere Antoine Donnet

Discussion in 'Ebook' started by hontuyetlan, Aug 16, 2014.

  1. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nước Nhật khép kín, nước Nhật bị ghen ghét

    Nhật Bản có phải là một thị trường khép kín không ? Nhật nhập khẩu sản phẩm chế biến trị giá khoảng 3% PNB. Tỷ lệ này là 7% ở Mỹ, 14% ở CHLB Đức cũ và 21% ở Nam Triều Tiên. Đầu tư nước ngoài ở Nhật bằng khoảng 1% tích sản của các xí nghiệp. Con số này ở Mỹ là 9%, ở Anh là 14% và ở CHLB Đức cũ là 17%. Xuất khẩu ồ ạt của Nhật (và đặc biệt là thặng dư so với nhập khẩu) chắc chắn không làm vừa lòng nhiều nước. Cái ý nghĩ, dù đúng hay sai, rằng Nhật Bản khép kín và là một bạn hàng không sòng phẳng, theo thời gian, đã gây nên những phản ứng dây chuyền đi từ bực bội đến thù địch hoặc phẫn nộ công khai. Những phản ứng tai hại như thế đặc biệt rõ ở Mỹ. Dù vẫn còn một số người lạc quan kiên định, một cuộc điều tra do hệ thống truyền hình Mỹ ABC và báo Washington Post thực hiện chắc hẳn đã phải mở mắt cho họ: 75% người Mỹ cho rằng sức mạnh kinh tế của Nhật là mối đe dọa chính đối với an ninh của Mỹ; chỉ có 21% cho rằng mối đe dọa chính là sức mạnh quân sự của Liên Xô [35].
    Mọi người kết án Nhật Bản là thi hành chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch. Khắp nơi trên thế giới, những chính khách hàng đầu, bình thường dè dặt hơn, đã không ngần ngại kết án người bạn hàng quá tham lam này. Mỹ, tuy là đồng minh chiến lược của Nhật, nhưng nằm trong số những kẻ khai hỏa đầu tiên. Quả thật, thâm hụt của Mỹ trong buôn bán với Nhật đã vượt quá xa cái ngưỡng cho phép. Dưới áp lực của Quốc hội bất bình về cách cư xử của Nhật, các nhà lãnh đạo hành pháp Mỹ, dù còn thiện cảm với Nhật, đã phải đưa ra những lời cảnh báo rất cứng rắn. Thâm hụt buôn bán với Nhật trong năm 1989 bằng một nửa tổng số thâm hụt buôn bán của Mỹ. Vả lại, dường như Mỹ là nạn nhân chính của Nhật bởi vì năm 1989, dù thặng dư mậu dịch của Nhật có giảm 16,7% so với năm 1988, thặng dư của Nhật trong buôn bán với Mỹ chỉ giảm 5,5%, tức còn khoảng 55 tỷ đô la. Thặng dư mậu dịch của Nhật đối với Mỹ chiếm hơn 70% tổng số thặng dự, so với 61% vào năm 1988. Mặt khác, chính phủ Mỹ cũng có cái cớ tốt để buộc tội Nhật đóng cửa thị trường của mình cho các sản phẩm nước ngoài, bởi vì sản phẩm của Mỹ chỉ chiếm khoảng 1% thị trường Nhật Bản trong khi sản phẩm của Nhật chiếm tới 10% thị trường Mỹ.
    Nichibei Senson wa Owateinei: chiến tranh giữa Nhật và Mỹ vẫn chưa kết thúc. Tựa cuốn sách của Jun Eto, giáo sư môn văn học đối chiếu tại Viện công nghệ Tokyo, đã nói lên bầu không khí đó. Cuối năm 1989, do các tranh chấp về buôn bán, Nhật Bản và Mỹ đã tiến gần hơn bao giờ hết - kể từ sau chiến tranh - đến một cuộc xung đột công khai mới. Cuộc xung đột có tính chất thương mại, có nguy cơ trở nên tệ hại hơn. Quốc hội Mỹ nổi nóng, đưa ra những lời buộc tội với giọng điệu gần với sự nhục mạ và tối hậu thư. Để dư luận chú ý, các nghị sĩ chẳng đã chà đạp và giận dữ đập nát, trước các ống kính truyền hình, những Radiocassette Toshiba trên các bậc thềm của điện Capitole đó sao ? Cảnh tưởng khó tin ấy được các màn ảnh truyền hình ở Nhật chiếu rộng rãi, đã gây chấn động trong dư luận Nhật Bản. Tháng 10/1989, đại diện đặc biệt của tổng thống Mỹ về thương mại, Carla Hills, ngầm kết án Nhật Bản làm cho quan hệ thương mại quốc tế xấu đi. Tokyo đo lường được mối nguy, bởi vì vào giữa tháng 3/1990, Bộ trưởng ngoại giao Nhật Taro Nakayama tuyên bố rằng quan hệ song phương Mỹ-Nhật có thể bị ảnh hưởng nghiệm trọng nếu chính phủ Mỹ không nhanh chóng được thỏa mãn về việc mở cửa thị trường trong nước của Nhật Bản. "Chúng ta phải ý thức rằng vấn đề này dẫn đến tình hình khủng hoảng trong quan hệ Nhật-Mỹ. Sự bất bình tại Quốc hội Mỹ tăng lên và chực bùng nổ", ông Nakayama đã nhấn mạnh như vậy trong một cuộc họp nội các [36]. Ngày hôm sau, Bộ trưởng thương mại Mỹ, Robert Mosbascher, bày tỏ hi vọng rằng Nhật Bản cuối cùng đã hiểu được sự "khẩn cấp" của một giải pháp. Nếu không muốn bị trả đũa nghiêm khắc, Nhật phải làm một cử chỉ nào đó.
    Những điểm tranh chấp chủ yếu là gì ? Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của Nhật trong những lĩnh vực nào là đáng trách nhất ? Ở Washington, người ta đặc biệt nhấn mạnh đến: siêu máy tính, vệ tinh, sản phẩm nông nghiệp, xây dựng và phân phối - những lĩnh vực mà rõ ràng Nhật duy trì những rào chắn mậu dịch đặc biệt không thể chấp nhận được. Trước sự phản đối ầm ĩ của Mỹ, ở Tokyo người ta áp dụng một kịch bản cổ điển. Trước hết, làm bộ như không hiểu gì cả và thực lòng phản đối. Sau đó, người ta khẳng định - phần nào đó có lý - rằng nếu sản phẩm của Mỹ không bán được trên thị trường Nhật thì lý do chính là vì chúng không tốt bằng các sản phẩm cùng loại của Nhật. Người ta thêm: nhất là các nhà công nghiệp Mỹ phải có những nỗ lực cần thiết để thiết kế và sản xuất những sản phẩm thực sự phù hợp với nhu cầu riêng của khách hàng Nhật Bản. Một chiến lược khác mà Nhật cũng đã quen dùng: tăng cường lobbying (vận động hậu trường) ở Washington để làm dịu bớt căng thẳng. Để đạt mục đích, người Nhật không ngần ngại thuê các cựu thành viên trong chính quyền Mỹ hoặc gia đình họ nhằm sử dụng các quan hệ của họ tác động hiệu quả lên quốc hội và chính phủ. Cuối cùng, ngày 28/12/1989, MITI ồn ào loan báo một chương trình mới khuyến khích nhập khẩu, được coi là "chưa từng có trong lịch sử thế giới". Nhật đơn phương bãi bỏ thuế hải quan trên 1.008 mặt hàng công nghiệp và mỏ, đề ra những biện pháp khuyến khích tài chính đối với các nhà kinh doanh Nhật nhập khẩu sản phẩm chế tạo. Họ cũng thông qua khoản trợ cấp ngân sách tăng mạnh, lên tới 100 triệu đô la, nhằm khuếch trương nhập khẩu bằng cách thiết lập một mạng lưới thông tin cho các nhà nhập khẩu lẫn xuất khẩu và gửi các phái bộ thương mại ra nước ngoài.
    Nhưng ở nước ngoài, người ta đã vượt quá điểm không thể trở ngược lại được. Trong khi ở Washington sự ầm ĩ tiếp tục gia tăng, người ta giải thích rằng các yêu sách của Mỹ là không thể đáp ứng được. Người ta nhấn mạnh: Nhật muốn phát triển công nghệ vệ tinh riêng của mình. Với máy siêu điện toán cũng vậy. Về xây dựng, Nhật vẫn bám lấy hệ thống đấu giá "thương lượng" là hệ thống cho phép các công ty Nhật bí mật họp với nhau để quyết định chọn đấu thầu: một hệ thống tệ hại ngăn cản xí nghiệp nước ngoài hoạt động trên thị trường xây dựng ở Nhật Bản. Còn về gạo, mà việc nhập khẩu vẫn bị cấm ngặt ở Nhật Bản, chính phủ Nhật khẳng định đó là một sản phẩm thiết yếu đối với an ninh của đất nước và sự tự túc về gạo vẫn là cần thiết. Mọi người đều biết: gạo nước ngoài rẻ hơn gạo của Nhật rất nhiều và nhiều nông gia Nhật sẽ phá sản tức khắc nếu sự cấm đoán nói trên được giảm nhẹ hoặc bãi bỏ. Nhưng, có một điều không nói thẳng ra mà ai cũng biết là đảng Dân chủ-Tự do cầm quyền từ sau chiến tranh đến nay nhưng đang bị giảm sút uy tín, không thể cho phép mình tiếp tục để mất lá phiếu của cử tri ở nông thôn.
    Để gia tăng áp lực, Mỹ đặt Nhật Bản vào đầu danh sách đen những nước bị coi là buôn bán không sòng phẳng và lại dọa trả đũa về thương mại theo luật "siêu 301". Ở Tokyo, người ta vẫn còn nhớ rõ sự trừng phạt của Mỹ hồi tháng 3/1987. Một nhân tố bên trong đã góp phần thuyết phục chính phủ Nhật rằng phải cấp bách tìm ra một giải pháp danh dự: đó là công luận Nhật Bản bắt đầu đồng tình với các yêu sách của Mỹ. Một cuộc thăm dò của nhật báo kinh tế Nihon Keizai Shimbun cho thấy 47% người Nhật cho rằng yêu sách của Mỹ là có cơ sở trong khi 38% có ý kiến người lại. 48,8% người Nhật cho rằng phải đáp ứng tích cực các yêu sách của Mỹ. Đơn giản là vì người tiêu dùng Nhật Bản nhận thức rằng sự tự do cạnh tranh hơn nữa sẽ đưa đến giá cả hạ ở thị trường trong nước.
     
  2. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Thương lượng và vỡ mộng

    Tháng 7/1989, Nhật Bản bị buộc phải đi vào thương lượng với Mỹ. Những cuộc thảo luận ấy, được gọi là "Sáng kiến về các trở ngại cơ cấu" đối với trao đổi thương mại (Structural Impediment Initiative), thường được gọi tắt là SII, là những cuộc thảo luận kéo dài và khó khăn. Ở Washington, nhiều lần người ta tin rằng sẽ không bao giờ ký được thỏa thuận và sự bùng nổ của cuộc chiến tranh thương mại là không thể tránh khỏi. Để kích thích nhu cầu nội địa Nhật Bản và làm cho nhập khẩu của Nhật ngang bằng với xuất khẩu, Mỹ đòi hỏi Nhật Bản tăng chi tiêu công cộng. Washington muốn chi tiêu công cộng của Nhật từ 6,3% năm 1989 tăng lên 10% PNB trong vòng ba hoặc bốn năm. Chính phủ Nhật, mà ngân sách dành cho chi tiêu công cộng được định là 7,1% cho tài khóa 1990, kiên quyết từ chối lần cuối cùng đề nghị này. Họ khẳng định: yêu sách của Mỹ sẽ không tránh khỏi làm thay đổi lối sống của Nhật và đưa đến lạm phát.
    Cuối tháng ba, đầu tháng tư 1990, sau khi Nhật Bản đã thực hiện những "nỗ lực cuối cùng", theo Bộ trưởng Bưu điện và Viễn thông Nhật, Tokyo và Washington đã đi đến những thỏa thuận nguyên tắc cho phép siêu máy tính, thiết bị viễn thông và vệ tinh được vào thị trường Nhật. Từ nay, các cuộc đấu thầu công khai cung cấp vệ tinh được mở cho cả nước ngoài tham gia, trừ vệ tinh nhằm mục đích nghiên cứu. Ngày 5/4 đánh dấu một cột mốc đáng nhớ trong quan hệ Mỹ-Nhật: Nhật Bản và Mỹ ký một "báo cáo tạm thời", theo đó Nhật cam kết thay đổi một số cơ cấu của nền kinh tế. Nhật hứa tăng đáng kể chi tiêu công cộng trong khoảng thời gian mười năm nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ công chúng (sân bay, hải cảng, công viên, hệ thống thoát nước, nhà ở). Tokyo cũng cam kết có biện pháp về mặt xã hội nhằm cải thiện chất lượng sống của dân chúng. Các ngành công nghiệp Mỹ được mời tham gia các chương trình này. Nhật cũng hứa sẽ thay đổi chính sách về nhà đất và bất động sản, nhằm tạo thuận lợi cho các hãng nước ngoài đứng chân được trên đất Nhật. Họ cũng thông báo sẽ xem xét lại luật pháp của Nhật về hệ thống thương nghiệp buôn bán sỉ, nhằm tạo thuận lợi cho việc mở những cửa hàng buôn bán lớn và sự xâm nhập của sản phẩm nước ngoài. Chính phủ Nhật hứa sẽ bãi bỏ độc quyền phân phối do một số tập đoàn lớn của Nhật thông qua hàng ngàn công ty nhỏ bán lẻ nắm giữ. Cuối cùng, Nhật loan báo tăng cường áp dụng chống độc quyền với một loạt khoản phạt vạ nặng hơn, nhằm làm nản lòng các công ty thỏa thuận ngầm với nhau.
    Nhưng giới chức Nhật khó lòng che giấu sự cay đắng của họ khi bị đẩy đến những nhượng bộ như vậy, những nhượng bộ mà như người ta đoán trước là "giới hạn tối đa có thể chấp nhận được" đối với Nhật. Vậy thì vô ích nếu trong tương lai Mỹ lại muốn tấn công. Nhật sẽ không nhượng bộ nữa. Ở chỗ riêng tư, người ta nói với người phương Tây rằng từ nay Nhật sẽ không dễ dàng nhượng bộ những tối hậu thư mang tính bá quyền của Mỹ. Ngày hôm sau, Thủ tướng Nhật chào mừng thỏa thuận và nói rằng những điều khoản của nó nằm trong lợi ích của Nhật, Mỹ và của cả thế giới.
    "Việc áp dụng các biện pháp này sẽ đòi hỏi những hi sinh của nhân dân Nhật", ông tuyên bố. Nhưng "tôi tin rằng sự phát triển của các cải cách về cơ cấu nền kinh tế Nhật sẽ đóng góp lớn vào việc cải thiện chất lượng sống của người Nhật và những người tiêu dùng và sẽ khiến nền kinh tế của chúng ta hòa hợp hơn với thế giới".
    Nhưng thỏa thuận không phải chỉ có một chiều. Mỹ cũng cam kết một số điều: giảm tình trạng nợ quá mức của người tiêu dùng Mỹ, giảm thâm hụt ngân sách quá nặng, cải tiến hệ thống giáo dục xuống cấp và sửa lại chiến lược quá thiển cận của các xí nghiệp Mỹ. Tuy vậy, Washington đã khước từ yêu sách của Nhật giới hạn việc sử dụng thẻ tín dụng ở Mỹ.
    Phải chăng hai bên nói chung đã tránh được cuộc chiến tranh thương mại ? Nhật Bản phải chăng đã làm hòa với thế giới ? Không. Quốc hội Mỹ không để mình bị ru ngủ bởi những lời hứa. Nhật Bản chẳng đã đưa ra nhiều lời hứa suông đó sao ? "Tôi đã thấy quá nhiều thỏa thuận nói nhiều mà thực hiện thì ít", thượng nghị sĩ thuộc đảng Dân chủ, chủ tịch ủy ban tài chính Thượng nghị viện, Lioyd Bentsen tuyên bố. Còn Richard Gephardt, lãnh tụ khối Dân chủ đa số ở Hạ nghị viện thì khẳng định: "Điều này, chúng ta đã từng thấy rồi. Chúng ta đang phạm sai lầm là chấp nhận những lời hứa". Tuy vậy, ngay cuối tháng đó, Nhật được rút ra khỏi sổ bìa đen của Mỹ. Còn Carla Hills, để giải tỏa vụ chỉ trích của quốc hội, thề rằng Mỹ sẽ duy trì áp lực đối với Nhật. Nhưng cũng chính Carla Hills chắc phải cảm thấy mình bị lừa khi ba tháng sau đó, một quan chức Nhật tuyên bố rằng bà ta là người "dễ xoay chuyển" và chỉ cần một chút triết lý Đông phương để "làm yên lòng bà". Sự ngộ nhận đó chứng tỏ bầu không khí đàn ông ngự trị mạnh mẽ ở Tokyo, là tác phẩm của tổng thư ký lâm thời đảng Dân chủ - Tự do Takayuki Sato, khi ông ta trở về Tokyo sau cuộc họp thượng đỉnh Houston, nơi ông ta đã tham dự một buổi tiệc chính thức cạnh bà Carla Hills. "Bà ta tỏ ra rất hài lòng khi tôi khen ngợi chồng bà. Dù sao, bà ta cũng chỉ là một phụ nữ", Sato tuyên bố [37]. Thực tế, ngay từ tháng 6/1990, nhận thấy ít có tiến bộ trong các cuộc thương lượng buôn bán với Nhật, chính quyền Bush đã công khai đòi hỏi Nhật, phải tôn trọng các cam kết. Mỹ vốn sẵn sàng rút Nhật khỏi sổ bìa đen của họ, phải chăng đã bị mắc lỡm ?
    Phần trong thị trường thế giới của các nước công nghiệp chủ yếu (%)
    Máy công cụ
    Xe hơi
    Tin học
    1980
    1987
    1980
    1987
    1980
    1987
    Nhật
    11,9
    18,9
    23,3
    25,6
    12,4
    21,3
    CHLB Đức
    27,3
    17,6
    21,6
    22,6
    12,1
    9,3
    Mỹ
    12,7
    9,0
    11,5
    9,4
    31,0
    22,0
    Pháp
    6,2
    3,8
    10,5
    7,4
    6,6
    5,7
    Anh
    8,0
    5,4
    5,8
    3,5
    11,2
    8,7
    Ý
    7,1
    8,5
    5,0
    3,9
    6,3
    3,4
    Nguồn: Báo Libération, 11/1/1990
     
