Nước Nhật Mua Cả Thế Giới - Piere Antoine Donnet

Discussion in 'Ebook' started by hontuyetlan, Aug 16, 2014.

  1. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Lời mở đầu

    Một buổi sáng, tổng thống Mỹ George Bush tỉnh giấc trong một dưỡng đường lộng lẫy ở California, sau ba năm bị hôn mê nặng. Chung quanh ông, các y, bác sĩ đang hối hả trước vẻ sững sờ của ông. Họ đang cố báo tin vui này sớm nhất cho những người thân của tổng thống. Song, ngay lập tức, nhân vật vô cùng đáng kính này hỏi han về tình hình kinh tế.
    - Những ba năm hôn mê sao ?. Điều cô vừa nói với tôi thật khủng khiếp quá !. Nhưng nào, hãy nói cho tôi rõ, nước ta ra sao rồi ? Nạn thất nghiệp đến đâu rồi ?
    Cô y tá cúi mình trên người bệnh, nhẹ nhàng đặt bàn tay nhỏ nhắn lên trán bệnh nhân rồi đưa mắt lo âu nhìn lên màn hình của những thiết bị theo dõi điện tử của Sony, Toshiba và Hitachi. Không nghi ngờ gì nữa: sức khỏe của tổng thống đã hồi phục. Cô nhanh nhẩu đáp: - Thất nghiệp ử ? Xong cả rồi, thưa ngài tổng thống. Chẳng còn gì nữa.
    - Sao ? Cái gì ? Thế nạn thâm thủng ngân sách thì sao ? Cô có biết gì về chuyện ấy không ?
    - Ồ, có chứ, thưa ngài tổng thống. Nạn thâm thủng ngân sách chỉ còn là một hồi ức khó chịu. Nó cũng không còn nữa rồi
    George Bush bối rối, cứ muốn hỏi thêm nữa. Rồi còn ngoại thương ? Cô không làm tôi tin là chúng ta đã trở lại bình thường rồi đấy chứ ?
    - Thật vậy mà, thưa ngày tổng thống. Chẳng còn vấn đề gì nữa. Hơn nữa, cán cân mậu dịch còn thặng dư nữa chứ.
    Vừa sửng sốt vừa hớn hở, tổng thống còn được biết là nạn lạm phát đã được ngăn chặn.
    - Được cả thế sao ? Nhưng mà tôi còn cứ ngờ ngợ. Thế một bao thuốc lá giá bao nhiêu ?
    - 100 yên, thưa ngài tổng thống ...
     
  2. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    PHẦN MỘT: TỪ BẠI TRẬN ĐẾN PHỤC THÙ

    I. Một nước Nhật tủi nhục
    Sự bất hạnh trả lại cho con người những phẩm hạnh mà sự sung túc lấy mất
    E. Delacroix, nhật ký.
    Ngày 15 tháng 8 năm 1945. Cái ngày ấy sẽ mãi mãi khắc ghi trong ký ức của mọi người dân Nhật.
    Lúc ấy là khoảng hơn bốn giờ chiều. Một cái tin sét đánh được những người nghe đài đem truyền từ nhà này sang nhà khác suốt cả nước: Nhật hoàng Hirohito đã chấp nhận đầu hàng. Chính Tenno, thiên tử, thiên hoàng, dòng dõi của nữ thần mặt trời Amaterasu... đã công bố điều đó với thần dân mình. Điều không thể hình dung đã diễn ra ! Điều không thể tưởng tượng nổi đã trở thành hiện thực ! Đế quốc Mặt trời mọc, vốn ấp ủ giấc mơ thống trị toàn châu Á, nay đành cúi đầu bại trận. Giọng của "Thiên hoàng" được cả nước Nhật tôn kính vang lên đĩnh đạc và nghiêm trọng:
    "Sau khi đã suy nghĩ chín chắn về những xu hướng chung của thế giới và về các điều kiện hiện nay của Đế chế chúng ta, Trẫm, với tư cách Hoàng đế, quyết định giải quyết tình hình hiện nay bằng một biện pháp không bình thường. Trẫm đã ban lệnh cho chính phủ công bố với bốn nước: Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc và Liên Xô rằng, Trẫm đã chấp nhận các lời lẽ trong bản tuyên bố của họ".
    Tất cả đều đã rõ. Chiến tranh đã kết thúc. Nước Nhật bất khả chiến bại đã phải cúi đầu. Lòng kiêu hãnh điên cuồng của một dân tộc đã bị bẻ gãy. Con sư tử đã phải quỳ gối. Đồng minh đã thắng. Khắp nơi, dân Nhật đã khóc ròng. Giới quân sự thì tuyệt đại đa số đã tuân theo lệnh của hoàng đế, nhưng hàng chục sĩ quan cao cấp đã mổ bụng tự sát. Thà harakiri còn hơn chịu nhục nhã. Thà chết còn hơn bị mất mặt.
    Bởi lẽ tuyên bố Postdam đã rành rành: Nước Nhật chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Đất nước sẽ bị quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng. Chính phủ sẽ bị phân rã và đặt dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ. Các tướng lĩnh quân sự có trách nhiệm về cuộc chiến sẽ bị đưa ra xét xử.
    Lệnh đầu hàng đã được ký ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên chiến hạm "Missouri" của Hoa Kỳ đậu trong cảng Tokyo. Tướng Mc Arthur là ông chủ mới của nước Nhật. Điều khủng khiếp nào đã buộc Nhật hoàng phải chấp nhận điều không thể chấp nhận ấy ? Để quân đội Thiên hoàng phải chịu đựng điều không thể chịu đựng được ? Và để mỗi người dân Nhật phải gánh chịu những điều không thể gánh chịu được ?
    Chúng ta sẽ không thể hiểu được nước Nhật ngày nay nếu không hồi tưởng lại những sự kiện lịch sử gần đây và không tìm lại những truyền thống của dân tộc này. Bời đáng lẽ có lần đất nước này đã từng mưu đồ thống trị cả phương Đông. Dựa trên một học thuyết nặng tính tôn giáo mang tên là "Đại thịnh vượng", Nhật Bản đã từng lôi kéo các quốc gia và dân tộc Đông Á dưới sự lãnh đạo của nước Nhật cùng nhau xây dựng một khối thịnh vượng chung. Chính thứ chủ nghĩa dân tộc cuồng tín đó đã dẫn quân đội Thiên hoàng đi đến những nơi xa xôi nhất của châu Á cùng lá cờ Mặt trời mọc. Thậm chí có thể có những tướng lĩnh tự huyễn hoặc với ước mơ nước Nhật thống trị toàn thế giới. Thứ chủ nghĩa phiêu lưu ấy không phải hình thành từ hư vô, bởi có thể tìm thấy điều ấy trong rất nhiều cổ thư như Hakko Ichiu từng đề cập đến "sứ mệnh thiêng liêng" của dân tộc Nhật là "đặt tám phương hoàn vũ dưới cùng một mái nhà" để dựng lên sự hài hòa và phồn thịnh. Sự kích động mang tính tôn giáo ấy được dựa vào học thuyết shinkoku-shugi, theo đó Nhật Bản được nâng lên thành một "thiên quốc" cao hơn tất cả các nước khác và tổ tiên của người Nhật được nâng lên thành "dân tộc khai thiên lập địa" mà minh chủ là Tenno, Thiên hoàng.
     
  3. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Một dân tộc bị huyễn hoặc bởi giới quân sự

    Năm 1941, chính sách ngu dân điên rồ của một số tướng lĩnh quân sự cực đoan đã phỉnh phờ cả một dân tộc. Sự điên rồ và lừa bịp ấy đã kết thúc bằng một thảm họa cho dân tộc và một sự nhục nhã đến mức có lẽ người Nhật sẽ vĩnh viễn không còn dám mơ tưởng gì đến phiêu lưu quân sự nữa. Chính từ nỗi nhục nhã ê chề ấy, đã nảy sinh một khát vọng phục thù không thể cưỡng được mà 45 năm sau khi bại trận, đã ngày một trở nên rõ ràng hơn qua công cuộc tái thiết nước Nhật và qua ảnh hưởng không ngừng lớn mạnh của nó trên sân khấu quốc tế.
    Nước Nhật đã như thế nào trước khi bước vào cuộc chiến tranh ?
    Từ ngày 27 tháng 9 năm 1940, ngày ký Hiệp ước thành lập phe Trục, nước Nhật đã trở thành đồng minh của nước Đức Hitler và nước Ý phát xít. Nhưng, từ lâu, chính phủ Mỹ đã không hề hoài nghi chút nào về khuynh hướng hiếu chiến của chính quyền Nhật Bản. Chính quyền này, cũng như quốc hội của nó, đã dần dần chuyển vào tay giới quân sự cánh hữu theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhất. Nhật hoàng quả có ý định ngăn cấm đất nước lao vào cuộc chiến tranh. Nhưng theo lời đồn, người ta đã giấu nhẹm không cho ông biết gì về thảm họa đang bao trùm lên nước mình. Một nhân chứng may mắn đã biết rõ những năm tháng cầm quyền của phe quân sự: đó là Robert Guillain, lúc ấy là thông tín viên của hãng thông tấn Havas, sau này trở thành hãng thông tấn AFP. Đến Tokyo năm 1938, ông đã theo dõi sát sự chuyển hướng đến chiến tranh của Nhật Bản. Cuộc tiến quân của Nhật Bản sang Trung Hoa, theo lời ông nói với tôi, đã phân hóa sâu sắc giới cầm quyền Nhật Bản: một cánh chủ trương sự hòa nhập hòa bình của Nhật Bản vào cuộc hòa nhạc của các dân tộc và một cánh khác, theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đối kháng điên cuồng với phương Tây. Nhưng cánh ôn hòa đã không theo kịp cánh kia. Về phần nhân dân Nhật Bản, họ không hề hay biết gì về những hành động ghê tởm do quân đội Thiên hoàng gây ra. Là nạn nhân của trò lừa bịp của các tướng lĩnh, họ đã bị lợi dụng bởi lối tuyên truyền quân sự khá thô thiển.
    "Mãi sau này, người dân mới hiểu được tất cả. Những chiến thắng quân sự chỉ là dịp để diễu hành ồn ào, để bốc đồng say sưa. Tất cả đều đã được sắp đặt. Việc chiếm Nam Kinh (Trung Hoa) chẳng qua cũng là dịp để rước đèn. Việc chiếm Hàng Châu cũng vậy. Nhờ những thước phim thời sự ta đã có thể xem lại những hình ảnh của chiến dịch xâm lược Trung Hoa. Ta có thể thấy những chú lính Nhật lùn hung tợn đang tiến vào một nước Trung Hoa già cỗi - rất già cỗi - rồi đập phá tan hoang. Thế nhưng chẳng ai biết đến những hành động tàn bạo ấy kể cả những tội ác ở Nam Kinh. [1] Tất cả những điều ấy, dân chúng Nhật chỉ mới thật sự biết đến từ năm 1968".
    Việc ký hiệp ước với Đức đã đánh dấu sự chuyển hướng triệt để của chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản. Nó đồng thời cũng chứng tỏ sự bất lực của hoàng thân Kokoe Fuminaro (thủ tướng Nhật lúc bấy giờ) trước những yêu sách ngày một quá quắt của giới quân sự.
    "Tất nhiên, bản thân ông ta cũng có một phần trách nhiệm trong cuộc chiến Trung Hoa. Chính ông đã gây chiến với Trung Hoa. Cũng chính ông, sau đó, đã ký hiệp ước với Đức... Và, sau hôm ấy, người ta đã đọc thấy trên tờ Japan Times một mẩu tin bất ngờ: "Thủ tướng Kokoe đã ký kết một hiệp ước lịch sử với nước Đức và, sau lễ ký, ông đã khóc". Ông chống lại. Phải ! Ông đã không bằng lòng với chiến dịch Trung Hoa. Ông luôn gây phiền hà cho đa số, với cái quốc hội đã thối nát và bị lũng đoạn trầm trọng bởi giới quân sự. Tất nhiên là rất thông minh, nhưng khi gặp những chuyện rầy rà, bao giờ ông cũng thúc thủ và lui bước... sau khoảng bồn hoặc năm ngày".
    Quả cũng có rất nhiều nhà trí thức Nhật Bản chống lại thứ chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản ở châu Á. Nhưng nước Nhật đã lún sâu vào con đường phát xít đến mức tuyệt đại đa số người Nhật, hệt như 75 triệu chú cừu non ngoan ngoãn, cứ cung cúc đi theo.
    "Đó là một trạng thái mê muội chung trong toàn dân: Hãy ngừng suy nghĩ ! Hãy ghi tên mình vào danh sách những người yêu nước và thức thời".
    Guillain kể lại.
    Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tuyên bố tham gia chiến tranh thế giới lần thứ hai bằng một hành động ngoạn mục: tấn công Trân châu cảng, một chiến thắng rực rỡ đã được ăn mừng ầm ĩ ở Tokyo. Bị tấn công bất ngờ, hàng chục tàu chiến lừng danh nhất của hạm đội Mỹ đã bị dìm xuống biển sâu và một số lượng lớn máy bay Mỹ bị phá hủy. Toàn bộ diễn tiến của cuộc tấn công chỉ kéo dài trong vài giờ dưới tầm lửa phối hợp tuyệt vời của các máy bay dội bom và tàu chiến Nhật. Kể từ ngày ấy và nhiều tháng sau đó, được khích lệ bởi thành công ban đầu, nước Nhật đã xông lên từ cuộc chinh phục này đến cuộc chinh phục khác, từ chiến thắng này đến chiến thắng khác.
    Thật ra, chủ nghĩa quân phiệt cũng chẳng có gì mới mẻ. Từ cuối thế kỷ trước, nước Nhật đã trải qua 25 năm chiến tranh. Hòn đảo Đài Loan thuộc Trung Hoa đã từng rơi vào quỹ đạo của Nhật Bản trong cuộc viễn chinh năm 1874. Nước Nhật đã tiến hành cuộc chiến đầu tiên với Trung Hoa từ năm 1894 đến năm 1895. Sau đó là đến cuộc chiến tranh với nước Nga từ năm 1904 đến 1905. Từ năm 1918 đến 1925, Sibérie lại trở thành sân khấu cho một cuộc xung đột mới với Nhật Bản. Triều Tiên cũng đã bị đặt dưới ách thống trị của Nhật Bản. Kể từ năm 1927, Nhật Bản lại tấn công Trung Hoa một lần nữa: chiếm đóng Giang Đông và Mãn Châu Lý thuộc phần lãnh địa của Trung Hoa. Kể từ năm 1937, Nhật Bản đã chiếm đóng toàn bộ phần phía Đông của Trung Hoa. Quân đội Nhật đã là thủ phạm của những vụ tàn sát kinh tởm. Nhưng, đối với chính quyền Tokyo, cuộc chiến ấy vẫn cứ là một cuộc thánh chiến, một cuộc chiến tranh giải phóng. Bởi lẽ, theo Tokyo, nước Nhật có sứ mệnh cao cả là cứu rỗi châu Á khỏi nanh vuốt của đế quốc Mỹ và Anh. Cũng chính những khẩu hiệu ấy lại được đem ra sử dụng cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Cuộc tấn công Trân Châu cảng không chỉ đơn thuần là một lời tuyên chiến với Hoa Kỳ và nước Anh. Nó còn đánh dấu sự mở đầu của một cuộc tiến công toàn diện trên tất cả các mặt trận ở Thái Bình Dương.
     
  4. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Giấc mộng bá chủ: "Đại thịnh vượng"

    Từ sau năm 1941, quân đội Nhật đã mở rộng quyền lực của Thiên hoàng đến tận những vùng đất xa xăm của châu Á. Người Nhật giải thích với dân chúng sở tại rằng họ đến để đánh đuổi "bọn thực dân, đế quốc" da trắng. Vương quốc Mặt trời mọc đã có một vài thành tích. Tại Thượng Hải, cho mãi đến năm 1937, công viên ở bờ sông Hoàng Phố đã bị cấm không cho "chó và người Trung Hoa" bước vào. Sau khi chiếm thành phố này, người Nhật đã buộc người da trắng phải cúi đầu mỗi khi đi ngang qua công viên. Ngay từ đầu thế kỷ, chiến thắng quân sự của Nhật Bản trước người Nga đã có những tác động tâm lý dây chuyền lớn suốt châu Á. Lần đầu tiên, lịch sử đã chứng minh rằng người châu Á có thể đánh bại một dân tộc da trắng. Nước Nhật, vốn rất tự hào về điều đó, đã không bỏ lỡ dịp nhắc lại với những nước láng giềng. Song liệu có phải nhờ vậy mà nước Nhật nghiễm nhiên được giao sứ mệnh thay cho toàn châu Á ?
    Cuộc tấn công quân sự của Nhật Bản mở đầu tại Hồng Kông, một thuộc địa của nước Anh. Hòn đảo này đã rơi vào tay của Nhật Bản trước sức tấn công của hạm đội hoàng gia. Sau đó lần lượt đến Philippines, Guam, Singapour, Bắc Kỳ và Nam Kỳ của Việt Nam. Quân đội Nhật hoàng tiếp tục viễn chinh sang Malaixia, xâm nhập vào Miến Điện trong vịnh Xiêm La, vào Sumatra ở Indonesia và đảo Célèbes ở Bornéo. Là cờ Nhật "Hinomaru" với biểu tưởng mặt trời mọc, một hình ảnh được tôn thờ trên quần đảo Nhật Bản đã phấp phới bay trên các hòn đảo ở Thái Bình Dương, nơi được xây dựng thành các căn cứ của hải quân hoàng gia. Nước Nhật muốn bành trướng thế lực của mình lên cả vùng Đại Á, từ Sibérie cho đến tận Ấn Độ. Nhường châu Âu cho Đức Quốc xã, vương quốc Mặt trời mọc chiếm lĩnh toàn bộ Đại Đông Á.
    Ngay tại nước Nhật, việc dồn sức cho chiến tranh cũng diễn ra quyết liệt. Để nước Nhật có thể đảm đương vai trò "ngọn đuốc phương Đông", trẻ em Nhật đã bị động viên từ năm 12 tuổi, hàng trăm ngàn phụ nữ Nhật đã phải lao động trong các xưởng vũ khí. Rất nhiều phụ nữ đã phải chui rúc trong các hầm mỏ. Sinh viên Nhật không bị động viên đến xưởng máy thì phải ra chiến trường và nhiều người trở thành phi công. Tokyo và nhiều thành phố khác chìm ngập trong thiếu thốn và nạn chợ đen. Chế độ phân phối đã phải áp dụng cho các loại nhu yếu phẩm hàng đầu. Trong cuộc chiến Thái Bình Dương và cho đến khi bại trận, công nghiệp Nhật Bản đã chế tạo thành công 15 tàu sân bay, 1115 tàu ngầm, nhiều tuần dương hạm, nhiều thiết giáp hạm, nhiều tàu vét mìn và nhiều loại tàu chiến khác cùng hàng chục nghìn máy bay tiêm kích, máy bay dội bom và các loại máy bay khác..., trong đó loại chiến đấu cơ nổi tiếng "zero" hoàn toàn do các kỹ sư của các phân xưởng Mitsubishi chế tạo. Khi các thất bại quân sự diễn ra liên tiếp và khi viễn cảnh thua trận ngày một rõ thì những cuộc xuất kích của các máy bay này trở thành những cuộc ra đi không trở về. Các máy bay Zero, do các kamikaze ("Thần phong") điều khiển đã trở thành biết bao quả bom có người lái, lao thẳng xuống các mục tiêu của Hoa Kỳ, như một lần hy sinh cuối cùng cho Tổ quốc.
    Sau những giây phút hân hoan ban đầu trước các thắng lợi đầu tiên, nước Nhật thời chiến đã sớm mất đi tất cả niềm vui sống. Các địa điểm vui chơi đều bị đóng cửa, thậm chí cả các quán nước cũng bị hạn chế nghiêm ngặt. Người ngoại quốc bị xem như mật thám và luôn bị kiểm soát chặt chẽ. Nhưng, bất chấp lòng tự hào và bầu không khí hăng hái xung quanh, chủ nghĩa anh hùng không phải lúc nào cũng hiện diện. Guillain hồi tưởng lại:
    "Các thanh niên đã biến sắc khi nhận được lệnh động viên. Họ ghê sợ điều đó. Họ sợ nó một cách khủng khiếp. Gia đình thường làm mọi thứ lễ hội trong ngày đưa tiễn họ ở sân ga. Người Nhật được dạy bảo là phải khước từ mọi tập quán Tây phương. Phụ nữ không được để đùi trần và không được đeo nữ trang. Khắp thành phố mọc lên nhan nhản các tổ chức phụ nữ chuyên tố giác và bắt bớ. Các tổ chức này cũng làm cả nhiệm vụ thu thập các chữ ký nhằm động viên tinh thần các chiến sĩ đã lên đường. Có cái gọi là "chiếc đai một ngàn nút" được đặt trên một tấm vải lớn thường mang biểu tượng vòng tròn đỏ của mặt trời mọc. Tất cả các thiếu nữ đi ngang qua đều được yêu cầu dừng lại trong năm phút để thêu tên của mình lên đó. Sau đó, các chiếc đai này sẽ được gửi đến cho các đơn vị ngoài mặt trận".
    Sau cái chết của Hirohito năm 1988, một câu hỏi bỗng cộm lên gây nhức nhối cho những người Nhật và những nạn nhân còn sống sót trong cuộc chiến: Nhật hoàng đã đóng vai trò cụ thể gì trong cuộc chiến và trong việc chuẩn bị chiến tranh ? Có đúng Ngài là một bạo chúa, một tội phạm chiến tranh như một số người đã mô tả không ? Bao quanh bởi một vài trung thần có toàn quyền định đoạt, phải chăng Hirohito đã cố tình đẩy đất nước đến sự cùng kiệt chỉ với mục đích duy nhất là áp đặt sự thống trị của mình trên toàn nhân loại ? Chúng tôi không có ý định bào chữa cho những điều không thể bào chữa được. Nhưng, khi lùi lại phân tích giai đoạn đầy đau thương ấy và dựa trên các tư liệu đang dần dần được đưa ra công khai, các nhà quan sát nghiêm túc về Nhật Bản đều cho rằng Nhật hoàng, ngược lại, đã có kiềm chế bớt những nhà quân sự bốc đồng mỗi khi có dịp. Nhưng do bị cô lập bởi những người có thể cung cấp các thông tin thực tế và cảnh giác về các nguy cơ đang đe dọa, "Thiên tử" đã không kiểm soát được cả quân đội lẫn chính nội các của Ngài, mà khi ấy chỉ còn là một chính thể bù nhìn.
    "Giới quân phiệt năng nổ đã nắm tất cả - Guillain nói - Hiện nay đang có một luận điểm lệch lạc, thuần túy bịa đặt về mưu đồ của một nhóm nhỏ các nhân vật chóp bu và đầy tham vọng do hoàng đế cầm đầu. Không ! hoàng đế chưa bao giờ là như vậy. Ông luôn tìm đủ mọi cách để được thông tin về những chuyện diễn ra xung quanh. Về thực chất, đó là một nhà vua yêu nước, là người gìn giữ các truyền thống văn hóa của Nhật Bản với ước muốn trở thành một ông vua lập hiến. Trong nhiều năm trời, các bộ trưởng được dân bầu ra đã đến với ông và nói rằng: "Tâu bệ hạ ! Vì sự an toàn của đất nước, xin Người hãy làm như thế này, thế kia". Đôi khi, Ông đã đặt ra các câu hỏi. Mà một khi hoàng đế đã đặt câu hỏi thì điều đó có nghĩa là Ông không bằng lòng. Nói cho cùng, Ông đã ghi dấu ấn như một con người yêu nước: không một ai tạo điều kiện cho Ông để có thể làm khác hơn thế".
     
