Mưu Trí Thời Tần Hán

Discussion in 'Ebook' started by CóVayCóTrả, May 8, 2014.

  1. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 62: Tạo Điều Kiện Cho Mọi Người Phát Biểu, Cách Thu Phục Nhân Tâm

    Trong giới kinh tế học thời kỳ Tây Hán, học thuyết "độc quyền" được xem như một loại học vấn lưu hành phổ biến và được nhiều người quan tâm, chú ý. Từ "độc quyền" bắt nguồn từ thời Xuân Thu, nhưng đến Tây Hán thì nó lại có thêm hàm ý mới, nó :dùng để chỉ sự ảnh hưởng và thao túng của quốc gia đối với thị trường thương phẩm. Thời Hán Vũ Đế, học thuyết "độc quyền" đã đi từ lý thuyết đến thực tế, thông qua chính sách kinh tế thời bình, thời chiến của Hán Vũ Đế, học thuyết này đã trở thành một bộ chính sách hoàn chỉnh, nó bao gồm nhiều mặt như việc quản lý kinh doanh muối, sắt, nhà nước lũng đoạn tiền tệ, thao túng thị trường, trưng thu các loại thuế v.v...
    Năm 81 trước Công nguyên, sau khi Hán Đế băng hà, năm thứ sáu trị vì của Hán Tuyên Đế, triều đình mở một cuộc hội nghị bàn về cái được và mất của những chính sách thời Hán Vũ Đế hay gọi một cách thông thường đó là hội nghị muối, sắt. Thành phần tham gia bao gồm hơn 60 văn sĩ, các bậc tài đức của các quận và nước chư hầu (đa phần trong số họ là nho sĩ). Về phía triều đình có Thừa tướng Điền Thiên Thu, ngự sử đại phu Tang Hoành Dương...
    Thời Hán Vũ Đế, người nắm thực quyền là Hoắc Quang - ông là một trong những trọng thần mà Hán Đế lúc lâm chung truyền lệnh phò tá chính triều và thái tử. Hoắc Quang vốn là đại tư mã, đại tướng quân. Sau khi phò tá Triệu Đế lên ngôi, ông cho thực thi chính sách giảm bớt chiến tranh, chú trọng sản xuất và cho nông dân nghỉ ngơi lấy sức. Hoắc Quang và Tang Hoành Dương lại là hai thế lực đối địch nhau kịch liệt và trên thực tế thì thế lực của Hoắc Quang đã nắm phần thắng. Chính ông là người tổ chức hội nghị muối, sắt lần này. Bản thân ông không tham dự nhưng lực lượng "văn sĩ", "bậc tài đức , là phía đại diện cho tư tưởng của ông.
    Hội nghị xoay quanh ba vấn đề nóng bỏng, một là chiến tranh đối ngoại, hai là quan lại kinh doanh muối và sắt, ba là quốc gia khống chế, lũng đoạn thị trường. Khi thảo luận thì không được tập trung cho lắm, tuy lấy ba vấn đề trên làm chủ chốt nhưng lại liên hệ tới các mặt như chính trị, quân sự, học thuật v.v... Vấn đề trọng tâm là kinh tế thì lại bình luận nhiều ở cái phải trái, được mất của chính sách "độc quyền".
    Trong hội nghị, phái "văn sĩ" và "bậc tài đức” đứng về phía quần chúng nhân dân, thương nhân. Họ đả kích kịch liệt chính sách "độc quyền", nhưng trong lý luận, thì lại không giấu được cách suy nghĩ tiêu cực, mơ ước và mục đích không thực tế, họ muốn quay trở lại chế độ chưa có tông pháp trước đây. Tang Hoành Dương thì đứng về phe ủng hộ chính sách "độc quyền", ông phản bác luận điểm của phái "văn sĩ". Đứng trên lập trường và lợi ích triều đình, quốc gia ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách này, và mọi chính sách khác phải cải biến theo xu hướng thích nghi với nó.
    Lần hội nghị này, kết quả chẳng thu được điều gì cụ thể, nhưng từ đó có thể thấy đường lối tư tưởng Tây Hán đã phân chia thành hai nhánh đối lập nhau qua trục là chính sách "độc quyền". Tuy là hội nghị chỉ thông qua được một quyết định là loại bỏ việc kinh doanh buôn bán rượu chuyên nghiệp còn những cái khác vẫn giữ nguyên, nhưng nhìn từ tổng thể con đường phát triển tư tưởng kinh tế có thể thấy nó đi theo xu hướng bảo thủ. Do đó có thể nói rằng nhóm "văn sĩ", "bậc tài đức”, cũng có vai trò đóng góp không nhỏ.