  3. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Đồng lòng chống Nhật

    Ở châu Âu cũng như trên thế giới, từ từ mà chắc chắn, những thâm hụt trong buôn bán đã kết tinh sự bất bình. Ngay từ 1982, CEE đã xung đột với Nhật về vấn đề đầu máy vidéo bán phá giá, dưới cả giá thành, trên thị trường châu Âu. Ở Paris, chính phủ Pháp quyết định một hành động mạnh mà mọi người còn nhớ: vụ Poitiers. Từ nay, muốn vào thị trường Pháp, theo một quy định hải quan của Pháp, tất cả đầu máy vidéo Nhật bắt buộc phải thông qua kiếm soát hải quan ở Poitiers. Vì quân số của hải quan Pháp khá ít ở Poitiers, hàng núi đầu máy vidéo đã nhanh chóng chất đầy trong các kho. CEE còn tiếp tục đẩy sáng kiến của mình về hướng Tokyo. Mùa xuân 1984, CEE chính thức yêu cầu Nhật Bản mở cửa thị trường của họ. Tháng giêng 1985, Thủ tướng Malaixia buộc tội Nhật Bản tiến hành chính sách đối ngoại "thực dân". Nam Triều Tiên liên tiếp chỉ trích Nhật. Đài Loan, một người khổng lồ mới về buôn bán nhưng vẫn là một tên lùn về chính trị, do dự lâu trước khi than phiền công khai. Vốn đã bị cô lập trên thế giới về mặt ngoại giao, chính quyền ở Đài Bắc e ngại các hậu quả chính trị tiêu cực khi chỉ trích. Từ mấy năm nay, chính quyền Đài Loan cho rằng chén đắng họ uống đã đầy vì thâm hụt buôn bán với Nhật đã tới 7 tỷ đô la (số liệu năm 1989), và họ không còn ngần ngại tỏ sự bất bình công khai. Một quan chức của bộ kinh tế Đài Loan mà tôi không tiện nêu tên ở đây, trước mặt tôi đã không ngần ngại so sánh Nhật như một cường quốc bá quyền.
    Ở Pháp, thậm hụt buôn bán với Nhật đã trở thành vấn đề quốc gia. Tất nhiên, Paris và Tokyo không thống nhất với nhau về các số liệu ngoại thương của hai nước. Đôi khi những dị biệt tới mức nực cười. Năm 1989, sự khác biệt giữa các số liệu của Pháp và của Nhật lên tới con số chóng mặt: 30,5 tỷ franc. Theo hải quan Pháp thì Pháp đã thâm hụt 29 tỷ franc. Nhưng, với chính phủ Nhật, Pháp đã thặng dư 1,45 tỷ franc. Lý do của khoảng cách này: Nhật không tính khối lượng xuất khẩu của họ thông qua một nước thứ ba.
    Kết quả, đến lượt mình, Pháp tuyên bố giới hạn của sự chịu đựng đã bị vượt quá. Ngày 11/1/1990, Thủ tướng Pháp Michel Rocard ngay trước khi tiếp người đồng nghiệp Nhật Bản là Toshiki Kaifu ở Paris, đã tuyên bố bằng những lời lẽ chẳng mấy ngoại giao rằng Nhật Bản không "chơi đúng trò chơi" tự do mậu dịch. Những nỗ lực của Pháp từ 30 năm nay để ra khỏi chủ nghĩa bảo hộ "không hề có nghĩa là chúng ta bắt buộc phải ngu đần và ngây thơ", ông nói thêm Cùng ngày, trước mặt chính ông Kaifu, Francois Mitterrand đã ca ngợi "lao động cần cù, tính năng động và hiệu quả" của Nhật trong lĩnh vực buôn bán, nhưng đồng thời đã chỉ trích "vị trí thống trị" và sự không thể xâm nhập của thị trường Nhật Bản. Ngày 24/1, Jacques Delors, chủ tịch Ủy ban châu Âu, trách cứ Nhật không áp dụng cùng những nguyên tắc như Mỹ và châu Âu trong lĩnh vực thương mại quốc tế. "Nếu người Nhật muốn nhận lãnh trách nhiệm thì họ phải áp dụng cùng những quy tắc như chúng ta, với bất kỳ giá nào", ông khẳng định. Đầu tháng 3/1990, không lâu trước khi đi thăm chính thức Nhật Bản, người đứng đầu chính phủ Pháp tuyên bố với báo chí Nhật rằng sự mất cân bằng trong buôn bán Nhật-Pháp đã "tới mức khó mà chấp nhận được".
    Ở châu Âu, Pháp là nước chỉ trích Nhật mạnh mẽ hơn cả. Người Nhật đặc biệt bực bội và lo lắng nhận thấy rằng trong chính phủ Pháp tồn tại sự thù địch thẳng thừng và công khai đối với hoạt động của họ trên thế giới. Nỗi ám ảnh của người Nhật là bà Édith Cresson. Nắm Bộ Ngoại thương rồi Bộ về các vấn đề châu Âu cho đến đầu tháng 10/1990, bà đã ở những vị trí then chốt để tổ chức với hiệu quả tối đa một cuộc phản công nhắm vào chính sách buôn bán của Nhật. Không nghi ngờ gì, bà đã trở thành người phát ngôn dũng cảm nhất của cánh "cứng rắn" chống Nhật ở châu Âu; với họ, châu Âu phải khẩn cấp đoàn kết lại để đối phó với mối đe dọa Nhật Bản. Bởi vì, với bà Édith, không được phép nghi ngờ nữa: Nhật Bản đã bắt đầu đi chinh phục thế giới.
     
  4. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    PHẦN HAI: MỘT CHIẾN LƯỢC THỐNG TRỊ

    I. Nhật Bản đang mua cả thế giới
    Tư tưởng về cạnh tranh của họ luôn luôn mang tính chất cực kỳ đối kháng; mục tiêu là hủy diệt sự cạnh tranh; không phải là độ sức với cạnh tranh mà là loại bỏ nó.
    Lee lacocca, Chủ tịch Chrysler [38]
    Nhật Bản không còn bằng lòng với việc xuất khẩu và nhét tiền đầy két. Họ đã lao vào một chiến dịch quy mô to lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại: họ mua cả thế giới. Dù là bí mật và lén lút nắm quyền kiểm soát hay ngược lại công khai và rùm beng mua các xí nghiệp, thì các nhà công nghiệp Nhật Bản đang có một thú tiêu khiển mới là mua lại các xí nghiệp gặp khó khăn trong các nước chúng ta, mà thường khi các xí nghiệp này lại bị chính các ngành công nghiệp Nhật Bản đẩy xuống hố. Hàng mảng công nghiệp châu Âu và Mỹ rơi vào tay Nhật Bản khi họ tung ra hàng triệu đô la. Thực tế, Nhật Bản muốn thống trị nền công nghiệp thế giới, và họ không có cách nào khác. Đứng trước sự phản đối của phương Tây chống lại hình thức xâm lăng kinh tế mới là sự xuất khẩu ồ ạt của họ và sợ rằng khối CEE cũng như cả thế giới công nghiệp dựng lên những hàng rào bảo hộ mậu dịch đối với họ, Nhật Bản bắt đầu đầu tư ồ ạt ra nước ngoài. Các nhà công nghiệp Nhật Bản bây giờ tìm cách lách các hàng rào hải quan và tấn công các nền kinh tế phương Tây từ bên trong. Bây giờ là lúc họ "phi địa phương hóa", nghĩa là họ xây dựng những xí nghiệp Nhật Bản ngay trên đất của những quốc gia là mục tiêu tấn công của họ. Các doanh gia của đất nước Mặt trời mọc bây giờ không mệt mỏi rảo khắp thế giới để đầu tư hàng tỷ đô la vào trong các "pháo đài", mà nhiều pháo đài đã sắp đầu hàng.
    Từ hai ba năm nay, các nhà lãnh đạo kinh tế và tài chính Nhật thường lặp đi lặp lại một từ màu nhiệm: "Toàn cầu hóa". Hiểu theo nghĩa đen, theo tinh thần của người Nhật, thì từ này có nghĩa là Nhật Bản cấp thiết phải hội nhập vào thế giới ngày nay. Rất tốt ! Để Nhật Bản đừng bao giờ bị cám dỗ bởi chủ nghĩa bá quyền quân phiệt nữa, còn gì đáng trân trọng và đáng mong ước hơn ? Thế nhưng, thực tế lại đi xa hơn thế nhiều. Người khổng lồ Nhật Bản, với sức mạnh tài chính ở đỉnh cao, hướng cặp mắt thèm muốn nhìn khắp thế giới. Từng bước, các lợi ích và tư bản của Nhật xâm nhập tất cả các hệ thống thế giới, ngay cả những hệ thống khó xâm nhập nhất. Khắp nơi, đầu tư trực tiếp của Nhật như những đợt sóng kế tiếp nhau ào tới các chi nhánh công ty Nhật Bản, các nhà máy sản xuất cứ như từ dưới đất mọc lên và bắt đầu thuê mướn nhân công phương Tây. Ở một số vùng đặc biệt chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, nơi mà nạn thất nghiệp hoành hành, người Nhật được đón tiếp như những vị cứu tinh thực sự. Sau Mỹ và phần châu Á còn lại, nay đến lượt châu Âu trở thành mục tiêu mới của các nhà đầu tư Nhật. Một lý do đơn giản của sự hấp tấp này: ở Tokyo người ta đang cảm thấy cấp bách vì không thể chậm trễ trước khi thị trường châu Âu thống nhất vào năm 1992.
    Cơn thèm khát của Nhật không dừng lại ở đó. Từ nay, các vương quốc tài chính của đất nước Mặt trời mọc từng giờ cạnh tranh gay gắt để chiếm đoạt trước mọi người những gia sản quý báu nhất ở nước ngoài. Những bức danh họa, những vườn nho, lâu đài, dinh thự hạng sang, nhà làm văn phòng, khách sạn, sân chơi thế thao, sân golf, đồ cổ, ngựa đua, xe hơi cổ sưu tầm: tất cả những gì đưa ra bán trên khắp thế giới đều khiến những người Nhật giàu có quan tâm. Họ đã thay thế các tiểu vương của các vương quốc dầu lửa Trung Đông. Những tay chơi tài tử hãy coi chừng !
     