  5. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Các cỗ pháo ngoại bang phá toang những cửa khẩu Nhật Bản

    Trên thực tế, không một ai có thể giải thích được các bước phiêu lưu đen tối của Nhật Bản từ sau những năm 30 chỉ bằng một vài luận điểm nặng tính chỉ trích. Để hiểu, cần phải trở lại một chút với lịch sử. Từ thế kỷ thứ VII, Nhật Bản đã mang dáng dấp một xã hội tinh tế được cai trị bằng luật pháp. Bộ luật Taiho đã có hiệu lực trong một thời gian rất dài: từ nawmg 701 đến năm 1885. Biểu tượng cho sự thống nhất nhà nước và sự trường cửu của dân tộc Nhật là một "Thiên hoàng", người có uy quyền tuyệt đối trên các thần dân của mình. Theo mô hình Trung Hoa và do ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo, nước Nhật đã có cả một hệ thống các trường trung học và đại học chuyên đào tạo các quan chức nhà nước và quan lại địa phương. Từ đó, hệt như một con sò, quần đảo Nhật Bản đã đóng chặt cửa với thế giới bên ngoài trong suốt nhiều thế kỷ. Từ thế kỷ thứ XIX, nước Nhật đã bước vào giai đoạn cải cách rất thức thời. Bởi vì sự cô lập khiến cho nước Nhật lạc hậu khủng khiếp so với thế giới Tây phương đến mức, vào năm 1543, xứ sở Mặt trời mọc đã phải hoảng hốt trước một khẩu đại bác trên con tàu Bồ Đào Nha. Sau đó, vào năm 1853, nước Nhật đã lại một lần khiếp nhược khi các cỗ pháo Hoa Kỳ và Anh phá toang các cửa khẩu để đòi Nhật Bản mở cửa giao thương với thế giới bên ngoài.
    Năm 1859, ba cửa khẩu đã được mở ra cho Anh, Pháp, Hà Lan, Nga và Hoa Kỳ. Nhưng đó cũng chính là lúc chấm dứt chế độ tướng quân Tokugawa vốn ngự trị ở Nhật từ hơn 250 năm trước, và là lễ đăng quang cho thời đại Minh trị. Trước mỗi đe dọa của ngoại bang dọc theo bờ biển, Nhật Bản đứng trước một sự lựa chọn khó khăn. Ở Tokyo, người ta đã sớm hiểu rằng chống chọi với sức mạnh quân sự và kỹ thuật của phương Tây là điều vô ích. Điều đó, không nghi ngờ gì nữa, sẽ dứt khoát dẫn đến thảm họa. Dưới áp lực của ngoại bang, cả hai hoàng đế Nhật và Trung Hoa đều đã phải đi đến cùng một quyết định: mở cửa. Nhưng giữa Trung Hoa và Nhật Bản lại có một sự khác biệt căn bản: nước Trung Hoa với trật tự ngàn xưa bị phá vỡ vĩnh viễn bởi sự xuất hiện của người Tây phương, đã không bao giờ biết thích nghi với thế giới bên ngoài. Nhật Bản, ngược lại, đã quyết định từ bỏ thái độ cố chấp và tìm cách khai thác những tinh túy của phương Tây. Để giữ lấy bản sắc dân tộc và tâm hồn tổ quốc, Minh Tri Thiên Hoàng đã cho rằng cần giới hạn tối đa sự hiện diện của ngoại bang trên đất Nhật. Để làm được điều đó, nước Nhật cần phải hùng mạnh để xóa bỏ sự cách biệt về quân sự, khoa học và kỹ thuật so với các nước ngoại bang. Cần phải làm sao để nước Nhật cũng hùng cường như họ và có đủ sức để chống lại họ. Nhưng, để thực hiện được điều này, xã hội Nhật Bản cần phải được cách tân và thu thập mọi kiến thức tốt nhất của phương Tây.
    Lập tức, Minh Trị quyết định bãi bỏ chế độ đẳng cấp, nền tảng của chế độ phong kiến. Các võ sĩ đạo không còn chủ để mà phục vụ. Họ trở thành những cán bộ mới của nước Nhật hiện đại: giáo sư, luật sư, viên chức cao cấp, nhà quản lý. Nhiều phái đoàn Nhật Bản được cử sang châu Âu và Mỹ để nghiên cứu tinh hoa của các nên văn minh này. Các phái đoàn ấy đã trở về với những kiến thức quý báu, đã được chọn lọc, phân tích, so sánh. Nước Nhật không sao chép. Nó chỉ thu nhận, tiêu hóa, biến đổi và thích ứng với những gì phù hợp với mình. Nhật Bản đã mô phỏng hệ thống giáo dục của Pháp, mô hình hải quân Hoàng gia Anh. Một bộ luật dân sự mới được soạn thảo chủ yếu từ bộ luật của Đức và luật hình sự của Pháp. Nhật Bản đã nhanh chóng thiết lập một thứ chủ nghĩa dân tộc không phục vụ cho cá nhân như ở phương Tây, mà phục vụ cho dân tộc và ở một chừng mực nhất định, cho tập thể. Đó không phải là chủ nghĩa tự do, mà đúng hơn, là chủ nghĩa gia trưởng độc quyền. Với một nền quân chủ lập hiến và một bộ máy nhà nước hiệu quả, nước Nhật đã bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ.
    Bài học của Nhật Bản là cần biết chọn lựa những công cụ cụ thể của một nhà nước Tây phương hiện đại mà không hề làm biến dạng tinh thần Nhật Bản. Phương châm này, cho đến tận ngày nay, vẫn giữ nguyên giá trị. Nước Nhật, cường quốc kinh tế, chàng khổng lồ về tài chính, nhà vô địch về kỹ thuật..., bên trong lớp sơn Tây phương, vẫn tiếp tục là một quốc gia với những truyền thống dân tộc mạnh mẽ. Chớ nên lầm lẫn: nước Nhật vẫn luôn xa lạ với thứ văn minh của Mac Donald. Bởi lẽ, bất chấp những xu hướng mới của giới trẻ, tâm hồn Nhật Bản vẫn hầu như không thay đổi trong đa số người Nhật.
    Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi vốn đã dẫn nước Nhật đến sự bại trận phải chăng là một định mệnh của lịch sử ? Từ lâu trong lịch sử, nước Nhật đã nuôi dưỡng một thứ mặc cảm tự ti trước để quốc Trung Hoa rộng lớn và hùng mạnh. Mặc cảm ấy đã tạo ra một thứ phản xả tự về và cô lập, mang đậm màu sắc dân tộc chủ nghĩa. Vậy phải chăng cú sốc phương Tây vào cuối thế kỷ XIX đã gây ra những phản ứng tương tự trong giới lãnh đạo ở Tokyo ? Sáu mươi năm sau thời Minh Trị và thời kỳ mở đầu xây dựng một nước Nhật hiện đại, sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc lại đã mở đường cho những người chủ trương đóng cửa (sakoku) giành thắng lợi. Những người này tán thành việc tống cổ bọn "man di" ra khỏi đất nước và đối nghịch hẳn với khuynh hướng ngược lại là mở cửa (kaikoku) và quốc tế hóa nước Nhật. Năm 1872, Hinomaru lá cờ Nhật Bản khi được đưa ra, vốn được dân chúng ngưỡng mộ như một biểu tượng của mặt trời mọc lại như tỏa sáng trên toàn thế giới. Hình tượng Hinomaru đã cuốn hút người Nhật như một thứ bùa mê và hướng họ tới những xu hướng dân tộc và bài ngoại dữ dội nhất. Năm 1888, bài quốc ca đã được đưa vào Hiến pháp. Đó là bài Kimigayo, "Triều đại của hoàng đế". Năm 1890, nước Nhật đã chọn lễ Kigensetsu làm ngày quốc khánh. Lễ này kỷ niệm việc lên ngôi của Jimmu, vị hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản, vào năm 660 trước công nguyên. Đó là những biểu tượng. Còn việc lên ngôi của hoàng đế Showa (Hirohito) vào năm 1926 đã đánh dấu việc chuyển hướng nhanh chóng của nước Nhật sang chủ nghĩa quân phiệt và phát xít, vốn đã đẩy đất nước xuống vực thẳm.
    Đầu năm 1945, đế quốc bại trận này đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng. Hơn một trăm thành phố chỉ còn là những đống tro tàn. Từ mùa xuân, Tokyo đã bị dội bom liên tục. Ngày 9 tháng 3, chỉ trong một đêm, nhiều quận đã bị san bằng. Trong vài giờ, 700.000 quả bom lửa đã được các máy bay B-29 của Hoa Kỳ ném xuống Tokyo. Dân chúng đã hoài công vô ích để dập tắt ngọn lửa; chỉ một quả bom thôi cũng đủ biến các ngôi nhà gỗ Nhật Bản thành than trong vài phút. Ngày 10 tháng 3 lại đến phiên Nagoya. Ngày 14, Osaka. Ngày 17, Kobe. Ngày 18, các máy bay dội bom của Hoa Kỳ đã tiến công cụm đảo Kyushu và Shikoku. Ngày 14 tháng 5 là trận dội bom thứ hai xuống Nagoya. Ngày 24 tháng 5, Tokyo lại rực cháy và tiếp tục đỏ lửa suốt hai đêm 25 và 26. Trong ba ngày, 8.500 tấn bom Mỹ dội xuống thành phố này. Ngày 28 tháng 5, đến phiên thành phố cảng Yokohama rực lửa. Giới quân sự Nhật Bản thay vì chịu khuất phục, lại đã động viên dân chúng vào một cuộc tự sát tập thể.
    Ngày 6 tháng 8, lúc 8 giờ 16 phút, cuộc chiến leo thang đến đỉnh cao của sự kinh hoàng: Hiroshima đã bị xóa sổ trên bản đồ chỉ trong vài giây. "Little Boy", một quả bom uranium 235 đã được ném xuống thành phố 320.000 dân này từ một chiếc máy bay B-29. Trong một tích tắc sau đó, cả thành phố đã biến thành tro bụi. Ba phút sau, trái nấm nguyên tử đã dâng cao lên bầu trời đến 10.000 mét. Ngày 9 tháng 8, lúc 11 giờ 02 phút, "Fat Man" - một quả bom plutonium 22 kilotonne - đã tàn phá cả thành phố Nagasaki. Sau này, Tom Ferebee, người đã nhấn nút thả trái bom xuống Hiroshima đã tuyên bố: "Đó là một việc phải làm và người ta đã làm". Theo tổng kết chính thức mới đây của chính phủ Nhật, [2] hai quả bom này đã giết chết cả thảy 295.956 người. 38.000 người đã bị giết ngay tại chỗ. Những người khác, những hibakusha (nạn nhân của bom), đã bị chết sau đó do những căn bệnh ghê rợn. Khoảng 10.000 người trong số các hibakusha nhiều năm sau đó, đã chết dần chết mòn bởi chứng ung thư và các căn bệnh khác gây ra do nhiễm phóng xạ. Vào lúc đó, tổng thống Mỹ Harry Truman và chính phủ của ông ta đã bào chữa cho việc sử dụng bom nguyên tử bằng cách nói rằng các quả bom này đã cứu mạng sống cho từ 500.000 đến 1 triệu người Mỹ nhờ buộc được Nhật Bản phải đầu hàng ngày tức khắc. Hiệp định ngừng bắn được ký ngày 15 tháng 8.
     
  6. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Bản tống kết chiến tranh

    Tổng kết của 44 tháng chiến tranh thật khủng khiếp: Nhật Bản thừa nhận có 657.000 binh lính bị thiệt mạng. Hoa Kỳ ước tính con số thực thụ lên đến 1,2 triệu quân nhân và 600.000 thường dân bị chết. Nếu tính số người chết trong toàn bộ hoạt động quân sự của Nhật ở châu Á từ đầu những năm 30 thì chỉ riêng Trung Hoa đã có nhiều triệu người bị chết. Chính phủ Trung Hoa ước tính có khoảng 20 triệu người chết (cả quân nhân lẫn thường dân) do cuộc xâm lược của Nhật Bản ở nước này. Con số này đã bị Tokyo bác bỏ. Dù sao, bà Takako Doi, chủ tịch Đảng Xã hội Nhật Bản cũng đã khẳng định vào tháng 5 năm 1990, rằng cuộc chiến Thái Bình Dương đã làm chết hơn 20 triệu người. [3]
    Phải mất nhiều năm sau đó, dân chúng Nhật mới hiểu được đầy đủ những nỗi đau khổ mà đất nước họ đã gây ra cho châu Á. Ngay hiện nay, đề tài này vẫn tiếp tục là điều cấm kỵ và các thông tin về những năm tháng khủng khiếp ấy rất khó thu thập. Cuộc xám hối tập thể của dân tộc Nhật Bản vẫn còn chưa kết thúc. Những con quỷ vẫn chưa hoàn toàn bị trừ khử. Những chấn động đã để lại các dấu vết không thể tẩy xóa nổi. Những vết thương lại đột ngột bị tấy lên vào tháng 8 năm 1990, nhân việc thảo luận về việc gửi quân Nhật sang Trung Đông để cùng các nước trong liên quân buộc Irak rút khỏi Koweit. Sau chiến tranh, nước Nhật đã cam kết vĩnh viễn không sử dụng vũ lực để giải quyết các xung đột quốc tế. Phải chăng người Nhật đã xét lại lời thế của mình ? Ngày 6 tháng 11 năm 1990, một cuộc thăm dò dư luận đã cho thấy một đa số áp đảo đến 78 % người Nhật chống lại việc sửa đổi Hiến pháp và cho phép gửi các lực lượng "phòng vệ" ra nước ngoài.
    "Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã gây ra những tai họa thảm khốc cho biết bao quốc gia đến mức chúng tôi không bao giờ có thể xin lỗi họ cho đủ. Sau những thể nghiệm như thế, chúng ta vĩnh viễn không thể tự cho phép hướng mũi súng của mình ra nước ngoài, dù là để chống lại người Irak. [4] Đó là tuyên bố của Michiko Goto, ứng cử viên Đảng Xã hội tại Quốc hội Nhật Bản.
    Năm 1945, các thành phố Nhật Bản là cả một cảnh tượng bi thảm.
    "Ông hỏi tôi về tình trạng của Tokyo ư ? Để tôi kể cho ông nghe chuyện này - Guillain nói - Tòa nhà của Sứ quán Pháp đã bị thiêu rụi. Tòa nhà này cũng tương đối nhỏ thôi, thế mà một mình nó đã phải chịu những 35 quả bom ! Nó bốc cháy và chỉ còn lại một căn hầm dưới đất, nơi trú ẩn của một nhân viên làm bếp của chúng tôi. Ông ta đã ở đó với hàng tá đồ hộp dự trữ. Từ nhà ga Ueno, tôi đã phải đi bộ một quãng đường năm cây số mới đến được sứ quán. Quận Azabu nằm trên một ngọn đồi, nơi đặt sứ quán và nơi trước đây đã mọc lên những ngôi nhà san sát nằm dọc những khu phố hẹp. Khi đến đó, giữa các ngôi nhà đổ nát và ngay trên con đường mà tôi từng đi lại hàng ngàn lần... tôi đã lạc đường. Không một thứ gì còn đứng vững ở đây cả. Một lần khác, tôi đã đi đến Yokohama. Để đến đó, tôi phải băng qua suốt Tokyo từ Bắc đến Nam. Để đi như thế, tôi đã phải mất hai giờ trên xe Jeep và suốt quãng thời gian đó tôi thấy không còn một ngôi nhà nào cả. Tất cả, tuyệt đối tất cả, đều bình địa".
    Về những lợi ích mà Nhật Bản tự cho rằng đã mang lại cho khối "Đại thịnh vượng" ở châu Á, quả cũng phải nói rằng, trong một vài trường hợp, các viên chức Tokyo đã có thực hiện một số thay đổi. Họ thậm chí còn thiết lập cả một số cơ sở cho công nghiệp hóa. Cho nên, ở Đài Loan, số người Hoa lớn tuổi thường không mấy gay gắt khi hồi tưởng lại thời kỳ thống trị của Nhật Bản. Sự thống trị này đã đem lại trật tự cho chính quyền sở tại và Đài Loan đã được hưởng những lợi lộc của một chính sách phát triển kinh tế nói chung là tích cực. Ở đây, người Nhật đã không tiến hành những hoạt động khủng bố như ở Trung Hoa lục địa. Tuy nhiên, ở những nơi khác, ký ức về hành động vơ vét của quân đội Nhật vẫn còn rất đậm nét. Dần dần, những chuyện ấy cũng đã được dân chúng Nhật biến đến. Các phóng viên Nhật Bản muốn phá vỡ bức tường im lặng, đã lên đường săn lùng các tài liệu và nhân chứng cho một giai đoạn lịch sử mà rõ ràng chính quyền Tokyo cố tình bưng bít.
    Một nữ đạo diễn trẻ người Nhật, Noriko Sekiguchi, đã dành năm năm sống ở Papua-Tân Guinée để tìm hiểu sự thật về một trong những khía cạnh chưa được biết đến trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Noriko Sekiguchi đã công bố một tài liệu mang tên "Những cô gái thời chiến" mà, ngay khi vừa được tung ra vào tháng 4 năm 1990 đã gây nên một cuộc bút chiến gay gắt. Cô đã thuật lại câu chuyện về hàng chục ngàn thiếu nữ Triều Tiên và Nhật Bản bị bắt cóc và cưỡng ép đến những ngôi nhà đóng kín, được canh gác kỹ lưỡng bởi những người lính Nhật. Các cô gái bị bắt đi đều hãy còn trinh để tránh bị bệnh hoa liễu. Họ được đưa đến từ các tàu chiến và bị đối xử như một món hàng thô thiển. Các cô gái Nhật được dành cho sĩ quan, còn các cô gái Triều Tiên thì được giao cho binh lính. Trước khi chết ít lâu, một bác sĩ từng chứng kiến những cảnh tượng này đã thuật lại cho Noriko Sekiguchi biết khách sạn Cosmopolitan của Rabaul ở Papua-Tân Guinée đã bị biến thành một nhà chứa lớn nhất của Nhật Bản ở Nam - Thái Bình Dương. Giá một lần đi khách là hai yên. Mỗi quân nhân Nhật đều có một ca-pốt, bên trên có ghi dòng chữ "Hãy chọc thủng những phòng tuyến đầu tiên". Mỗi khách chơi đều không được ở quá ba mươi phút với gái điếm, và buộc phải đi ra ngay sau khi xuất tinh nếu không muốn bị "kỷ luật quân sự".
    Đối với Triều Tiên, cuộc đô hộ của Nhật Bản đã để lại những vết thương vô cùng sâu sắc. Trong những lần đến Nam và Bắc Triều Tiên, trái tim tôi đã se lại trước cảnh tượng một nền văn minh với bao kỳ công tuyệt đẹp đã bị phá hủy bởi quân đội Nhật hoàng trong thời gian từ 1910 - 1945. Trong toàn bộ lịch sử của mình, Triều Tiên chưa bao giờ biết đến một tai họa khủng khiếp đến như vậy. Trong giai đoạn đó, hơn hai triệu người Triều Tiên đã bị bắt sang Nhật làm khổ sai trong các phân xưởng để đóng góp cho tiềm lực chiến tranh của Nhật Bản. Do đó, có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết những người Triều Tiên ở lứa tuổi có thể nhớ được, đều nuôi trong lòng một sự nghi ngờ sâu sắc, nếu không muốn nói là một thái độ thù địch công khai, đối với Nhật Bản ?
    Ngày 15 tháng 8 năm 1945, thời đại của chủ nghĩa đế quốc quân phiệt Nhật đã chấm dứt. Đế chế Nhật Bản đã phải từ bỏ những dự định điên rồ của mình. Liệu có cần nhắc lại những vết nhục nhã sâu sắc của người Nhật ?
    "Một cảm giác thua cuộc hoàn toàn, thất bại tuyệt đối đã bao trùm lên nước Nhật - Guillain nhấn mạnh - Nhưng cảm giác ấy cũng lại đi kèm với cả những tiếng thở dài thoát nạn: chiến tranh đã chấm dứt. Đã chấm dứt những cuộc không tập khủng khiếp và chấm dứt luôn những đạo quân chết tiệt. Cuối cùng, người Nhật đã hiểu rằng mình đã bị lừa dối. Và họ đã lâm vào cảnh nghèo khổ và đói kém trong một thời gian dài."
     
  7. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    II. Tái thiết và cất cánh kinh tế (1945 - 1965)

    Đưa có cho kẻ đói, ngay tức khắc hắn sẽ nuốt chửng con cá. Nhưng nếu dạy hắn ta câu cá, hắn ta sẽ có cá ăn suốt đời.
    Ngạn ngữ Trung Hoa
     
  8. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    1945 - 1955: Những vết thương đóng sẹo