    Bất luận sự phát ngôn của các bậc này có tác dụng như thế nào đối với các chính sách kinh tế, chính trị Tây Hán, nhưng cách để cho mọi người được phát biểu ý kiến, khích lệ tiếng nói từ dân gian đến hội nghị triều đình là một phương pháp đáng đề cao. Dù là trong lĩnh vực nào, kinh tế hay chỉnh trị, biết lắng nghe ý kiến mọi người vừa là sự thể hiện tác phong của người lãnh đạo, quản lý, lại vừa là một mưu kế trong việc quản lý lãnh đạo quốc gia, khu vực hay công ty xí nghiệp.
    Năm 1980, hãng xe hơi General, một trong những hãng xe lớn nhất thế giới lâm vào cảnh suy thoái cùng cực. Thế mà trước đây, ngoài sản phẩm xe hơi ra, công ty còn đứng hàng đầu thế giới về sản xuất các đồ dân dụng như điện khí, máy X quang, thiết bị trạm điện v.v.. Thậm chí trong các lĩnh vực đòi hỏi khoa học, kỹ thuật cao như sản xuất đầu đạn tên lửa, thiết bị hàng không... công ty cũng đạt được những thành tựu khiến nhiều người phải ao ước. Không ngờ thời gian, hoàn cảnh đã làm đảo lộn tất cả.
    Trong lúc nguy nan ấy, John waki nhận chức chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng quản công ty. Lúc đó ông 44 tuổi. ông thực hiện những cải cách lớn đối với những mặt sai lầm, hạn chế của công ty. Trong số các biện pháp cải cách là biện pháp phát động công nhân tự giác nêu ý kiến, quan điểm của mình được xem trọng nhất. Ông muốn biến công ty trở thành "một công ty không có giới hạn". Cái gọi là "không có giới hạn" chính là "không ngần ngại phát biểu ý kiến". Lúc đầu những lời nói của công nhân có vẻ khó lọt tai, có công nhân còn nói thẳng vào mặt giám đốc "Tôi muốn biết ở chỗ này đến khi nào mới có cái gọi là quản lý thực sự đây?" Lời nói tuy khó nghe, nhưng Waki không hề phê bình, khiển trách, mà ông còn nghe theo lời người công nhân này tới tận hiện trường để tận mắt tìm hiểu cách quản lý ở đó, vài tuần sau ông cho giải tán đội ngũ quản lý ở đó .
    Sau này, công ty có tới hàng chục ngàn người tham gia phong trào "mọi người đóng góp ý kiến". Mỗi lần họp có từ 50 đến 150 ý kiến của công nhân, thời gian phát biểu ngắn gọn về những nội dung mới. Mỗi năm vào tháng 1, tầng lớp quản lý mở một cuộc họp tương tự như vậy. Hơn 500 vị chủ quản cao cấp phải họp hai ngày rưỡi. Tháng 10 trong năm, 100 vị quản lý họp hai ngày rưỡi. Trên cơ sở đó, 30 vị tai to mặt lớn của công ty họp lại với nhau lần cuối cùng trong vòng hai ngày rưỡi để phân tích những phản ánh, ý kiến của các cấp, kịp thời đưa ra những chính sách đối phó. Waki thường chăm chú lắng nghe các ý kiến mà không bày tỏ quan điểm, thái độ gì. Phong trào "mọi người đóng góp ý kiến" mang lại cho công ty một luồng sinh khí mới. Nó vừa mang lại những hiệu quả rõ rệt về kinh tế, lại vừa khiến cho lực lượng công nhân thấy được tầm quan trọng của mình, dốc sức làm việc. Tất cả những điều đó đã làm thay đổi diện mạo công ty. Năm 1985, công ty giảm 110.000 nhân lực, lợi nhuận và hạn ngạch kinh doanh lại gặt hái được những kỳ tích. Năm 1988, công ty được liệt vào danh sách các công ty lớn nhất trên thế giới và 5 công ty lớn nhất nước Mỹ.
     
  2. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 63: Biết Mình, Biết Người, Nhanh Chóng Quyết Sách

    Thời Tây Hán Tuyên Đế, bọn người Di thường xuyên quấy nhiễu vì vậy Tuyên Đế liền phái Quang Lộc đại phu nghĩa cử An Quốc đi Tây. Thủ lĩnh bọn Di đòi di dân tới vùng bờ Bắc sông Hoàng Thủy. Chưa rõ được ý đồ của việc này Quang Lộc đại phu bèn truyền lại sự việc với triều đình. Lúc đó, tướng quân sử Triệu Song Quốc liền vạch ra ý đồ của bọn người Khương trong việc xin vượt sông là muốn cấu kết với Hung Nô, chống lại triều đình. Và sự thực diễn ra đúng như vậy thì vùng Tây Bắc sẽ dễ dàng lọt vào tay chúng. Quả nhiên sau đó ít lâu bọn Di này tự ý vượt sông Hoàng Thủy, các quan huyện, quận ở vùng này không kháng cự nổi.