  5. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Cái lưới nhện Nhật Bản

    Khi nước Nhật bước ra khỏi tình trạng cùng khổ và đến thời kỳ cạnh tranh giữa các tập đoàn lớn trong nước, những nhà kinh doanh đứng đầu các công ty Nhật giàu sụ đã đưa ra nhận định sau: nếu muốn tiếp tục thịnh vượng, nước Nhật không có cách nào khác là bước ra khỏi biên giới của mình. Nhật Bản chẳng đã xây dựng lại thành công nền kinh tế đó sao ? Vậy thì tại sao dừng lại ở nửa đường ? Để bảo đảm nền công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản phải lợi dụng khả năng tài chính của mình để chinh phục hệ thống công nghiệp thế giới. Một lý do khác dẫn đến chủ nghĩa bành trước kinh tế này: nhất thiết phải "quay vòng" các thặng dư tài chính khổng lồ tích tụ trong các ngân hàng, từ sự tiết kiệm ở mức kỷ lục của nhân dân và từ nền công nghiệp quốc gia. Thật vô lý nếu không làm cho cái vốn ấy sinh lãi. Lý do thứ ba: với sự tăng giá của đồng yên, hàng hóa xuất khẩu của Nhật ngày cảng giảm tính cạnh tranh. Do đó phải mua, phải "phi địa phương hóa".
    Sau khi đi lên nhận định ấy, con nhện Nhật Bản không ngừng giăng tơ khắp thế giới. Đôi khi nhện biến thành nhện độc chết người. Với một số nhà quan sát nước ngoài, một hình thức thực dân mới nham hiểm đang được thi hành. Một số người còn đi xa hơn, coi đó là chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản mới. Thua cuộc chiến tranh quân sự, Nhật tìm cách thắng cuộc chiến tranh kinh tế. Mối đe dọa của sự thống trị kinh tế đang lơ lửng trên đầu cả thế giới. Frans Andriessen, phó chủ tịch Ủy ban châu Âu, buộc tội Nhật Bản giao chiến với phương Tây trong một cuộc "chiến tranh đầu tư", những mất cân bằng có lợi cho Nhật Bản trong lĩnh vực này là "nguy hiểm hơn cả các thâm hụt mậu dịch" [39]. Và ông nhấn mạnh rằng hiện tại đầu tư của Nhật Bản thực hiện ở châu Âu cao hơn gấp 60 lần đầu tư châu Âu thực hiện ở Nhật Bản.
    Bước tiến cực nhanh của sự có mặt của Nhật Bản trên thế giới được chia làm ba giai đoạn:
    Giai đoạn đầu: theo kịch bản cổ điển, các ngành công nghiệp Nhật Bản bán hàng hóa ra thị trường thế giới thông qua trung gian các hệ thống phân phối quy ước của nước ngoài hoặc của Nhật. Nếu thuận lợi, nhà công nghiệp Nhật tiêu thụ sản phẩm của mình nhờ một hãng đại diện thương mại Nhật (Sôgô Sôsha). Sau đó, nếu cảm thấy có lực để thử mạo hiểm, nhà công nghiệp Nhật sẽ xây dựng những chi nhánh phân phối của chính mình ở hải ngoại.
    Giai đoạn hai: các nhà công nghiệp Nhật có phương tiện thì thiết lập trực tiếp ở nước ngoài các nhà máy sản xuất của họ, đôi khi ngay cả các phòng nghiên cứu thiết kế sản phẩm. Sự phi địa phương hóa ấy cho phép họ thiết kế và sản xuất những sản phẩm nhắm vào và thích nghi hơn với nhu cầu của khách hàng địa phương. Cái lợi trước mắt là giá thành sản xuất giảm nhờ nhân công địa phương rẻ hơn và không còn chi phí vận chuyển. Cái lợi lâu dài là chiếm lĩnh những phần thị trường mới và cạnh tranh.
    Giai đoạn thứ ba và cuối cùng: các ngân hàng, hãng bảo hiểm, hãng môi giới Nhật Bản đổ bộ lên thị trường nước ngoài. Môi giới tài chính đến lượt nó được phi địa phương hóa, cho phép họ mua lại liên tiếp các xí nghiệp. Trong khi đó, các Sôgô sôsha thực sự trở thành những trung tâm tình báo kinh tế và hoạt động hết công suất, nhằm thu nhập thông tin trong tất cả các lĩnh vực mua và bán.
    Dĩ nhiên, Nhật Bản không phải là nước đầu tiên đầu tư ra nước ngoài. Trước Nhật từ lâu, Anh quốc ở thế kỷ XIX, rồi Mỹ ở thế kỷ XX đã nêu gương về mặt sử dụng sức mạnh công nghiệp của họ để mở rộng ảnh hưởng ra xa ngoài biên giới, ở các thuộc địa (Anh) và ở châu Âu (Mỹ). Nhưng ở cuối thế kỷ XX này, kết quả của cuộc tấn công của Nhật Bản trên thế giới - một quá trình còn lâu mới chấm dứt - đã nổi bật đến nỗi gần như làm người ta quên đi hai cường quốc đang suy yếu kia. Từ Trung Quốc đến Hà Lan, qua Indonésia và Mỹ La tinh, không còn vùng nào trên thế giới thoát khỏi cặp mắt chăm chú theo dõi của các nhà đầu tư Nhật. Về giá trị tuyệt đối và riêng trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, Nhật chỉ mới đứng hàng thứ ba trên thế giới, khá xa sau Mỹ và Anh. Năm 1988, tổng số đầu tư trực tiếp của Nhật Bản thực hiện ở nước ngoài lên tới 110,8 tỷ đô la, tăng cực nhanh đến 43,9% trong vòng chỉ một năm, so với năm 1987.
    Tuy nhiên, lúc ấy Nhật chỉ chiếm 10,7% tổng số đầu tư trực tiếp thực hiện trên thế giới. Mỹ đứng đầu với 31,7% tổng số đầu tư trên thế giới (326 tỷ đô la). Đứng thứ nhì là Anh với 17,8% (183,7 tỷ đô la) [40]. Nhưng cần nhớ rằng chỉ mới lao vào cuộc đua gần đây. Xuất phát từ bậc thang cuối cùng, Nhật đã leo các nấc thang với tốc độ kỷ lục, và nếu nhịp độ hiện nay vẫn tiếp tục, chẳng bao lâu Nhật sẽ dẫn đầu.
    Nhờ kết số thương mại rất quan trọng và cán cân thanh toán thặng dư rất lớn, Nhật đã nhanh chóng tích lũy một sức mạnh tài chính đáng kể. Việc đồng yên đột ngột tăng giá lại càng củng cố thêm quả đấm tài chính độc nhất vô nhị ấy trên thế giới. Các nhân tố khác nhau ấy đã dẫn tới sự tăng nhanh đặc biệt của tư bản xuất đi. Năm 1985, tư bản Nhật xuất ra nước ngoài lên đến 65 tỷ đô la. Từ 1986, nó vượt nhẹ nhàng mức 130 tỷ đô la hàng năm. Nhật đã trở thành nước xuất khẩu tư bản lớn nhất thế giới. Theo đa số các dự báo nghiêm túc, Nhật Bản sẽ vẫn dễ dàng đứng hàng đầu, ít nhất trong một số năm sắp tới. Theo nghiên cứu mới đây của một chuyên gia ngân hàng Pháp, vai trò của Nhật về tiền tệ và tài chính sẽ mở rộng đáng kể trong những năm 1990 [41]. Ngoài ra, Nhật bắt đầu thu về lợi nhuận và lãi cổ phần quan trọng từ đầu tư của họ ở nước ngoài. Các khoản thu ấy đã tăng từ 9,5 tỷ đô la năm 1986 lên 16,7 tỷ đô la năm 1987 và 21 tỷ đô la năm 1988. Lãi cổ phần và lợi nhuận của họ đã tiếp tục tăng và đạt 27,6 tỷ đô la năm 1989 [42].
    Mặt khác, nếu chỉ xem xét các khoản đầu tư trực tiếp thì rất không đầy đủ. Bởi vì đó chỉ là phần nổi và được biết đến của cả tảng băng. Tích sản của một nước nào đó nắm ở ngoài biên giới quốc gia của mình, ngoài hoạt động kinh tế, còn bao gồm nhiều lĩnh vực khác. Nhật Bản không phải là ngoại lệ, ngược lại là đằng khác. Những đầu tư gián tiếp được thực hiện dưới nhiều hình thức, thường công chúng không được biết đến, đôi khi bí mật nữa, và do đó rất khó định lượng. Những đầu tư gián tiếp đáng chú ý bao gồm: tham gia vốn trực tiếp hoặc không, trong các xí nghiệp của nước ngoài, quỹ đầu tư công khai hoặc qua trung gian trên các thị trường tài chính nước ngoài (thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, khoán phiếu các loại); những vụ mua động sản hoặc bất động sản; cho vay của chính phủ hoặc tư nhân cho các tổ chức quốc tế, các chính phủ và cơ quan nước ngoài; và nhiều hoạt động khác, đôi khi bí mật, không hề được thể hiện trong các tài liệu chính thức của chính quyền. Trong trường hợp của Nhật, còn phải kể đến các trái phiếu của ngân khố Mỹ mà hiện giờ họ chiếm đến 13%. Nhật đã tài trợ một phần lớn cho khoản thâm hụt ngân sách của Mỹ.
    Về tài sản gộp của Nhật ở nước ngoài được biết đến và được kết toán thì Nhật Bản chiếm vị trí số một thế giới cuối năm 1988, với tổng số 1.469 tỷ đô la. So với tài sản ở nước ngoài của Mỹ là 1.253 tỷ đô la. Ngoài ra, tài sản của Nhật năm 1988 đã tăng ngoạn mục so với năm 1987 (1.072 tỷ đô la); tăng 37% trong vòng một năm ! Không có nước công nghiệp lớn nào trên thế giới có thể vỗ ngực về một thành tích như vậy. Nhưng chưa hết. Do các khoản nợ và các cam kết tài chính vượt xa số tài sản của họ, nước Mỹ trở thành con nợ với 532 tỷ đô la nợ ròng, trong khi Nhật Bản là chủ món nợ 291 tỷ đô la. Như vậy, là Nhật hơn Mỹ 824 tỷ đô la về tài sản [43]. Một nước có vẻ cực kỳ nghèo, một nước thì cực kỳ giàu. Để hoàn tất bức tranh, cần phải nói rằng từ nay Nhật đã trở thành nước chủ nợ lớn nhất thế giới.
    Tài sản và nợ của Mỹ và của Nhật (tính bằng tỷ đô la)
    Nhật Bản
    Mỹ
    1980
    1988
    1980
    1988
    Tài sản
    159,6
    1469,3
    607,0
    1253,6
    Nợ
    148,0
    1177,6
    500,8
    1786,2
    Tài sản ròng
    11,5
    291,7
    106,2
    -532,5
    Nguồn: Bộ Tài chính Nhật và Bộ Thương mại Mỹ
     
  6. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Những cỗ voi của nền công nghiệp Nhật Bản

    Những xí nghiệp Nhật Bản gieo khiếp sợ trong giới kinh doanh ở châu Âu và Mỹ là những xí nghiệp nào ? Đó chủ yếu là những siêu khổng lồ trong lĩnh vực chế tạo xe hơi, điện tử, công nghiệp nặng và nhẹ. Mới cách đây mười năm còn chưa có mặt trong các bảng vàng thế giới, vậy mà hiện nay các tập đoàn lớn của Nhật đang gặm dần những chỗ cao nhất trong bảng xếp hạng các công ty lớn nhất thế giới. Trong bảng xếp hạng 30 công ty lớn nhất thế giới năm 1990 theo doanh số (bán và dịch vụ) của tạp chí Nouvel Economiste (tài khóa 89/90), có bảy công ty của Nhật Bản. Đó là Toyota (tập đoàn số 1 Nhật Bản và thứ 5 thế giới), Hitachi (tập đoàn đứng thứ 8 trên thế giới), Matsushita Electric (thứ 12), Nissan (thứ 13), Toshiba (thứ 24), Tokyo Electric Power (thứ 25) và Honda (thứ 29). Trong số 30 công ty hàng đầu ấy chỉ có một là của Pháp (Renault), mà lại đứng cuối bảng. Trong số 100 xí nghiệp hàng đầu thế giới, 18 là của Nhật. Số xí nghiệp loại này của Nhật nhiều hơn rõ rệt so với số của nước Đức thống nhất và gần bằng số của cả Anh, Ý và Pháp cộng lại. Để so sánh, nước Anh - cựu vô địch ngành công nghiệp - chỉ còn nắm 7 xí nghiệp loại hàng đầu thế giới. Nước Pháp có 9. Còn Ý chỉ có 5. Mỹ tiếp tục giữ huy chương vàng với 35 hãng. Mặc khác, danh dự của Mỹ vẫn còn nguyên vẹn bởi vì cả ba hãng đứng đầu bảng đều là của Mỹ: General Motors, Ford và Exxon. Cả ba dường như không thể phế truất được.
    Nhưng vấn đề là Mỹ còn giữ được bao lâu vì Nhật đang nhanh chóng bắt kịp Mỹ. Các hãng Nhật đang tiến với tốc độ chóng mặt lên chóp đỉnh thế giới. Trong lúc các đối thủ cạnh tranh của họ khá lắm là giữ được cho doanh số khỏi sụt thì tỷ lệ tăng doanh số của các hãng hàng đầu Nhật Bản lại thường đạt tới hai con số. Chỉ trong vòng hai năm, Toyota đã leo hai bậc trong bảng xếp hạng, Hitachi leo bốn bậc, Matsushita ba bậc và Nisssan sáu bậc. Về tài sản (vốn riêng), 3 trong số 10 hãng tư nhân lớn nhất thế giới năm 1989 là của Nhật: Toyota, Matsushita và Hitachi. Nếu lấy tiêu chuẩn là chứng khoán được bán, thì sức nặng tài chính của Nhật thực sự trở nên đè bẹp, vì 8 trong số 10 hãng hàng đầu thế giới, tất cả đều là của Nhật, theo thứ tự là: Nippon, Telegraph và Telephone, Sumitomo Bank, Industrial Bank of Japan, Dai Ichi Kangyo Bank và Fuji Bank.
    Chúng ta hãy tiếp tục so sánh. Trong lĩnh vực xe hơi, năm 1989 Toyota đã thực hiện doanh số 425,635 tỷ franc, tức là hơn phân nửa doanh số của General Motors, hãng số 1 thế giới. Nhưng Toyota đã vượt xa hãng số một châu Âu là Daimler - Benz (doanh số 259,198 tỷ franc), hãng này lần đầu tiên vào năm 1989 cũng đã để cho mình bị qua mặt bởi Nissan, hãng xe hơi đứng hàng thứ hai của Nhật với doanh số 261,388 tỷ franc. Thành tích của Toyota thực tế gần gấp đổi của Fiat (241,940 tỷ franc) và nhiều hơn gấp đôi doanh số của hai hãng lớn của Pháp cộng lại: đó là Renault (174,477 tỷ franc) và Peugeot (152,955 tỷ franc). Nhờ quản lý rất chặt chẽ, do đó đạt mức lãi kỷ lục, Toyota lại còn tích lũy được vốn riêng nhiều gần gấp 10 lần hơn Renault (198,753 tỷ franc so với 22,466 tỷ franc). Còn về Peugeot, nếu Toyota muốn mua, nó chỉ cần "lụm" một cái là xong.
    Trong lĩnh vực điện tử, lợi thế cũng nghiêng về các hãng lớn của Nhật. Doanh số của Hitachi (327,725 tỷ franc) theo sát gót hãng IBM của Mỹ, hãng lớn nhất và vô địch về năng suất (doanh số 400,152 tỷ franc). Doanh số của Hitachi vượt xa hãng khổng lồ Siemens của châu Âu (207,406 tỷ franc), gấp bốn lần hãng lớn Thomson của Pháp (76,700 tỷ franc) và gấp gần 8 lần hãng lớn Olivetti của Ý. Nhưng với các đối thủ cạnh tranh châu Âu, vấn đề là Hitachi không đơn độc. Trong lĩnh vực sản xuất điện, điện tử và tin học, Nhật có cả một đạo quân những công ty lớn. Trong số 20 hãng lớn nhất thế giới, thì 10 hãng là của Nhật: Hitachi, Matsushita, Toshiba, NEC, Mitsubishi Electric, Fujitsu, Sony, Sharp, Sanyo và Canon. Vậy mà, mới thoạt nhìn, công nghiệp châu Âu dường như chưa chết, bởi vì trong bảng xếp hạng này dù sao cũng còn bốn hãng châu Âu: Siemens, Philips, CGE và Thomson.
    Thành tích của các hãng xe hơi lớn của Mỹ, Nhật Bản và châu Âu (tính triệu franc)
    Doanh số
    1989/88 %
    Vốn riêng
    Lãi ròng
    General Motors
    809.952
    2,7
    235.756
    26.955
    Ford
    613.506
    4,0
    153.981
    24.471
    Toyota
    425.655
    14,6
    198.753
    20.433
    Nissan
    261.388
    17,3
    83.744
    5.371
    Daimler-Benz
    259.198
    3,9
    54.963
    21.816
    Fiat
    241.940
    14,3
    74.234
    15.376
    Chrysler
    222.837
    2,3
    47.921
    2.290
    Volkswagen
    221.740
    10,4
    39.039
    3.522
    Honda
    178.401
    10,4
    50.219
    3.782
    Renault
    174.477
    8,1
    22.466
    9.289
    Peugeot
    152.955
    10,5
    38.530
    10.301
    Nguồn: Tạp chí Nouvel Économiste, 11/1990
     