    Hôm sau ngày đầu hàng, cả Tokyo đều lao vào cứu lấy những gì còn sót lại trong các ngôi nhà đổ nát. Họ bới tung các đống gạch vụn để tìm kiếm một vài vật dụng cá nhân còn có thể dùng được. Một người đàn ông đã lôi ra được một cái chậu bằng sứ, mà do một phép màu nào đó, hãy còn nguyên vẹn. Một bà lão đã tìm ra một vài thứ dụng cụ làm bếp và trân trọng xiết chặt lấy chúng trong bàn tay. Khi gặp một người Mỹ, trên đường, người Nhật đều cúi đầu len lét. Những lá cờ Nhật Bản đã hoàn toàn biến mất. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước Nhật bị chiếm đóng. Các hạm đội của Đồng minh đã vào bến Yokosuka, trong khi các đơn vị không lực Hoa Kỳ thì đóng tại Tokyo. Dân chúng nhật đều rút cả về cố thủ trong nhà. Họ nghĩ rằng thời kỳ trả thù đã đến và chờ đợi những hành động tàn bạo từ phía quân đội Hoa Kỳ. Những nỗi tuyệt vọng và xấu hổ đã không kéo dài. Rất nhanh chóng, dân tộc Nhật đã trở thành một tấm gương mẫu mực cho cả thế giới. Nước Nhật đã thua cuộc trong chiến tranh. Đúng ! Nhưng nó đã thắng trong hòa bình.
    Sau những cuộc tranh luận kéo dài ở Washington, Hoa Kỳ đã quyết định không truất ngôi vua của Nhật hoàng. Những người chủ trương truất ngôi đã cho rằng hoàng đế là trái tim của một huyền thoại vốn tự xem mình là Thiên hoàng, là hiện thân của chủng tộc thượng đẳng Nhật Bản, thậm chí là chỗ dựa cho chính sách đế quốc, sô-vanh và quân phiệt của Nhật. Những người chủ trương giữ lại ngôi báu thì lại đề cao khuynh hướng dân chủ và tự do từ đầu thời đại Minh Trị, rồi suốt giai đoạn Taisho cho đến những năm 1910 - 1920. Những người này nhấn mạnh rằng nếu muốn lập nên ở Nhật Bản một nền dân chủ thực sự thì hoàng đế sẽ giữ một vai trò ổn định hóa vô cùng cần thiết. Mặt khác, việc truất ngôi và đem xét xử hoàng đế rất có thể sẽ biến nước Nhật thành bất trị. Những lập luận này đã thắng. Hoàng đế chỉ bị buộc (và ông đã thực hiện điều đó rất sốt sắng, có lẽ vì đã quá mừng rỡ là không bị đưa ra xét xử thô bạo như mọt tên tội phạm chiến tranh) phải từ bỏ các đặc quyền "thần linh" của mình. Hầu hết các quyền lực chính trị của ông đều bị tước bỏ. Ông chỉ còn là một biểu tượng sống và hợp pháp của dân tộc, cũng như sự thống nhất của Nhật Bản.
    Ngày 1 tháng Giêng năm 1946, hơn bốn tháng sau khi nước Nhật tuyên bố đầu hàng, hoàng đế Hirohito đã công khai từ bỏ quy chế thần linh của mình trong một chỉ dụ mệnh danh là "Tuyên ngôn về nhân loại". Ông đã tuyên bố như sau:
    "Các mối liên hệ giữa Trẫm và thần dân của Trẫm luôn đặt trên sự tin tưởng lẫn nhau và lòng tôn kính. Chúng không đặt căn bản trên các truyền thuyết và huyền thoại. Chúng không dựa trên các quan điểm sai lạc cho rằng hoàng đế là thần linh và chủng tộc Nhật Bản là một chủng tộc thượng đẳng và được thượng đế giao cho sứ mệnh thống trị thế giới".
    Lần gặp gỡ đầu tiên giữa tướng Mac Arthur - chỉ huy tối cao các lực lượng đồng mình ở Nhật Bản - và Nhật hoàng Hirohito không diễn ra ở cung điện theo nghi lễ của hoàng triều mà lại diễn ra thật đơn giản ở đại sứ quán Hoa Kỳ. Mac Arthur chỉ mặc áo sơ mi và không đeo cà vạt.
    Tư lệnh tối cao của Hoa Kỳ ở Tokyo bắt đầu công việc bằng cách xóa bỏ quân đội Nhật. Hai triệu người đã bị giải giáp và gửi về quê quán. Ngoài ra, sáu triệu quân nhân và dân sự từ các vùng được giải phóng nằm dưới ách thống trị của Nhật trong khối "Đại thịnh vượng" cũng được đưa về nước. 28 tướng lĩnh và viên chức chính trị của Nhật Bản đã bị đưa ra xét xử. Bảy người trong số này trong đó có tướng Tojo Hideki - người được xem như một trong các nhân vật chịu trách nhiệm chính của chủ nghĩa quân phiệt - đã bị kết án treo cổ. Hàng ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính khác cũng bị đưa ra xét xử vì đã gây ra những tội ác chiến tranh.
    Từ tháng 11 năm 1945, tướng Mac Arthur đã ra lệnh cho chính phủ Nhật Bản phải thực hiện năm cải cách cơ bản: Tự do nghiệp đoàn, tự do bầu cử cho phụ nữ, thiết lập hệ thống trường học tự do, bãi bỏ chế độ chuyên chế và dân chủ hóa hệ thống kinh tế.
    Một hiến pháp mới, ban hành ít lâu sau đó, đã buộc Nhật Bản phải vĩnh viễn không được gây chiến. Nước Nhật không được quyền có quân đội riêng mà chỉ được có các "lực lượng phòng vệ". Theo yêu cầu dứt khoát của Mac Arthur, điều đó đã được ghi trong điều IX của Hiến pháp: "Nhân dân Nhật vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh xét như là quyền tối thượng của đất nước". Mặt khác, theo lệnh của Mac Arthur, các zaibatsu (tập đoàn công nghiệp và tài chính lớn nằm trong tay một nhóm các đại gia đình) đã bị dẹp bỏ. Mặc dù, sau này, một số zaibatsu đã khôi phục lại được, nhưng quyết định này, khi ấy, quả đã là một cú đánh lên nền công nghiệp Nhật Bản. Những cải cách này đã được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Chính phủ Nhật, với một sự ngoan ngoãn mẫu mực, đã không gây bất cứ trở ngại nào cho việc thi hành các cải cách, trong khi dân chúng Nhật ngày càng cảm thấy có một nền tự do mà họ chưa từng bao giờ dám nghĩ đến. Một hòa ước với hầu hết các nước trong khối Đồng minh cuối cùng cũng đã được kí kết vào tháng 9 năm 1951. Để chính thức chấm dứt thái độ thù địch, hiệp ước SanFrancisco đã trao trả cho Nhật Bản chủ quyền của mình, nhưng đồng thời cũng khẳng định Nhật Bản phải trả lại tất cả các lãnh thổ đã chiếm đóng từ năm 1895. Quan hệ ngoại giao đã được nối lại giữa Tokyo và 48 quốc gia. Nước Nhật đã dần dần giành lại vị trí của mình trọng cộng động quốc tế. Chính trong bầu không khí lắng dịu và đây hi vọng ấy mà người Nhật đã bắt tay lao động.
    Không chậm trễ, họ dốc toàn tâm toàn lực cho công cuộc tái thiết đất nước. Trong công việc này, quả thực họ đã nhận được những trợ giúp khổng lồ của Hoa Kỳ và, chẳng bao lâu sau, Nhật Bản đã nhanh chóng xóa sạch mọi vết tích chiến tranh... bắt đầu từ Tokyo.
    "Với một sự nhanh chóng đáng kinh ngạc, dân chúng Tokyo đã dọn sạch thành phố". Thật là một điều không thể tưởng tượng nổi. Trong vòng 15 ngày, họ đã lập được trật tự. Đó là "tác phẩm" của dân chúng, vì quân đội đã trở về các doanh trại. Người Mỹ chỉ đổ bộ đến sau đó. Rất nhanh, trong bức tranh màu xám xịt, màu bao phủ mọi cảnh sắc Tokyo lúc bấy giờ, đã bắt đầu xuất hiện màu trắng của vỏ bào từ những ngôi nhà gỗ mới cất. Những ngôi nhà này lúc ấy mới chỉ là những cái chòi. Và cũng chính từ những cái chòi này đã được xây lại tức tốc ngay trên những con hẻm trước kia, mà không theo một quy hoạch nào. Phải nói rằng, trong khi vội vã, người ta đã hoàn toàn làm hỏng mất những vẻ dáng cũ của Tokyo" - Guillain kể lại.
    Ngay sau khi các lực lượng đồng minh hoàn tất việc phi quân sự hóa hoàn toàn nước Nhật vào cuối mùa thu năm 1945, một phái đoàn điều tra của Mỹ, do Edwin Pauley và Owen Lattimore dẫn đầu, đã đến Tokyo để nghiên cứu cách thức tốt nhất để Nhật Bản đền bù những thiệt hại do những hành động bạo ngược của mình cho các nước châu Á. Phái đoàn đã tuyên bố không úp mở với người Nhật là không thể có chuyện cho phép họ rót những khoản bồi thường dưới dạng các thành phẩm, vì cách bồi thường này sẽ tạo điều kiện cho nước Nhật tăng cường khả năng công nghiệp của mình. Theo ý phái đoàn này, nước Nhật phải thực hiện bồi thường dưới dạng các phân xưởng được tháo gỡ ra, vận chuyển và lắp đặt lại ở các quốc gia, nơi mà quân đội Nhật hoàng đã thực hiện những tội ác man rợ nhất. Một danh sách 1.000 phân xưởng đã được chuẩn bị sẵn sàng. Người ta cho rằng nước Nhật sẽ không bao giờ có thể ngoi lên được đến một mức sống cao hơn các nước châu Á khác. Nếu như 1.000 phân xưởng ấy thực sự được tháo gỡ và chuyên chở ra khỏi nước Nhật thì, hầu như chắc chắn, Nhật Bản sẽ gặp những trở ngại to lớn trong việc tái thiết nền kinh tế. Nhưng, rất nhanh ở Washington, người ta hiểu rằng việc tháo gỡ các phân xưởng là một công việc nhiêu khê và ít có lợi. Cuối cùng, rất ít thiết bị đã rời khỏi nước Nhật. Vài năm sau đó, khi bước vào cuộc chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã thay đổi hoàn toàn các chính sách của mình. Vấn đề "trừng phạt" từ đó mãi mãi không còn được đặt ra cho nước Nhật nữa.
    Tháng 5 năm 1946, nội các đầu tiên được thành lập bởi Shigeru Yoshida, người được mệnh danh là "Adenauer [5] của Nhật Bản". Ít lâu sau, chính phủ đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế đầu tiên. Kế hoạch này rất khiêm tốn và hầu như chỉ bao gồm công nghiệp than đá. Mục tiêu hàng đầu được đặt ra cho năm 1947 là sản xuất 30 triệu tấn than, một khối lượng tối thiểu vừa đủ cho hoạt động của các phân xưởng còn có khả năng hoạt động, cùng một phần thặng dư khiêm tốn là ba triệu tấn để khởi động lại các phân xưởng. Nước Nhật đã quá kiệt quệ để có thể hi vọng có một sự phát triển nhảy vọt. Đối với các nhà kinh tế Nhật Bản, việc ưu tiên cho than đá là giai đoạn đầu có tính chất sống còn để thực hiện các mục tiêu phát triển bước đầu. Bất chấp những khó khăn vật chất vô cùng nghiêm trọng, năm 1947, Nhật Bản đã công bố mức sản xuất thực tế là 29.3 triệu tấn than. Thế là mục tiêu đã đạt được. Từ nay, việc phục hồi nền công nghiệp nặng đã có thể bắt đầu. Và sự phục hồi đó đã trở thành hiện thực: sản xuất công nghiệp của Nhật Bản đã tăng 22% vào năm 1947 và 46% vào năm 1948.
     
  9. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Nước Nhật xây dựng lại các thành phố

    Trong vòng chưa đầy ba năm, Tokyo với 90% diện tích bị san bằng bởi bom đạn, đã tìm lại dáng dấp một đô thị con người. Tokyo vẫn còn là một thành phố được chắp vá bằng gỗ tạp, nhưng ở đây, tất cả mọi thứ đều hoạt động. Tàu hỏa bắt đầu chạy lại. Xe buýt cũng vậy. Hồi chiến tranh, phương tiện di chuyển phổ biến nhất là tàu hỏa hoặc xe đạp. Từ đầu những năm 50, hãng Hino Nhật Bản đã sản xuất một dạng xe ba bánh nhỏ mà mỗi khi di chuyển, nó lại phát ra những tiếng nổ lạch bạch như cái tên "Bata bata" của nó với một làn khói mù mịt. Ít lâu sau, cũng hãng Hino này đã sản xuất ra những chiếc xe hơi thực thụ đầu tiên của thời đại hậu chiến, bắt chước kiểu xe 4 CV Renault. Điện báo và các dịch vụ bưu chính cũng được khôi phục. Ưu tiên hàng đầu: trường học được mở lại trong một thời gian kỷ lục. Thậm chí người ta đã thấy đây đó xuất hiện những khung thép đầu tiên của các ngôi nhà cao tầng. Các viên chức chính phủ Nhật, bao gồm cả bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đã được đưa về sống ở các lán bằng gỗ. Dần dần, Tokyo đã khoác dáng dấp một thành phố với những ngôi nhà kiểu "hộp giày" nối đuôi nhau thành hàng với các gian buôn bán ở tầng trệt và chỗ ở trên tầng hai. Tất cả được bao bọc bởi một mạng lưới chằng chịt những dây điện lủng lẳng trên các cột điện bằng gỗ hoặc bê tông. Chỉ vài năm sau khi chạm đến đáy vực thẳm, Tokyo đã thể hiện rõ ý muốn dẫn đầu trong số các thủ đô của châu Á.
    Dù vậy, sự nghèo đói hãy còn rất lâu mới có thể biến mất. Rất lâu. Các năm 1946 và 1947, Mac Arthur đã tổ chức chuyển đến Nhật Bản nhiều toa hàng tiếp tế. Dân chúng Nhật thường xuyên bị đói. Người ta ước tính rằng, trong các thành phố, mỗi người dân chỉ ăn một khẩu phần khoảng 1.000 calori mỗi ngày. Lúc mới đầu hàng, nước Nhật có 22 triệu người không nhà ở. 10 triệu người Nhật tức khoảng 1/3 số người thuộc lứa tuổi lao động bị thất nghiệp. Những người bị ảnh hưởng nhiều nhất là những người Nhật bị trục xuất về nước.
    Tôi đã phỏng vấn một linh mục Pháp, ông Marcel Le Dorze. Ông này đến Nhật vào năm 1952. Tôi đến gặp ông tại trung tâm truyền bá công giáo Shinsei Kaikan ở quận Shinomachi, giữa thủ đô Tokyo.
    "Năm 1952, nước Nhật chìm ngập trong sự đói nghèo. Tôi không nói là khốn cùng nhưng nghèo khổ thì chắc chắn. Dân thành thị trông đúng là thảm hải. Các ngôi nhà chọc trời mà chúng ta thấy ngày nay ở Tokyo thật ra mới chỉ được bắt đầu xuất hiện từ những năm 60. Khắp nơi, trong thành phố chỉ thấy những đường là đường... những con đường sụt lở. Năm 1952, ở Tokyo không có lấy một con đường trải nhựa. Đường sắt đã hoạt động. Nó không được tiện nghi lắm nhưng dù sao cũng là hoạt động. Thành phố không có xe hơi. Vài chiếc xe duy nhất đều là xe Mỹ. Những chiếc xe hơi Nhật Bản đầu tiên được sản xuất khoảng năm 1958. Dân Nhật tuyệt đối không biết đến nghỉ lễ. Trong ngôn ngữ Nhật không có từ này. Ngày chủ nhật, mọi người vẫn làm việc. Mỗi người làm việc cả bảy ngày mỗi tuần và, thông thường, một cường độ lao động như vậy cũng không đủ nuôi gia đình. Những người Thiên chúa giáo tự cho phép mình thói quen xa xỉ là đi lễ mỗi chủ nhật, một ngoại lệ trong xã hội Nhật Bản. Ngày lao động ở đây dài vô tận. Thời điểm kết thúc ngày lao động thường không cụ thể. Chỉ bắt đầu từ năm 1959 người ta mới dần dần áp dụng chế độ mỗi tháng nghỉ hai chủ nhật (chủ nhật thứ hai và thứ tư hoặc chủ nhật thứ nhất và thứ ba). Về phần trẻ em, mặc dù thời buổi khó khăn là vậy, chúng vẫn không phải lao động và phải cắp sách đến trường cho đến năm 15 hoặc 16 tuổi".
    Mọi người có nghĩ đến việc tái thiết đất nước, hiến dâng mình và hi sinh vì đất nước không ?
    "Theo tôi thì cuộc sống khi ấy quá khó khăn đến mức mọi người chỉ lo trước hết cho sự tồn tại của bản thân. Đó là một cuộc đấu tranh sinh tồn. Sự thiếu dinh dưỡng thể hiện rất rõ rệt trên đường phố. Rất ít người trông còn có sức sống. Bệnh lao phổi hoành hành khắp nơi, cũng từa tựa như bệnh ung thư ngày nay vậy. Người ta sống trong những ngôi nhà bằng gỗ. Đồ đạc không có. Các bức tường đều làm bằng ván, sàn bằng đất nện, nhà chỉ có một phòng duy nhất. Chiếu được sử dụng như một loại "gường xếp", được đem cất vào một góc cho rộng chỗ, khi cả gia đình thức dậy. Đến cơm bữa, người ta lôi ra sử dụng những chiếc bàn xếp. Buổi tối, mọi người nằm ngủ cạnh nhau trong cùng một phỏng. Thường, mỗi gia đình chỉ sống trong một căn phòng cỡ bốn mét vuông. Bản thân tôi sống ở một khu phố bình dân thuộc quận Ueno của Tokyo. Quanh nhà tôi có vô số những quầy sạp của tiểu thương và thợ thủ công. Chính ở nơi đây, tôi đã sống từ lúc mới đến. Trong công viên Ueno, các đường hầm nhà ga đã bị biến thành nơi tá túc. Đó là nơi trú ngụ của những người lính giải ngũ trở về từ Đài Loan, Triều Tiên, Mãn Châu hoặc từ các nước khác ở châu Á. Họ là những người "chân đen" của Nhật Bản. Họ có đến hàng ngàn người sống trong quận, ngay cạnh nơi tôi cư ngụ".
    Trong sự bần cùng ấy, dù sao cũng có một nét đặc điểm trái ngược với các nước khác ở châu Á: rất ít ăn mày. Tất nhiên cũng có những người đi quyên tiền từ các chùa chiền, nhà thờ, giáo hội. Nhưng ăn xin thì hầu như không. Những cảnh cướp bóc cũng là những hiện tượng hiếm hoi. Tuy nhiên, chợ đen thì lại nhan nhản khắp nơi. Đối với nhiều người, đó là phương tiện duy nhất đề tồn tại. Một bộ phận lớn dân Tokyo là những nông dân mới kéo đến sống ở thủ đô. Rất hiếm những gia đình có gốc gác ở Tokyo từ nhiều thế hệ. Người ta cũng thường xuống dưới quê để mua rau quả và đem bán lại ở thành phố. Thuốc men, nhất là Pesnicilline và các loại kháng sinh, rất hiếm và đắt như vàng. Nhiều người bệnh, do không có điều kiện mua thuốc, đã đành phải chịu chết. Không hề tồn tại bất kỳ hệ thống bảo hiểm nào cho người bệnh và khi người chủ gia đình lâm bệnh thì sẽ là cả một thảm họa cho gia đình. Nhiều gia đình trưởng giả phá sản không muốn chen chân vào thị trường chợ đen đành phải rơi vào cảnh bần cùng và đôi khi phải chết đói. Nạn mãi dâm tái xuất hiện ì xèo. Nhưng đó không phải là một thứ mãi dâm thanh lịch và kín đáo của các geishas ở Tokyo thời tiền chiến mà là các nhà chứa thuộc hạng thô thiển nhất, nơi da thịt, với giá mạt hạng nhan nhản trong các ngôi nhà và đặc biệt để mua vui cho quân đội Hoa Kỳ.
     
  10. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Liên minh với Hoa Kỳ: một sự đổi mới

    Có hai sự kiện đã giúp Nhật Bản cơ hội để thanh toán dứt điểm sự đình đốn: cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950 và thế vận hội Olympic năm 1964. Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã khiến nước Nhật, từ thân phận một kẻ thù bị đánh bại nhục nhã, được nâng lên thành một đồng minh ưu ái của Hoa Kỳ. Tại sao vậy ? Cuộc chiến Triều Tiên kéo dài ba năm trời. Một lần nữa, nó đẩy Hoa Kỳ vào một cuộc chiến trên sân khấu Á châu. Cuộc xung đột này mang đầy tính chất hủy diệt. Hàng chục ngàn binh sĩ Hoa Kỳ đã phải bỏ mạng. Là người láng giềng của bán đảo Triều Tiên và của nước Trung Hoa cộng sản vốn chiến đấu sát cánh với quân đội Bắc Triều Tiên, nước Nhật nghiễm nhiên trở nên vô cùng cần thiết đối với Hoa Kỳ để làm hậu phương cho quân đội mình. Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô khi ấy cũng đang chuyển sang gay gắt. Với vai trò là một hậu cứ khổng lồ cho quân đội Mỹ, quần đảo Nhật Bản bỗng trở nên một tiền đồn chiến lược vô cùng quý giá đối với Washington. Chính vì vậy, chính phủ Mỹ đã phải xem xét lại toàn bộ những chính sách của mình đối với nước này. Thoạt đầu, Mỹ đã từng dự kiến cùng các nước đồng minh cầm chân Nhật ở một mức độ phát triển trung bình và hòa bình. Nhưng, kể từ năm 1950, chẳng còn ai nhắc đến chuyện bồi thường cho các quốc gia nạn nhân của cuộc chiến Thái Bình Dương nữa. Chẳng những thế, Hoa Kỳ còn quyết định bơm nước Nhật lên để biến nước này thành thành trì của "thế giới tự do" ngay sát Trung Quốc và Liên Xô.
    Để làm điều đó, cần phải tiếp sức cho Nhật đủ mạnh và đảm bảo được vai trò lá chắn của phương Tây trong khu vực này của thế giới. Đối với Nhật Bản, việc liên minh với Hoa Kỳ là một vận hội lớn để phát triển. Nó đảm bảo cho Nhật sự che chở quân sự của một cường quốc mạnh nhất thế giới, đồng thời cũng cho phép Nhật với tới những kỹ thuật tinh vi nhất và vươn tới một thị trường rộng lớn và giàu mạnh nhất của thời đại. Được sự trợ giúp của Hoa Kỳ, chủ nghĩa tư bản Nhật Bản nhanh chóng hồi sinh và đảm bảo cho nước Nhật một mức tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới. Nền tảng của kỳ công ấy là một chính sách công nghiệp chặt chẽ của chính phủ Nhật Bản, đặt ưu tiên cho việc phát triển công nghiệp nặng, than đá và năng lượng điện. Kể từ ngày ấy, nước Nhật đã dứt khoát tập trung mọi nỗ lực vào chất lượng sản phẩm. Trong các xí nghiệp lớn, người Nhật đã bắt đầu tập trung sự chú ý và các "vòng tròn chất lượng" đầu tiên. Bắt đầu từ đó, các sản phẩm hướng về xuất khẩu của Nhật Bản đều có thể xem là đồng nghĩa với chất lượng.
    Ngày nay, mọi việc đã được sáng tỏ: cuộc chiến tranh Triều Tiên đã giúp cho nền công nghiệp Nhật Bản có được một sự đột phá khổng lồ. Cùng với cuộc chiến tranh Việt Nam ít lâu sau đó, nó đã tạo nên một trong những yếu tố chìa khóa cho việc phục hưng nền kinh tế Nhật Bản. Các xưởng Nhật Bản đã đổ xô và sản xuất hàng loạt những vật dụng do Hoa Kỳ đặt hàng. Trước hết là các xe tải, các linh kiện rời, các máy công cụ, hàng dệt và than đá. Trong các lĩnh vực này, công nghiệp Nhật Bản đã nhanh chóng đạt lại mức sản xuất trước chiến tranh. Sau đó, với sự cho phép của đồng minh, Nhật đã bắt đầu sản xuất các vũ khí hàng loạt để phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ.
     