    Tuyên Đế vội hỏi Triệu Sung Quốc đối sách. Dựa vào sự hiểu biết của mình về bọn Di ông đưa ra ba đối sách. Thứ nhất, cho người tuần sát biên phòng, quân đóng ở vùng đó phải chuẩn bị tốt ứng biến, Thứ hai, theo dõi chặt chẽ mọi động thái của bọn người Khương. Thứ ba, nhân cơ hội giá thóc rẻ, mua 2 triệu đấu thóc để dùng cho lúc cần. Ba đối sách này được xây dựng trên cơ sở biết sức mình, sức địch, đảm bảo sẽ giành thắng lợi.
    Hán Tuyên Đế lệnh cho lão tướng quân Triệu Sung Quốc đến Kim Thành tổ chức đội quân kỵ binh hơn 10.000 người, còn phái ba bộ phận nhỏ thừa lúc đêm tối vượt sông, sau đó cả đại quân đều lần lượt vượt sông Hoàng Thủy.
    Khi đại quân vừa tới, mấy trăm tên giặc Di đã nhảy ra khiêu chiến. Bọn chúng liên hồi la hét, kích động tướng sĩ nhà Hán nghênh chiến. Triệu Sung Quốc bình thản lệnh cho quân sĩ "Ta từ xa tới, còn mệt mỏi, không thể lập tức tham chiến, bọn này đều là kỵ binh, không dễ đối phó, chúng có mưu đồ gì hay không, ta vẫn chưa làm rõ. Muốn đánh phải đánh tới cùng, triệt để, quyết không vì vài thằng giặc này mà lỡ việc quân". Thế là bọn Di có la hét thế nào thì quân Hán vẫn không động tĩnh.
    Sau đó, Triệu Sung Quốc phái một tốp nhỏ đến núi gần đó trinh sát xem có phục binh hay không. Khi biết rằng không có ông lệnh cho quân trong đêm di chuyển vào hang núi. ông đã có sẵn dự định "Bọn Di không biết dùng binh, nếu bọn chúng cử người chặn ở cửa hang thì ta vẫn có cách thoát". Chính vì có sự tự tin và quyết tâm hình thành trên cơ sở hiểu rõ đối phương nên những kế hoạch, hành động của Triệu Sung Quốc rất chu đáo, thận trọng. Ông biết quân đội của chúng là tổ chức đồng minh của 200 bộ lạc kết hợp lại, không phải là khối thống nhất. Chỉ cần phía ta ổn định, bám trụ, bọn chúng sẽ tự phân loạn. Ngày nào ông cũng cho binh lính rượu thịt no say, kiên quyết không xuất binh. Còn bọn Khương thì sao . Lúc đó quả là trong nội bộ của chúng bắt đầu có rối loạn, đổ lỗi cho nhau: "Bảo đừng làm phản, các ngươi không nghe. Nếu triều đình phái lão tướng họ Triệu tới, ông ta hơn 80 tuổi rồi, mưu sâu, kế hiểm, dùng binh như thần, chúng ta mà đánh nhau với ông ấy thì khác gì trứng chọi đá".
    Văn võ quan trong triều cho là Triệu Sung Quốc không dám xuất binh nên khuyên Hán Tuyên Đế hạ lệnh cho ông phải tấn công, Hán Đế liền làm theo. Triệu Sung Quốc vẫn không tấn công, ông nói đi nói lại với Hán Tuyên Đế các mối lợi hại, cuối cùng thuyết phục được Tuyên Đế thu lại lệnh.
    Thấy quân lính của bọn Di đã có phần phân tán rời rạc, Triệu Sung Quốc cho chuẩn bị chu đáo. Đối phương hay tin quân Hán chuẩn bị tấn công thì hốt hoảng bỏ cả gươm, giáo tìm đường vượt sông chạy trốn. Ông cho binh sĩ truy kích một cách từ từ. Thủ hạ sốt ruột cho là như thế thì chậm quá. Triệu Sung Quốc bèn nói: "Bước đường cùng, không thể bức quá gấp, đuổi từ từ bọn chúng sẽ cuống lên mà nhảy xuống sông. Nếu truy sát ráo riết quá thì chó cùng dứt dậu”. Kết quả là quân Di kéo nhau lên một chiếc thuyền định vượt sông, đến giữa dòng thì thuyền bị đắm, quân Hán tiêu diệt hơn 500 tên còn lại, thu được 100.000 chiến mã, 4000 xe, thắng lợi giòn giã.