  7. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Đầu cơ bất động sản

    Sự giàu có của các ngân hàng, các công ty bảo hiểm và các tập đoàn lớn của Nhật Bản từ đâu ra ? Ngoài những khoản thu từ xuất khẩu và từ sự hi sinh của dân chúng Nhật suốt 40 năm, đó còn là sự đầu cơ. Trước hết là đầu cơ trên các thị trường tài chính và chứng khoán của Nhật và của cả thế giới. Kế đến, có lẽ nhất là sự đầu cơ đất đai ở Nhật. Mọi người đều đồng ý sự đầu cơ điên cuồng ấy dựa trên sự khan hiếm đất đai ở Nhật. Nhưng từ ít năm nay, sự tăng vọt giá cả không liên quan gì đến thực tế giá đất đai. Giá 1 mét vuông đất đai xây dựng ở khu Ginza, trái tim thương mại của Tokyo, vào đầu năm 1990 ít nhất là 28 triệu yên, tức hơn 1 triệu franc một ít ! Nghĩa là một vuông đất kích thước chỉ bằng một tấm bưu thiếp nhỏ giá 430.000 yên, tức 15.480 franc. Cuối năm 1990, một mét vuông đất cũng ở khu ấy đã lên tới 38 triệu yên (1.36 triệu franc). Ở Tokyo và một vài thành phố khác, nạn đầu cơ đất đai tới mức mà giá cả đã tăng gấp đôi hoặc gấp ba trong vòng chưa đầy ba năm. Ở Osaka, chỉ trong năm 1989 giá đất tăng 56%. Ở Kyoto tăng 80%. Ở Tokyo, trong các khu để ở ít đắt nhất thì giá bán một mét vuông nhà trung bình cũng 1 triệu yên, tức 36.000 franc. Còn về các khu sang trọng thì giá lên tới tột đỉnh. Một căn hộ mua cách đây 5 năm với cái giá kếch sù 1 tỷ yên (35 triệu franc) được bán lại dễ dàng vào năm 1990 với cái giá 8 lần cao hơn.
    Sự đầu cơ ấy có lợi cho ai ? Không phải cho dân Nhật, bởi vì họ không còn có thể mua nhà ở được nữa. Tới mức mà nước Nhật, trước đây là vương quốc của sự kết dính xã hội, thì bây giờ dần dần bị xé thành hai giai cấp: những người chủ nhà đất (thường là do thừa kế) và những người không sở hữu nhà ở. Hiện tại, một nhân viên người Nhật muốn mua một căn nhà trong vòng bán kính 60 kilomet từ trung tâm Tokyo phải bỏ ra trung bình 8 năm tiền lương. Một căn nhà tiền chế khiêm tốn trong vùng ngoại ô trung bình của Tokyo giá 3 triệu franc. Với những gia đình không có khả năng, một số tổ chức tài chính đề nghị cho vay trả góp trong nhiều thế hệ, với thời hạn tối đa 100 năm !
    Giá cả tăng vọt chỉ có lợi cho các công ty lớn sở hữu đất đai. Thủ thuật ở đây rất đơn giản: vốn đẻ ra vốn. Một công ty có miếng đất được đánh giá bằng số tiền X có thể vay vốn tương đương với giá trị X đó. Rồi với giá trị bất động sản của nó tăng lên, công ty càng làm cho cái vốn lớn hơn của mình sinh lãi, thì kết quả logic là nó càng tích lũy được tài sản nhiều hơn.
    Như thế, nếu người Nhật làm công ăn lương và gia đình anh ta chẳng được lợi lộc gì thì ngược lại, toàn bộ giới tài chính lại thủ lợi từ sự đầu cơ đó. Cần nói thêm rằng, do tác động gián tiếp và dưới sức ép của các nhà đầu tư Nhật, sự đầu cơ bất động sản đè nặng lên tất cả các thủ đô lớn của thế giới công nghiệp hóa, nơi mà giá cả có xu hướng tăng theo phong trào. Hiện tượng này đặc biệt dễ thấy ở Hồng Kông, Đài Bắc và Seoul, nơi mà giá cả tăng lên khủng khiếp. Tại thị trường chứng khoán Tokyo, "quả bóng đầu cơ" - như người ta đã quen gọi ở thủ đô Nhật Bản - đã vỡ trong năm 1990. Mùa thu năm ấy, giá bất động sản có xu hướng ổn định dần, nếu không phải giảm chút ít trên thị trường Nhật. Các giới chức chính phủ thở phào nhẹ nhõm đón nhận sự lành mạnh hóa thị trường bất động sản đang diễn ra. Tuy vậy, nếu một ngày nào đó giá bất động sản lại tụt mạnh đột ngột thì thiệt hại gây ra sẽ vô chừng. Chính vì thế, dù có các biện pháp của chính phủ nhằm hãm bớt đà tăng giá, dường như người ta loại trừ một sự sụp đổ giá bất động sản. Những ngân hàng và công ty bảo hiểm khổng lồ của Nhật, những kẻ đầu tiên lãnh hậu quả nếu nó xảy ra, sẽ làm mọi cách để tránh một sự sụp đổ như vậy.
     
  8. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Đầu tư trực tiếp: Sức mạnh đáng sợ

    Đến đây chúng ta bắt đầu đi vào cốt lõi của chiến lược phát triển kinh tế của Nhật Bản hiện nay trên thế giới. Chính là qua các khoản đầu tư của họ mà ta có thể hiểu và đo lường được sức mạnh hôm qua, hôm nay và ngày mai của Nhật Bản. Qua trung gian những khoản đầu tư khổng lồ ấy, Nhật chuẩn bị cho những cuộc di chuyển của cải lớn nhất mà nhân loại chưa từng biết tới. Quả là ngây thơ khi nghĩ rằng Nhật thực hiện đầu tư chỉ vì mục đích nhân đạo thuần túy. Nhật đầu tư ra nước ngoài không phải để làm vui lòng nước tiếp nhận đầu tư, mà nhằm mục đích một ngày nào đó thu về những khoản lời lớn nhất. Vả chăng, chính người Nhật đã nói ra điều ấy:
    "Qua các khoản đầu tư trực tiếp, sản xuất tại chỗ tự bản chất là nhằm mục đích mang lại lợi nhuận lớn hơn hoặc là hạ giá thành sản xuất xuống mức thấp hơn các thương vụ xuất nhập khẩu thông thường" [44].
    Đôi khi người ta lại còn tuyên bố bộc trực hơn:
    "Khối lượng tư bản khổng lồ của Nhật không thể không được sử dụng, và đương nhiên phải chuyển ra nước ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận lớn hơn" - Yukuo Suzuki, tổng giám đốc phụ trách nhóm lo công việc sáp nhập và mua lại của ngân hàng Sanwa giải thích. [45]
    Nói rộng ra, cứ xem xét nhịp độ xuất khẩu tư bản hiện tại của Nhật, chúng ta có thể nói rằng thông qua các khoản đầu tư ấy Nhật đang đồng thời toan tính một sự dịch chuyển sức mạnh kinh tế cũng đáng sợ không kém, và hiển nhiên, cả sức mạnh chính trị. Để thấy rõ tính chất đáng lo ngại của quá trình đang diễn ra, chỉ cần xem xét con đường mà nước Nhật đã đi trong vòng mấy năm qua.
    Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở nước ngoài được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế và như chúng ta đã nói, hầu như ở tất cả các khu vực địa lý của thế giới. Các khoản đầu tư ấy đã tăng đáng kể sau năm 1985, dường như còn muốn tiếp tục tăng trong những năm tới. Chúng ta có biết chăng, trong các năm 1986, 1987 và 1988 người Nhật đã đầu tư ra nước ngoài nhiều hơn tất cả những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ hai ? Về giá trị, khoảng ba phần tư các khoản đầu tư ấy được thực hiện trong khu vực không phải là sản phẩm chế tạo mà chủ yếu là bất động sản, ngân hàng và bảo hiểm, dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, du lịch) và thương mại. Một phần tư còn lại là đầu tư vào khu vực sản phẩm chế tạo hay sản phẩm công nghiệp. Chủ yếu là các thiết bị điện và điện tử, máy móc (bao gồm và trước hết là xe hơi), hóa học và kim loại màu. Ba khu vực chính mà các nhà đầu tư Nhật nhắm tới, theo thứ tự, là Mỹ, châu Âu và châu Á. Trong khoảng thời gian từ tháng 4/1986 đến tháng 9/1989, Bắc Mỹ đã hút 50,2% đầu tư trực tiếp của Nhật, châu Âu 21,9% và châu Á 12,2%. Châu Mỹ La tinh cũng không được bỏ quên, với 7,76%. Ngay sau đó là châu Úc với 6,84%, trong khi châu Phi không hút được quá 0,96% đầu tư của Nhật [46].
    Đầu tư trực tiếp của Nhật ở nước ngoài (tính tỷ đô la)
    1985
    12,2
    1986
    22,3
    1987
    33,4
    1988
    47,0
    1989
    67,5
    Nguồn: Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản
     
  9. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nước Mỹ: bạn hàng "ưa thích"

    Những năm sau sự thất trận của Nhật, Mỹ đã đóng vai trò bảo hộ cho Nhật. Tuân phục và dễ bảo, người Nhật đã thi hành những mệnh lệnh và khuyến cáo của Mỹ, không tranh cãi. Chiến tranh mới kết thúc mà ! Sau đó, Mỹ đã chỉ vẽ và giúp đỡ người Nhật trên con đường phát triển công nghiệp, trở thành người bạn tốt bụng giúp Nhật chuẩn bị cho sự hồi sinh nền công nghiệp của họ. Các phương pháp quản trị, đầu óc kinh doanh, công nghệ, kỹ thuật chế tạo, sở thích bán buôn: bấy nhiêu giá trị và phương pháp của Mỹ mà người Nhật coi như nguồn cảm hứng vô tận. Sau đó nữa, khi những cơ sở xuất khẩu đáng sợ của Nhật đã sẵn sáng khạc ra hàng khối lượng lớn sản phẩm tiêu thụ thông dụng thì chính thị trường Mỹ lại tiêu thụ rất mạnh hàng hóa Nhật, tiêu hóa phần lớn khối lượng xuất khẩu của Nhật và bơm trở về Nhật những khối lượng tư bản khổng lồ. Mới đây nhất, khi nước Nhật công nghiệp trở thành nhà đầu tư vốn thì một lần nữa Nhật lại chọn Mỹ để thiết lập mối quan hệ ưa thích mới. Nhiều năm liền, đầu tư của Nhật chủ yếu tập trung vào đất Mỹ. Thời kỳ 1951-1988, Mỹ đã hút 71,9 tỷ đô la đầu tư trực tiếp của Nhật. Nhưng không có chuyện ngược lại. Bởi vì, nếu Mỹ quả là nước đầu tư nước ngoài hàng đầu ở Nhật với 49% tổng số đầu tư nước ngoài trên đất Nhật, thì vào cuối năm 1988 tổng số đầu tư của Mỹ ở Nhật (6,3 tỷ đô la) thấp hơn 10 lần so với đầu tư [47].
    Mặt khác, phần đầu tư lớn nhất của Nhật ở Mỹ đã được tiến hành từ đầu những năm 80. Từ năm 1951 đến 1988, đầu tư trực tiếp của Nhật trong lĩnh vực công nghiệp đã lên đến 22,5 tỷ đô la (112,5 tỷ franc). Trong số này, có 15,4 tỷ đô la (77 tỷ franc) đã được đầu tư chỉ trong những năm 1986, 1987 và 1988. Trong một vài năm, Nhật đã đầu tư gấp hai lần so với hầu hết các nước khác cùng cạnh tranh với Nhật trên thị trường Mỹ. Hiện nay Nhật là nước đầu tư đứng hàng thứ hai ở Mỹ sau Anh, song trước Hà Lan - vốn là những nước đầu tư lớn - và CHLB Đức. Đây là những hãng sản xuất xe hơi thuộc lĩnh vực phi địa phương hóa. Những hãng này đã tỏ ra cực kỳ năng động. Hãng Honda đã mở đầu với một xí nghiệp sản xuất xe hơi đầu tiên được xây dựng vào năm 1982. Tiếp theo là Nissan, rồi Toyota. Hãng này hình thành một liên minh chiến thuật với hãng General Motors. Giờ đây, cố gắng của Nhật đã được trả công hậu hĩ. Tại Mỹ, người Nhật có cả một lực lượng sản xuất đáng gờm có thể tung ra một lượng hàng hóa đủ sức tràn ngập thị trường châu Âu.
    Đầu tư nước ngoài tại Mỹ (tỷ đô la, năm 1988)
    Anh
    101,9
    Nhật
    53,4
    Hà Lan
    49
    CHLB Đức
    23,8
    Nguồn: Bộ thương mại Mỹ
    Người Nhật đang ra sao tại Mỹ ? Vào cuối năm tài chính 1988, trên lãnh thổ của Mỹ, Nhật đã có 1.043 đơn vị sản xuất sử dụng 284.600 công nhân Mỹ. Những trung tâm sản xuất này hàng năm tạo ra một giá trị xuất khẩu là 20,8 tỷ đô la (104 tỷ franc), chiếm 8,2% tổng xuất khẩu của Mỹ sang phần còn lại của thế giới [48]. Trong số các đơn vị sản xuất này có 13 nhà máy sản xuất vô tuyến truyền hình, 5 nhà máy sản xuất đầu máy vidéo, 6 xí nghiệp sản xuất điện thoại, 2 xí nghiệp sản xuất máy sao chụp vô tuyến (télécopieur), 6 nhà máy sản xuất máy tính điện tử, 53 xí nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, 6 xí nghiệp sản xuất bán dẫn. Phải thêm vào đó 8 nhà máy sản xuất xe hơi, đổ đồng hàng năm xuất xưởng 1 triệu xe. Trong vài năm tới, có khả năng sản xuất 2 triệu xe ! Và để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy này, Nhật đã thành lập trên đất Mỹ 11 công ty hỗn hợp, với vốn một phần là của Nhật, nhằm sản xuất lá thép tuyệt đối cần thiết cho việc lắp ráp xe hơi. Thiếu tin tưởng ? Muốn bảo đảm việc cung cấp nguyên liệu chất lượng 100% ? Chỉ biết rằng, trong lĩnh vực xe hơi, Nhật Bản không muốn thầu lại của các nhà sản xuất Mỹ. Họ thích mang toàn bộ hệ thống công nghiệp liên quan đến lĩnh vực này sang Mỹ hơn. Kết quả: cần phải thêm vào các con số trên đây ít nhất là 137 nhà máy và xí nghiệp Nhật Bản sản xuất các sản phẩm và phụ tùng xe hơi đặt ở Mỹ [49].
     
  10. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Châu Âu: mục tiêu mới của Nhật