  11. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    1955 - 1965: "phép lạ Nhật Bản"

    Năm 1955, nước Nhật lại được dịp tô điểm thêm chút ít chân dung của mình trên sân khấu quốc tế với việc gia nhập FMI (Quỹ tiền tệ quốc tế) và GATT (Hiệp định chung về mậu dịch và quan thuế). Ngày đó đánh dấu sự mở đầu của "Phép lạ kinh tế Nhật Bản". Mười năm sau chiến tranh, nước Nhật đã lập lại được mức thu nhập bình quân đầu người của thời kỳ trước chiến tranh (1934 - 1936). Bắt đầu từ năm 1955, Nhật Bản đã không ngừng là vô địch tuyệt đối về chỉ số tăng trưởng của GNP (Tổng sản lượng quốc gia). GNP đo lường mức sản xuất của một quốc gia bằng hàng hóa và dịch vụ cũng như mức lợi nhuận của nhà nước, cùng các tích sản hoặc nhân lực của nó ở nước ngoài. Với sự khẳng định đáng gờm này, nước Nhật đã dành lấy cho mình hình ảnh của một con sư tử. Chỉ số tăng trưởng đã đạt mức bình quân là 9,9% trong suốt thập niên 1955-1965: một kỷ lục trong thế giới về công nghiệp hóa ! Cho tới năm 1958, những người nghiên cứu về hiện tượng Nhật Bản đã liên kết sự tăng trưởng này với những kết quả của công cuộc tái thiết lại sau những tàn phá nặng nề của chiến tranh. Nhiều người đã nghĩ rằng sự tăng trưởng này sẽ chậm lại trong các năm kế tiếp. Nhưng điều đó đã không diễn ra. Ngược lại, chỉ số tăng trưởng vẫn tiếp tục cất cánh. Dưới sự dẫn dắt của Bộ trưởng Tài chính Ikeda Hayato, người sau này trở thành thủ tướng Nhật trong những năm 1960-1964, nước Nhật đã thực hiện được thành tích thu nhập quốc gia tăng gần gấp đôi trong vòng sáu năm từ 1959 đến 1964. Đó chính là mục tiêu do chính phủ Kishi đặt ra vào năm 1959 và được công bố vào tháng 12 năm 1960. Nhưng chương trình "Shotoku baizô keikaku" này đã dự kiến thời hạn 10 năm để đạt mục tiêu, trong khi trên thực tế Nhật Bản chỉ bỏ ra có sáu năm.
    ------
    Chỉ số tăng trưởng của GNP ở các nước công nghiệp hóa
    Tên nước
    1950-55
    1955-60
    1960-65
    Nhật
    12,1
    9,7
    9,6
    Hoa Kỳ
    4,3
    2,2
    4,5
    CHLB Đức
    9,3
    6,3
    4,8
    Pháp
    4,3
    4,6
    5,1
    Anh
    2,7
    2,8
    3,3
    Canada
    4,7
    3,3
    5,5
    Ý
    6,0
    5,5
    5,1
    OCDE
    5,2
    3,5
    4,9
    * Nguồn: Thống kê của OCDE
    Những thành quả của Nhật Bản Thật là kỳ diệu: thu nhập quốc gia đầu người tăng từ 162 đô la trong năm 1952 lên đến 694 đô la trong năm 1965 với GNP từ 17 tỷ đô la lên đến 84 tỷ đô la ! Ngay từ năm 1965, Nhật bản đã vượt xa các nước láng giềng châu Á của mình. GNP/đầu người của Nhật Bản đã đạt mức xấp xỉ bằng một nửa của Anh, Tây Đức, Pháp và bằng khoảng ¼ của Hoa Kỳ. GNP của Nhật Bản đã bắt đầu bỏ xa Ý và Canada. Nhật Bản vươn lên chiếm vị trí thứ năm về GNP trong số các quốc gia không cộng sản, đứng sau Hoa Kỳ, CHLB Đức, Anh và Pháp. Năm 1965, Nhật Bản nghiễm nhiên gia nhập câu lạc bộ các siêu cường.
    Sự tăng trưởng kỳ lạ này xuất phát từ mức tăng sản xuất công nghiệp gần như theo cấp số nhân, đặc biệt là các hàng thành phẩm. Chỉ số sản xuất của công nghiệp chế tạo đã tăng từ 46 (năm 1955) lên 100 (năm 1960) và 171 (năm 1965). Công nghiệp nặng, công nghiệp máy móc và nhất là công nghiệp hóa chất đều phát triển rất nhanh. Năm 1963, Nhật Bản đã đuổi kịp các nước OCDE (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế).
    GNP và thu nhập đầu người của các quốc gia công nghiệp lớn, 1965
    Tên nước
    GNP (tỷ đô la)
    GNP/đầu người (đô la)
    Dân số (triệu người)
    Hoa Kỳ
    676,3
    3475
    194,6
    CHLB Đức
    112,1
    1900
    59,0
    Anh
    98,6
    1806
    54,6
    Pháp
    94,1
    1924
    48,9
    Nhật
    84,6
    863
    98,3
    Ý
    56,8
    1101
    51,6
    Canada
    48,3
    2464
    19,6
    Kết quả của sự cất cánh công nghiệp này là sự tăng trưởng ngoạn mục về trao đổi mậu dịch với thế giới bên ngoài. Nước Nhật đã bắt đầu xuất khẩu nhiều hơn là nhập khẩu. Điều này vô cùng quan trọng vì nó cho phép Nhật Bản thu hút các nguồn ngoại tệ đủ để đáp ứng những cuộc đầu tư chuẩn bị cho những chiến công ngày nay. Từ năm 1955 đến 1965, trao đổi mậu dịch đã tăng lên hơn bốn lần, từ 2,01 lên 8,45 tỷ đô la. Chỉ số tăng trưởng hằng năm đạt 15% gấp đôi mức bình quân của thế giới. Trong giai đoạn này, các cường quốc thương mại như Ấn Độ, đã bị loại khỏi cuộc cạnh tranh. Trong 10 năm đó, phần của Nhật Bản trong xuất khẩu quốc tế hãy còn khá khiêm tốn, tuy vậy nó cũng đã tăng từ 2,2 đến 4,6%.
    Mức xuất khẩu của các cường quốc thương mại (tỷ đô la)
    Tên nước
    1955
    1964
    1955-1965
    Hoa Kỳ
    15,38
    27,00
    1,76
    CHLB Đức
    6,14
    17,89
    2,91
    Anh
    8,47
    13,72
    1,62
    Pháp
    4,85
    10,06
    2,07
    Nhật
    2,61
    8,45
    4,02
    Canada
    4,42
    8,11
    1,83
    Ý
    1,86
    7,19
    3,87
    Ấn Độ
    1,28
    1,68
    1,31
    * Nguồn: OCDE
    Về mặt quốc nội - hình ảnh tiêu biểu cho sự cất cánh kinh tế của Nhật Bản - khu vực nông, lâm, ngư, nghiệp đã nhanh chóng mất đi tầm quan trọng so với các khu vực công nghiệp và dịch vụ. Mặt khác, cuộc cải cách nông nghiệp cũng đã cho phép một lượng lớn hơn các nhà nông và nông dân trở thành điền chủ. Tỷ lệ sở hữu ruộng đất đã tăng từ 36,5% trước cải cách đến 57,1% vào năm 1947. Về mặt công nghiệp, nhiều dự án lớn cũng đã hà hơi tiếp sức cho nhu cầu bức thiết nhằm hội tụ tất cả các điều kiện cho một cuộc đột phá kinh tế vô tiền khoáng hậu.
     
  12. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Shinkansen: tàu siêu tốc nhanh nhất thế giới

    Trong số các dự án lớn, phải kể đến công trình xây dựng Shinkansen, "tuyến đường sắt mới" kể từ năm 1958. Đó là tuyến tàu hỏa nhanh nhất thế giới nối liền Tokyo và Osaka dọc theo đường tàu cũ Tokaido. Dự án này được hoàn tất vào năm 1964, 20 năm trước khi Pháp có tàu siêu tốc TVG. Nước Nhật đã có thể tự hào phô trương trước thế giới một kỳ công kỹ thuật chưa từng thấy trước đó: một chiếc tàu điện chạy trên một khoảng đường 500 km với vận tốc trung bình là 200 km/giờ. Cực kỳ quy củ và đúng giờ, cứ 15 phút nó lại xuất hiện một lần vào giờ cao điểm. Khách đi tàu hẳn sẽ nhớ mãi cái cảm giác đang rời Tokyo với vận tốc hơn 160 km/giờ trong một bầu không khí im lặng tuyệt đối, không hề có chút rung chuyển và ngay giữa khung cảnh những ngôi nhà chọc trời. Chưa một nước nào trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, từng với được tới một kỳ tích như vậy. Nước Nhật đã chứng minh được tài năng kiệt xuất của dân tộc mình. Nó chứng tỏ một năng lực đổi mới hoàn toàn bất ngờ đối với một đất nước, mà chỉ mới 20 năm trước đây, còn là một bình địa đầy tuyệt vọng. Ngoài ra, còn phải kể đến một thành tích điển hình khác ở châu Á: khai trương xa lộ Nagoya-Kobe vào năm 1964.
    Marcel le Dorze hồi tưởng lại những năm khôi phục này:
    "Tôi đến Tokyo ngay giữa lúc cuộc chiến tranh Triều Tiên đang sôi sục. Các phân xưởng của Nhật Bản đang chạy hết công suất để sản xuất vũ khí cho mặt trận Triều Tiên. Và kế đến là xảy ra chiến tranh Việt Nam. Những điều này người ta rất ít nói đến, nhưng chúng đã đóng một vai trò quyết định trong việc hồi phục kinh tế của Nhật Bản. Trước hết là Triều Tiên, rồi sau đó là Việt Nam: phải nói là cực kỳ quan trọng ! Sau nữa, hai dự án được hoàn tất đã vực dậy nước Nhật. Rồi đến đường tàu Shinkansen. Tổng thể các công việc lớn này đã trở thành một lực đẩy không thể ngờ được cho nền công nghiệp đất nước. Ít lâu sau đó, người ta tuyên bố tổ chức thế vận hội Olympic ở Tokyo. Nước Nhật cần phải chuẩn bị cho thế vận hội một cách thích đáng. Cần phải xây dựng những con đường lớn. Sau đó, không chỉ là các hồ bơi Olympic mà là cả các khách sạn, các phương tiện chuyên chở. Các nước Nhật đã dồn sức vào đó. Trong ký ức tôi hãy còn giữ lại ấn tượng cả một dân tộc đang bắt tay vào công việc. Và thế là trong quận Veno, nơi tôi sống, đã mọc lên một đường xe điện. Sau đó, người ta quyết định xây dựng một đường xe điện ngầm dưới quận Hibiya. Một đường hầm khổng lồ được khởi công. Đồng thời, hội đồng thành phố cũng quyết định xây dựng một xa lộ treo ở ngay giữa Tokyo để giảm bớt việc lưu thông dưới đất. Người Nhật đã tiến hành hai dự án này mà không hề gây ách tắc giao thông trên đường phố và thậm chí cũng chẳng phải dừng các xe điện lại. Suốt quá trình thì công, chỉ một nửa đường là bị đóng lại không cho lưu thông.
    Nhưng năm đầu của thập niên 60 ấy thật là đầy ấn tượng. Đó là thời kỳ của Minole, thị trưởng thuộc Đảng Xã hội của Tokyo. Ở Tokyo, những điều kỳ diệu như thế thật không có giới hạn. Tất cả nước Nhật đều bắt tay vào lao động. Rất nhanh, các tàu điện đã biến mất và cùng với nó là cả một thời đại. Với những chiếc xe hơi và những phân xưởng đầu tiên, Tokyo đã bắt đầu biết đến tình trạng ô nhiễm. Những chiếc xe ba bánh phát ra những tiếng kêu quỉ quái. Giống như những con cừu, chúng chồm sang phải rồi chồm sang trái trên mặt đường. Sự ô nhiễm cũng có một ý nghĩa nhất định với những luồng khói thoát ra từ các nhà máy. Nhưng ta chớ nên lầm lẫn. Nếu ở Nhật người ta mang khẩu trang ra đường thì đó là vì nó có nhiều công hiệu; ngày nay, người Nhật vẫn sử dụng nó mỗi khi bị cảm. Với nó, không khí lạnh sẽ trở nên ấm lại và không xộc thẳng vào khí quản".
    Robert Guillain vẫn giữ một kỷ niệm rất sống động về những năm tháng chứa chan sinh khí mới ấy, khi Nhật Bản đã lấy lại sự tự tin của mình.
    "Năm 1959, khi rời Trung Quốc để quay trở lại Nhật Bản, trong nhật ký của tôi đã ghi chính xác những từ sau "Họ đã ngẩng cao đầu". Ngay sau chiến tranh, người Nhật thường cúi khom lưng và hạ thấp đầu do sợ hãi và hổ thẹn. Các lá cờ Nhật đã biến mất trong một thời gian rất lâu. Chúng chỉ mới xuất hiện lại từ những năm 70. Việc tái thiết nước Nhật được thực hiện nhờ người Mỹ. Người Mỹ đã làm rất nhiều để vực dậy nước Nhật. Cụ thể là trong các lĩnh vực tài chính, chuyển giao tri thức, cung ứng hàng hóa, giáo dục (do các giáo sư và giáo viên Hoa Kỳ giảng dạy). Rất nhiều người Nhật đã đến Hoa Kỳ từ rất sớm để được đào tạo.
    Nhưng phải nói là ngay ở nước Nhật cũng đã có một khát vọng lao động và tái thiết đất nước. Người Nhật dự định sẽ đuổi kịp châu Âu và Hoa Kỳ trong vòng 10 năm. Kế hoạch hóa nền kinh tế đã được triển khai tốt. Người Nhật muốn xây dựng một nền dân chủ và đã cùng nhau chia sẻ ý thức về sự bức thiết của một chế độ dân chủ. Họ cũng đã trải qua hương vị của tự do, thể hiện qua một cơn bột phát mạnh mẽ của tình yêu. Các cô, các cậu đã bắt đầu cặp kè nhau ra đường và thường trở về nhà muộn hơn. Đó là một điều chưa từng thấy trước kia. Nhưng, trong xí nghiệp, ai nấy đều hiểu rõ rằng cần phải nỗ lực rất lớn để vượt khó.
    Tôi không được thấy nước Nhật trong ngày thế vận hội Olympic năm 1964, nhưng tôi đã có dịp quan sát nó ngay trước thời điểm này. Đó là giai đoạn chuẩn bị cho thế vận hội. Phải nói đó là cả một quang cảnh ngoạn mục và lý thú: các con đường siêu tốc trong thành phố hình như đã mọc lên từ cõi hư không. Công việc này chưa bao giờ được tuyên bố và thậm chí cũng chẳng được bàn đến ở Quốc hội. Thật không thể nào tin nổi ở mắt mình khi thấy những con đường bằng bê tông lơ lửng trên đầu và "bay" trên thành phố. Đến nay, người ta vẫn chưa biết rõ lắm những con đường ấy muốn nói lên điều gì và cũng chưa ai từng nghe nói về điều này. Các con đường nhỏ cũng được giải tỏa để thay thế bằng những đại lộ rộng lớn. Đó là cả một công trình khó có thể tin nổi. Nó khiến ta nghĩ đến những cuộc đột kích cảu các pháo đài bay Hoa Kỳ trên thành phố khi chúng san bằng một lúc nhiều quận huyện để mở các tuyến lửa. Để mở rộng giao thông ở Tokyo, người ta cũng phá đi những con đường cũ. Trước đây, để đến Shinjuku - trung tâm thương mại lớn của thủ đô - ta phải đi theo một con đường dài bất tận với chiều rộng chỉ đủ cho hai chiếc xe hơi. Họa hoằn lắm, một chiếc thứ ba mới có thể luồn lên được nếu thật khéo điều khiển tay lái. Thế mà, đột nhiên ta thấy những ngôi nhà đổ xuống để nhường chỗ cho những con đường hai chiều mà mỗi chiều có đến sáu tuyến xe hơi ! Dân chúng ở hai bên đường đã rời khỏi nhà mình và không ai biết rõ lắm họ được định cư ở đâu. Người ta nói rằng những người đầu tiên rời đi đã được định cư tại các ngôi nhà cao ráo và tiện nghi hơn. Cùng lúc đó, đường tàu điện ngầm Tokyo cũng được xây dựng. Nó là cả một cảnh tượng bàng hoàng. Tôi còn nhớ một đêm nọ, khoảng giữa đêm, trong một quận mà tôi không biết là quận nào, tôi đã thấy cả một đoàn quân rầm rộ hệt như trong cuộc tiến công bộ binh ở Pháp vào chiến dịch năm 1918. Đoàn quân ấy bủa ra dọc suốt hai cây số đường trong thành phố. Họ đợi đến nửa đêm và chờ cho đến khi chiếc tắc xi cuối cùng đi qua. Đúng nửa đêm, họ nhấc lên các tấm bằng gỗ hoặc kim loại mà ban ngày dùng để cho xe qua lại. Và thế là họ bắt tay vào lao động cật lực: hàng đoàn "kiến" người hối hả đào các đường hầm ! Phải nói rằng đó là cả một đạo quân đang lâm chiến. Đến năm giờ sáng, một tiếng còi nổi lên. Họ đóng tất cả lại và cuộc sống lại bắt đầu".
     
  13. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Một "siêu cường" mới đã ra đời nhưng thế giới còn chưa biết đến

    Nước Nhật đã tự khẳng định mình trong cuộc chạy đua phát triển. Nhưng, những người am hiểu về Nhật Bản chỉ hoài công vô ích khi làm rùm beng về sự xuất hiện của một siêu cường mới. Bởi vì thể giới Tây phương, thỏa mãn với những thành công của mình mặc dù còn hết sức khiêm tốn, vẫn không hề để tâm đến. Hoặc có thể, họ không muốn nhìn thấy sự thật ? Năm 1967, Robert Guillain - phóng viên báo Le Monde - đã tháp tùng giám đốc Hubert Beuve-Méry đến Nhật Bản theo lời mời của báo Asahi Shimbun.
    "Năm 1967, trong những ngày lưu lại ở đây, tôi đã thực sự khám phá ra rằng nước Nhật đã qua mặt nước Đức một cách "đẹp đẽ" xét về GNP trong sản xuất gang thép và trong hàng tá những lãnh vực khác. Bản thân nước Nhật cũng không ngờ về vị trí mà mình chiếm giữ. Họ không muốn tin vào điều đó. Người Nhật vẫn rất bi quan và lúc nào cũng nghĩ rằng mình đang tiến tới một cuộc khủng hoảng hoặc đổ vỡ gì đó mà tôi không thể nào hiểu nổi. Lúc ấy, người Nhật đã nói với tôi không biết bao nhiều lần câu nói sau: "Bởi vì các ông nói như vậy nên mọi người đành tin rằng chúng tôi quả thật hùng mạnh". Lúc ấy, tôi có nói với đại sứ Pháp tại Nhật Bản, ông Louis de Guiringaud, rằng tôi đang viết một quyển sách về Nhật Bản mà tôi đặt tên là "Nước Nhật, cường quốc thứ ba". Ông ta nhìn tôi và hỏi: "Nước Nhật, cường quốc thứ ba ư ? Này, liệu ông có nói hơi quá không đấy ?". Rõ ràng ông ta đã không hiểu rõ lắm về những gì đang diễn ra ở Nhật Bản.
     
  14. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    MITI, trái tim của sự thành công Nhật Bản

    Một cơ quan, hơn mọi cơ quan khác, đóng vai trò bản lề cho sự thành công của Nhật Bản, đó là Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế (MITI). Chính bộ này, ngay sau chiến tranh, đã bắt tay vào việc tổ chức lại toàn bộ nền công nghiệp quốc gia và, trong những năm kế tiếp, đã kiên trì đeo đuổi một chính sách công nghiệp hướng đến việc phát triển một số lĩnh vựu mũi nhọn. Sau ảo tưởng cay đắng về chiến tranh, phương châm lúc này của người Nhật là "ưu tiên cho kinh tế". Những bộ óc tốt nhất của đất nước được trưng dụng cho công nghiệp. Mặt khác, nước Nhật lại luôn giữ một thái độ khiêm tốn gần như rụt rè trước các vấn đề quốc tế lớn: Chính phủ Nhật Bản muốn giữ một khoảng cách nhất định trong các vấn đề ngoại giao và chính trị. Trong khi đó, tại nhiều văn phòng và trung tâm nghiên cứu của MITI, người ta đã cân nhắc rất lâu về các cơ may của Nhật Bản và đã đi đến kết luận rằng đất nước không thể dẫn đầu trong mọi lĩnh vực. Vấn đề là phải chọn lựa một chiến lược phát triển đã được vạch ra, đặt sự thành công của đất nước và sự phồn thịnh tương lai trên một vài lĩnh vực ưu tiên. Để có thể cạnh tranh được với quốc tế, các lĩnh vực này sẽ phải cần đến những nguồn vốn khổng lồ của nhà nước. Hàng loạt các tổ hợp công nghiệp và xí nghiệp lớn sẽ được nâng đỡ, trợ cấp, hỗ trợ và hướng dẫn để sao cho, khi tiến quân vào cuộc chinh phục thế giới đủ sức sản xuất và bán ra với giá rẻ hơn trên các thị trường hải ngoại. Có như vậy, mới có thể giành được những phần thị trường và mới chiến thắng. Giành được những phần thị trường: những người lãnh đạo các tổ hợp Nhật Bản chưa hề mơ đến một điều như thế. MITI đã dành ưu tiên cho các lĩnh vực lọc dầu, hóa dầu, tơ sợi nhân tạo, máy công cụ và nhất là ngành điện tử và xe hơi.
    Từ đó, tất cả đều được huy động để đảm bảo sự thành công. Luật hải quan nước Nhật Bản cấm nhập khẩu các sản phẩm nước ngoài cùng chủng loại và bảo hộ chặt chẽ nền công nghiệp quốc gia. Nhà nước, qua trung gian Ngân hàng xuất nhập khẩu và Ngân hàng phát triển Nhật Bản, đã cấp những khoản vay với lãi suất ưu đãi và đã tài trợ cho nhiều dự án phát triển. Trong một số trường hợp, các hãng ưu đãi còn được miễn các khoản thuế đánh lên lợi nhuận do xuất khẩu. MITI đã giành được một sự hỗ trợ đa dạng và thường xuyên của chính quyền. Thế lực của MITI đã đạt đến mức không một lãnh đạo xí nghiệp Nhật Bản nào dám tranh cãi về những "lời khuyên" của nó. Chính 15.000 đến 20.000 cán bộ của MITI đã, qua năm tháng, tạo nên sự thành công của Nhật Bản. MITI đã là bộ não của cuộc chiến tranh kinh tế mà, theo nhiều nhà bình luận về Nhật Bản đã cho rằng, đất nước Mặt trời mọc đã không ngừng chống lại phương Tây kể từ sau khi bại trận. Thế là trong khi Hoa Kỳ trở thành vương quốc của chính sách kinh tế tự do, thì Nhật Bản đã trở thành vương quốc của chính sách công nghiệp chỉ huy. Đến mức người Mỹ đã đem các từ "Hãng Nhật Bản" (Japan Inc.), hoặc "Công ty nặc danh Nhật Bản" ra để giễu cợt.
    Về cuộc sống của xí nghiệp, nước Nhật cũng đã dựng lên ở đây một mô hình độc đáo của một chế độ chỉ huy và gia trưởng trong công nghiệp: một sự tận tụy tuyệt vời của tất cả nhân viên, công nhân và cán bộ đối với cơ quan nơi mình làm việc. Khi ông chủ đã đặt ra mục tiêu sản xuất thì toàn thể nhân viên đều đồng tâm dốc sức thực hiện bằng được mục tiểu đặt ra. Tổ chức lao động đôi khi cũng mang dáng dấp quân sự: hát ca ngợi xí nghiệp trước buổi làm việc, đồng phục cho mọi nhân viên, giờ lao động phụ trội thường xuyên đặt ra bởi ban giám đốc, hầu như không có những kỳ nghỉ, sản lượng hàng năm bắt buộc, các hoạt động xã hội ngoài nghề nghiệp theo tổ nhóm. Năm 1965, số giờ lao động trung bình hằng năm của mỗi người Nhật là 2.400 giờ, hơn hàng trăm giờ so với con số ở các nước phương Tây. Đa số nhân viên của các xí nghiệp lớn chỉ biết mình được ưu đãi khi nhận những mức lương bổng cao hơn rõ rệt so với mức lương ở các xí nghiệp nhỏ và vừa. Vả lại họ đã có một công việc cho trọn cuộc đời. Được tuyển dụng ngay khi tốt nghiệp các trường đại học hoặc trung học, những người được chọn đã thầm nguyện gắn bó suốt cuộc đời mình với xí nghiệp. Sự thăng cấp của họ được tiến hành một cách tự động, căn cứ theo thâm niên làm việc.
    Về phần mình, xí nghiệp cũng đảm bảo một mức thù lao và an toàn vật chất cho mỗi nhân viên và gia đình của họ cho dù công việc kinh doanh có gặp trục trặc gì đi nữa. Việc thải hồi không bao giờ xảy ra. Bù lại, các nhân viên cũng chấp nhận dành cả cuộc đời làm việc cho người chủ của mình. Xin nghỉ để thay đổi chỗ làm là một hành động phi lý. Người bỏ xí nghiệp ra đi bị xem như kẻ phản bội và anh ta rất khó tìm được một việc làm ở nơi khác. Điều này người ta cũng đã nói nhiều, nhưng việc so sánh mới thật sự thấy rõ trong mức độ nhất định nào đó, nó giống người võ sĩ đạo gắn bó với lãnh chúa của mình, như lãnh chúa gắn bó các tướng quân. Luật xử thế cũng như thế: để có sự hài hòa gọi là wa mà người Nhật rất coi trọng, xí nghiệp có nghĩa vụ đảm bảo an toàn và bảo vệ đối với nhân viên, bù lại, nhân viên cũng có trách nhiệm phải trung thành và tận tụy với xí nghiệp. Thêm vào đó là ảnh hưởng của Phật giáo ở Nhật cũng như tại nhiều nước khác ở Viễn Đông luôn khuyên bảo con người xóa bỏ tính các nhân trước quyền lợi tập thể, tạo ra một thứ chủ nghĩa bình quân trong các tầng lớp trung bình. Nhìn chung, nhân công Nhật rất ngoan ngoãn, siêng năng, sãn sàng xả thaank, không hề có những xung đột dai dẳng giữa các nhóm xã hội khác nhau như thường diễn ra ở phương Tây.
    "Phép là Nhật Bản" trong giai đoạn 1955-1965 còn có thể giải thích bởi các yếu tố khác nữa. Cần phải kể đến việc mất đi những thuộc địa cũ của Nhật vốn là một gánh nặng cho nền kinh tế quốc gia. Việc giảm đột ngột các chi phí quân sự cũng đã cho phép tạo ra những khoản tiết kiệm quan trọng cho ngân sách quốc gia. Nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là ý chí sắt đá của người Nhật, muốn đầu tư nhập khẩu kỹ thuật của phương Tây. Ngay từ thời đại Minh Trị, nước Nhật đã có tham vọng muốn vươn lên ngang bằng với các cường quốc phương Tây. Và khi chiến tranh vừa chấm dứt, các nhà lãnh đạo Nhật Bản vẫn tiếp tục không từ bỏ ý muốn san bằng sự chậm trễ về kỹ thuật so với các nước công nghiệp khác. Đặc biệt trong giai đoạn 1959-1964, Nhật Bản đã dành một phần đầu tư đáng kể để mua lại các bí quyết và công nghệ mới từ các quốc gia công nghiệp để áp dụng và sản xuất công nghiệp của nước mình. Không hài lòng với việc chỉ ứng dụng các công nghệ này cho nhu cầu quốc gia, các nhà kỹ thuật và kỹ sư Nhật Bản đã lao động không mệt mỏi trong các phòng thí nghiệm của họ, tránh xa những cái soi mói của cuộc cạnh tranh, để không ngừng cải tiến các kỹ thuật nhập về.
    Một yếu tố nổi bật khác dẫn đến hiện tượng cất cánh kinh tế của Nhật Bản là một năng suất cao đi kèm với mức tiêu thụ nội địa thấp. Không có mối tương quan thần bí này, có lẽ không bao giờ nước Nhật có thể tích tụ được bấy nhiêu của cải để tạo nên sự hùng mạnh ngày hôm nay. Trong các năm cao điểm, các ngành công nghiệp Nhật Bản đã có năng suất tăng nhanh chóng và ổn định trong khi mức lương chỉ tăng một cách ì ạch. Điều này dẫn đến một hệ quả kép: giảm chi phí sản xuất và tăng mức lợi nhuận. Thêm và "hỗn hợp nổ" ấy là một sự đạm bạc và dè xẻn mà người dân Nhật không bao giờ chối cãi. Và đó chính là những điều kiện hội tụ để nước Nhật tích lũy nhanh và tái đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Vòng tròn đã khép lại: những cải tiến và phát minh tuôn ra như thác, các sản phẩm trở nên tốt hơn và rẻ hơn, mức xuất khẩu tăng cao, và giành được nhưng khu vực thị trường mới.
    Năng xuất và xuất khẩu trong công nghiệp chế tạo
    (Mức tăng trưởng bình quân hằng năm cho giai đoạn 1958-1965)
    Tên nước
    Sản xuất
    Năng xuất
    Xuất khẩu
    Nhật
    15,1
    9,4
    17,8
    Ý
    8,9
    7,3
    16,7
    CHLB Đức
    7,1
    5,8
    9,3
    Hoa Kỳ
    7,6
    4,0
    6,2
    Anh
    4,3
    3,9
    3,8
    * Nguồn: Cơ quan kế hoạch hóa kinh tế Nhật Bản
    Vậy thì sao ? Phải chăng tình hình Nhật Bản năm 1965 là tuyệt đối xán lạn ? Tất nhiên là không. Năm 1960, nước Nhật đã trải qua một cơn náo loạn xã hội. Phong trào phản kháng bùng nổ chống lại việc tiếp tục hiệp ước hòa bình với Hoa Kỳ được đựa ra trước Quốc hội vào tháng 4 năm 1960. Những người theo Đảng Xã hội, Đảng Cộng sản, Hội sinh viên quốc gia (Zengakuren) đã cực lực phản đổi việc duy trì hiệp ước. Các cuộc biểu tình nổ ra và lan rộng khắp nước vào ngày 26 tháng 5. Đến đầu tháng 6, các cuộc biểu tình ấy đã chuyển thành một cuộc bạo loạn. Kết quả hàng trăm người bị thương và một người chết. Chuyến viếng thăm Nhật Bản của tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower bị hủy bỏ. Thủ tướng Nobusuke Kishi đã phải từ chức và Hayato Ikeda lên thay thế. Các nhóm cực tả và cực hữu đã trùm lên toàn nước Nhật cái bóng tối của sự khủng bố. Nhưng, nhìn chung, Nhật Bản đã thoát khỏi sự hỗn loạn và tiếp tục sải những bước dài trên con đường phát triển. Người khổng lồ thiu thiu ngủ đã tỉnh giấc. Để chứng minh, chúng ta hãy xem các chỉ số sản xuất công nghiệp của Nhật Bản. Nếu chỉ số này là 100 vào năm 1934 rồi tụt xuống 55 vào năm 1948 thì năm 1950 nó lại leo lên đến 84, rồi lên tiếp 181 vào năm 1955 và năm 1960 đạt mức 410. Đó cũng là năm mức tăng trưởng của Nhật Bản lên đến con số 13,2%. Vào năm này, hầu hết các tổ hợp công nghiệp mà tướng Mac Arthur giải tán đều đã quay trở lại (như Mitsubishi, Mitsui). Nước Nhật đã vươn lên trong cạnh tranh quốc tế và đã bước những bước dài về phía trước. Nhưng các đối thủ Tây phương vẫn không hề biết, hoặc đúng hơn, các nhà lãnh đạo của phương Tây đã khăng khăng không muốn nhìn thấy điều đó.
     