    Triệu Sung Quốc thật không hổ danh là bậc chỉ huy quân sự kỳ tài. Ông biết bình tĩnh quan sát, chờ đợi thời cơ, biết mình, biết người, liệu việc như thần. Cái tuyệt diệu trong kế sách, mưu lược của ông chính là dựa theo thuyết "binh pháp Tôn Tử" với quan điểm nổi tiếng "biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng". Trên thương trường ngày nay làm thế nào để xây dựng quyết sách trên cơ sở đã nắm rõ được tình hình của mình và đối phương chính là điều mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng trăn trở.
    Năm 1968 là thời điểm cạnh tranh của ngành vận chuyển dầu lửa thế giới. Vậy mà chàng trai trẻ 32 tuổi người Na Uy tên là Wahase đem 3 chiếc tàu chở dầu mà cha anh ta vừa mua về bán đi. Mọi người thấy vậy đều cười anh là không biết kinh doanh, tận dụng cơ hội kiếm tiền, hoặc cho rằng anh nhát gan không dám tham gia vào cơn sốt cạnh tranh. Nhưng Wahase đã sớm có suy nghĩ riêng của mình. Cha anh mất trước đó một năm, để lại cho anh một công ty vận chuyển hàng hải nhỏ. Anh nhận thấy bỏ một số tiền lớn để mua ba chiếc tàu chở dầu đối với một công ty qui mô nhỏ như của anh là không hợp lý, mạo hiểm. Nếu ngành vận chuyển này gặp bất trắc gì thì số vốn tồn đọng của công ty tập trung trên 3 chiếc tàu đó sẽ trở thành con số không. Thế là anh quyết định bán chúng đi, chuyển sang mua mấy chiếc tàu nhỏ vận chuyển bốc dỡ nguyên vật liệu, sắt, thép. Ngành kinh doanh này tuy lợi nhuận không cao nhưng ổn định, phù hợp với công ty anh. Và anh đã nhanh chóng ký được nhiều hợp đồng dài hạn trên lĩnh vực này.
    Năm 1973, chiến tranh Trung Đông bùng nổ, để biểu thị sự phản đối với các nước âu Mỹ, các nước xuất khẩu dầu trong khu vực bèn nâng cao giá dầu, có nước còn ngừng xuất khẩu. Hệ quả của sự kiện này là ngành vận chuyển dầu lửa từ chỗ làm không hết việc lâm vào tình trạng ế ẩm.
    Lúc đó mọi người mới cảm thấy thán phục Wahase. Anh đã sớm định liệu được tình hình. Vì vậy, không những tránh được ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng mà còn gặt hái được thành công trên lĩnh vực kinh doanh mới. Công ty của anh làm việc đều đặn, lợi nhuận tăng cao, đến năm 1990 trở thành một trong những công ty vận chuyển lớn nhất Na Uy với hơn 90 tàu thuyền, tổng trọng tải lên tới 1,2 triệu tấn, lại còn có các hạng mục đầu tư ở một số nơi trên thế giới.
    Sự thành công của Wahase cũng là được xây dựng trên cơ sở biết mình, biết người, dũng cảm đưa ra quyết sách hành động.
    Trước những năm 90, địa bàn mà hiện nay là khu thương nghiệp Tokyo, Nhật Bản còn là khu đất hoang sơ. Thế nhưng Zashumu, người sáng lập ra công ty Sanlang đã mua 7 vạn mét đất ở khu này với giá 1 triệu yên / m2. Nhiều người chê ông là ngốc nghếch. Vậy mà 30 năm sau đó, nơi này biến thành khu quy hoạch thương nghiệp sầm uất, giá đất tăng lên gấp 300 lần. Đến lúc đó mọi người mới giật mình trước con mắt nhìn xa trông rộng của ông.
    Năm 1972, công ty lại mua một miếng đất với giá 15 triệu yên một m2 của hiệp hội truyền thống Tokyo, Nhật Bản, sự kiện này gây chấn động giới thương nghiệp. Thử nghĩ nếu không có dũng khí ban đầu bỏ một số tiền khổng lồ đi mua miếng đất hoang thì công ty làm sao có một số vốn khổng lồ để mua miếng đất sau này với giá cao như vậy.