    Về đầu tư, Nhật có lẽ đã đi chậm ở châu Âu. Những người nào lo lắng về điều này hãy an tâm: người Nhật đang dồn mọi nỗ lực để bắt kịp sự chậm trễ ấy. Và trong thời hạn ngắn nhất. Tất cả những nhà phân tích nghiêm túc đều đồng ý với nhau về điểm này: dù châu Âu có muốn hay không, và dù Nhật vẫn phủ nhận điều này, thì đầu tư của Nhật ở châu Âu sẽ đi đến chỗ làm thay đổi toàn bộ cảnh quan kinh tế của cựu lục địa. Sự cạnh tranh của Nhật chuyển vào châu Âu sẽ thách thức tại chỗ nền công nghiệp châu Âu. Nhiều xí nghiệp không chịu nổi đòn tấn công của hàng xuất khẩu Nhật Bản và châu Á, đã phải đóng cửa. Nhiều xí nghiệp khác sẽ không đương đầu nổi với nền sản xuất được phi địa phương hóa của Nhật và sẽ phải phá sản. Những xí nghiệp khác nữa thì, để chống cự lại cơn sóng trào Nhật Bản, sẽ phải đoàn kết lại để lập thành những tập đoàn vững chắc hơn và đưa vào sử dụng sức mạnh tống hợp của chúng. Nhưng để sống còn, tất cả sẽ buộc phải có bước tiến về năng suất và quản lý tốt hơn. Kỷ nguyên bất động đầy ngây thơ và tự mãn ở châu Âu đã kết thúc.
    Sony đã đóng vai trò tiên phong ở châu Âu bằng cách thành lập vào năm 1968 một nhà máy lắp ráp vô tuyến truyền hình ở Bridgend (Anh). Tuy vậy, điều lạ là người Nhật khá chậm trong việc hiểu được tầm quan trọng của thị trường châu Âu. Quen với tâm tính và phương pháp làm việc của người Mỹ, hoảng sợ trước sự đa dạng về văn hóa ở châu Âu, lại nản lòng vì những cuộc bãi công và các phong trào xã hội liên tục ở châu Âu, các nhà kinh doanh Nhật theo truyền thống thích tập trung vào thị trường Mỹ, vào một vùng đất quen thuộc hơn. Nhưng có ba lý do đã khiến cho họ sang châu Âu.
    Trước hết, đó là thị trường thống nhất 1992 tới gần và mối đe dọa về một châu Âu - pháo đài đóng sập cửa đối với đầu tư của Nhật. Chỉ vài năm nữa thôi, sau đó có lẽ sẽ quá muộn. Theo một cuộc thăm dò mới đây, 66,1% các công ty Nhật sống bằng xuất khẩu sợ rằng sự nhất thể hóa châu Âu năm 1992 sẽ mang lại hậu quả tiêu cực đối với họ. Chỉ có 11,3% cho rằng thị trường lớn, thống nhất của châu Âu ngược lại sẽ "rất có lợi cho Nhật". Được hỏi về tương lai châu Âu, 37,9% công ty ấy dự liệu rằng sự ra đời của một châu Âu mạnh có thể cạnh tranh với Nhật và Mỹ, trong khi 18,8% cho rằng đó là điều không thể được [50].
    Lý do thứ hai: sự xuống dốc quá rõ của Mỹ và những lo ngại về một thời kỳ suy thoái kinh tế kéo dài của cường quốc số một thế giới. Hiện tượng này khiến cho Tokyo phải đánh giá lại một cách sâu sắc các trục chiến lược của nước Nhật tương lai. Một nhận định bắt buộc: Nhật không còn có thể đặt tất cả trứng trong cùng một giỏ. Họ phải giảm bớt sự lệ thuộc kinh tế vào thị trường Mỹ.
    Lý do thứ ba: thị trường Mỹ trở nên thật sự chật chội. Người Nhật kéo đến đó đông tới nỗi họ bắt đầu dẫm chân lên nhau. Những conquistadores (kẻ đi chinh phục) mới cần một chút oxy, cần một thị trường mới. Châu Âu đã giang tay đón họ. Họ đã quyết định đến đó. Và thế là chúng ta chứng kiến một cuộc đổ xô thực sự sang châu Âu. Châu Âu đã trở thành mục tiêu ưu tiên đối với nhiều nhà đầu tư Nhật, họ thấy ở đó một thị trường trẻ, năng động, hứa hẹn. Trong vài lĩnh vực then chốt như xe hơi, châu Âu lại là thị trường số một thế giới. Sự sụp đổ của Đông Âu và mở rộng châu Âu truyền thống càng củng cố thêm tin tưởng ấy của người Nhật. Châu Âu kéo dài đến Liên Xô là một thị trường với 500 triệu người tiêu thụ, mà một bộ phận khá lớn trong đó thuộc lớp người khá giả nhất thế giới.
    Sự gia tăng nhịp độ đầu tư của Nhật vào Cộng đồng kinh tế châu Âu là đáng kinh ngạc, khó hình dung được, đầy đe dọa, có thể là nguy hiểm. Thực tế, đầu tư ấy tăng gấp đôi hàng năm. Nghĩa là, đây là nhịp độ cao nhất trong toàn bộ các điểm đầu tư khác nhau của Nhật ở nước ngoài. Chỉ riêng trong lĩnh vực sản phẩm chế tạo (công nghiệp), các khoản đầu tư ấy đã tăng từ 800 triệu đô la năm 1987 lên 1,46 tỷ đô la năm 1988 rồi 3,05 tỷ đô la năm 1989. Nếu xem xét tất cả các lĩnh vực đầu tư của Nhật thì sự gia tăng ấy cũng gây ấn tượng không kém. Nó đã từ 6,576 tỷ đô la năm 1987 tăng lên 9,116 tỷ đô la năm 1988 và 14,808 tỷ đô la năm 1989 [51]. Khoảng 60% số đầu tư từ năm 1987 đã mang lại lợi nhuận, trong khi một phần các dự án thì bị lỗ do cạnh tranh hoặc do muốn tìm kiếm nhân viên tay nghề cao và nhu cầu về khung cán bộ có tầm quan trọng hơn là ở trong nội địa Nhật. Những khoản đầu tư ấy chắc hẳn sẽ gia tăng nhanh chóng với năm 1992 đang đến gần. Hiện tại, CEE thu hút hơn 24% tổng số đầu tư của Nhật trên thế giới.
    Nhận định này có chứng lý. Tháng ba 1989, trên đất CEE, 247 xí nghiệp lớn của Nhật đã có 206 nhà máy sản xuất, 466 văn phòng bán hàng hoặc những cơ cấu thương mại khác và 127 đơn vị đủ loại, phần lớn là dịch vụ tài chính. Chỉ riêng trong lĩnh vực công nghiệp (sản phẩm chế tạo), các xí nghiệp Nhật này đã có 529 đơn vị sản xuất sử dụng 94.000 người châu Âu. Từ đây đến năm 2000, ít nhất 200.000 nhân viên châu Âu sẽ làm việc cho các nhà máy Nhật trong CEE. Trong số các nhà máy đã có, đáng chú ý có 99 đơn vị sản xuất sản phẩm điện tử (VTTH, đầu máy vidéo, đầu máy đĩa compact, dàn âm thanh có độ trung thực cao, máy điện thoại, máy sao chụp vô tuyến, máy tính cá nhân, máy sao chụp và linh kiện bán dẫn), 2 nhà máy xe hơi, 15 nhà máy sản xuất phụ tùng xe hơi và một công ty liên doanh sản xuất thép.
    Nhật xuất khẩu hàng năm khoảng một triệu xe hơi sang châu Âu. Con số ấy từ nhiều năm nay không gia tăng - kết quả của các hạn chế nhập khẩu mà nhiều nước châu Âu đã áp dụng. Nhưng phải chú ý rằng hai nhà máy xe hơi Nhật "phi địa phương hóa" sang CEE hiện đang sản xuất khoảng 200.000 xe hơi hàng năm. Từ nay đến năm 1992, theo dự báo của Nhật có ít nhất 5 nhà máy sản xuất xe hơi Nhật trong CEE, sản xuất hàng năm một triệu xe. Đó là Nisssan (2 nhà máy đã hoạt động ở Anh), Toyota (Bồ Đào Nha) và Isuzu (Anh), Suzuki (Tây Ban Nha). Còn Honda thì đã mua 20% vốn của hãng Anh Austin Rover và hãng này đã lắp ráp các kiểu xe Honda. Toyota có ý định xây dựng một nhà máy mới ở Anh. Mazda thì dự kiến hợp tác sản xuất với Ford tại Saarlouis ở Đức.
    Còn về vô tuyến truyền hình màu, sản phẩm của Nhật tại CEE đã chiếm 21% trong toàn bộ máy VTTH sản xuất trong Cộng đồng, nhờ 13 nhà máy nằm rải rác ở Anh (8 nhà máy), CHLB Đức (2) và Tây Ban Nha (3). Một nửa số đầu máy video sản xuất trong CEE là từ 21 nhà máy Nhật phi địa phương hóa nằm ở Đức (8), Anh (7), Pháp (3) và Tây Ban Nha (2). Nhật có 10 nhà máy sản xuất máy sao chụp (photocopie). Phần của chúng trên thị trường mở rộng rất nhanh. Còn về mạch tích hợp, châu Âu coi như đã thua. Như Gorota Kume, chuyên viên ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật (Eximbank) và chuyên gia về đầu tư trực tiếp, giải thích: "Các công ty châu Âu đã bỏ lỡ dịp may phát triển và sản xuất các mạch tích hợp, và hậu quả là bây giờ họ tụt xa sau Nhật và Mỹ".
    Đã quá chậm, bởi vì bốn hãng lớn của Nhật đã có mặt ở châu Âu để sản xuất mạch tích hợp thay cho châu Âu: NEC (ở Ailen và Anh), Toshiba (Đức), Hitachi (Đức) và Fujitsu (Ailen).
     
  11. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Anh quốc: con ngựa thành Troie của cộng đồng kinh tế châu Âu (CEE)

    Nước Anh là mục tiêu đầu tư trước tiên được Nhật Bản nhắm đến ở CEE. Thậm chí đến mức có dư luận xấu nói nước Anh đang trở thành một thuộc địa của Nhật Bản tại châu Âu, hoặc nói nước Anh là hòn đảo thứ năm trong quần đảo Nhật Bản. Quả là trong khoảng thời gian từ 1951-1988, 35% đầu tư của Nhật Bản tại châu Âu đều đổ vào nước Anh do cách chào mời tận tình được chính quyền bảo thủ của thủ tướng Margaret Thatcher tiến hành. Tỷ lệ này đã vượt lên mức 46,2% vào năm 1989 với tổng giá trị là 6,67 tỷ đô la (33,35 tỷ franc). Cần phải nói rằng thành công này không là chuyện tình cờ. "Nếu như chúng tôi đầu tư vào nước Anh là bởi vì chúng tôi được đón tiếp niềm nở". Sự xâm nhập của Nhật Bản vào nước Anh là kết quả của một chính sách thu hút đặc biệt của nước Anh đối với Nhật Bản.
    Bà Thatcher đích thân nhiều lần tham gia vào "chiến dịch" mời chào này. Bà luôn tươi cười với người Nhật, tham gia khánh thành các xí nghiệp mới được xây dựng của Nhật Bản, chăm sóc các quan hệ cá nhân của mình đối với những người khách Nhật và tỏ ra ân cần với nước Nhật. Thái độ này đã khiến người Pháp nổi giận, vì điều đó giống như một sự phản bội đối với một châu Âu thống nhất đang được xây dựng. Nước Anh, theo họ, đã trở thành một "con ngựa thành Troie". Nói cách khác, nước Anh đã "nuôi ong tay áo". Bởi lẽ, ý đồ của sự đổ bộ này đã quá rõ: trong khi chờ đợi thì trường chung châu Âu vào năm 1993, thì Nhật Bản tỏ ra hào phóng khôi phục lại nghành công nghiệp xe hơi của nước Anh hiện bỏ ngỏ. Song một khi các biên giới đã mở ngõ trong CEE, thì hàng hà sa số các xí nghiệp của Nhật Bản lúc đó đều đã mang nhãn hiệu châu Âu, sẽ cứ thế tung ra hết đợt hàng này đến đợt hàng khác trên người tiêu dùng của lục địa châu Âu. Ai sẽ là người chiến thắng ? Nước Anh thì có thể, song Nhật Bản thì tất thắng rồi.
    Quan hệ giữa nước Anh và Nhật Bản cũng đã bộc lộ nhiều biểu hiện lố bịch đến mức quá đáng. Chẳng hạn, ngày 7 tháng 9 năm 1990, chủ tịch hãng xe hơi Nissan (Nhật Bản) Takashi Ishihara đã được trao tặng huân chương cao quý nhất của vương quốc Anh dành cho một người nước ngoài. Hãng Nissan còn nhấn mạnh ông chủ Nhật được khen thưởng "vì những đóng góp của ông cho mối quan hệ kinh tế giữa vương quốc Anh và Nhật Bản". Vâng, cám ơn cái hãng Nhật đầu tiên đã khánh thành một xí nghiệp sản xuất xe hơi trên đất Anh vào năm 1984. Vâng, cám ơn 200.000 xe hơi sẽ từ những phân xưởng của nó tung ra thị trường nước Anh và châu Âu.
    Để mở của cho nước Anh tiếp nhận được đầu tư của Nhật Bản, mọi việc đều đã được tính toán. Tất cả các miền của vương quốc Anh đều đã mở văn phòng đại diện của mình tại Tokyo. Nhiệm vụ của những văn phòng này rất rõ: thông qua vai trò môi giới các hoạt động quan hệ công chúng mà thu hút, thuyết phục và lôi kéo các nhà đầu tư Nhật Bản. Đối với một số miền ở nước Anh đang bị đe dọa bởi nạn thất nghiệp và cuộc khủng hoảng kinh tế, thì đầu tư của Nhật Bản được đón nhận như một nguồn ơn phúc đích thực từ trời ban xuống để khôi phục lại cả một nền công nghiệp đang hấp hối. Điển hình là trường hợp của khu vực phía Tây Birmingham, trung tâm công nghiệp cũ của nước Anh, tinh hoa xưa của cuộc cách mạng công nghiệp. Hai thế kỷ sau thời kỳ hưng thịnh ấy, khu vực này đã bắt đầu trở nên giống như cái "vành đai rỉ sét" thê thảm của Mỹ: một khu vực hoang tàn mà ở đó dàn giá của những xí nghiệp phế bỏ chỉ gợi lên một quá khứ huy hoàng và ở đó dân chúng đang sống trong cơn ác mộng thất nghiệp triền miên và khủng hoảng xã hội.
    Còn giờ đây, 17 xí nghiệp của Nhật Bản đã đến đóng đô ở vùng đất này, điểm tập kết lớn nhất của Nhật Bản ở nước Anh. Những gì tinh túy nhất của nền công nghệ Nhật Bản đều được phô diễn ở nơi chỉ cách vài kilomet là Ironbrigde, cây cầu sắt đầu tiên của thế giới đã được xây dựng vào năm 1779. Đúng là một hình ảnh tuyệt vời giữa một bên là sức mạnh một thời huy hoàng đã qua của vương quốc Anh và một bên kia là sự rạng ngời của Nhật Bản trong thế giới hiện đại. Không chỉ có người Nhật, ở đây còn có khoảng 50 xí nghiệp của Đức, Hoa Kỳ, thậm chí của Pháp. Được sự khuyến khích của chính quyền trung ương ở Luân Đôn, và để thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản, các chính quyền địa phương ở đây đã dành cho họ những khoản tiền thuê xây dựng cơ sở cùng những ưu đãi về thuế khóa cực kỳ giảm nhẹ, thậm chí trong nhiều trường hợp vượt quá những giới hạn mà CEE quy định đến mức đất đai chỉ được bán với giá tượng trưng. Lợi dụng trình trạng thê thảm trong ngành công nghiệp xe hơi, các nhà kinh doanh Nhật Bản đôi khi đã "hớt" được từ tay của người Anh những hợp đồng xây dựng xí nghiệp với thời hạn đặc biệt ưu đãi.
    Phân chia vốn đầu tư của Nhật Bản trong CEE năm 1989 (tính bằng tỷ đô la)
    Tiền
    Tỷ lệ
    Anh
    6,67
    46,2%
    Hà Lan
    3,39
    23,5%
    Tây Đức (cũ)
    1,27
    8,8%
    Pháp
    1,04
    7,2%
    Luxembourg
    1,04
    7,2%
    Ý
    0,35
    2,4%
    Tây Ban Nha
    0,35
    2,4%
    Bỉ
    0,27
    1,9%
    Ai len
    0.06
    0,4%
    Nguồn: Bộ Tài chính Nhật Bản
     
  12. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nước Pháp: Vô cùng dễ, chỉ cần có tiền

    Sẽ hoàn toàn sai lầm nếu như hùa theo cái dàn hợp xướng những bất mãn chỉ muốn trút hết cơn giận dữ lên đầu nước Anh. Khi người Pháp phàn nàn thì không hề có ý ghen tỵ. Nước Pháp cũng mong muốn khai thác "những hành động hào phóng" của Nhật Bản. Nhiều người Pháp đang sẵn sàng bán đứng tất cả để có được sự "hào phóng" đó nhưng lại hoàn toàn dửng dưng với nhưng hậu quả của việc Nhật Bản thâm nhập vào xã hội Pháp. Liệu có nhà kinh doanh nhập khẩu nào lưu tâm đến sự chênh lệch giữa những trao đổi song phương của chúng ta ? Tình trạng mất cân đối trong đầu tư giữa Pháp và Nhật Bản đã trở nên bi đát. Giá trị đầu tư của Nhật vào Pháp gấp 13 lần so với đầu tư của Pháp sang Nhật. Trong những năm 80, khoảng cách này đã trở thành một hố thẳm với tỷ lệ chênh lệch 1/45.
    Chẳng có gì phải phê phán: đầu tư của Nhật Bản quả đã tạo ra nhiều công ăn việc làm. Hoa Kỳ và Canada dẫn đầu bảng xếp loại ở Pháp với 3.871 chỗ làm năm 1990. Nhật Bản cũng nhanh chóng vượt lên chiếm vị trí thứ hai ở Tây Đức với 3.096 chỗ làm [52]. Đó là lý do vì sao khi đến nhiều miền ở Pháp để viết phóng sự, tôi không hề gặp một viên chức địa phương nào đã tỏ ra có thái độ thù nghịch đối với đầu tư của Nhật Bản. Khá nhiều miền của nước Pháp chẳng hạn như Alsace quê tôi, đều có mở mặt tiền tại Tokyo. Các văn phòng đại diện đang cố bán chút hương phấn của mình cho khách chơi hoa Nhật. Ngay như Auvergne, một vùng quê và là nơi chôn rau cắt rốn của một phần gia đình tôi, cũng sẵn sàng đưa chân vào những trò chơi ve vãn hối hả này và rất muốn được lọt vào mắt xanh của các nhà đầu tư đất nước Mặt trời mọc. Thậm chí sự hiện diện của Nhật Bản còn trở thành điểm chuẩn về chất lượng để thu hút các nhà đầu tư từ những nước khác.
    Suốt nhiều tuần lễ liên tiếp vào mùa xuân và hè năm 1990, người ta đọc thấy một nội dung đầy xúc cảm chiếm đến cả trang trên nhiều tuần báo lớn của Pháp: "Một số hãng nổi tiếng của Nhật Bản đã có mặt ở Auvergne" kèm theo đó là bức ảnh một nhà kinh doanh Nhật ngồi sau bàn làm việc và đang mỉm cười, sau lưng ông ta là một tấm bản đồ thế giới khổ lớn. Các tập đoàn Nhật Bản đến lượt mình lại để tâm đề cao sự xâm nhập thành công của mình trong khung cảnh nền kinh tế Pháp. Thế là, hãng Toshiba, trong các quảng cáo chiếm đến nửa trang trên các nhật báo lớn nhất của Pháp đã huênh hoang về "những cái nôi công nghệ mới" chẳng hạn như những nhà máy lò cao hoạt động bằng vi sóng, những máy photocopie và những đèn halogène dùng cho máy photocopie được lắp đặt lần lượt trong các làng Aizenayn, Martin-Église và Raon-I'Étape. Tập đoàn hàng đầu này của Nhật Bản còn nhấn mạnh "Cắm rễ sâu ở Pháp, tiến đến một sự hội nhập êm thấm và cùng nhau lớn mạnh trong tương lai". Đó chính là điều mong muốn nhất của Toshiba.
     