  15. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    III. Cuộc tái chinh phục (1965 - 1980)

    Có rất nhiều điều tưởng chừng như không thể thực hiện khi nào ta còn chưa thử bắt tay vào làm
    André Gide,
    Nếu hạt giống không chết đi.
    Chưa đầy 20 năm, nước Nhật đã thành công trong việc hàn gắn các vết thương và dựng lên những cơ sở cho một nền công nghiệp hiện đại. Chấp nhận thiếu thốn, hy sinh một cách quả cảm trong khi phương Tây đang mải miết vui chơi và thưởng ngoạn những kỳ nghỉ tốn kém, thì dân tộc Nhật Bản miệt mài và tự nguyện đã thực hiện một nỗ lực phi thường. Một ý thức tập thể cao, một tôn ti trật tự nghiêm ngặt, ít có những xung đột xã hội, một kỷ luật sắt và một tinh thần lao động quên mình... tất cả những điều ấy đã đưa nước Nhật lên ngang hàng các "siêu cường" trong thế giới công nghiệp. Đất nước Nhật bắt đầu gặt hái những thành quả đầu tiên. Giờ đây, nước Nhật đã khá mạnh để tiến công vào cuộc chinh phục các thị trường quốc tế.
    Sau những thắng lợi đầu tiên, nước Nhật chỉ còn mỗi việc là bắt tay thực sự vào việc. Nhật Bản đã thực hiện công việc đó một cách sinh động. Những năm tiếp theo là những năm bùng nổ liên tục của nền kinh tế. Không ai có thể chối cãi sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ấy, trừ nawm1974, năm xảy ra cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu tiên. Sự đột phá này thật đáng kinh ngạc nếu như người ta biết rằng Nhật Bản hầu như không có những tài nguyên thiên nhiên và nguồn năng lượng. Nhật Bản nhập khẩu hơn 95% lượng dầu hỏa, gỗ và khoáng sản. Thứ tài nguyên duy nhất thực sự của nước Nhật là lao động. Chỉ nhờ vào sự táo bạo và ý chí sắt đá của một vài ông chủ lớn, nước Nhật đã giàu lên nhanh chóng với hàng loạt những ngành công nghiệp khổng lồ. Thành tích của họ vang dội đến mức, ngày nay, ngay cả những kẻ cù bơ cù bất ở phương Tây cũng biết đến tên tuổi của họ: Mitsubishi, Matsushita, Sony, Hitachi, Toyota, Nissan, JVC, NEC, Sumimoto, Fuji và nhiều người khác...
    Có lẽ cũng cần nêu vài con số để đánh giá sức mạnh của Nhật Bản: từ năm 1960 đến 1970, sản xuất thép vượt từ 22 triệu tấn lên 93 triệu tấn, nhập khẩu dầu thô tăng vọt từ 33 triệu tấn lên 205 triệu tấn. Trong giai đoạn này, trước nhu cầu bức thiết trên thế giới đòi hỏi phải có những tàu dầu khổng lồ nhất là từ sau cuộc khủng hoảng kênh đào Suez vào năm 1956, ngành đóng tàu của Nhật Bản đã thực hiện được những phép lạ: từ những chiếc tàu dầu với khối lượng trọng tải 1,76 triệu tấn của năm 1960, đã chế tạo thành công những chiếc tàu với khối lượng trọng tải lên đến 12,65 triệu tấn vào năm 1970. Việc sản xuất hàng điện tử, nghe nhìn và điện gia dụng cũng đã làm một cuộc bứt phá ngoạn mục. Nếu như năm 1960, Nhật Bản sản xuất 3,6 triệu máy vô tuyến truyền hình màu thì năm 1970, con số đó đã tăng lên đến 13,8 triệu. Xe hơi Nhật Bản vốn không hề tồn tại hồi trước chiến tranh cũng thực hiện một "bước nhảy" phi thường với hơn ba triệu chiếc sản xuất năm 1970 và hơn sáu triệu chiếc sản xuất năm 1980 so với 165.000 chiếc vào năm 1960. Năm 1970 chưa đến 400.000 xe hơi Nhật Bản được xuất khẩu. Năm 1980, con số này đã là bốn triệu chiếc ! Trong những năm đầu hậu chiến, Nhật Bản còn cần đến các bí quyết (know-how) của phương Tây. Phần lớn xe hơi Nhật Bản đã được sản xuất dưới nhãn hiệu nước ngoài. Nhưng từ nay, Nhật Bản không còn cần đến nó nữa.
    Hệ số biến đổi trong các chỉ số sản xuất chính
    1960
    1970
    Sản xuất công nghiệp
    100
    373
    Sản xuất gang thép
    100
    410
    Sản xuất hóa chất
    100
    424
    Sản xuất máy móc (bao gồm cả xe hơi)
    100
    579
    Sản xuất hàng dệt
    100
    226
    Ở nước ngoài, các sản phẩm của Nhật Bản đã chinh phục hết thị trường này đến thị trường khác. Nước Nhật nhanh chóng trở thành nước dẫn đầu thế giới trong một số lĩnh vực như đóng tàu, máy ảnh, vô tuyến truyền hình, tơ sợi nhân tạo và xe hơi. Xuất khẩu của Nhật Bản đã nhảy vọt lên phía trước. Từ chỉ số 43,9 vào năm 1960 rồi 100 vào năm 1965, nó đã vượt qua 200,8 vào năm 1970. Nhập khẩu cũng tăng với chỉ số biến động từ 56,6 vào năm 1960 rồi leo đến 100 vào năm 1965 và 224 vào năm 1970. Đặc biệt, lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa chất đã đạt những kỷ lục với chỉ số từ 29 vào năm 1960, lên đến 100 vào năm 1965 và 280 vào năm 1970. Lĩnh vực sản xuất máy móc (bao gồm xe hơi) cũng có những chỉ số tương ứng là 26, 100 và 263. Hàng xuất khẩu của Nhật Bản đã thâm nhập vào tất cả các thị trường. Năm 1970, Hoa Kỳ chiếm khoảng hơn 30% thị trường xuất khẩu của Nhật Bản, Tây Âu: 15% và Đông Nam Á: 15%.
    Năm 1960, GNP của Nhật Bản chỉ mới chiếm 2,9% GNP toàn thế giới với 43 tỉ đô la (215 tỉ franc). Con số này đã tăng lên 6,2% vào năm 1970 với 200 tỷ đô la, 8,6% vào năm 1973 với 411 tỷ đô la, 8,4% vào năm 1976 với 574 tỷ đô la (2870 tỷ franc). Cuộc khủng hoảng dầu hỏa đã tác động đến nước Nhật. Năm 1978 con số này lại tăng lên đến 9,5% với 836 tỷ đô la (4180 tỷ franc). Trong vòng 18 năm, Nhật Bản đã nhân GNP của mình lên hơn 19 lần ! Giải thích kết quả này như thế nào ?
     
  16. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Những công thức của một sự thành công vô tiền khoáng hậu

    Trước hết, đó là nhờ lợi tức và năng suất tăng một cách ổn định trong công nghiệp. Xét theo GNP thực tế thì năng suất của Nhật Bản đã tăng trung bình 9% trong thời kỳ 1964-1973. Trong lúc đó, con số này ở Hoa Kỳ là 1,9%, Anh: 3,2%, CHLB Đức: 4,7%. Từ năm 1976 đến năm 1979, sự gia tăng này có hạ thấp nhưng vẫn giữ ổn định mức 4% trong khi ở các nước công nghiệp khác, con số này tụt xuống còn rất thấp.
    Diễn biến của năng suất so với GNP (Tỷ lệ: GNP thực tế/số lao động)
    1964-1973
    1976-1979
    Nhật Bản
    9,0
    3,9
    Hoa Kỳ
    1,9
    0,7
    CHLB Đức
    4,7
    3,0
    Anh
    3,2
    1,4
    Nguồn: OCDE
    Chính phủ và các ngành công nghiệp hàng đầu của Nhật Bản đã đầu tư để hiện đại hóa trang thiết bị với một nhịp độ chưa từng có trên thế giới. Trong khi các ông chủ Hoa Kỳ tự cho phép mình những mức lương kếch xù và các cổ đông bỏ túi những phần chia hậu hĩ, thì ở Nhật Bản lợi nhuận bao giờ cũng được đưa vào tái đầu tư. Hơn nữa, trong khi dân Mỹ vui vẻ với cuộc sống hưởng thụ, thì người Nhật lại rất chí thú với một cuộc sống cần kiệm. Tỷ lệ dành dụm của các gia đình Nhật chiếm đến 20% tổng thu nhập. Đó chính là các khoản vốn mà các ngân hàng Nhật Bản đưa ra cho vay theo những ưu tiên của chính phủ, nhằm tạo ra những khoản tái đầu tư mới có hiệu quả. Người Nhật thì tiết kiệm, còn nước Nhật thì đầu tư cho sự phồn vinh và cho sự tiêu thụ trong tương lai !
    Tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp / GNP
    Nhật Bản
    Hoa Kỳ
    CHLB Đức
    Anh
    1960-65
    18,5
    9,4
    14,2
    8,2
    1966-70
    19,4
    10,4
    13,0
    8,3
    1971-78
    16,0
    10,1
    12,1
    8,0
    Nguồn: Cơ quan kế hoạch hóa kinh tế Nhật Bản
    Cách giải thích thứ hai cho sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Nhật Bản là những tiến bộ về công nghệ. Những khoản đầu tư khổng lồ đã là điều kiện ắt có và đủ cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm Nhật trên thị trường thế giới. Chúng cho phép tạo ra hàng loạt những xí nghiệp mới, có tinh thần tiến công, luôn muốn khẳng định, và háo hức muốn cọ sát trong cuộc cạnh tranh quốc tế. Một xí nghiệp trẻ bao giờ cũng dễ tiếp nhận công nghệ mới hơn là một xí nghiệp già cỗi. Những người máy đầu tiên đã ra đời ở Hoa Kỳ vào năm 1960. Chúng chỉ xuất hiện ở Nhật Bản mãi bảy năm sau đó. Nhưng sự chậm trễ này đã nhanh chóng được lấp đầy trong những năm 70. Ngày nay, số lượng người máy ở Nhật Bản đã nhiều hơn số lượng người máy của tất cả các nước trên thế giới gộp lại. Cuối năm 1990, Nhật đã có 250.000 người máy công nghiệp, chiếm 60% thị trường thế giới, so với con số khoảng chừng 37.000 người máy của Hoa Kỳ vào cuối năm 1989. Theo dự kiến, sẽ có khoảng 900.000 người máy ra đời ở Nhật Bản từ nay đến năm 2.000. [6]
    Việc trang bị người máy và tự động hóa gần như toàn bộ các dây chuyền lắp ráp trong các phân xưởng xe hơi của Nhật đã bắt đầu từ những năm 70, sau nhiều năm chậm trễ so với một số phân xưởng của phương Tây. Nhưng cũng bắt đầu từ đó, xu hướng này đã bị đảo ngược. Nhật Bản đã dẫn đầu. Ai có thể phủ nhận rằng, ở điểm khởi hành, các cơ may đều bằng nhau cho mọi quốc gia ? Đó là vấn đề chọn lựa.
    Cách giải thích thứ ba và là cách giải thích chủ yếu cho những kỳ tích của Nhật Bản là kỹ thuật quản lý. Ở Hoa Kỳ và châu Âu, các ông chủ và giám đốc xí nghiệp chỉ nhắm đến một mục đích duy nhất: làm giàu. Còn những đồng nhiệp Nhật Bản của họ thì không, hoặc nói chính xác hơn, việc gom tiền vào túi không phải là một mục đích tự thân. Từ bên bờ này của Thái Bình Dương là một cuộc tìm kiếm ráo riết các nguồn lợi ngắn hạn và phân phối lại các lợi tức. Ở bờ bên kia, lại là một chiến lược phát triển dài hạn nhằm kiên trì chiễm lĩnh các thị trường. Ở phương Tây là sự háo hức các nguồn lợi, bất chấp sự thiệt hại của người làm công. Ở Nhật Bản là các lợi nhuận được tái đầu tư và sự hài hòa trong xí nghiệp. Ở châu Âu và Hoa Kỳ, quyền quyết định thuộc về giám đốc. Ở Nhật Bản, quyền quyết định thuộc về tập thể. Đó là sự nhất trí (ringi), một giá trị quan trọng của người Nhật. Đôi khi ringi cũng cản trở việc ra quyết định vì tất cả cán bộ và nhân viên có liên quan đều được hỏi ý kiến. Nhưng một khi quyết định đã được thông qua, nó sẽ được áp dụng lập tức cho đến khi nào hoàn tất. Và tất cả những ai ký vào quyết định đều cảm thấy trách nhiệm của mình.
    Một cách giải thích nữa cho sự bùng nổ của Nhật Bản là vai trò trung tâm của chính sách công nghiệp của chính phủ. Chính sách công nghiệp - mà châu Âu đã quên đi hiệu lực - là xương sống cho việc kiến thiết lại nước Nhật
    Cách giải thích cuối cùng, có lẽ ít rõ ràng hơn nhưng cũng không kém quan trọng, thậm chí có thể xem là chủ yếu: việc cạnh tranh giữa các công ty tư nhân của Nhật Bản. Đó chính là một thực tế mà nước ngoài thường không biết đến nhưng lại đóng vai trò vô cùng hiện thực và quyết định trong cuộc chạy đua để phát triển ở ngay chính bên trong đất nước Mặt trời mọc. Các nhà kinh doanh và các chính khách của Mỹ và châu Âu hẳn có vô vàn lý do để phiền trách một bạn hàng mà các phương pháp thương mại bị quy kết là bất chính. Việc MITI đã chi phối được hàng loạt các tổ hợp công nghiệp hàng đầu của Nhật Bản là điều không thể chối cãi, cho dù đôi khi nó có bất chấp những luật lệ sơ đẳng nhất của GATT. Đúng thế thôi. Bởi lẽ Bộ này đã hỗ trợ chúng với những khoản trợ cấp, những khoản vay với lãi suất khuyến khích, những sự giúp đỡ về hành chính, những cố vấn về quản lý v.v... và đã bảo hộ cho thị trường Nhật Bản bằng cách ban hành những qui định nghiêm ngặt về hải quan để hạn chế sự cạnh tranh của nước ngoài. Nhưng cũng còn một điều nữa mà người ta thường sớm quên, là một khi các tổ hợp này được đặt vững chắc trên đường ray của cuộc cạnh tranh quốc tế, thì chúng sẽ hệt như những con chó săn được xua ra để giựt lấy con mồi lớn nhất. Và, trong cuộc "ẩu đả", cuộc cạnh tranh mà các công ty hàng đầu của Nhật Bản tung ra không mệt mỏi, bao giờ cũng khốc liệt, dữ dội, không khoan nhượng và không thương tiếc. Cạnh tranh trở thành một động lực kích thích khu vực tư nhân của Nhật Bản theo đuổi những nỗ lực nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ nhằm tìm kiếm liên tục các mặt hàng mới, thích ứng hơn nữa với nhu cầu của người tiêu thụ và với một giá rẻ hơn của các hãng khác.
    Ở phương Tây, đôi khi sự độc quyền đã giết chết sự đổi mới. Ở Nhật Bản, sự cạnh tranh nội bộ đã luôn nuôi dưỡng sự đổi mới.
     
  17. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Bí quyết của Nhật Bản: biết thích nghi