     
  3. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 64: Điều Tra, Nghiên Cứu Và Tin Tức

    Triệu Quảng Hán là người thời Hán Tuyên Đế, ông giữ chức quan phụ mẫu của vùng kinh đô. Ông làm việc chăm chỉ, nghiêm túc, thường cải trang thâm nhập sinh hoạt với quần chúng để điều tra, nghiên cứu làm tốt công việc được giao. Có lúc đàm luận công việc với cấp dưới, thậm chí với người dân thường đến thâu đêm suốt sáng.
    Triệu Quảng Hán đi mua đồ ở chợ luôn sử dụng phương pháp "quân cự pháp". Ông dùng phương pháp này để biết được giá cá của một loại hàng hóa nào đó có hợp lý hay không. Ví dụ ông muốn tìm hiểu giá của ngựa thì đầu tiên ông đi hỏi giá của chó, sau đó giá của dê, của bò, sau đó mới hỏi đến giá của ngựa. Thông qua kiểm chứng các tầng lớp giá cá, tính toán chuẩn xác giá của mặt hàng cùng chủng loại xong thì sẽ biết được giá ngựa là cao hay thấp. Cách làm này thường là chuẩn. Mọi người rất thích phương pháp này và muốn ông bày cho. Ông thường tận tình chỉ bảo, nhưng chẳng có ai vận dụng được như ông.
    Triệu Quảng Hán không chỉ vận dụng phương pháp này trên lĩnh vực thị trường mà còn áp dụng nó vào công việc chính trị. Nhờ nó mà ông có thể giải quyết một cách rõ ràng minh bạch các vụ trộm trong quân, các vụ lộn xộn trong huyện. Thậm chí ông không chỉ tìm ra được nguyên nhân sự việc mà còn có thể nói rõ được tại sao không trị tội người này và tại sao tịch thu thêm, phạt thêm người kia.
    Hồi đó, trong thành Trường An có vài tên trộm nhỏ tuổi, một hôm bọn chúng đang tụ tập trong căn nhà hoang để bàn việc trộm cắp, bắt cóc tống tiền thì quan quân của phủ đã tới bắt gọn. Sau khi lấy cung, đưa ra các bằng chứng bọn chúng đều nhận tội.
    Lại có một lần, quan lang trong triều đi qua vùng này liền bị hai tên cướp chặn đường uy hiếp, chúng muốn bày trò để vị quan này phải nộp tiền. Nhưng chẳng bao lâu sau đó Triệu Quảng Hán đã đem thêm nha dịch và quan huyện đến nhà hai tên cướp này. Vị quan huyện liền lớn tiếng: "Các ngươi có biết việc làm của các ngươi sẽ đem lại hậu họa gì không? Người mà các ngươi đang giữ là quan thị vệ trong triều, lại rất được hoàng đế tin yêu. Hơn nữa việc các ngươi làm Triệu đại phu đã có chứng cứ rõ ràng rồi. Các ngươi hãy mau thả người ra, nếu không tội của các ngươi sẽ nặng như núi Thái Sơn". Bọn này nghe vậy sợ quá vội xin chịu tội.
    Biện pháp mà Triệu Quảng Hán sử dụng gọi là "quân cự pháp" thực chất là một phương pháp điều tra, nghiên cứu tỉ mỉ. Chính nhờ sự thăm dò diện rộng, suy xét chiều sâu mà ông luôn nắm được thực chất tình hình, chủ động giải quyết. Nhiều hành vi tội ác của bọn tội phạm đã bị ông bắt quả tang hoặc chỉ rõ ngọn ngành. Sở dĩ ông nắm được những tin tức, biết được những điều mà người khác không biết cũng chính là nhờ biện pháp này. Thời đại ngày nay là thời đại thông tin. Ai nắm được nhiều thông tin thì sẽ kiếm được tiền. Nhưng làm sao để có được thông tin? Có nhiều cách, nhưng trong đó có việc phải thông thạo về điều tra, nghiên cứu, thăm dò.
    Nhật Bản thời Minh Trị có một bậc triệu phú tên là Hạ Thôn Thiện đại lang. Thời còn trẻ ông nghèo đến độ cơm không đủ ăn. Một hôm ông đem chiếc áo của vợ đi cầm đồ, đổi lấy ít tiền để kinh doanh bông. Chẳng biết là do may rủi hay duyên phận mà ông giàu lên một cách nhanh chóng. Đến 1875 ông đã trở thành bậc phú ông nổi tiếng trong vùng. Người ta ước tính số vàng của ông phải lên tới hàng vạn lạng.