  13. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Châu Á: đất săn riêng của Nhật Bản

    Một sự chuyển động đáng kể đối với thế giới tương lai, song lại chưa được biết đến nhiều, đang diễn ra tại châu Á: Khu vực này đang ngả theo quỹ đạo kinh tế của Nhật Bản. Bởi lẽ, châu Á chưa bao giờ bị giới lãnh đạo kinh tế của Nhật Bản bỏ quên. Trái lại, trong 10 năm đầu tư ồ ạt họ đã biến đổi hoàn toàn bộ mặt của Nhật Bản trong khu vực đang phát triển vũ bão này. Năm 1945, chiến thắng của đồng minh đã dấn đến hệ quả tất yếu là việc Hoa Kỳ đứng chân về kinh tế tại châu Á. Suốt những năm 50 và 60, Hoa Kỳ gần như đơn thân độc mã trong khu vực này: Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippines, Thái Lan, Úc, Tân Tây Lan, Singapour đã kết thành một khối vững chắc nằm trong vùng ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Chú Sam đã có thể tự hào diễu võ giương oai về sức mạnh của mình. Không ai dám coi thường điều đó. Các nước cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam, Cambodge và Lào nói chung đều đóng cửa đối với các nhà tư bản Nhật Bản. Ngày nay, giấc mơ Mỹ ở châu Á đã kết thúc. Sự thống trị của Hoa Kỳ đã thuộc về quá khứ và ảo vọng Mỹ đã không còn hấp dẫn ai ở đây nữa. Quả là Nhật Bản đã từng bước đuổi Hoa Kỳ ra khỏi châu Á - Thái Bình Dương. Còn châu Âu, vốn nhút nhát hoặc lạc hậu trước thực tiễn của khu vực này, đã hầu như bị quên lãng vĩnh viễn ở châu Á. Đã đến lúc châu Á - Thái Bình Dương trở thành đất săn riêng của người Nhật.
    Tiến trình này dẫn đến nhiều hậu quả đáng kể trong tương lai trên bình diện kinh tế lẫn chiến lược. Tại sao ? Nền kinh tế của các nước Đông Nam Á đang biến đổi sâu sắc. Từ chỗ trước đây chỉ cốt làm sao có sản lượng, các nền kinh tế này hiện đang hướng đến tiêu thụ: Trong tương lại, châu Á sẽ là một nhà máy khổng lồ sản xuất đủ loại hàng hóa tinh xảo và là một thị trường rộng lớn với những người tiêu dùng giàu có. Cần phải nói thêm rằng thị trường này có thể còn lớn hơn cả thị trường của châu Âu hoặc Mỹ. Đến ngày ấy, người Mỹ và người châu Âu còn có thể bán cho họ những thứ gì nữa ? Mặc khác, châu Á đang còn bị chia cắt bởi những xung đột chính trị nghiêm trọng. Song từng bước, nền dân chủ sẽ được thiết lập và cùng với nó là sự thịnh vượng và sáng tạo. Liệu đến lúc ấy châu Âu và nhất là Mỹ có thể tự cho phép mình đứng tách biệt với trục phát triển này chăng ? Cuối cùng là với việc tạo ra những liên hệ kinh tế độc quyền, châu Á đã bắt đầu một tiến trình hội nhập giữa các nước trong khu vực từng bước đặt nền móng cho một thị trường chung châu Á.
    Ngay từ cuối năm 1988, lần đầu tiên từ sau chiến tranh, Nhật Bản đã buôn bán với các bạn hàng châu Á nhiều hơn là với Hoa Kỳ. Trao đổi mậu dịch của Nhật Bản với các nước công nghiệp hóa mới của châu Á vượt quá những trao đổi mậu dịch của Nhật với CEE. Thử so sánh: xuất nhập khẩu của Nhật Bản với Nam Triều Tiên vượt xa mức của Nhật Bản với châu Phi và châu Mỹ La tinh cộng lại. Từ năm 1985 đến 1989, trao đổi mậu dịch giữa Nhật Bản và ASEAN (Thái Lan, Malaisie, Singapour, Indonésia, Philippines, Brunei) cộng với Hồng Kông, Đài Loan và Nam Triều Tiên đã tăng gấp đôi, đạt mức 118 tỷ đô la (590 tỷ franc). Tổng trao đổi mậu dịch giữa 15 nền kinh tế quan trọng của châu Á đã đạt mức 234 tỷ đô la (1170 tỷ franc) vào năm 1988. Trong đó Nhật Bản chiếm hơn một nửa. Con số này vượt xa mức 193 tỷ đô la (965 tỷ franc) xuất khẩu của khu vực này sang Bắc Mỹ [53].
    Hậu quả tất yếu: các nền kinh tế châu Á đang hình thành một mối liên kết ngay trước mặt Mỹ, một nước mà giờ đây họ rời bỏ không hề thương tiếc. Việc đầu tư trong khu vực này đang tăng lên đến mức như ngân hàng phát triển Á châu đánh giá là "đang thúc đẩy một sự liên kết ngày càng mở rộng giữa các nền kinh tế châu Á và biến đổi khu vực này thành một thực thể thuần nhất hơn trong nền kinh tế thế giới".
    Những đối kháng hiện còn rất mạnh. Nhiều nước đang ra sức tẩy chay ảnh hưởng ngày càng lớn của Nhật Bản. Vì thế, ngày ra đời của một thị trường chung châu Á rộng lớn xem ra còn xa. Song nếu như châu Á đi đến hợp nhất và nếu như Nhật Bản thành công trong việc chế ngự những tham vọng dân tộc chủ nghĩa thì Nhật Bản có thể hi vọng dẫn đầu "khối" kinh tế châu Á mới này. Thế giới khi đó sẽ được thống trị bởi ba trục kinh tế có sức mạnh cân bằng: một cạnh là vùng tự do mậu dịch bao gồm Hoa Kỳ và Canada. Một cạnh khác là thị trường chung châu Âu. Cạnh cuối cùng trong cái tam giác kỳ bí này là châu Á hợp nhất. Nhưng như vậy liệu phương Tây sẽ hành động ra sao ? Liệu họ sẽ đứng yên để nhìn ngắm sự khai sinh một "Khối thịnh vượng chung" mới dưới ảnh hưởng của Nhật Bản ?
    Trong khi chờ đến lúc ấy, hãy thử nhìn xem nhịp độ đầu tư của Nhật Bản tại châu Á. Cách đây 10 năm, các nhà kinh doanh Nhật Bản đầu tư hàng năm khoảng 1,2 tỷ đô la (6 tỷ franc) cho toàn bộ khu vực này. Năm 1988, họ đã đầu tư gấp đôi số tiền trên chỉ riêng cho Hồng Kông. Năm 1990, Nhật Bản đã đầu tư gấp 6 lần cho khu vực này so với đầu những năm 80. Trong số 12 nước thu hút nhiều đầu tư nhất của Nhật Bản thì một nửa thuộc về châu Á: bốn "con rồng" (Đài Loan, Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Singapour), Thái Lan và Malaisie. Nhật Bản, từ nhiều năm qua, là nước đầu tư đứng hàng đầu thế giới ở Indonésie và Thái Lan. Ở Indonésie, Hoa Kỳ còn đứng sau cả Hồng Kông, Nam Triều Tiên và Đài Loan. Biểu tượng cuối cùng cho sự suy sụp của Hoa Kỳ là năm 1989, Nhật Bản đã thay thế Hoa Kỳ vốn là nước đầu tư đứng hàng đầu thế giới ở Philippines. Nước Mỹ, vào năm 1988 vẫn còn giữ vị trí hàng đầu ở nước này thì chỉ một năm sau, đã đứng sau cả Đài Loan và Hồng Kông.
    Vào tháng 9/1989, tổng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào châu Á đạt mức 36 tỷ đô la (180 tỷ franc), nghĩa là bằng 1/6 đầu tư trực tiếp của Nhật Bản trên thế giới. Việc đồng yên lên giá, từ đầu những năm 80, đã đánh vào đầu tư của Nhật Bản ở khu vực này. Kể từ đó, đầu tư vào Nam Triều Tiên, Đài Loan và Singapour được ghi nhận là tăng 50% mỗi năm và tăng 100% vào các nước còn lại của châu Á. Tokyo không hề bỏ qua bất cứ một thị trường mới nào. Trong khi chờ đợi có sự mở cửa rộng rãi của những nước này, những nhà kinh doanh Nhật đang tranh thủ Cambodge, Lào và Việt Nam. Sự hiện diện của nước Pháp ở các nước này hiện chỉ mang tính chất tượng trưng và mặc dù Paris đã có nhiều cố gắng giành lại chỗ đứng đã bị mất song có nguy cơ nó vẫn sẽ mờ nhạt như hiện nay. Mọi thứ đang gây chú ý cho người Nhật: dầu thô ở Việt Nam, quặng mỏ, cao su và nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên khác của Cambodge, lực lượng lao động rẻ ở Đông Dương. Mọi việc đều phải bắt đầu lại từ đầu ở những nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá. Nhật Bản đã là bạn hàng thứ hai của Việt Nam sau Liên Xô. Lợi dụng khó khăn của Liên Xô, không bao lâu nữa, Nhật Bản sẽ chiếm giữ vai trò hàng đầu và họ rất sẵn sàng giữ vị trí ấy.
    Đúng là, tính trên phạm vi toàn cầu, đầu tư của Nhật Bản không thể tiếp tục phát triển với cùng nhịp độ như lâu nay nữa. Song, dù có chậm lại, nguồn tư bản của Nhật Bản sẽ vẫn tiếp tục việc phân công lao động giữa các nước châu Á tùy theo sự phát triển kinh tế của các nước này. Đặc biệt, Hoa Kỳ đang bị đẩy lùi xuống hàng thứ yếu. Như ở Thái Lan, các dự án đầu tư của Nhật Bản gấp 8-10 lần đầu tư của Hoa Kỳ. Ngay như Đài Loan cũng đầu tư vào nước này nhiều hơn cả Hoa Kỳ. Tại Malaisie, người Nhật đầu tư gấp 10 lần người Mỹ, còn tại Indonésie gấp sáu lần.
    Tại Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan và Singapour, bốn "con rồng", bốn nước công nghiệp hóa mới (NIC = New Industrilized Countries), Nhật Bản ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực xây dựng, bất động sản và dịch vụ. Tại những nước phát triển trung gian như Philippines, Thái Lan, Indonésie và Malaisie, Nhật Bản đầu tư vào việc phát triển các nguồn nguyên liệu và vào công nghiệp. Tính trên phạm vi toàn cầu, châu Á là khu vực thứ hai trên thế giới (vượt cả châu Âu) tiếp nhận được nguồn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng [54]. Song đã đến lúc phương thức trao đổi giữa các nước này và Nhật Bản thay đổi. Trước đây, Nhật Bản bán cho các nước này trang thiết bị và mua lại nguyên liệu và năng lượng. Hiện nay, hơn 60% xuất khẩu của khu vực sang Nhật Bản là sản phẩm công nghiệp trong đó đáng kể là sản phẩm của các xí nghiệp phi địa phương hóa của Nhật Bản.
    Đầu tư, viện trợ kinh tế và mậu dịch của Nhật Bản với các bạn hàng châu Á từ tháng 4/1986 - 9/1989. (tính bằng tỷ đô la)
    Mậu dịch
    Đầu tư
    Viện trợ
    Nam Triều Tiên
    93,85
    1,950
    -
    Đài Loan
    78,51
    1,230
    -
    Hồng Kông
    46,22
    4,180
    -
    Singapour
    36,93
    2,350
    -
    Thái Lan
    26,50
    1,810
    1,307
    Malaisie
    29,49
    0,990
    0,777
    Philippines
    13,30
    0,330
    1,364
    Indonésie
    48,26
    1,720
    1,433
    Trung Quốc
    53,18
    2,000
    2,177
    Ấn Độ
     
  14. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Đông Âu, cuộc chinh phục mới ?