    Tuy nhiên, còn một yếu tố khác nữa mà người ta thường bỏ quên, nhưng lại là nền tảng cho sự bành trướng kinh tế của Nhật Bản: đó là khả năng thích nghi với những tình huống mới. Từ 45 năm nay, đã bao lần gặp khủng hoảng hoặc căng thẳng thì cũng bấy nhiều lần xã hội Nhật Bản lại chứng tỏ một khả năng phi thường vượt qua chặng đường rủi ro bằng cách thích ứng với tình thế. Không những thế, mỗi lần thoát ra, Nhật Bản lại càng mạnh hơn qua thử thách, khi mà đa số các đối thủ cạnh tranh của nó chao đảo, vấp váp hoặc gục ngã.
    Cuối năm 1973, Nhật Bản đã bị một đòn trời giáng trước cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ nhất. Các nước sản xuất dầu hỏa Ả Rập đã quyết định nâng giá dầu lên gấp bốn lần. Quyết định đó không thể không gây một cú "sốc" nghiêm trọng cho nền kinh tế của Nhật Bản vốn lệ thuộc lớn vào nguồn cung cấp năng lượng của nước ngoài. Dầu hỏa chiếm đến 2/3 nhu cầu năng lượng của Nhật Bản. Năm 1978, lượng dầu nhập khẩu bình quân 35,2% tổng số các nguồn cung cấp năng lượng cho các nước trong OCDE. Tại Nhật Bản, tỷ lệ này là 73,4%. Cuộc khủng hoảng dầu hỏa đã lập tức dẫn đến tình trạng lạm phát ở Nhật Bản. Năm 1974, giá bán lẻ các mặt hàng đã tăng đến 31%. Lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh, chỉ số tăng trưởng GNP đã chững lại. Người ta lo ngại sẽ có suy thoái.
    Sự lệ thuộc về năng lượng của các nước công nghiệp hàng đầu năm 1980
    Mức độ lệ thuộc về năng lượng (*)
    Phần dầu thô trong nhập khẩu
    Nhật Bản
    84,1%
    36,5%
    Hoa Kỳ
    14,5%
    25,8%
    CHLB Đức
    54,4%
    7,7%
    Anh
    2,7%
    8,5%
    Pháp
    72,6%
    19,5%
    Canada
    6,2%
    10,2%
    Ý
    82,1%
    20,5%
    Nguồn: OCDE, (*) Được định nghĩa là khối lượng năng lượng nhập khẩu chia cho khối lượng tiêu thụ chung về năng lượng
    Nhưng nước Nhật đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng này và lại còn mạnh hơn trước đó. Chính phủ Nhật, với MITI ở hàng đầu, đã lợi dụng cuộc khủng hoảng để tái cấu trúc nền công nghiệp một cách sâu sắc và định hướng những mục tiêu ưu tiên hàng đầu mới. Nhật Bản quyết định nhường việc sản xuất hàng hóa đòi hỏi công nghệ thấp và giá trị thặng dư cao cho các nước công nghiệp khác và cho các khu vực ở châu Á đang phát triển nhanh như Đài Loan, Nam Triều Tiên, Hồng Kông và Singapour. Cùng lúc, họ tập trung đầu tư vào các ngành điện tử và xe hơi. Nhưng đáng chú ý hơn cả là các nhà chiến lược Nhật Bản đã nhấn mạnh đến nhiều lĩnh vực mới như người máy, công nghệ sinh học, năng lượng hạt nhân dân dụng. Vài năm sau đó, Nhật Bản đã sẵn sàng tung ra các sản phẩm tiêu dùng của tương lai, trong khi các đối thủ của nó hãy còn trong giai đoạn tìm cách thích ứng với những nhu cầu của ngày hôm nay.
    Cũng trong thời gian đó, Nhật Bản lại bắt đầu tiến hành một chương trình đầu tư ra nước ngoài. Khi ấy, nước Nhật hãy còn chưa biết đến chương trình này, nhưng trên thực tế, họ đã bắt đầu mua lại thế giới. Tại sao vậy ? Khối lượng xuất khẩu khổng lồ của Nhật Bản đã gây ra những va chạm về mậu dịch với một số quốc gia và Tokyo đã ngại khả năng xảy ra những cuộc trả đũa hoặc các biện pháp bảo hộ thuế quan. Từ năm 1973 đến năm 1985, Nhật Bản đã đầu tư 70 tỷ đô la (350 tỷ franc) ra nước ngoài. Mục tiêu hàng đầu là Hoa Kỳ. Năm 1978, đầu tư của Nhật Bản ở Hoa Kỳ đã vượt quá 3,4 tỷ đô la (17 tỷ franc) rải đều ở 1.177 xí nghiệp liên doanh, công ty hỗn hợp hoặc các cơ sở với toàn bộ vốn là của Nhật Bản. Tại các cơ sở này có 10.500 người Nhật và 261.000 người Mỹ làm việc. Trong năm 1978, các công ty này đã sản xuất một khối lượng hàng hóa trị giá lên đến 4,8 tỷ đô la (24 tỷ franc). Một trong các hoạt động chính là nhập khẩu xe hơi và cùng năm ấy, các công ty ấy đã nhập khẩu xe hơi của Nhật Bản với một trị giá lên đến 6 tỷ đô la (30 tỷ franc). 113.500 người Mỹ đã trở thành những người bán hàng, những đại lý, những nhân viên lo việc bán xe hơi Nhật Bản ở trong nước mình.
    Sự gia tăng các trao đổi mậu dịch của Nhật Bản (tỷ đô la)
    1970
    1975
    1980
    1985
    Xuất khẩu
    19,3
    55,7
    129,8
    174
    Nhập khẩu
    18,9
    57,9
    140,5
    118
    (Bước nhảy vọt trong nhập khẩu năm 1980 được giải thích bằng việc tăng chi phí dầu do cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai)
    Trên thực tế, cuộc khủng hoảng dầu hỏa diễn ra vừa đúng lúc Nhật Bản quyết định chuyển hướng công nghiệp vốn rất cần thiết và cấp bách. Makoto Kuroda, cựu tổng giám đốc của MITI và là cố vấn đặc biệt của Japan Economic Foundation (Tổ chức kinh tế Nhật Bản) đã nói với tôi:
    "Nước Nhật đã gặp nhiều may mắn. Ngay trước cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1973, Nhật Bản đã ở trong tình trạng lạm phát. Nhiều người Nhật nghĩ rằng cần phải có biện pháp cân bằng lại đồng yên và phải có bước điều chỉnh về tiền tệ để giới hạn khối lượng tiền tệ và đấu tranh chống lạm phát. Chúng tôi nghĩ còn có khả năng tiếp tục con đường truyền thống trong phát triển công nghiệp như thời gian qua, có nghĩa là ưu tiên tăng sản lượng thép và củng cố công nghiệp đóng tàu. Các kế hoạch của chúng tôi khi ấy vô cùng to lớn. Chúng tôi đã dự kiến sản lượng thép phải đạt đến 50 triệu tấn/năm. Và rồi cuộc khủng hoảng dầu hỏa xảy ra. Điều đó buộc chúng tôi phải thích nghi với tình huống. Giá cả các sản phẩm năng lượng không ngừng leo thang. Điều đó đã đẩy chúng tôi đến việc thay đổi định hướng trong cung cấp nguồn năng lượng. Trước đây, theo truyền thống, năng lượng được cung cấp cho các lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng. Song từ nay, năng lượng sẽ được sử dụng để sản xuất các mặt hàng tinh vi hơn, đòi hỏi một mức độ hiểu biết và tay nghề cao hơn. Đó là con đường mà nước Nhật đã dấn thân vào trong những năm 70".
    Tất cả các đối thủ của Nhật đều không biết cách làm như vậy. Makota Kuroda nói tiếp:
    "Trong khoảng 20 năm cuối này, trong những năm 70 và 80, chúng tôi đã trở nên khá mạnh, chắc chắn là do khả năng thích ứng với tình huống mới của người Nhật. Người nước khác đã hành động ra sao ? Chúng tôi có thể so sánh được thôi: cùng thời kỳ này, người Mỹ đã cố tránh việc tăng giá dầu hỏa bằng cách dập tắt việc tăng giá khí đốt và dầu hỏa trong nước họ. Họ tìm cách tự cách ly với các yếu tố bên ngoài này. Còn ở Nhật Bản, do đất nước không có lấy một nguồn năng lượng nào ngoại trừ một lượng than đá ít ỏi, chúng tôi không còn cách nào khác hơn là phải chấp nhận những áp lực từ bên ngoài. Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác hơn là phải tìm ra một con đường mới để phát triển".
    Năm 1979, nước Nhật lại lâm vào cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai với hai lần tăng vọt giá dầu thô và giữa năm 1979 đầu năm 1980. Chi phí dầu hỏa của Nhật Bản đã tăng đến 30 tỷ đô la (150 tỷ franc) mỗi năm. Lạm phát tăng 20% hàng năm. Nhưng, cũng chính từ cuộc khủng hoảng này, nước Nhật lại đã thoát ra, không những không bị thiệt hại gì lớn mà còn hùng mạnh hơn trước. Một lần nữa, Nhật Bản đã biết cách thích nghi với những khó khăn từ môi trường bên ngoài để tiếp tục phát triển.
    Cuộc trao đổi với ông Makota Kuroda diễn ra ngay tại trung tâm Tokyo, trong văn phòng rộng lớn của ông thuộc Japan Economic Foundation, trên tầng thứ 11 của tòa nhà Fukoku Seimei, một trong những công ty bảo hiểm giàu nhất của Nhật Bản. Giàu đến mức phô trương một cách tự hào trong phòng tranh của tòa nhà trọc trời như một biểu tượng không thể chối cãi về sự sung túc của mình, một bức tranh nguyên bản của Gustave Courbet (1819-1877) mang tên là Cối xay gió trong bình minh và một bức tượng bằng đồng của Antoine Bourdelle (1861-1929) với tựa đề Sự trần trụi của hoa trái, thể hiện một người phụ nữ trẻ khỏa thân đang cầm những hoa trái trên tay. Viên chức Nhật Bản cao cấp này hiện vẫn là một trong những cố vấn gần gũi của chính phủ, tiếp tục chứng minh với tôi không chút ngạo mạn nào trong giọng nói và điệu bộ của ông ta mà chỉ duy nhất có sự hãnh diện - một sự hãnh diện rất chính đáng của một trong những người thợ, hay nói đúng hơn là kiến trúc sư cho sự thành công của Nhật Bản.
    "Khi cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ hai bùng nổ thì nền kinh tế của nước Nhật đã chuyển hướng và đã bước vào hướng mới này. Hồi đầu những năm 80, cụ thể là các năm 1982 và 1983, chúng tôi đã tin rằng mình đang hồi phục sau hai cuộc khủng hoảng dầu hỏa. Khi đó, sự ngang giá của đồng yên được giữ ở mức thấp. Đó là một điều không hay, nhưng đồng đô la thì lại rất cao. Nhờ vậy, Hoa Kỳ đã có được một sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Sự tăng trưởng này kéo theo nhu cầu đối với hàng hóa Nhật Bản. Chính hiện tượng này đã giúp nước Nhật khôi phục hoàn toàn sau các cuộc khủng hoảng dầu hỏa. Xuất khẩu tăng vọt và Nhật Bản đã có điều kiện để tích lũy các nguồn vốn lớn. Sau đó, trong các năm 1985 và 1986, đã diễn ra sự kiện endaka - nghĩa là tăng giá đồng yên so với đồng đô la. Hiện tượng này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho việc xuất khẩu của chúng tôi. Nhưng, một lần nữa, chúng tôi có lẽ lại gặp may. Giá dầu hỏa lại bắt đầu tụt xuống: từ đỉnh cao là 30 đô la/thùng (150 franc) vào đầu năm 1986, giá dầu đã giảm dưới 10 đô la/thùng (50 franc). Tính trung bình, giá dầu đã giảm một nửa. Trong khi trị giá đồng yên tăng gần gấp hai lần thì đồng đô la giảm một nửa. Một nửa của một nửa là một phần tư. Chính vì thế mà chúng tôi thường đưa ra con số sau đây: năm 1980, chúng tôi đã chi 13.000 tỷ yên để nhập dầu. Số tiền này chiếm đến 5,5% GNP của năm đó. Năm 1987 và 1988, chúng tôi chỉ phải chi ra 3.000 tỷ yên (108 tỷ franc) để mua dầu, tức là thấp hơn 1% GNP của chúng tôi ! Đó là những khoản tiết kiệm đáng kể đang cần để củng cố nền kinh tế quốc gia vào thời điểm mà nó đang vấp phải một sự sa sút nghiêm trọng trong xuất khẩu, đã lên đến 79.000 tỷ yên (2.844 tỷ franc). Đây quả là những khó khăn đã "giúp" cho chúng tôi càng thêm mạnh: cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ nhất và thứ hai, cũng như việc tăng giá đồng yên. Xét bề ngoài thì đây là những vấn đề nghiêm trọng đối với chúng tôi. Nhưng kỳ thực, các vấn đề ấy lại trở thành cơ may cho nước Nhật định hướng đúng đắn. Tôi cần phải nói rằng chúng tôi đã làm việc khá cật lực để thích nghi với những tình huống mới nhờ vào các cải tiến công nghệ".
    Đó chính là một trong các công thức tạo nên sức bật kỳ lạ của nền kinh tế Nhật Bản.
    Thành tựu kinh tế của Nhật Bản từ năm 1979 đến năm 1981
    Chỉ số tăng trưởng thực của GNP
    Chỉ số gia tăng lạm phát
    1979
    1980
    1981
    1979
    1980
    1981
    Nhật Bản
    5,9
    5
    3 ¾
    3,6
    6 ¼
    5 ¼
    Hoa Kỳ
    3,2
    - ¾
    ¾
    11,3
    10 ½
    10
    CHLB Đức
    4,5
    1 ¾
    - ¼
    4,1
    5 ¼
    4
    Anh
    1,6
    - 2 ¼
    - 2
    13,4
    15 ½
    12
    OCDE
    3,3
    1
    1
    8,6
    11 ¼
    9 ¾
    Hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế của Nhật Bản: sau một thời gian dài tự mặc cảm rằng đất nước mình sẽ không bao giờ tiến được xa, người Nhật đã dần dần lấy lại sự tự tin. Mặc cảm tự ti trước người da trắng vẫn còn đó, nhưng đã bắt đầu mờ nhạt. Năm 1964, một cuộc thăm dò dư luận của NBC (Nippon Broad casting Corporation) cho thấy 65% người Nhật được hỏi đã nghĩ rằng phương Tây "vượt" trên Nhật Bản về mặt kinh tế. Chỉ 17% là có ý kiến ngược lại. Năm 1971, tình hình đã hoàn toàn đảo ngược: 40% người Nhật cho rằng Nhật Bản "vượt" trên phương Tây so với 15% ngược lại. Còn đối với người Tây phương, châu Á còn quá xa xôi và Nhật Bản thì còn quá nhỏ bé nên tham vọng của khu vực và đất nước này muốn giành ưu thế trên thế giới, đối với họ, vẫn chưa có gì nguy hiểm. Thế nhưng...
     
  18. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Hai điển hình cho sự thành công ngạo nghễ của Nhật Bản

    Người ta có thể lên án Nhật Bản vì tất cả các trò lừa đảo trong thương mại và tất cả các trò phản trắc về tài chính. Nhưng ai cũng phải thừa nhận thiên tài của Nhật Bản trong lĩnh vực thiết kế và chế tạo các sản phẩm tiêu dùng hấp dẫn và thực tiễn. Phủ nhận điều này sẽ là một sự lố bịch. Thái độ đó giống như con đà điểu vùi đầu xuống cát để từ chối nhìn thẳng vào sự thật. Hơn nữa, hàng hóa của Nhật Bản nói chung đều tốt. Đã từ lâu, chúng không còn đồng nghĩa với hàng dỏm nữa. Ngày nay, ta sẽ thấy lố lăng khi xem lại một đoạn trong bộ phim Mỹ Công chúa và cướp biển, trong đó Bop Hope đang ném một cái nhìn giận dữ lên khẩu súng bị kẹt đạn của mình và bực bội thốt lên: "Made in Japan !". Để minh họa cách thức mà Nhật Bản đã leo lên hàng đầu trong số các cường quốc công nghiệp của thế giới, chúng tôi xin chọn mô tả hai quá trình: quá trình phát triển của công nghiệp điện tử và quá trình phát triển của công nghiệp xe hơi. Thật ra, chúng tôi cũng có thể chọn những điển hình khác, vì các ví dụ về thành công của Nhật Bản phải nói là vô số.
    Ngành đồng hồ chẳng hạn. Thử hỏi nhà sản xuất đồng hồ nào của châu Âu là không bị tổn thương trước những tiến bộ vượt bực của ngành đồng hồ Nhật Bản ? Có thể khẳng định rằng không ai trong số đó là không bị tổn thương cả. Sự cạnh tranh bất ngờ của nhà chế tạo Nhật Bản - như la Seiko, Citizen hay các hãng khác - đã làm rung chuyển một cách dữ dội sự độc quyền của châu Âu, đến mức mà các hãng nổi tiếng, đã phải phá sản vì không còn khách mua. Không còn một pháo đài nào còn được dành lại cho châu Âu: từ đồng hồ đeo tay loại thường đến đồng hồ đeo tay loại cao cấp; từ đồng hồ báo thức loại phổ cập đến đồng hồ quả lắc trong nhà bếp; từ đồng hồ văn phòng cho đến các đồng hồ công cụ chính xác... Khắp mọi lĩnh vực người Nhật đều đặt dấu chung cuộc. Người Nhật là những người đầu tiên đã tung ra thị trường với số lượng lớn các loại đồng hồ điện tử Quart vận hành tốt hơn và giá rẻ hơn các loại đồng hồ chạy bằng cơ truyền thống. Người Nhật cũng là người đầu tiên bán ra các loại đồng hồ có ghi năm, tháng, trước cả khi các hãng Tây phương kịp nhận ra thảm họa để có thể ngăn chặn một sự xuất huyết, thì các hãng Nhật Bản đã tiêu diệt gọn một bộ phận cạnh tranh đáng kể nằm bên ngoài biên giới của mình. Đến năm 1990, trong số 753 triệu đồng hồ sản xuất ra trên thế giới, riêng đồng hồ Nhật đã chiếm 325 triệu chiếc. Ngành đồng hồ Thụy Sĩ chỉ còn 78 triệu chiếc. [7]
    Chuyện tương tự cũng đã diễn ra với xe máy. Các nhà chế tạo Nhật Bản đã bắt đầu xâm nhập vào thị trường này từ cuối những năm 60. Cuộc đánh cược thật là khó khăn và liều lĩnh, bởi vì người Nhật không hề có kinh nghiệm đáng kể nào trong lĩnh vực này. Nhưng các samourai bước vào cuộc cạnh tranh này không thể nào chỉ dựa vào thị trường hạn hẹp của nước mình để mà sống. Để không phải thất bại một cách thảm hại, cần phải hấp dẫn được khách hàng Tây phương và xuất khẩu hàng loạt. Đối với các xí nghiệp của châu Âu và Hoa Kỳ, bầu trời khi ấy hãy còn rất xanh, không một áng mây. Norton, BSA, Triumph của Anh; Guzzi, Ducati của Ý và nhiều hãng khác nữa đã bán ra các loại xe mô tô và xe đạp gắn máy với một quy trình thiết kế và mẫu mã (Design) rất ít thay đổi so với hồi trước chiến tranh. Các kiểu dáng đề nghị chỉ có tính chất phụ thuộc và mỗi hãng tự điều hành lĩnh vực thương mại của mình. Động cơ bốn thì, thắng trống, ăn lái nhẹ và tạo cảm xúc mạnh ở những khúc quanh, đảm bảo không chảy dầu và rung động: các xe máy này đã là niêm vui của lớp trẻ sôi động. Khi mới xuất hiện trên thị trường, những chiếc xe máy đầu tiên của các hãng Nhật Bản Honda, Suzuki, Kawasaki và Yamaha không có gì là cách mạng sâu sắc. Nhưng người Nhật quả đã mang lại những sản phẩm cách tân. Bởi các xe máy của họ đều sạch sẽ, đều được trang bị bởi một động cơ mạnh, đều có gắn bộ khởi động điện và có nhiều chiếc được mạ crôm. Hơn nữa, những chiếc xe hào nhoáng với tiếng kêu như muỗi ấy lại dễ khởi động, mùa hè cũng như mùa đông. Yếu tố thuyết phục cuối cùng cho những ai còn do dự : giá của chúng quá rẻ !
    Thành công của người Nhật diễn ra tức khắc và như sét đánh. Sức bán của các đối thủ cạnh tranh châu Âu cũng hạ xuống một cách đột ngột và vô phương cứu vãn. Vài năm sau đó, vẫn còn những quái xế châu Âu, với bộ ria mép và chiếc áo da dày, tiếp tục trung thành với những chiếc mô tô khổng lồ nhiều phân khối của Anh hoặc Ý. Đối với họ, các xe máy Nhật Bản kia không phải là những mô tô thực thụ, mà chỉ là một thứ xe đạp máy cho các cậu công tử con nhà giàu. Thế là, năm 1969, xuất hiện một loại mô tô Nhật Bản mang tên là CB 750 Honda. Đó là một chiếc xe bốn xi lanh, bốn thì, 750 phân khối với công suất lên đến 67 mã lực. Bản thân tôi cũng đã từng có một chiếc như vậy và phải thừa nhận rằng tôi đã dành cho nó tất cả lòng yêu mến. Nó rất đẹp, thanh lịch và chạy rất tốt sau gần 100.000 cây số đường. Kể từ 20 năm nay, chiếc xe đã mang đến một phát minh tầm cỡ: thắng đã ở bánh trước. Hơn nữa, nó có thể đạt đến 170 cây số/giờ một cách dễ dàng và an toàn. Kiểu xa này là một biểu tượng cho sự ưu việt của Nhật Bản trong lĩnh vực xe máy.
    Kể từ thời điểm ấy, Nhật Bản là nước duy nhất ấn định các định chuẩn của xe máy cho các khách hàng Tây phương. Và hậu quả không lấy gì đáng ngạc nhiên đã diễn ra: lần lượt nối đuôi nhau, các nhà chế tạo châu Âu ngoại trừ hãng BMW đã phải đóng cửa. Thật ra, ở Hoa Kỳ cũng còn hãng Harley Davidson vất vả bán những chiếc xe máy của mình cho các người mua không sành điệu. Nhưng, ngoại trừ hãng này và hãng BMW của Đức và một vài cơ sở không đáng kể khác, công nghiệp xe máy của phương Tây đã ngưng tồn tại. Mặc dù vậy, người Nhật vẫn không hề giảm bớt mức xông xáo. Họ luôn tự khẳng định mình bằng một tinh thần không ngơi nghỉ. Tại sao vậy ? Bởi vì sự cạnh tranh đã dời về nước Nhật và giờ đây nó đang diễn ra giữa những nhà chế tạo của chính xứ sở Mặt trời mọc...
    Chúng ta cũng có thể nêu thêm trường hợp của ngành nhiếp ảnh: trước khi xuất hiện trên thị trường vào những năm 60 các máy ảnh Nikon, Asahi Pentax và Minolta, các nhà sản xuất máy ảnh của châu Âu và Hoa Kỳ đã trải qua những năm tháng huy hoàng. Người Pháp là vô địch trong lĩnh vực quang học. Người Đức bán các kiểu máy ảnh nổi tiếng là bền của mình. Người Mỹ tung ra hàng loạt các máy ảnh với giá hạ. Còn bây giờ thì sao ? Chỉ còn duy nhất hãng Kodak là sống sót. Rất nhiều hãng đã bị sập tiệm. Nhiều hãng khác đang chới với do tiếp tục "cứng đầu" trước một sự thất bại không thể đảo ngược được. Trong lĩnh vực máy thu hình, công nghiệp sản xuất phim 8mm đã lạc hậu từ lâu và được thay thế bởi các caméscope. Người Nhật hầu như là những kẻ duy nhất trên thị trường này. Họ đang chuẩn bị đè bẹp các nhà cạnh tranh châu Âu trong lĩnh vực vô tuyến truyền hình. Trong lĩnh vực máy ghi hình (magnétoscope), cuộc chơi đã phân định: chỉ có người Nhật, người Nam Triều Tiên và người Đài Loan.
     
  19. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Công nghiệp điện tử : người Mỹ bị đánh gục