    Bí quyết thành công của ông là gì? Ông nói "Làm kinh doanh cái quan trọng nhất là tin tức. Tôi sử dụng "chân biết bay" mà phát tài. Lúc nào tôi cũng nắm được nhu cầu tiêu dùng, đi trước người khác thì làm sao không giàu được". Thì ra cái ông gọi là "chân biết bay" chính là bưu chính. Ngày xưa người ta thường thuê những người chân dài, đi nhanh làm nhiệm vụ đi liên lạc tin tức. Cho nên tin tức mà ông thu được chính là tin nhanh.
    Sự chú trọng thông tin của người Nhật đã có lịch sử từ lâu. Trước những năm 40 của thế kỷ này, ngành chế tạo xe hơi của Nhật chủ yếu là sản xuất xe tải và xe khách cỡ lớn. Xe con sản xuất ít vì kỹ thuật công nghệ chưa cao. Nhưng thông qua điều tra thị trường, thu thập tin tức, phân tích nhu cầu, các nhà sản xuất nhận định rằng chẳng bao lâu nữa xe con sẽ trở thành mặt hàng trọng điểm. Thông qua kinh nghiệm 10 năm kinh doanh sản xuất, Nhật Bản đã tập trung phát triển cao độ ngành kỹ thuật này. Đến 1983, Nhật đã sản xuất tổng cộng 7,16 triệu chiếc xe con, giữ vị trí đầu bảng thế giới. Tiêu thụ nội địa 1,4 triệu chiếc, còn lại thì xuất khẩu. Do đó xe con đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của nước này.
    Đầu những năm 60, tivi đen trắng ở Nhật giá rất rẻ, mà các ưu điểm khác thì chẳng thua kém gì máy của Mỹ. Do đó các nhà sản xuất của Mỹ bèn chuyển sang sản xuất tivi màu. Nhận được tin này các nhà sản xuất Nhật nhận định rằng chẳng bao xa tivi màu sẽ chiếm ngôi vị độc tôn trên thị trường thế giới và Nhật. Thế là họ lao vào nghiên cứu, sản xuất với một tốc độ chóng mặt. Kết quả là tivi màu Nhật sau khi ra đời không chỉ được thị trường Nhật mà cả thế giới hoan nghênh.
    Đồ gốm sứ là sản phẩm mỹ nghệ truyền thống của Trung Quốc. Vậy mà tại Tây âu, chén sứ của Trung Quốc không cạnh tranh nổi với đồ của Nhật. Nguyên nhân xuất phát từ việc người Trung Quốc chưa làm tốt công tác điều tra, nghiên cứu. Chén của Trung Quốc miệng hẹp. Người Tây âu mũi cao, khi uống nước mũi thường chạm vào miệng chén, họ cho như vậy là không vệ sinh nên không thích dùng. Người Nhật nắm được điểm mấu chốt này, lập tức cho sản xuất loại chén có miệng rộng và hơi lệch một chút, như vậy rất phù hợp với thói quen vệ sinh của người Tây âu, hàng hóa bán đắt khách.
    Người Nhật luôn coi trọng tầm quan trọng của tin tức. Chín Tổng công ty thương nghiệp xã hội tổng hợp cỡ lớn đều xây dựng các trung tâm tin tức. Bọn họ lập 690 văn phòng đại diện ở nước ngoài, phân bố trên 129 thành phố của các quốc gia trên thế giới, hình thành lên mạng lưới thông tin toàn cầu. Trong đó tám Sanlang công ty có 142 công ty con trên 128 quốc gia, lượng nhân viên là 3700 người. Bọn họ mỗi ngày gửi 4 vạn bản báo cáo, 3 vạn văn kiện bưu điện, gọi 6 vạn lần điện thoại về trung tâm thông tin của công ty. Tính ra số dây để gói các loại giấy tờ này trong mỗi ngày có thể quấn quanh trái đất 11 vòng. Con số này có thể thấy mức độ coi trọng tin tức của người Nhật cao đến cỡ nào.
     
  4. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 65: Đối Tốt Với Người, Lấy Nhu Thắng Cương

    Trác Mậu là người huyện Uyển thời Tây Hán. Tổ phụ và cha của ông đều là quan địa phương. Từ nhỏ ông đã được sống cùng sách vở thánh hiền. Thời Hán Nguyên Đế ông đến kinh đô Trường An tìm thầy học, người thầy này chính là tiến sĩ Giang Sinh trong triều. Dưới sự chỉ bảo của thầy, ông sớm tinh thông các kinh điển, trước tác như "Kinh Thu”, "Lễ Ký", tường thiên văn, nhân văn, địa lý. Ông còn tận tâm theo học tư tưởng của thầy mình. Với sự khổ luyện âm thầm đó, cuối cùng thì ông cũng trở thành một nho sĩ uyên thâm. Trong đám bạn học, ông nổi tiếng là người nhân hậu, đối với bậc tiền bối, bậc thầy ông một lòng cung kính, đối với đồng hương, bạn cùng trang lứa dù là quan hay dân ông đều quý mến, tôn trọng như nhau.