    Các nhà ngoại giao Nhật sẽ giãy nảy lên với một sự ngây thơ "cụ": nước Nhật nào có hề để ý đến Đông Âu. Các nước ấy ở quá xa, quá bất ổn, lại còn nợ chồng chất. Ngoài ra, thị trường này đã thuộc về Tây Âu. Các nhà kinh doanh Nhật nào dám mon men đến. Song đằng sau những lời thế thốt ấy của họ, thực tế đang diễn ra khác hẳn. Quả đúng là cho đến năm 1989, Đông Âu không hề thu hút các giới kinh doanh Nhật. Trao đổi mậu dịch của Nhật Bản với các nước này thật nhỏ nhoi: 379 triệu đô la (1,850 tỷ franc) với Ba Lan năm 1988, 270 triệu đô la (1,350 tỷ franc) với Hunggari, 250 triệu đô la (1,250 tỷ franc) với Đông Đức. Tổng cộng: 1,4 tỷ đô la (7 tỷ franc), gần bằng 0,3% trao đổi của Nhật Bản với thế giới, chưa bằng 1/10 các trao đổi của Nhật Bản với Trung Quốc.
    Biến động đột ngột ở Đông Âu đã khiến người Nhật hoàn toàn chưng hửng. Họ đã lơ là khu vực này của thế giới đến mức không một việc nghiên cứu nào của Nhật Bản dự kiến được diễn biến và tình hình mới ở đây về mặt kinh tế và tài chính. Khi Hunggari, Ba Lan rồi đến Tiệp Khắc và Đông Đức thay đổi thể chế chính trị thì Tây Âu, trước hết là Tây Đức đã nhanh chóng mở cửa về thương mại và công nghiệp, và lần này họ đã hành động gấp rút. Mặc dù điều này là hoàn toàn tự nhiên do ở kế cận nhưng nhất là do có một nền văn hóa chung giữa hai phần của lục địa châu Âu. Người Nhật lại vẫn chần chờ nghĩ rằng họ sẽ khó chen chân vào thị trường Đông Âu thông qua Tây Âu. Nhưng điều đó không hề ngăn cản họ hành động và hành động nhanh. Bởi lẽ, người Nhật cho rằng các nước Đông Âu có thể tạm thời là bàn đạp tiền tiêu bảo đảm cho xuất khẩu của Nhật Bản xâm nhập vào châu Âu trong tình hình châu Âu thống nhất năm 1992 tiến hành các biện pháp kinh tế chống lại Nhật Bản.
    Ngay từ tháng 11/1989, Nhật Bản công bố cho Ba Lan vay 150 triệu đô la (750 triệu franc) với lãi xuất thấp để giúp nước này ổn định nền kinh tế. Tháng 1/1990, Thủ tướng Toshiki Kaifu đi thăm chính thức Ba Lan và Hunggari, hai nước được xem là mạnh dạn nhất trên con đường cải tổ. Dịp này, Toshiki Kaifu hứa sẽ viện trợ kinh tế cho hai nước này gần hai tỷ đô la (10 tỷ franc). Để chinh phục trái tim, trước hết phải lo lót cái bụng. Nhật Bản thừa sức để tỏ ra hào phóng. Nhiều đoàn kinh doanh đã nối bước ngài thủ tướng. Vào tháng 3, chính phủ Nhật mời và chịu mọi chi phí cho một phái đoàn khoảng 100 viên chức kinh tế và nhà kinh doanh Ba Lan và Hunggari đến Nhật Bản để nghiên cứu "việc quản lý và kiểm tra sản xuất". Quả là một phương pháp tuyệt hảo để làm quen và kết thân với nhau. Vào tháng 4, chủ tịch ngân hàng công nghiệp Nhật Bản Kizaburo Ikeura dẫn đầu một phái đoàn kinh tế gồm 68 nhà kinh doanh và viên chức Nhật sang Ba Lan và Hunggari. Một chuyến viếng thăm quan trọng chưa hề có của Tokyo đến hai nước này. Đặt chân đến Varsovie, ông ta tuyên bố rằng các nhà công nghiệp của Nhật Bản có thể sẽ đến thị trường Ba Lan "nhanh hơn là như một số người vẫn nghĩ".
    Cũng vào tháng 4, Bộ trưởng Tài chánh Nhật, Ryutaro Hashimoto, đã công khai cho rằng Nhật Bản sẽ có một vai trò về mặt tài chánh trong tiến trình thống nhất nước Đức.
    "Một nước Đức thống nhất có nghĩa là tạo ra một thị trường mới khổng lồ trong thế giới tự do song cũng có nghĩa là cần đến vốn đầu tư (...) Tây Đức cũng như cộng đồng châu Âu không thể đáp ứng nổi nguồn vốn cần thiết đó. Bởi vậy, Nhật Bản sẽ nắm giữ vai trò ấy".
    Vào tháng 5/1990, đến lượt bộ trưởng ngoại giao Taro Nakayama đi thăm Tiệp Khắc và Nam Tư. Ông ta cũng loan báo là Nhật Bản sẽ trợ giúp hai nước này. Cũng trong tháng này, Bộ trưởng công nghiệp và thương mại quốc tế Kabun Muto tuyên bố tham gia một "kế hoạch Marshall" mới giúp Đông Âu trong khuôn khổ phối hợp giữa CEE, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Điều này quả chẳng khác nào "chó sói nhốt vào chuồng dê".
    Tuy nhiên, dấu hiệu rõ rệt nhất cho mối quan tâm mới về Đông Âu lại được ghi nhận từ giới tài chính Nhật. Ngày 5/7/1990, Ngân hàng Sumimoto thông báo mở văn phòng đại diện đầu tiên ở Berlin (Đông Đức). Ngày 16/7 Daiwa Securities, một trong bốn công ty mua bán chứng khoán hàng đầu của Nhật Bản, công bố hợp tác với các ngân hàng Hunggari để đến trước cuối năm 1990, thành lập một công ty tài chánh chứng khoán Nhật-Hunggari ở Budapest. Cở sở này đã mở cửa hoạt động và Daiwa kiểm soát trên 50%. Từ đó đến nay, sự hiện diện của Nhật Bản đã được tăng cường thêm với nhiều cơ sở khác tương tự. Đúng theo bài bản về thâm nhập thị trường, người Nhật đã đưa các ngân hàng của mình đến trước để chuẩn bị bãi đáp, và khi tình hình chín muồi thì đầu tư đổ vào. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1990, ngành công nghiệp Nhật Bản đã cho công bố dự án xây dựng một nhà máy hóa dầu ở Hunggari trị giá 1,7 tỷ yên (61,2 triệu franc) và một nhà máy xi măng ở Ba Lan trị giá ước tính là 200 triệu đô la (1 tỷ franc), môt nhà máy liên doanh sản xuất xe hơi ở Ba Lan cùng nhiều dự án lớn khác.
     
  15. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chú gấu Liên Xô luôn gây lo sợ

    Một trong những tiềm năng hợp tác lớn đối với Nhật Bản là ở Liên Xô. Đó là khai thác những miền đất mênh mông của Sibérie giàu tài nguyên mỏ, khí đốt và dầu hỏa. Đến lúc những điều kiện chính trị hội tụ đủ từ hai phía thì Nhật Bản sẽ là nước duy nhất cùng với Nam Triều Tiên có đủ khả năng lao mình vào cuộc chinh phục lớn lao này. Và một ngày nào đó khi những chân trời đầy hứa hẹn này trở nên rõ nét thì những người châu Âu chúng ta, những khán giả bất lực sẽ được chứng kiến một quang cảnh mê hồn là sự xuất hiện của một trung tâm quyền lực mới. Hàng trăm và hàng ngàn kỹ sư Nhật sẽ đặt chân đến vùng đất này, sử dụng nguồn lao động giá rẻ của Trung Quốc để khai thác vùng Sibérie và vũng Viễn Đông Liên Xô. Đó sẽ là một "mặt trận" mới về kinh tế, khoa học và kỹ thuật mà chúng ta sẽ chỉ là những khán giả bất lực.
    Ý tưởng này có lẽ không hề kỳ cục đến mức như nó có thể có. Vào tháng 1/1991, công ty thương mại Itoh của Nhật Bản và công ty Exxon của Mỹ đã cùng nhau khai thác khí thiên nhiên trên đảo Sakhaline với số vốn đầu tư ước tính hơn 5 tỷ đô la (25 tỷ franc).
    Nhiều trở ngại còn tồn tại trên con đường tiến đến bình thường hóa quan hệ giữa Nhật Bản vả Liên Xô. Trao đổi mậu dịch giữa hai nước hiện ở mức tồi tệ: gần 6 tỷ đô la (30 tỷ franc) năm 1989.
    Khó khăn chủ yếu đang cản trở tiến trình hai nước xích lại gần nhau là việc Liên Xô hiện đang chiếm giữ quần đảo Kouriles. Lợi dụng cuộc tháo chạy của Nhật Bản năm 1945, Liên Xô đã chiếm bốn hòn đảo nhỏ (Etorofu, Kunashiri, Shikotan và Habomai). Từ đó, hơn 45 năm đã qua và Tokyo đã từ chối ký kết mọi hiệp định hòa bình với Matxcơva chừng nào "phần đất phía Bắc" chưa được trả lại cho Nhật Bản. Vụ tranh chấp còn lâu mới được giải quyết. Quả vậy, do nằm gần các căn cứ quân sự trọng yếu của Liên Xô để bảo vệ bở biển Viễn Đông, những hòn đảo này có một tầm quan trọng lớn về chiến lược. Song dù sao, sự tan băng đã bắt đầu. Cựu bộ trưởng ngoại giao Liên Xô Édouard Chevardnadzé đã đến Nhật Bản tháng 9/1990 để chuẩn bị cho một chuyến viếng thăm "lịch sử" của tổng thống Mikhain Gorbatchev dự kiến vào năm 1991. Liên Xô đang ở vào một tình trạng kinh tế khó khăn đến mức rất cần sự giúp đỡ của Nhật Bản. Những người có đầu óc thực tiễn như Gorbatchev, nếu như còn nắm giữ được quyền lực trong những năm sắp đến, mà lại không chứng tỏ có một đầu óc cởi mở thì quả sẽ là một điều cực kỳ khó hiểu. Một số nhà ngoại giao đã cầm chắc Liên Xô sẽ trả lại cho Nhật Bản ít ra là một phần của các đảo Kouriles.
     
  16. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Châu Mỹ La tinh: Nhật Bản cẳm các con tốt

    Nhật Bản vẫn chưa có thế lực mạnh lắm ở châu Mỹ La tinh. Song ở đó họ đã có vài địa bàn lớn, đủ sức cho phép họ mở rộng ảnh hưởng của mình vào sân sau của Hoa Kỳ. Do đầu óc chống Mỹ mạnh mẽ, những nước này đã mở rộng tay đón Nhật Bản. Mở đầu là Braxin với món nợ của Nhật Bản lên đến gần 15 tỷ đô la (75 tỷ franc). Nhật Bản quan tâm sát sao đến các mỏ vàng của Braxin. Đầu năm 1990, một vụ xì căng đan nho nhỏ có làm mờ nhạt chút đỉnh hình ảnh của Nhật Bản. Theo báo chí Braxin, các xí nghiệp Nhật Bản đã đề nghị cấn một phần nợ của Braxin để đổi lấy nhượng quyền khai thác các mỏ vàng của vùng Amazone. Nói ngắn gọn, khi tung ra một vài tỷ đô la, Nhật Bản lại đã muốn chiếm giữ một trong những nguồn tài nguyên chính yếu của nước này và qua đó chi phối một phần quyền lực tối cao của Braxin. Khi nội vụ đổ bể, Nhật Bản đã phải lên tiếng cải chính mạnh mẽ cả ở Tokyo lẫn Braxin. Song dự luận vẫn nghi vấn mãi về giá trị của những lời cải chính này.
    Mêhico, một nước "lớn" khác của châu Mỹ La tinh, cũng đang thúc giục những thèm muốn của Nhật Bản. Thủ tướng Toshiki Kaifu đã đến thăm nước này vào tháng 9/1989, đáp lại tổng thống Mêhico Carlos Salinas de Gortari vốn không giấu sự ngưỡng mộ cá nhân của mình đối với nước Nhật, cũng đã đi thăm Nhật Bản vào tháng 6/1990. Ba người con của ông đang theo học tại một trường trung học ở Nhật Bản. Nhật Bản hiện là nước đầu tư đứng hàng thứ tư thế giới ở Mêhico và chính phủ Nhật đã tài trợ 500 triệu đô la(2,5 tỷ franc) cho một kế hoạch quy mô nhằm chống lại tình trạng ô nhiễm tại Mexico City.
    Một địa bàn đứng chân nữa cho Nhật Bản tại châu Mỹ La tinh, mặc dù còn mong manh, là Pêru sau khi Alberto Fujimori một người gốc Nhật, được bầu làm tổng thống nước này vào tháng 6/1990. Báo chí Nhật đã làm đậm sự kiện này bằng cách nhấn mạnh rằng thắng lợi của Fujimori thể hiện những "phẩm chất của người Nhật" là lao động cật lực, trung thực và có kỹ thuật. Một tháng sau đó, Alberto Fujimori, đứa con của những di dân Nhật, đã được cả nước Nhật đón tiếp nồng nhiệt như một người anh hùng dân tộc khi về thăm Kawachi, quê hương cha mẹ ông. Sau chuyến đi thăm của đứa con đất nước, Kawachi đã đặt tên cho một trong những đường phố của mình là "Đại lộ Pêru". Song, tại Pêru, rất nhiều người trong số 60.000 di dân gốc Nhật lại đang nhớ lại những cuộc bách hại mà họ là nạn nhân vào năm 1940, khi có tin đồn khắp nước là Nhật Bản đang xâm lăng Pêru. Mặt khác, Pêru đang phải đối đầu với tình trạng phá sản mà Nhật Bản thì lại không hề để tâm đến việc xóa nợ cho Pêru bởi sợ Pêru lại "chạy theo" kẻ khác. Cuối cùng Nhật Bản cũng quan tâm đến Chili, nơi họ đã công bố những khoản đầu tư mới trị giá 300 triệu đô la (1,5 tỷ franc) năm 1990.
     
  17. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Giữa sự thanh thản bị quấy nhiễu và sự lo sợ viễn vông