    Nhưng ta hãy tạm ngừng bản liệt kê này lại. Chúng tôi sẽ không đề cập tiếp đến các lĩnh vực điện gia dụng, lĩnh vực hi-fi, lĩnh vực văn phòng, lĩnh vực truyền thống... nói tóm lại là vô số các vật dụng của Nhật Bản đã trở thành quá quen thuộc với chúng ta trong cuộc sống thường ngày ở nhà cũng như tại cơ quan.
    Còn về điện tử thì sao ? Ở Nhật Bản cũng như ở nhiều nước khác, chính nó đã tạo ra những tiến bộ kỹ thuật đầy ấn tượng mà người ta sửng sốt bắt gặp trong mọi lĩnh vực của công nghiệp nhẹ. Cũng chính ngành điện tử, trong những năm tới đây, sẽ tiếp tục hướng đạo cho đa số các phát minh kỹ thuật mũi nhọn. Ngành điện tử của Nhật Bản là một kiệt tác của sự thành công. Sự thành công ấy đã được tạo ra trên sự tổn thương của một nước khác: Hoa Kỳ... và đối với Hoa Kỳ, điều đó đã trở thành một thảm họa quốc gia.
    Công nghiệp chế tạo điện tử của Nhật Bản là một anh hùng ca tuyệt vời. Đó là một cuộc chiến từng giờ từng phút giữa hai đối thủ rất khác nhau: một đối thủ phương Đông rất tỉ mỉ, nhanh nhẹn, thận trọng và liên tiếp thắng điểm. Chiến thắng của "anh ta" là điều không thể tin được cho đến điểm gút của cuộc đấu, vì những bất lợi của "anh ta" vào đầu cuộc đấu và vì những thành tích khiêm tốn của "anh ta" sau thảm bại 1945. Đối thủ kia, đối thủ phương Tây, là một đối thủ hăng hái, sáng tạo, nhưng lại vụng về, quá tự tin và không biết lường trước mục tiêu của cuộc đấu. "Anh ta" tin rằng đó là lối chơi tối ưu và đã bỏ qua những điểm dễ đạt được, cho tới một lúc mà mọi sự đều đã trở nên quá muộn màng.
    Nước Nhật bị tàn phá bởi chiến tranh và thiếu thốn mọi kinh nghiệm, đã xuất phát chậm trễ trong cuộc cạnh tranh. Khởi đầu, chẳng ai thèm chú ý đến nó. Người Mỹ đã giữ một vai trò thống trị to lớn đến mức gã lùn Nhật Bản chắc chắn không thể khiến họ phải sợ hãi. Họ giữ cho mình một thái độ kẻ cả đượm nét khoan dung và đôi khi cả sự khinh rẻ.
    Makoto Kikuchi, giám đốc trung tâm nghiên cứu của Sony đã nhớ lại thời kỳ ấy:
    "Khi trung thực hồi tưởng lại những ngày ấy, tôi thường thấy nẩy ra hình ảnh so sánh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, giống như một giáo sư đang xoa đầu một cậu bé học sinh thần đồng đang học ở cấp I hoặc cấp II. Từ một đất nước với một nền văn hóa hoàn toàn khác lạ và bị đánh ngã trong chiến tranh, cậu bé ấy đã học tập một cách say mê và đã đạt được điểm cao. Đó chính là lý do vì sao các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ luôn quan sát chúng tôi với biết bao độ lượng." [8]
    Nhưng, cũng từ đó, David tí hon đã cả gan đương đầu và đã quật ngã chàng khổng lồ Goliath. Goliath đang giẫy chết và đã nhận ra David.
    Những phát minh lớn về vật lý đều được thực hiện ở châu Âu. Chính ở đây đã xuất phát các định luật về âm thanh, về điện, về điện từ. Những ứng dụng của chúng ở cuối thế kỷ trước và đầu thế kỷ này là điện tín, điện thoại, vô tuyến điện thoại và vô tuyến truyền hình. Nhưng lịch sử cận đại đã phải ghi nhận hầu hết các phát minh về điện tử hiện đại từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là phần công lao của Hoa Kỳ. Trên cơ sở các phát minh ấy đã diễn ra cuộc cách mạng lần thứ nhất, mà nếu không có nó, sẽ không có gì trở nên hiện thực cả: đó là sự ra đời của transistor. Được phát minh vào năm 1948, transistor có chứa một lượng tí hon chất germanium, silicium hoặc một thể nào đó có khả năng bán dẫn. Nó cũng thực hiện các chức năng hệt như bóng đèn điện tử: khuếch đại và hướng tín hiệu điện tử theo một chiều định sẵn. Nhưng transistor lại nhỏ hơn bóng đèn điện tử hàng trăm lần, ít bị nóng hơn, chỉ tiêu thụ một phần nhỏ năng lượng so với bóng đèn và nhanh hơn vô cùng. Thế là chiếc bóng đèn điện trở đã bị tuyên án tử hình. Những người phát mình ra transistor và John Bardeen, Walter Brattain và william Shockley. Cả ba đều làm việc trong phòng thí nghiệm của công ty Bell của Hoa Kỳ.
    Ngày nay, đa số lớp trẻ có lẽ chưa bao giờ được thấy tiền thân của transistor. Về phần mình, tôi vẫn nhớ chiếc máy phát thanh chạy bằng bóng đèn của ông bà tôi. Ọc ạch, nóng rực, nặng nề và đồ sộ, nó chiếm cả một chiếc kệ trong gian bếp của các cụ tại Auvergne - một ngôi làng ở miền núi nước Pháp. Ai đó đã nhét vài tấm bưu ảnh vàng úa vì năm tháng giữa chiếc nẹp bằng kền, nhằm trang trí cho "con quái vật" và mảnh vải chùm chiếc loa phóng thanh. Vài tấm bưu ảnh khác được gắn bằng kim gút lên phần vỏ bằng gỗ của chiếc máy. Chiếc đài cũ kỹ này hiện vẫn tồn tại và vẫn chạy được. Tôi đã giữ nó như một vật bảo tàng. Đến khi trưởng thành, bản thân tôi cũng đã chơi lắp ráp một chiếc đài bằng galen. Trong những năm 50 và 60, trong các phòng thí nghiệm của mình, một số nhà khoa học Hoa Kỳ đã chế tạo thành công những chiếc máy tính chạy bằng bóng đèn. Những con "khủng long" ấy rất kém hiệu quả và tiêu tốn năng lượng một cách kinh khủng...
    Sau khi transistor được tìm ra, ai là người đầu tiên mua lại bằng phát mình ? Đó là người khổng lồ tương lai: SONY của Nhật Bản. Tuy vậy, vào năm 1948, nước Nhật vẫn còn gượng dậy rất khó khăn sau những tàn phá của chiến tranh... Nhưng, ngay khi tin tức về phát minh transistor được loan báo, các kỹ sư điện tử của MITI đã chú ý ngay đến mẫu tin mô tả phát minh trên báo chí và lập tức bắt tay vào nghiên cứu các khả năng ứng dụng nó trong công nghiệp. Nhưng do đâu họ lại dám mơ đến việc san bằng sự chậm trễ so với Hoa Kỳ ? Đó là một điều dường như hoàn toàn không thể được, một điều không tưởng. Ở Nhật Bản, các phòng thí nghiệm khi ấy được chiếu sáng rất tồi, sưởi ấm cũng tồi và toàn bộ trang thiết bị chỉ là vài dụng cụ đo cũ kỹ may mắn còn sót lại sau chiến tranh. Không có các tài liệu khoa học để hướng dẫn các nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đã ngủ lại trong các phòng ngủ tập thể dành cho 12 hoặc 15 người. Nhiều tháng sau đó, các kỹ sư Nhật Bản sáng giá nhất hãy còn uổng công "mổ xẻ" một vài chiếc transistor và diode mà các đồng nghiệp Hoa Kỳ đã hào phóng đưa tặng. Tinh thần người Nhật lúc ấy đã lại được nâng lên. Quá khứ đã ở sau lưng họ và họ chỉ còn nghĩ đến việc xây dựng tương lai. Sau nhiều cố gắng không kết quả, mãi đến năm 1953 những nghiên cứu của Nhật Bản về transistor mới đạt được những kết quả xứng đáng.
    Năm 1959 là năm của cuộc cách mạng lần thứ hai trong lĩnh vực điện tử: sự ra đời của mạch tổng hợp. Các tác giả của phát minh này lại một lần nữa là người Mỹ: Robert Noyce của Fairchild, và Jack Kilby của Texas Instrument. Họ đã thành công trong việc gắn lên trên một bảng mạch nhiều chi tiết điện tử, bán dẫn và chất dẫn điện tống hợp trên một mô đun duy nhất. Mạch tổng hợp thể hiện những ưu điểm cần thiết của mạch dẫn và mạch in: nó choán ít chỗ hơn vì người ta có thể đặt nhiều chi tiết hơn vào một không gian cho sẵn, đồng thời vận hành tốt hơn và ít hao tổn năng lượng hơn do sự liên lạc giữa các chi tiết của mạch là trực tiếp và chắc chắn. Mạch tổng hợp đã làm giàu cho những người phát minh ra nó vì các ứng dụng của nó trong công nghiệp quả là rất tiện lợi: điện thoại, máy thu radio cực nhỏ, vô tuyến truyền hình, máy tính bỏ túi... tất cả đều phải nhờ cậy vào mạch tổng hợp. Hồi đầu những năm 60, hố ngăn cách có vẻ như lại càng được đào sâu hơn nữa giữa Hoa Kỳ với châu Âu và với Nhật Bản. Công ty IBM lừng danh của Hoa Kỳ đã chế tạo thành công chiếc máy tính điện tử thế hệ thứ hai.
    Gần như cùng một lúc, một phát minh khác đã đem lại vinh quang cho hãng Intel của Hoa Kỳ: bộ nhớ điện tử. Đó là một bộ nhớ bên trong có lưu trữ thông tin dưới dạng các tín hiệu điện tử, trong khi chờ đợi lần xử lí tiếp sau. Bộ nhớ đầu tiên này có công suất 1 kilobit. Người ta có thể lưu vào và cất giữ trong đó đến 1.000 thông tin. Năm 1971, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã có một phát hiện mới trong lĩnh vực điện tử: bộ vi xử lý. Đó là một mạch duy nhất có mang đặc tính của máy vi tính nhưng lại có kích thước chỉ bằng đúng một con tem. Năm 1973, Intel đã chế tạo thành công bộ nhớ DRAM (Dynamic Random Access Memory) công suất 4 kilobit. Năm 1975, lại một bước tiến mới: từ đây, một bộ nhớ duy nhất có thể lưu trữ đến 16K. Từ lúc ấy, những công ty duy nhất đảm đương nổi việc chế tạo các tuyệt tác kỹ thuật này là các công ty Hoa Kỳ: Mostek, Intel, Motorola và Texas Instrument.
    Trong lĩnh vực điện tử, người Mỹ có vẻ như bất khả chiến bại. Sự chậm trễ của châu Âu thật là kinh khủng. Nước Nhật hầu như không hề tồn tại. Như vậy, ở phương Tây liệu ai còn hạ cố chú ý đến một điều luật mà Nhật Bản đã công bố vào năm 1957 ? Điều luật ấy đã mở đường cho các biện pháp đặc biệt nhằm đẩy mạnh việc phát triển công nghiệp điện tử. Trên thực tế, nước Nhật đã nhanh chóng hiểu được tầm quan trọng sống còn của ngành điện tử. Điều luật nói trên của Nhật Bản đã loan báo với các tổ hợp công nghiệp Nhật Bản rằng, kể từ ngày ấy, ngành điện tử là một trong các lĩnh vực ưu tiên của chính phủ. Chính phủ Nhật Bản đã quyết định hy sinh tất cả để san bằng sự chậm trễ so với Hoa Kỳ. Việc thực hiện điều luật ấy đã rõ ràng: MITI, phối hợp cùng các nhà công nghiệp Nhật Bản, chọn ra các sản phẩm mục tiêu và định hướng các tuyến nghiên cứu. MITI sẽ nắm tay các nhà công nghiệp và tung họ vào chiến trường này. Chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ mọi khoản trợ cấp cần thiết. Các ngân hàng Nhật Bản được khuyến khích cho các nhà công nghiệp dũng cảm vay tiền. Những công ty được diễm phúc chọn ra là Fujitsu, Hitachi, Mitsubishi Electric, Nippon Electric Company (NEC), Oki và Toshiba. Đối với các nhà quan sát chăm chú (số này không nhiều), sự tương phản giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ thật đáng kinh ngạc: ở Hoa Kỳ, bất chấp tính chất chiến lược đặc biệt của ngành điện tử, khu vực tư nhân vẫn bị thả nổi một cách trơ trọi, nhân danh thứ triết lý tự do kinh doanh gần như tối thượng.
    Trong vài năm tiếp theo đó, các công ty Hoa Kỳ vẫn còn tiếp tục chiếm lĩnh vị trí hàng đầu. Đầu những năm 70, chẳng phải IBM đã tung ra chiếc máy tính thế hệ thứ ba với bộ nhớ công suất lớn đến 16K đó sao ? Trong khi đó, Nhật Bản vẫn còn đang phải cố gắng rút tỉa điều gì đó ở các máy tính thế hệ thứ hai đã lỗi thời. Cũng vì vậy, ở Tokyo, người ta đã thay đổi mục tiêu. Hiểu ra rằng việc cố gắng bắt kịp những chậm trễ trong lĩnh vực máy tính là vô ích khi nào còn chưa làm chủ được công nghệ bộ nhớ, MITI đã quyết định vào đầu năm 1975, tập trung các nỗ lực vào một loại mạch thần kỳ. Một năm sau, Nhật Bản đã cho thấy một dấu hiệu mới về quyết tâm của mình: một dự án lớn về phát triển các mạch tổng hợp siêu cao (VSLI) quy tụ MITI với gã khổng lồ của ngành vô tuyến truyền thông Nhật Bản NTT (Nippon Telegraph and Telephones) và 5 tổ hợp lớn (Hitachi, Fujitsu, Mitsubishi, NEC và Toshiba). Trong 5 năm, người Nhật đã làm việc như điên cuồng và đã đạt đến một ngàn bằng sáng chế. Từ đó, sự đối đầu để dẫn đến chiến thắng chung cuộc đã diễn ra trên lĩnh vực duy nhất: bộ nhớ điện tử. Mục tiêu chính của MITI thể hiện một sự táo bạo đến điên rồ: thiết kế và hoàn tất một bộ nhớ 64K trước Hoa Kỳ và trước năm 1980.
    Về phần mình, Hoa Kỳ chưa bao giờ thực sự tìm cách bảo vệ nền công nghiệp của chính mình. Sinh viên và kỹ sư Nhật Bản đã được tiếp đón nồng nhiệt tại các trường đại học Mỹ. Makoto Kikuchi kể lại làm thế nào vào tháng 9 năm 1960, khi ông còn là một nhà nghiên cứu trẻ tuổi, đã may mắn được nhận vào phòng thí nghiệm của Viện Công Nghệ Massachusett và từ đó có thể chiếm lĩnh, chỉ trong một thời gian ngắn, những tinh túy nhất trong công nghệ của Hoa Kỳ để đem về phục vụ cho đất nước mình. Các bằng phát minh cho các phát hiện mới nhất hầu như đều có thể moi được không mấy khó khăn. Sau này, người Mỹ đã giận dữ lên án Nhật Bản là đã do thám họ và đã sao chép một cách thô thiển các kỹ thuật của họ. Ở thời kỳ đầu phát triển ngành điện tử Nhật Bản, sự bắt chước quả là một điều tất nhiên. Chính người Nhật cũng sẵn sàng thừa nhận điều đó: Họ đã hình thành một hệ thống tình báo công nghệ độc nhất vô nhị trên thế giới. Nhưng ai là người thực sự chịu trách nhiệm ? Phải chăng là các phòng thí nghiệm của Mỹ đã không chú ý bảo vệ các công trình của mình ? Hay là những kỹ sư Nhật Bản vốn khao khát tri thức đã không ngại ngùng nắm lấy ngay những gì đã được trao tặng cho họ một cách hào phóng như vậy ?
    Vào cuối những năm 70, những đám mây đen đầu tiên đã tích tụ trên bầu trời của ngành điện tử Hoa Kỳ. Cơn giông rõ ràng chẳng còn xa xôi nữa. Bộ nhớ Nhật Bản đầu tiên với công suất 16K đã được đưa ra thương trường vào năm 1978. Không chậm trễ, nó đã chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ. Rất nhanh sau đó, các khách hàng Hoa Kỳ đã thừa nhận một điều: các bộ nhớ "made in Japan" vận hành tốt hơn rõ rệt so với các bộ nhớ "made in USA". Điều này lại chứng tỏ một điều nữa: Nền công nghiệp Nhật Bản đã đạt đến mức làm chủ được các điều kiện cực kỳ hạn hẹp để chế tạo các mạch điện tử tốt hơn nền công nghiệp Hoa Kỳ. Các điều kiện ấy đặc biệt đòi hỏi phải tạo ra một loại vật liệu có độ tinh khiết gần như hoàn hảo (độ tinh khiết phải đạt tối thiểu 9,999999) trong các phòng cực sạch. Một lý do khác khiến không một khách hàng nào có thể bàng quan: bộ nhớ Nhật Bản rẻ tiền hơn. Người Nhật sẵn sàng thi hành chính sách phá giá; mặc dù chi phí sản xuất của họ cao hơn của Hoa Kỳ, họ vẫn bán trên thị trường Hoa Kỳ với giá hạ hơn giá cạnh tranh và cao hơn giá bán trên thị trường Nhật. [9] Tại chính nước Nhật, toàn bộ thị trường đều được dành cho hàng trong nước, nhờ những hàng rào hải quan hầu như không thể vượt qua nổi. Hệ quả logic của tất cả các biện pháp đó: chỉ cần hai năm, các bộ nhớ Nhật Bản đã đủ sức chiếm lĩnh 40% thị trường thế giới.
    Năm 1980, MITI đã quá đủ cơ sở để hài lòng. Nền công nghiệp trong nước đã thực hiện được lời giao ước của mình và đã chế tạo thành công bộ nhớ 64K đầu tiên. Kể từ đó nhịp độ phát triển đã không ngừng tăng tốc. Cuối năm đó, người Nhật đã công bố một tin tức làm nổ tung các văn phòng các công ty chế tạo lớn của Hoa Kỳ. Không thỏa mãn với việc đưa ra bộ nhớ 64K đồng thời với Hoa Kỳ, NTT tuyên bố sẽ chế tạo bộ nhớ 256K đầu tiên của thế giới. IBM và AT&T (hai hãng chế tạo lớn nhất của Hoa Kỳ) cũng chỉ đạt được thành tích như vậy rất lâu sau đó. Bị rơi vào thế lúng túng, người Mỹ đã nhận ra rằng họ đã bị người Nhật qua mặt trong một lĩnh vực sống còn là điện tử. Trong các phòng thí nghiệm Nhật Bản, ngược lại, là một không khí hân hoan rộng khắp. Nhưng ở bên ngoài, sự khiêm tốn vẫn được duy trì rất nghiêm ngặt. Ngay cả khi ở Tokyo, mọi người đều hiểu rất rõ rằng năm 1980 đã đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong cuộc chạy đua Nhật Bản - Hoa Kỳ. Chí ít là trong lĩnh vực này, nước Nhật đã thực sự dẫn đầu cuộc đua và sẽ vĩnh viễn không rời bỏ vị trí ấy nữa. Dần dần, Nhật Bản đã "cuỗm" đi phần thị trường của Hoa Kỳ, đến mức mà việc sản xuất bộ nhớ của Hoa Kỳ ngày nay không còn nghe thấy tăm hơi gì.
    Thị trường bộ nhớ điện tử trên thế giới
    Nhật Bản
    Hoa Kỳ
    Châu Âu
    Các nước còn lại
    1980
    23%
    75%
    2%
    0%
    1982
    39%
    58%
    3%
    0%
    1984
    54%
    42%
    5%
    0%
    1986
    65%
    27%
    5%
    3%
    Diễn biến kế tiếp của lịch sử là một chuỗi dài những chiến thắng vang dội của Nhật Bản trước Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến tuyệt vọng và đơn độc của các hãng Hoa Kỳ, các chuyên gia phải chiến đấu đơn phương cho sự tồn tại của chính mình chống lại cả một Nhà nước-Dân tộc hoàn toàn gắn bó và đoàn kết cùng nhau trong nỗ lực chung. Các bộ nhớ Nhật Bản bắt đầu tràn ngập thị trường. Vào tháng 7 năm 1981, sản lượng hàng năm của Nhật Bản về bộ nhớ có công suất 64K đã tăng lên đến chín triệu đơn vị. Một năm sau đó, con số này đã lên đến 66 triệu ! Đối nghịch hẳn với các luật lệ của GATT, nước Nhật với MITI ở hàng đầu, đã theo đuổi một chính sách giá cả rất bành trướng bằng cách bán chịu lỗ, điều mà các hãng Hoa Kỳ không thể chịu đựng được lâu do không bao giờ được sự trợ cấp của chính phủ. Cuộc chiến trở nên quá sức, không cân bằng, nhưng lần này sự thua thiệt là ở về phía người Mỹ. Thế là, do mất quá nhiều tiền, nhiều công ty Hoa Kỳ đành quyết định ngưng sản xuất các bộ nhớ điện tử. Silicon Valley đã không chịu đựng nổi cú sốc này. Và chỉ khi mà chẳng còn gì đáng kể để có thể gượng dậy trong một tình huống hầu như tuyệt vọng, khi mà sự giận dữ của các nhà sản xuất Hoa Kỳ đã lên đến tột độ và khi mà, nhiều lần, thực tế đã cho thấy Nhật Bản đã sao chép và sử dụng chính sách phá giá trên quy mô lớn..., chỉ khi ấy chính phủ Hoa Kỳ mới bắt đầu bày tỏ thái độ bực bội và đe dọa trả đũa Tokyo.
    Lo lắng, Nhật Bản đã chấp nhận ký kết thỏa ước đầu tiên về bán dẫn vào tháng 11 năm 1982. Tuy vậy, chính phủ Nhật chỉ mới cam kết "thử đảm bảo" cho các công ty Hoa Kỳ những cơ may bình đẳng trên thị trường Nhật Bản như các công ty Nhật Bản trên thị trường Hoa Kỳ. Trên thực tế, những lời hứa hẹn của Nhật Bản đã không làm thay đổi được gì. Một thỏa ước thứ hai về bán dẫn đã được ký kết một năm sau đó. Chính phủ Nhật Bản khẳng định rằng họ sẽ "khuyến khích" các nhà tiêu thụ lớn ở Nhật Bản để họ mua các bộ nhớ của Hoa Kỳ nhiều hơn. Vô ích: tình thế vẫn cứ tiếp tục tồi tệ đi. Việc bán phá giá vẫn tiếp diễn. Một bộ nhớ Nhật Bản 256K được bán với giá hai đô la (10 franc) trong khi giá thành của nó tối thiểu là ba đô la (15 franc). Nền công nghiệp bán dẫn của Hoa Kỳ sẽ còn phải chịu đựng những tổn thất đáng kể. Từ năm 1985 đến năm 1986, tổn thất này lên đến hai tỷ đô la (10 tỷ franc). Chỉ còn một lối thoát duy nhất: giải tán. Những thiệt hại của Nhật Bản thật ra còn cao hơn thế. Nhưng chúng được xẻ lẻ cho toàn bộ các tổ chức và cơ quan tài chính của Nhà nước. Trong khi người Nhật đang ngốn dần phần lớn thị trường Hoa Kỳ, thì phần thị trường Nhật Bản do các công ty Hoa Kỳ chiếm giữ hầu như không hề gia tăng và chỉ dao động quanh con số 10%.
    Theo ý kiến những người đàm phán về phía Hoa Kỳ thì mục tiêu mà Tokyo tìm kiếm đã quá rõ: tiêu diệt sự cạnh tranh để chiếm trọn thị trường. Do chú ý nuôi dưỡng một đồng minh chiến lược có ý nghĩa sống còn cho sự an ninh của các lực lượng Hoa Kỳ ở vùng châu Á Thái Bình Dương, chính phủ Mỹ đã ngập ngừng chưa dám dấn lên một bước đến những hành động trả đũa hiệu quả và thích đáng. Phải đến tháng 1 năm 1986, chính phủ Hoa Kỳ mới quyết định mở một cuộc điều tra về hoạt động phá giá của Nhật Bản, Washington, sau đó, đã dấy lên sự đe dọa trừng phạt, thể theo một điều luật gọi là "Super 301", theo đó tất cả các bạn hàng thương mại nào của Hoa Kỳ thực hiện những thủ đoạn bất chính sẽ phải chịu một giai đoạn trừng phạt, biểu hiện bằng các biện pháp trả đũa trong thương mại. Một lần nữa, người Nhật lại nhẫn nhục chấp thuận những cuộc đàm phán mới và sau sức ép ghê gớm của Nhật Bản đối với các nhân vật Mỹ có tình cảm với Nhật Bản, một thỏa ước mới về bán dẫn đã được ký kết ngày 2 tháng 9 năm 1986. Tokyo chịu cam kết mở cửa thị trường cho các sản phẩm Hoa Kỳ và nhất là chịu để kiểm soát giá cả các bộ nhớ Nhật Bản bán ở bên ngoài nước Nhật. Về phần mình, Hoa Kỳ sẽ chịu bãi bỏ tất cả các hoạt động truy tố về hành vi phá giá của Nhật Bản.
    Cả thỏa thuận này cũng không mang lại bất kỳ một kết quả thuyết phục nào, và ngày 27 tháng 3 năm 1987, Hoa Kỳ đã phải đưa ra các biện pháp trừng phạt dưới dạng thuế hải quan lên đến 300% cho lô hàng tiêu dùng của Nhật Bản. Những trừng phạt này lại được bãi bỏ một năm sau đó. Nói chung, giờ đây đã không còn phải lúc để phản ứng nữa, bởi vì những phản ứng của Hoa Kỳ đã trở nên hỗn loạn.
    Trong những phần kế tiếp, chúng ta sẽ thấy ngành điện tử Nhật Bản đã từng bước "cầm cương" thị trường thế giới ra sao (không riêng gì lĩnh vực bộ nhớ), đã đẩy lui đối thủ Mỹ và khiến đối thủ này bị lúng túng như thế nào. Khi nào cuộc đấu vật kết thúc ?
     