    Học thức của Trác Mậu và phẩm cách của ông được mọi người ngợi ca. Thừa tướng phủ thấy vậy bèn triệu ông vào phủ, phong cho một chức vị. Một lần ông vừa đuổi ngựa ra tới đầu ngõ, có người đi qua nhìn ngựa của ông và nói: "Đây là con ngựa mà tôi bị mất", Trác Mậu hỏi: ngựa của ông mất khi nào", người này đáp: "Hơn một tháng rồi". Trác Mậu nghĩ, con ngựa này mình nuôi đã mấy năm nay, không thể là ngựa của ông ta được, chắc là có nhầm lẫn gì. Tuy vậy ông vẫn giao ngựa cho người này và nói: "Nếu như không phải ngựa của ông thì hy vọng ông sẽ đem nó đến phủ thừa tướng trả cho tôi.
    Mấy ngày sau, người này tìm thấy ngựa của mình ở nơi khác, bèn đến phủ trả ngựa cho Trác Mậu và xin lỗi ông.
    Tính cách của Trác Mậu như vậy, không thích cãi nhau, vì sự hòa thuận sẵn sàng chịu thiệt.
    Mạnh Tử nói thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Cốt cách nhà nho của Trác Mậu khiến người đời khâm phục. Nhưng để có được điều này thì không dễ dàng chút nào mà nó phải trải qua một quá trình rèn luyện, tu dưỡng. Tục ngữ có câu: chịu thiệt là phúc. Người biết chấp nhận thiệt thòi thì mới có thể bỏ qua được cái mất cá nhân trước mắt, mới có thể kết bạn rộng và hòa đồng được với mọi người.
    Hòa khí sinh tài lộc, cách đối xử tốt, thân thiện với mọi người của Trác Mậu, lấy nhu thắng cương của ông, trên thương chiến khốc liệt ngày nay cũng đáng được học tập. Bởi cách đó có thể xây dựng cho bản thân mình, công ty của mình một hình ảnh đẹp, thân thiện với mọi người.
    Công ty điện khí Tùng Hạ của Nhật có một vị lãnh đạo, tên Tùng Hà một lần đến châu âu đàm phán với một công ty. Vừa mới bắt đầu mà cuộc đàm phán đã không được thuận lợi cho lắm. Hai bên đều muốn giữ ý kiến của mình, không ai chịu nhường ai, thậm chí có lúc còn tranh cãi tới đỏ mặt tía tai, tình hình trở nên không còn gì để hy vọng nữa. Đúng lúc đó đến giờ ăn trưa, hai bên tạm nghỉ, hẹn đến chiều sẽ bàn tiếp. Buổi chiều, vừa gặp mặt Tùng Hà liền thao thao bất tuyệt kể lại cảm nghĩ của ông về một vài cảnh mà mắt mình vừa nhìn thấy. Ông nói: "Lúc nãy tôi vừa đi đến phòng khoa học và nhìn thấy một mô hình ở đây. Tôi thực sự thấy cảm động. Tinh thần nghiên cứu khoa học của con người thật đáng được cơ ngợi. Chúng ta đã có thật nhiều công trình khoa học vĩ đại, mới đây nhất là con tàu vũ trụ Apolo 11 bay vào mặt trăng. Sự tiến bộ và phát triển tới mức độ cao như vậy của loài người chứng minh sự vĩ đại của nhân loại". Tùng Hạ thấy mọi người đều chú ý vào lời nói của mình liền đổi giọng: "Thế nhưng, giữa con người với nhau ngày nay vẫn tồn tại sự nghi ngờ, cãi cọ, oán hận. Khắp nơi trên thế giới chiến tranh, bạo lực bùng nổ. Trên đường phố, mọi người bận rộn qua lại. Nhìn bề ngoài thì có vẻ yên bình, nhưng trong thâm tâm của những con người đó ai dám chắc không ẩn giấu những mưu toan độc ác. Tại sao quan hệ giữa người và người lại không thể thay đổi theo hướng văn minh, tiến bộ hơn. Tôi nghĩ giữa chúng ta nên có lòng tin ở nhau, không nên chỉ trích những thất bại, sai lầm đã qua mà hãy độ lượng với nhau. Tùng Hạ càng nói càng xúc động, hai tay bắt đầu giơ lên: "Sự phát triển như vũ bão của khoa học và sự lạc hậu trong diện mạo, tinh thần của con người sẽ dẫn đến những việc không hay, con người có thể sử dụng đạn nguyên tử do chính mình sáng chế ra để tiêu diệt nhau. Người Nhật đã từng chứng kiến thảm cảnh của bom nguyên tử..." Nhân viên đàm phán của hai bên mới đầu nghe ông nói tỏ vẻ ngơ ngác, một lúc sau thì say sưa nghe. Khi ông nói xong rồi mà cả hội trường vẫn chìm trong yên lặng, mọi người như đang theo đuổi cảm xúc riêng của mình, như đang chìm trong không khí xúc động.