    Trừ phi có một cuộc bùng nổ lớn trên thế giới hoặc một đám cháy lớn thiêu rụi hết thị trường dầu hỏa, còn thì không nên chờ đợt sức tiêu thụ hàng Nhật ở nước ngoài cạn kiệt trong những năm sắp tới do hậu quả của cuộc khủng hoảng vùng vịnh, hoặc do sự ổn định đang diễn ra trên thị trường tài chánh của Nhật Bản. Bằng chứng cho sức sống bền bỉ của nền kinh tế Nhật là đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ra nước ngoài, theo ước tính, sẽ tăng lên 25% vào năm 1990 so với năm 1989 [55]. Vấn đề đặt ra là: liệu có cần thiết chống lại làn sóng đầu tư này không ? Và liệu có cần thiết tự bảo vệ không ? Cho dù vấn đề có nghiêm trọng thì cũng không có lý do gì để phải sợ hãi, càng không thể để trở nên hoảng loạn. Sự sợ hãi ở con người, thường là hậu quả của sự ngu dốt. Nó là nguồn gốc cho hận thù và phân biệt chủng tộc. "Nỗi sợ hãi người da vàng" không còn là một ý tưởng mới mẻ gì. Nó đang còn yên ngủ đâu đó trong tâm thức mọi người. Trước đây, người Hoa đã gợi lên những lo âu mơ hồ.
    Phải chăng là cần thay thế Trung Quốc bằng cái bóng ma của hiểm họa Nhật Bản chăng ? Sự hiểu biết đầy đủ về đầu tư của Nhật Bản sẽ cho phép người ta kiềm chế tốt hơn những phản xạ tự nhiên. Có người cho rằng đầu tư ở nước ngoài của Nhật Bản có một khía cạnh tích cực: Theo các ước tính của viện nghiên cứu đời sống Sumitomo [56] nếu ở mức ổn định, nguồn đầu tư này tất cho phép giảm bớt thặng dư mậu dịch của Nhật Bản hiện vào khoảng 58 tỷ đô la từ nay cho đến năm 1993. Nếu khoản đầu tư này tăng 10% mỗi năm thì mức sụt giảm trong thặng dư mậu dịch sẽ vào khoảng 76 tỷ đô la. Mặt khác, cũng có người cho rằng không nên vì quy mô làn sóng tư bản của Nhật ở nước ngoài hiện nay mà ta quên rằng đầu tư ở nước ngoài vẫn còn là một hiện tượng tương đối mới mẻ ở Nhật Bản. Mặc dù khoản đầu tư này có khá nhiều khía cạnh đe dọa, song nó vẫn chưa vượt qua mức có thể chịu đựng được. Trong nhiều nước công nghiệp hóa hàng đầu, tổng số đầu tư của Nhật Bản còn chưa bằng tổng số đầu tư của Mỹ hoặc Anh. Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần xem xét tình hình khong phải như một hình ảnh bất động ở một thời điểm nhất định mà là như một sự diễn tiến theo thời gian.
    Rõ ràng là con đường Nhật Bản đi theo có nguy cơ dẫn đến những khó khăn nghiêm trọng bởi vì mọi việc diễn ra quá nhanh. Chính vì thế như ở Anh, vào cuối năm 1987 Nhật Bản chỉ chiếm 3% tổng mức đầu tư. Từ lúc đó, hoàn cảnh đã thay đổi nhiều. Mặc dù Nhật Bản vẫn là nước đứng hàng thứ ba về đầu tư vào nước Anh sau Mỹ và Đức, song các con số lại cho thấy trong khoảng thời gian từ 1986-1988, số lượng các xí nghiệp Nhật Bản được thành lập trên đất Anh chiếm khoảng 10% trên tổng số. Đó không phải là quá mức nhưng quả cũng là nhiều. Mặt khác, ngay như nếu số lượng các xí nghiệp nước ngoài xây dựng tại Anh chỉ chiếm dưới 2% tổng số các xí nghiệp của Anh thì sản lượng của những xí nghiệp nước ngoài này lại tăng lên đến 18,8% tổng sản lượng và sử dụng đến 14% lực lượng ăn lương đông đảo của Anh [57]. Trong những tỷ lệ này, phần của Nhật Bản còn thấp.
    Ở Pháp, đầu tư của Nhật Bản còn ở dưới 10% so với tổng mức đầu tư nước ngoài. Song tính trên toàn châu Âu, số lượng các xí nghiệp Nhật Bản đã tăng lên đến 28,7% chỉ trong một năm với 529 xí nghiệp vào tháng 1/1990 so với 411 xí nghiệp vào một năm trước đó [58]. Nhật Bản đã mở 73 văn phòng khảo sát và dịch vụ về nghiên cứu phát triển. Trước mắt, sản lượng của Nhật Bản ở nước ngoài không vượt quá 5% tổng sản lượng của các xí nghiệp Nhật Bản so với 21% của Mỹ và 17% của Đức [59].
    Một số chuyên gia Nhật cho rằng khi sản lượng này đạt mức 20% thì các xí nghiệp lớn của Nhật Bản sẽ buộc phải "xóa bỏ quốc tịch" cũng giống như trường hợp các tập đoàn công nghiệp hàng đầu của Mỹ. Họ không có chọn lựa nào khác. Một số khác tỏ ra ngờ vực và không hình dung nổi liệu giới lãnh đạo các xí nghiệp hàng đầu của Nhật Bản có chịu thực sự chuyển giao vai trò quản lý chiến lược các đơn vị "phi địa phương hóa" này cho các giám đốc không phải là người Nhật không ? Việc các đơn vị "phi địa phương hóa" này có hội nhập thực sự vào những lợi ích địa phương như một công ty đa quốc gia thực thụ hay không thì đó là một vấn đề đang còn đánh cuộc. Đúng là các xí nghiệp Nhật Bản đang duy trì một sự độc lập ngày càng lớn và vẫn nhận được những chỉ dẫn từ ban lãnh đạo của mình ở Nhật Bản những muốn khuyến khích chúng cư xử như những "công dân tốt" tại đất khách quê người nhằm hội nhập thành công và êm thấm trong môi trường địa phương. Việc điều hành các xí nghiệp này còn có một giới hạn không thể vượt qua. Trong mọi trường hợp, trung tâm quyết định đối với tương lai của xí nghiệp vẫn là Tokyo.
    Thử đơn cử trường hợp hãng Sony. Tập đoàn công nghiệp hùng hậu này có lẽ là kẻ tiên phong sáng chói của Nhật Bản trong việc "phi địa phương hóa". Sony cho việc bổ nhiệm các giám đốc xí nghiệp địa phương không phải người Nhật là một vinh dự. Thường những người này lại được trợ giúp bởi các phó giám đốc người Nhật, vốn vẫn giữ quan hệ thường xuyên với trung tâm ở Nhật Bản. Trong các xí nghiệp "phi địa phương hóa" khác của Nhật Bản, các giám đốc nước ngoài chỉ là những người thừa hành và thậm chí không có quyền tham gia các cuộc họp của các giám đốc Nhật Bản. Và nếu như trong xí nghiệp, người Nhật có rêu rao gì về sự bình đẳng đi nữa thì rõ ràng là người Nhật với nhau vẫn "bình đẳng hơn người khác".
    Mối quan hệ của các xí nghiệp "phi địa phương hóa" này với trung tâm đầu não ở Nhật Bản khá chặt chẽ. Bằng chứng như trong chuyến thăm của một nhà báo nước ngoài tại một xí nghiệp sản xuất caméra của hãng Sony ở Alsace (Pháp) cũng đã tạo ra cả một diễn biến dây chuyền phức tạp đến mức cần phải có đại bản doanh ở Tokyo bật đèn xanh. Ban giám đốc xí nghiệp mặc dù đã tỏ ra rất lịch sự và nhiệt tình, vẫn phải điện xin phép ban lãnh đạo của Sony-France. Trung tâm này lập tức một mặt thu thập thông tin về cá nhân nhà báo, mặt khác điện về xin phép trung tâm đầu não ở Tokyo.
     
  18. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Hợp nhất và sở hữu: cơn băng hoại Nhật Bản

    Một thủ đoạn khác của Nhật Bản trong sử dụng đầu tư đang khiến các nhà công nghiệp phương Tây không ngừng lo sợ: các tập đoàn Nhật Bản có khuynh hướng mua cổ phần trong các xí nghiệp và công ty của nước sở tại. Phương thức này là nhân tố chủ yếu cho chiến lược mà Nhật Bản đang đeo đuổi nhằm tiến đến "quốc tế hóa" và "thế giới hóa". Người Nhật đã âm thầm bắt đầu công việc này cách đây không lâu. Các động tác quan trọng đầu tiên đã được thực hiện vào đầu những năm 80. Sau đó, do sự cạnh tranh gay gắt ở ngay tại nước Nhật, nhịp độ này đột ngột gia tăng vào cuối thập niên 80. Giờ đây, việc săn lùng các lĩnh vực kinh doanh béo bở đã trở thành một làn sóng đổ xô đi tìm kiếm các cơ hội làm ăn. Sự lộn xộn diễn ra như chưa từng thấy. Mỗi người ở Nhật Bản đều muốn chia phần cái bánh nếu như cái bánh vẫn còn. Ai đến trước thì sẽ được nhận. Và thế là hàng trăm công ty nước ngoài, đôi khi cả những công ty nổi tiếng đã dần dần trở thành tài sản của người Nhật. Sự hợp nhất và chiếm hữu bao gồm mọi lĩnh vực của hoạt động kinh tế: công nghiệp, ngân hàng, tín dụng, dịch vụ.
    Có nhiều cách hợp nhất và chiếm hữu. Cách đầu tiên là góp vốn vào một xí nghiệp. Ở đây mức góp vốn có thể là thiểu số (dưới 50%) hoặc đa số (hơn một nửa cố phần). Trong trường hợp thứ nhất, người mua không thể có vai trò quyết định trong xí nghiệp trừ phi người này liên kết với những cổ đông khác và chiếm đa số vốn. Để tránh gây ra tâm lý lo sợ và những phản ứng tẩy chay, thì trong bước đầu, các nhà đầu tư Nhật Bản thường bằng lòng ở mức thiểu số. Trong trường hợp thứ hai, người mua hơn một nửa các cổ phần đương nhiên sẽ là người chủ mới của xí nghiệp. Các quan điểm của ông ta sẽ chi phối tại hội đồng quản trị xí nghiệp. Mặt khác, việc ra giá cũng có thể tạo một phản ứng thân thiện hay ác cảm. Trong trường hợp đầu, người mua thảo luận với người chủ xí nghiệp về giá cả, các điều kiện mua bán và về tương lai của xí nghiệp. Còn trong trường hợp thứ hai là người mua nhảy xổ vào giành giật bằng cách nâng giá để loại bỏ sự cạnh tranh. Trong thời gian đầu, người Nhật thường ít dám mạo hiểm với cách ra giá dễ gây ác cảm.
    Vấn đề cần làm là lập một bản đồ chi tiết về mức góp vốn của các nhà đầu tư Nhật Bản trong nền kinh tế thế giới. Nó cho phép xác định chính xác con bạch tuộc Nhật Bản đã vươn những cái vòi của nó đến đâu. Song như ngay công việc này cũng khá phức tạp vì tình hình diễn biến nhanh chóng khi người Nhật đầu tư ồ ạt vào khắp nơi, nhất là lại có cả những trường hợp sở hữu bí mật không ai biết. Một trong những sở hữu đầu tiên của Nhật Bản ở Mỹ là vào năm 1984. Tập đoàn công nghiệp thép NKK của Nhật Bản (một trong số 5 tập đoàn hàng đầu thế giới) đã mua lại 50% tập đoàn luyện kim National Steel Corps của Mỹ do đang bị tổn thất nặng nề vào thời điểm ấy. Vụ chuyển nhượng trị giá 292 triệu đô la (1,460 tỷ franc). Người ta cho rằng người Nhật đã mua quá đắt. Nhưng từ ngày đó, National Steel Corps đạt được những món lợi nhuận kỷ lục nhờ việc giao thép cho các xí nghiệp xe hơi của Nhật Bản ở Mỹ. Cuộc làm ăn của NKK đã mở đường cho vài tập đoàn khác noi theo.
    Xem ra người Nhật không biết giữ kín đáo. Nhiều vụ mua bán sở hữu khác đã gây phản ứng sâu rộng hoặc tai tiếng rùm beng. Người ta không quên vụ Sony mua lại hãng phim Columbia, không đầy hai năm sau vụ mua lại hãng đĩa CBS/Records của Mỹ, Akio Morita, ông chủ đầy hấp dẫn có mái tóc bạc trắng của hãng Sony đã cả gan chiếm lĩnh một phần Hollywood, vốn biểu tượng cho giấc mơ Mỹ. Vụ mua bán này đã gây ra một làn sóng phẫn nộ trong dư luận ở Mỹ.
    Người Nhật không hề hài lòng về điều ấy bởi vì ngày 30/12/1990, trong khi "các con rùa Ninja" tràn ngập trên màn ảnh, các phòng chiếu phim ở Mỹ và châu Âu, thì hãng điện tử khổng lồ Matsushita đã bình thản mua lại hãng MCA, một tập đoàn sản xuất khác của Hollywood với cái giá kênh kiệu: 6,6 tỷ đô la. Vào thời điểm ấy, đó là một sở hữu lớn nhất mà trước đó chưa hề một hãng Nhật nào ở Mỹ thực hiện được. Cùng lúc, Matsushita cũng nắm độc quyền kinh doanh công viên quốc gia Yosemite thuộc California, chi nhánh của MCA và là một trong số những công viên nổi tiếng nhất của Mỹ. Cuộc tranh cãi lại bùng lên vào ngày 1/1/1991 khi Bộ trưởng Nội vụ Mỹ Manuel Lujan tuyên bố ông ta "có cảm giác là người Nhật đã mua cả nước Mỹ". Đố ai biết nổi cuộc đổ bộ ồ ạt vào Hollywood của Nhật dừng lại ở đâu ?
    Cho đến nay chưa có những thống kê chính thức và đầy đủ về những sở hữu của Nhật Bản ở nước ngoài. Những gì đã được công bố chỉ cho thấy một hình ảnh không đầy đủ về thực tế. Theo phân tích của một hãng môi giới của Nhật Bản là công ty buôn bán chứng khoán Yamachi thì số lượng các xí nghiệp được mua lại đã tăng gấp 5 lần trong bốn năm, từ 44 cơ sở năm 1984 tăng lên 284 cơ sở năm 1987. Năm 1988, con số này đã lên đến 299. Theo nhật báo kinh tế Nikou Keizai Shimbun, những con số này còn thua xa với thực tế: Các hãng Nhật đã mua lại 315 xí nghiệp nước ngoài chỉ nội trong năm 1988 với số tiền lên đến 1.938 tỷ yên (68, 4 tỷ franc) so với con số 288 mua lại năm 1987 với một số tiền chưa đến một nửa [60].
    Theo công ty buôn bán chứng khoán Yamachi việc tìm cách hợp nhất và sở hữu các xí nghiệp nước ngoài M&A (Mergers and Acquisitions) vẫn tiếp tục phát triển mạnh trong năm 1989 và 1990. Năm 1989, Nhật Bản đã mua lại 405 xí nghiệp nước ngoài. Cùng thời gian, các nước ngoài chỉ mua lại của Nhật Bản 15 xí nghiệp. Trong quý I/1990, Nhật Bản cũng đã mua lại 226 xí nghiệp nước ngoài trong khi các nước ngoài chỉ mua lại của Nhật Bản có 8 xí nghiệp. Hơn nữa, tỷ lệ góp vốn của phía các hãng Nhật theo cách đa số cũng tăng mạnh. Trong quý I/1990, tỷ lệ này là 51% so với 42% của cả năm 1989.
     
  19. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Đầu tiên là nước Mỹ

    Nước Mỹ là mục tiêu đầu tiên của người Nhật: 33 xí nghiệp của Mỹ đã thuộc sở hữu của các hãng Nhật trong năm 1984, 55 vào năm 1985, 126 vào năm 1986, 120 vào năm 1987, 132 vào năm 1988, 174 vào năm 1989 và 179 vào năm 1990. Năm 1990, lần đầu tiên vượt qua mặt Anh, Nhật Bản đã giành vị trí dẫn đầu thế giới trong việc mua lại các xí nghiệp của Mỹ. Tại châu Âu, Nhật Bản mua lại 12 xí nghiệp vào năm 1985 và 32 vào năm 1986. Năm 1988, các vụ mua bán xí nghiệp giữa Nhật Bản và châu Âu đã đạt đến con số kỷ lục là 5,8 tỷ đô la (29 tỷ franc). Năm 1989, con số này là 7 tỷ đô la (35 tỷ franc). Trong số 128 vụ mua bán thì 119 vụ là Nhật mua lại của châu Âu và chỉ có 9 vụ là châu Âu mua lại của Nhật [61]. Tại châu Âu, nước Anh là mục tiêu ưu tiên của các hãng Nhật với 47 vụ mua bán được tiến hành trong năm 1989, kế đến là Pháp (20), Đức (18), Tây Ban Nha (12) và Ý (5). Các mục tiêu chủ yếu là các cơ sở tài chính (18 vụ mua bán năm 1989), các khu vực giải trí và các ngành công nghiệp tiêu dùng (17), xe hơi (13) và điện tử (11).
     
  20. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Kế đến là Pháp

    Tại Pháp cũng đã diễn ra một vài vụ mua bán rùng beng. Vào tháng 11/1989, công ty bảo hiểm Nhật Bản (Nippon Life Insurance Co.), một công ty hàng đầu trong lĩnh vực bảo hiểm đã sở hữu 1/3 (32,71%) trung tâm thương mại nổi tiếng nhất của Paris nằm ở quận Một là Forum des Halles. Bên chuyển nhượng là Crédit Lyonnais đã bỏ túi 500 triệu franc khi bán 18.000 m2 trong số 55.000 m2 mặt bằng, nghĩa là với 28.000 franc/m2. Nippon Life sẽ nhận được 1/3 tiền cho thuê (nghĩa là hơn 40 triệu franc trên tỷ số 123 triệu vào năm 1988). Trung tâm thương mại này, mở cửa năm 1979, có 200 gian hàng, cửa hàng cùng nhà hàng và phòng chiếu phim. Forum des Halles là một trong những trung tâm thương mại sinh lợi lớn nhất của Pháp với doanh số bình quân 43.000 franc/m2 sử dụng vào năm 1988 so với doanh số bình quân cả nước và 25.000 franc.
    Theo một nguồn tin nhấn mạnh, ngay khi vụ mua bán kết thúc, tổng thống Francois Mitterrand đã bí mật có mặt tại chỗ để tự kiểm chứng chính xác cái gì đã rơi vào tay người Nhật. Song vụ mua bán này chỉ là một giọt nước trong cái đại dương các vụ chuyển nhượng hối hả. Các hãng Nhật đã xâm nhập vô số các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế Pháp. Các hãng này chiếm phần mỗi nơi một ít ở khắp các xí nghiệp của Pháp, trong khi hiếm thấy điều ngược lại. Bởi vậy, Nippon Life Insurance Co. đã có 3% cổ phần trong công ty xây dựng khổng lồ của Pháp là Bouygues và 5% trong câu lạc bộ Địa Trung Hải. Những ví dụ tương tự có thể kể đến vô tận bởi vì nguồn đầu tư của Nhật Bản đã luồn sâu vào bên trong của nền công nghiệp Pháp.
     

Share This Page