  20. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Công nghiệp xe hơi: sự thống trị

    Trên lĩnh vực đặc biệt có sức thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia này, sự đột phá của Nhật Bản lại càng dữ dội hơn nữa. Cũng giống như công nghiệp điện tử, công nghiệp xe hơi của Nhật Bản cũng xuất phát rất chậm trễ. Trên thực tế, nó đã khởi đầu từ con số 0 hoặc gần như vậy. Tệ hơn nữa, vào cuối chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền công nghiệp cạnh tranh ở châu Âu đã trụ chân rất vững vàng mới một lịch sử đầy hào khí (đối với một số hãng xe) từ đầu thế kỷ. Các cải tiến công nghệ chính đã được khai thác trong các xưởng lắp ráp: hộp số đồng bộ, dẫn động bánh trước, các bộ phận treo độc lập, thắng đĩa v.v... Hãng Ford ở Hoa Kỳ từ nhiều chục năm trước đó, đã bắt đầu việc sản xuất dây chuyền. Kiểu xe Ford T nổi tiếng đã được sản xuất đến 15 triệu chiếc, kỷ lục thế giới tuyệt đối. Nước Mỹ thời hậu chiến đã lặn ngụp trong niềm phấn khởi trước một sức phát triển kinh tế mạnh mẽ và chiếc xe Hoa Kỳ đã là biểu tưởng cho sự thành công về mặt xã hội và cho sự tự do các nhân. Từng trăm ngàn chiếc một, các xe Ford, Chrysler, General Motors đồ sộ đã tung hoàng dọc ngang khắp mọi nẻo đường của các thành phố. Ở Pháp, Citroen là hãng đầu tiên đã sản xuất và bán ra một loại xe hơi dẫn động bánh trước mang tên là Traction. Chiếc 2 CV, một kiểu xe rất khiêm tốn lúc khởi thủy, đã được cải tiến để có thể chuyên chở với vận tốc 60 cây số/giờ hai người cùng một giỏ khoai tây cũng đã bán chạy như tôm tươi. Hãng Renault cũng thành công trong việc tung ra một chiếc xe bốn chỗ ngồi, được trang bị động cơ 4 CV (mã lực). Ở Tây Đức, Mercedes Benz tiếp tục đà phát triển của mình trước chiến tranh và trở nên thịnh vượng. Cả Volkswagen cũng vậy. Các xe hơi của Ý vẫn khó ai sánh kịp về dáng dấp và vẻ thanh lịch.
    Làm sao mà nước Nhật lại có thể mơ ước đuổi kịp phương Tây ? MITI (lại một lần nữa, MITI) đã chọn công nghiệp xe hơi làm lĩnh vực ưu tiên của công nghiệp đất nước. Nhiều công ty đã được chọn để tung vào cuộc cạnh tranh. Đó là các công ty Hino, Honda, Nissan, Toyota. Lập tức, người Nhật đã sôi nổi lao vào nghiên cứu công nghệ của phương Tây. Đó là thời kỳ "học nghề" của họ. Thời kỳ này kéo dài cho đến tận giữa những năm 60. Như chúng ta đã biết, từ những năm đầu sau chiến tranh, Hino, hãng chế tạo xe tải và xe buýt của Nhật Bản, đã sản xuất dưới nhãn của xe Renault 4 CV. Đầu tiên, Nhật Bản đã nhập xe thành phẩm. Sau đó, họ bắt đầu lắp ráp tại chỗ. Các kỹ thuật gia Nhật Bản đã đến Pháp để học tập công nghệ của Pháp. Dần dần, mặc dù thiếu máy móc, chiếc xe CV trở thành "made in Japan". Trang thiết bị thiếu thốn nghiêm trọng và người ta có thể thấy trong các phân xưởng lớn của Hino ở Tachikawa, ngoại ô Tokyo, những người công nhân khệ nệ vác những tấm tôn ra đến tận máy dập. Dù sao, kinh nghiệm cũng đã đem lại thành công. Hàng ngàn chiếc xe 4 CV đã dọc ngang khắp đường phố Tokyo. Người ta có thể thấy chúng ở khắp nơi. Những chiếc taxi, hoặc là những chiếc xe Hoa Kỳ đồ sộ mà mỗi cuốc đi rất đắt, hoặc là những chàng 4 CV kiên cường vốn chiếm được lòng ưu ái của người dân Tokyo. Đây đó khắp nơi trên đất nước, các trạm bảo trì đã mở cửa. Chiếc 4 CV của bạn cần bảo trì ư ? Hãy đưa nó đến một trong các trạm ấy và lập tức, cả một đội quân "công nhân" nhiệt tình sẽ lao bổ vào chiếc xe của bạn để làm cho nó hoàn hảo trong vòng một hai giờ sau.
    Ngay từ đầu những năm 60, phía Nhật Bản đã kêu gọi Renault ký tiếp hợp đồng giấy phép sản xuất vốn đã gần hết hạn. Người Nhật đã đề nghị người Pháp đầu tư vốn để tham gia xây dựng các phân xưởng. Nước Nhật muốn củng cố việc sản xuất của mình với sự trợ giúp của nước Pháp. Tiếc thay ban giám đốc của Renault lại nghĩ rằng nước Nhật quá xa xôi và không có triển vọng nên đã từ chối. Hợp đồng đã không được ký kết lại và nước Pháp đã mất đi, mà không hề biết, một chủ bài quan trọng trong một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược tầm cỡ. Nhưng người Nhật đã không để mất thời gian. Họ đã tập hợp các hiểu biết cần thiết để tiếp tục làm một mình: vài tháng sau đó, không cần sự giúp đỡ của Renault, họ đã cho ra đời một kiểu xe Nhật Bản tương đương với kiểu Dauphine của Pháp. Ban lãnh đạo của Renault nổi giận và lên án người Nhật là làm tình báo công nghiệp. Ai có thể dự đoán được rằng, chỉ hơn 30 năm sau đó, cũng chính hãng Renault này đã bị đe dọa phá sản do sức ép của các hãng chế tạo xe hơi Nhật Bản.
    Citroen cũng đã thử bán những chiếc 2 CV của mình cho Nhật Bản. Nhưng, đáng tiếc thay, nhiều chiếc đã bị gãy sát-xi và ném mông của những người lái đáng kính xuống những con lộ bụi bặm của Nhật Bản vốn đã quá khó di chuyển đối với các loại xe "công tử" của Pháp. Về phần mình, Nissan (trước năm 1983 được biết đến với cái tên Datsu) đã ký một hợp đồng vào năm 1952 với hãng Austin Motor Co. của Anh để sản xuất theo giấy phép của hãng này những chiếc Austin xinh xắn. Bản thân Nissan cũng đã phát triển rất nhanh và vào năm 1958, đã tự cho phép mình một sự "xa xỉ" là bán xe hơi sang Hoa Kỳ. Việc xuất khẩu sang Mêhicô đã khởi đầu từ năm 1961. Năm 1966 là năm đánh dấu một bước ngoặt quan trọng: Nissan đã khánh thành ở Mêhicô xưởng sản xuất xe hơi đầu tiên của mình ở nước ngoài. Nước Nhật lao vào sản xuất phi địa phương hóa. Các hãng xe hơi lớn khác của Nhật Bản cũng đã nhanh chóng đi theo con đương tương tự.
    Mức gia tăng sản lượng xe hơi của Nhật Bản (triệu chiếc)
    1960
    1965
    1970
    1975
    1980
    Sản xuất
    0,2
    0,70
    3,0
    4,0
    7,0
    Xuất khẩu
    0,0
    0,05
    0,8
    1,8
    4,0
    Nguồn: Keiichi Oshima, Competition and Auto Trade (cạnh tranh và kinh doanh xe hơi)
    Đặc điểm hàng đầu dẫn đến sự bùng nổ của ngành xe hơi Nhật Bản là các nhà công nghiệp đã đổ những khoản đầu tư lớn cho việc nghiên cứu và phát triển. Những khoản tiền này đã được đặc biệt sử dụng để mua lại hàng trăm bằng phát minh ứng dụng cho việc chế tạo xe hơi. Một đặc điểm khác là các tổ hợp đã biết đa dạng hóa sản xuất. Nhờ vậy, chúng luôn trụ lại được vững chắc trong trường hợp việc bán xe hơi gặp khó khăn. Nissan đã lao vào sản xuất tàu thủy, hoạt động trong lĩnh vực hàng không vũ trụ, tham gia việc lắp ráp máy công cụ và sản xuất máy dệt. Honda khởi đầu việc sản xuất xe máy với những thành công như ta đã biết.
    Một nét đặc thù nữa là người Nhật khởi đầu rất sớm việc tự động hóa các dây chuyền lắp ráp. Nhưng họ không tìm cách cạnh tranh với phương Tây trên lĩnh vực các xe hơi kỹ thuật cao. Họ hiểu rằng đánh cuộc vào đó là một điều không thể được, ít ra là trong giai đoạn đầu này. Bù lại, họ đã tấn công vào giá cả. Những chiếc xe Nhật Bản đầu tiên rất đơn sơ, thậm chí trông khắc khổ. Nhưng chúng lại bền, dễ nhìn và điều chủ yếu là chúng rẻ hơn rõ rệt so với các xe hơi ở châu Âu.
    Trên thực tế, các nhà chế tạo Nhật Bản đã tìm ra chìa khóa để phát triển cực nhanh ở Hoa Kỳ. Thị trường Hoa Kỳ đã làm giàu cho họ. Và công nghiệp xe hơi đã nổi bật lên như lĩnh vực xuất khẩu hàng đầu của Nhật Bản. Từ cuối những năm 60, người Nhật đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường xe hơi cỡ nhỏ hoặc cỡ vừa. Công nghiệp Hoa Kỳ không sản xuất những loại xe cỡ này và khách hàng Hoa Kỳ bị choáng váng trước những cuộc khủng hoảng dầu hỏa và việc tăng vọt giá xăng dầu, đã bắt đầu quan tâm đến xe hơi Nhật Bản vốn tiêu thụ ít nhiên liệu hơn rất nhiều so với các "gã khổng lồ" Dodge, Cadillac, Pontiac v.v... Người Nhật chỉ còn việc là tràn vào những khoảng trống. Điều mà họ đã làm và làm một cách không hề do dự.
    Tristan d'Albis, giám đốc đối ngoại của tập đoàn PSA (Peugeot-Citroen) là là cánh tay phải của chủ tịch Jacques Calvet đã trình bầy với tôi cách nhìn nhận của ông ta. Theo ông, người Nhật đã lợi dụng tối đa những phán đoán sai lầm của chính phủ Mỹ và các nhà chế tạo của các nước bên bờ Đại Tây Dương.
    "Người Mỹ chưa bao giờ nghĩ, muốn, có khả năng và cũng chẳng biết cách tung một sản phẩm xe hơi vào lĩnh vực của người châu Âu chúng ta, nghĩa là lĩnh vực xe hơi cỡ nhỏ và trung bình. Lẽ ra, họ chỉ việc nhập khẩu các xe hơi do các chi nhánh châu Âu của họ sản xuất sẵn. Nhưng họ chưa bao giờ làm điều đó và lĩnh vực này đã bị chiếm lĩnh bởi xe hơi châu Âu. Sau đó, họ lại trải đường cho sự đột phá của Nhật Bản. Họ đã thiếu tiếp thị, một sai lầm của các nhà chế tạo Hoa Kỳ mà châu Âu không mắc phải, vì đó chính là một lĩnh vực mà chúng ta là người mạnh nhất. Người Nhật đã bán gì trên thị trường Hoa Kỳ ? Chắc chắn không phải là xe hơi Nhật Bản mà là các xe hơi theo thiết kế châu Âu... Bởi lẽ người Nhật chưa bao giờ phát minh ra điều gì cả. Chúng ta chưa hề có bằng chứng là họ có thiết kế gì về xe hơi.
    Đó chỉ là thiết kế của châu Âu được biến đổi cải tiến và điều cốt yếu là... rẻ hơn. Chỉ cần bỏ vào xe các món điện tử mới lạ, phù hợp với đặc thù của thị trường Nhật Bản. Lý luận công nghệ này là làm sao dễ bán. Và đây là những điều mà họ ghi ở phía sau xe: "Trục cam đôi ở đầu" hoặc "16 xú-páp". Ông sẽ nói với tôi rằng hiện nay ở châu Âu người ta cũng làm hệt như vậy chứ gì ? Nhưng người Nhật đã nhanh tay hơn. Hiển nhiên là họ chẳng có phát minh nào cả, nhưng họ luôn tung ra những kiểu xe mới với một nhịp độ chóng mặt. Ở Hoa Kỳ, những của mới lạ ấy được ưa chuộng.
    Điều thứ hai là các nhà chế tạo Hoa Kỳ đã chậm trễ về mặt công nghệ đến hàng chục năm. Chúng tôi cho rằng xe hơi Hoa Kỳ đã bị lạc hậu 10 năm so với các kiểu xe châu Âu. Điều này là do hệ thống của Hoa Kỳ, mà theo đó cứ ba tháng một lần, phải đưa ra các con số chứng minh công ty đang trên đà tăng trưởng và phải trả cho các cổ đông phần thu nhập bình thường mà họ trông đợi trong một thời gian ngắn. Hệ thống này đã cản trở nghiêm trọng việc đầu tư dài hạn. Hồi đầu những năm 80, khi họ rủng rỉnh có tiền bằng cách hạn chế các quota nhập khẩu xe hơi Nhật Bản vào thị trường Mỹ thì số tiền ấy lại bị phung phí mất, bị tái phân phối cho các cổ đông hoặc mất trắng vào các dự án điên rồ.
    Điều thứ ba là việc quản lý tồi ở một số xí nghiệp Hoa Kỳ.
    Mặc khác, các mối quan hệ trong lao động ở các xưởng xe hơi Hoa Kỳ cũng rất thảm hại. Thật chẳng bù với không khí nghiêm túc ở các xưởng Nhật Bản. Về phần chính phủ Hoa Kỳ, những sai lầm của họ không kém nghiêm trọng. Đặc biệt là họ đã tin như đinh đóng cột là người Nhật cũng chỉ trở thành một bạn hàng kinh tế như các bạn hàng khác. Họ đã hoàn toàn sai lầm ! Họ nghĩ rằng nước Nhật cũng sẽ tuân thủ luật chơi về tự do mậu dịch và vì thế, sẽ không làm hại đến Hoa Kỳ, vì người Mỹ vẫn luôn có những phương tiện quân sự hoặc gì đó để gây áp lực khiến người Nhật phải ngoan ngoãn quy thuận. Nhưng, trên thực tế, những điều như thế không hề diễn ra".
    Tristan d'Albis nói tiếp:
    "Yếu tố thứ hai là sai lầm đáng kể mà Hoa Kỳ đã mắc phải khi hạn chế số quota xuất khẩu xe hơi của Nhật Bản sang Hoa Kỳ. Đó là một sai lầm đã dẫn đến hậu quả là làm giàu cho Nhật Bản. Bởi lẽ kể từ khi phải tôn trọng số lượng quota được xuất khẩu và giảm số lượng bán, thì anh sẽ buộc phải tính đến việc tăng mức lãi xuất thôi. Đó là điều mà người Nhật đã làm. Lãi xuất của mỗi xe hơi Nhật Bản bán trên thị trường Hoa Kỳ đều tăng với tốc độ chóng mặt. Người Nhật đã được một mẻ làm giàu và lại tiếp tục tái đầu tư. Vả lại, các quota này đã được thương lượng mà không có bất kỳ sự tỉnh táo và suy xét nào. Đặc biệt, những người đứng ra thương lượng của phía Hoa Kỳ đã không hề tính đến những xí nghiệp Nhật Bản đặt trên đất Mỹ. Luật quota đã có một kẽ hở. Kẽ hở ấy là cho phép người Nhật thành lập trên đất Mỹ một xí nghiệp Nhật Bản và lại tiếp tục tràn ngập thị trường".
    Nhà lãnh đạo này của Peugeot đã nêu lên một sai lầm khác của chính phủ Hoa Kỳ mà ông cho rằng đã tạo điều kiện cho sự bùng nổ của ngành xe hơi Nhật Bản trên thị trường Hoa Kỳ. Đó là sự kiện endaka - sự tăng giá đồng yên so với đồng đô la. Dưới sức ép của Hoa Kỳ, Nhật Bản đã phải điều chỉnh lại hối đoái của đồng tiền Nhật Bản từ 360 yên ăn một đô la vào năm 1971 xuống còn 245 yên/một đô la vào năm 1985; rồi 200 yên năm 1986 và 133 yên tháng 12 năm 1987.
    "Chính quyền Mỹ tưởng rằng, cuối cùng, họ đã chấm dứt những tai họa của họ hồi đầu những năm 80 bằng cách buộc Nhật Bản phải định giá lại đồng tiền của mình. Hậu quả là người Nhật đã khá thành công (phải thừa nhận điều đó) trong việc bù đắp phần lớn các tổn thất do việc tăng giá đồng yên nhờ các tiến bộ về tăng năng suất mà không để bị ảnh hưởng trực tiếp lên giá cả. Sáng kiến này của người Mỹ không những không có tác dụng gì mà còn quay ngược lại chống chính họ. Chính nhờ việc tăng giá đồng yên mà các nhà công nghiệp Nhật Bản đã bỏ túi những tài sản kếch xù mà họ đem ra đầu tư để cải thiện hơn nữa nền sản xuất của họ và xây dựng vô số các phân xưởng phụ. Chính vì vậy mà ngày nay, họ đã có thể cho phép mình mua Hoa Kỳ từng phần một, từng ngôi nhà một...
    Năm 1980, người Nhật đã xuất khẩu sang Hoa Kỳ gấp hai lần sản lượng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Nhật Bản. Thâm hụt hàng năm trong cán cân thương mại của Mỹ với Nhật Bản đã lên đến 10 tỷ đô la. Mặt hàng xe hơi chiếm một phần lớn doanh số này. Đó mới chỉ là khởi đầu những thất vọng của Hoa Kỳ, vì mức thâm hụt với Nhật Bản tiếp tục được đào sâu thêm đến 50 tỷ đô la (250 tỷ franc) vào năm 1985. Sau đó, endaka không còn tác dụng gì.
    "Và giờ đây, do sự mù quáng tai hại của người Mỹ mà người Nhật đã lọt được vào một hệ thống mà họ luôn chiến thắng trong mọi trường hợp. Nếu đồng yên tăng, họ sẽ đầu tư và nếu đồng yên giảm, họ sẽ xuất khẩu. Trong trường hợp này hay trường hợp kia, chúng ta cũng đều thua cuộc".
    Dù vậy, người Mỹ cũng không phải là những kẻ trách nhiệm duy nhất đã tạo nên sự hùng mạnh cho các nhà chế tạo của xứ sở Mặt trời mọc.
    "Cần phải công bằng: người Nhật đã tiến hành tài tình cuộc chiến tranh xe hơi ở Hoa Kỳ. Trước hết là trên bình diện công nghiệp. Họ đã biết tận dụng một cách tuyệt vời nhu cầu tạo việc làm ở Hoa Kỳ. Bởi vậy, họ đã lao vào cuộc đuổi bắt lợi nhuận bằng cách thiết lập những phân xưởng mới và chọn lựa các địa điểm có mức lợi nhuận cao nhất. Họ đã biết cách lợi dụng sự kiện là ở Hoa Kỳ, không có bất cứ một thứ nghĩa vụ nào đối với nội dung sản xuất. Với các phân xưởng cắm chốt này, ở đó đôi khi các chi tiết chính được chở thẳng từ Nhật Bản sang, họ đã nhanh chóng hoàn vốn đầu tư ban đầu. Cuối cùng, họ đã chú ý đặt nhà máy ở những nơi chỉ có những cánh đồng trồng bông hoặc lúa. Nhờ vậy, họ có thể chọn nguồn lao động mà họ muốn: những cô cậu trẻ tuổi được đào tạo và đã thề trước Kinh Thánh rằng sẽ không bao giờ đình công. Họ cũng đã thành công trong việc loại bỏ các nghiệp đoàn trong đa số các trung tâm sản xuất của họ ở Hoa Kỳ. Cuối cùng, cũng cần phải nói rằng trên bình diện thương mại, họ cũng đã thực hiện được một sự đột phá đáng kể. Trong khi việc quảng cáo của Hoa Kỳ không được hoàn hảo lắm, họ đã biết cách trình bầy một sản phẩm hấp dẫn, thú vị và mới mẻ. Chính vì vậy, mong ông đừng hiểu lầm: tôi không những thừa nhận tài năng của họ mà còn dành sự ngưỡng phục lớn nhất đối với dân tộc Nhật Bản".
    Cần lưu ý rằng giai đoạn 1965-1980 đối với Nhật Bản cũng là một giai đoạn đánh dấu nhiều thay đổi xã hội và thu nhập cá nhân tăng lên. Người Nhật không những đã loại bỏ được sự nghèo khổ mà lại còn tiến tới một cuộc sống sung túc. Trong khi đó, đa số các nước láng giềng châu Á của họ vẫn tiếp tục lâm nguy trong tình trạng kém phát triển và thậm chí, như Trung Quốc, còn phải chịu đói kém. Dân số Nhật đã nhảy từ 83 triệu người vào năm 1950 lên đến 100 triệu người vào cuối những năm 60 vào 120 triệu vào giữa những năm 80. Hiện tượng đô thị hóa cũng gia tăng: năm 1960, 64% người Nhật sống ở các thành phố. Năm 1975, tỷ lệ này tăng đến 76%. Ngày nay, Tokyo đã trở thành một trong những thành phố đông dân nhất thế giới.
    Số giờ lao động trong công nghiệp (Nhịp độ hàng năm)
    Nhật Bản
    Anh
    Hoa Kỳ
    CHLB Đức
    Pháp
    1975
    2043
    1923
    1888
    1678
    1830
    1978
    2137
    1955
    1924
    1719
    1772
    1981
    2146
    1910
    1888
    1656
    1717
    1982
    2136
    1915
    1841
    1626
    1683
    1983
    2152
    1938
    1898
    1613
    1657
    1984
    2180
    1941
    1934
    1652
    1649
    Nguồn: hội đồng cấu trúc công nghiệp Nhật Bản
    Biểu hiện cho những biến động kinh tế Nhật Bản là nông nghiệp đã giảm sút và chỉ còn chiếm 2,5% GNP năm 1980 so vói 5% năm 1970 và 9% năm 1960. Việc phổ cập trung học cũng đạt những tiến bộ nhanh chóng: năm 1950, 43% thanh thiếu niên theo học chương trình cấp 2 bắt buộc sau khi hoàn tất cấp 1; năm 1960 con số đó là 55%; năm 1970: 82%; năm 1980: 94%. Năm 1975, Nhật Bản có khoảng 400 trường đại học mà hai phần ba được thành lập trong vòng 20 năm trước đó. Thêm 100 trường đại học nữa được mở cửa trong 10 năm kế tiếp. Chi tiêu ăn uống của mỗi gia đình đã giảm từ 44,5% vào năm 1955 xuống còn 27,8% vào năm 1980, tức gần bằng mức chi tiêu ở Hoa Kỳ và châu Âu. GNP đầu người - một chỉ số thể hiện sự giàu có của một quốc gia - đã tăng từ 208 đô la (1040 franc) năm 1955 lên hơn 1000 đô la (5000 franc) năm 1980 (đã tính đến yếu tố lạm phát). Năm 1987, mức thu nhập này lại đã đạt đến 19.600 đô la (98.000 frans). Lương bổng cũng tăng 156 lần theo giá trị cố định và 10 lần theo giá trị thực tế (đã tính đến yếu tố lạm phát) từ năm 1847 đến năm 1984.
    Rõ ràng đó chưa thể là sự sung túc. Việc xuất khẩu đã đem lại cho Nhật Bản những nguồn tài chính khổng lồ, nhưng những tài sản ấy vẫn là sở hữu của xí nghiệp chứ không phải của nhân viên. Ở Nhật Bản vẫn còn những người rất nghèo. Những người làm công nhật hoặc làm theo mùa rất chật vật để nuôi sống cả gia đình. Tính trung bình, giờ lao động ở Nhật Bản không chỉ dài mà còn tăng lên liên tục. Bởi vậy, trong khi một lao động Pháp hoặc Đức được hưởng những ngày làm việc 8 giờ thì các đồng nghiệp Nhật Bản phải làm việc đến 10 tiếng rưỡi đồng hồ. Đó là chưa kể thời gian đi, về vốn không ngừng tăng lên ở các đô thị lớn của Nhật Bản. Hơn một triệu rưỡi người Nhật nghèo khổ hoặc gặp khó khăn tiếp tục nhận những khoản trợ cấp. Năm 1951, số người này là hai triệu.
    Về nhà ở, dân cư đô thị sống trong các diện tích chật hẹp hơn ở phương Tây, mặc dù không đến nỗi tệ hại như hồi trước chiến tranh. Tuy vậy, năm 1980, cũng có hơn một phần ba dân số phải bị liên lụy bởi hệ thống thoát nước. Vẫn chưa có chế độ bảo hiểm bệnh tật và bảo trợ xã hội. Đối với nhân viên của một xí nghiệp nhỏ hoặc vừa, nếu trong nhà anh ta có một người bị bệnh thì đó là việc "tự ai nấy lo". Trong các tổ hợp lớn, các quỹ xã hội đang tăng lên. Sự ô nhiễm công nghiệp đã tàn phá đất nước. Trường hợp bi thảm của làng Minamata (bị ô nhiễm chất độc mercure) đã được cả thế giới biết đến. "Căn bệnh Minamata" được phát hiện và chẩn đoán lần đầu tiên vào năm 1956, là căn bệnh gây ra do ăn phải những con cá bị ngộ độc bởi chất thải công nghiệp có chứa mercure được đổ ra biển. Căn bệnh này đã làm chết 1000 người và 2000 người khác được chính thức ghi nhận là mắc bệnh. Có ai đã quên hình ảnh bi thảm của một bé trai Nhật bị mắc chứng đần độn trầm trọng từ lúc mới lọt lòng do người mẹ ăn phải cá bị nhiễm độc ?
    ... Nhưng, nói chung, nước Nhật ngày nay đã trở thành một tấm gương phát triển cho toàn thể châu Á. Trên phạm vi quốc tế, dư luận và nhất là các chủ xí nghiệp đã bắt đầu nhận thức rõ sức mạnh đáng sợ của Nhật Bản trong những năm 90.
     

Share This Page