    Bất giác, bầu không khí đàm phán như thay đổi hẳn, buổi trưa còn có sấm sét lôi phong, buổi chiều đã mưa thuận, gió hòa, từ thế đối lập, hai bên đã đi tới hợp tác. Sau cùng thì cuộc đàm phán lúc đầu tưởng như thất bại ấy đã thành công mỹ mãn.
     
  5. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 66: Khôn Khéo Tạo Vỏ Bọc

    Nhà thơ Bạch Cư Dị người nhà Đường đã từng viết bài thơ "Phóng ngôn", trong đó có đoạn.
    Chu công khủng cụ lưu ngôn nhật,
    Vương Mãng khiếm cung vị soán thì
    Hướng sự đương sơ thân tiên tử,
    Nhất sinh chân ngụy phúc thùy tri?
    Tạm dịch:
    Chu Công rất sợ lưu lời lại
    Vương Mãng khi nghèo thật khiêm nhường
    Chuyện cũ đã qua người đã khuất
    Thực hư ai biết nói cho cùng.
    Vương Mãng là cháu hoàng hậu Vương Chính Quân của Hán Nguyên Đế. Thời Nguyên Đế, Thành Đế giữ ngai vàng, gia tộc Vương Thị dựa vào địa vị ngoại thích, nắm giữ quyền hành chính trị nội ngoại triều trong một thời gian dài. Lúc đó các mâu thuẫn xã hội đã lên cao, trong mắt mọi người thì triều Hán đã sắp đến ngày suy tàn, việc thay đổi triều đại chỉ còn là vấn đề thời gian. Lúc đó, Vương Mãng mới xuất hiện và làm một loạt các việc để thu phục nhân tâm nên được tiếng thơm trong triều đình, ngoài xã hội.
    Trong gia tộc Vương Thị, anh em của Vương Mãng đều hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ xa hoa, chỉ có riêng ông ta là cần kiệm, sơ sài không có vẻ gì là quý tộc. Khi ông bác là Vương Phong giữ chức Đại Tư Mã, Đại Tướng quân lâm bệnh, Vương Mãng luôn túc trực ở bên chăm sóc, thuốc thang hơn tháng trời, không thay quần áo, lúc ngủ cũng phục bên giường bệnh. Vương Phong vô cùng cảm động, lúc lâm chung dặn lại em gái là Vương Chính Quân phải để ý quan tâm đến cháu trai Vương Mãng.
    Không chỉ với bác mà với mẹ mình Vương Mãng cũng hết sức tận tình. Khi nhà mở tiệc đãi tân khách, thường thấy một gia nhân đi lại nhắc Vương Mãng cho lão phu nhân uống thuốc. Vương Mãng bèn rời tiệc đến gian trong thân chinh bưng thuốc cho mẹ uống. Trong ngoài triều ai cũng khen Vương Mãng có hiếu.
    Năm cổ dịch châu chấu, đời sống trăm họ điêu đứng, người người phải bán đất, bán con. Vương Mãng chủ động góp 10 vạn đồng và 30 khoanh đất cho quan đại thần tài chính của triều đình phân phát cho dân. Với sự mở đầu của ông, có hơn 200 vị quan lại khác đem tiền của phân phát cứu dân. Trong, ngoài triều ai cũng khen ông là người tốt.
    Sau khi nắm đại quyền và được nhiều người tung hô, Vương Mãng lại tiếp tục thực thi một số việc làm đẹp lòng mọi người khác nữa. Đầu tiên ông giáng chức Hoàng Thái hậu của Triệu Phi Yến xuống hoàng hậu, sau nữa là thứ dân và cuối cùng thì bức tử. Ông lại đưa hoàng hậu Phó Thị vào cung, bản thân ông được phong là thái phó hậu nhưng ông giả bộ có bệnh không chịu nhận, quan trong triều phải tiến cử mấy lần ông mới miễn cưỡng đồng ý. ông lại còn đưa ra ý kiến phong hầu cho 36 người thuộc hàng cháu tứ đại, ngũ đại của Hán Tuyên Đế và phong chức quan cho một số người khác nữa.
    Trong ngoài triều ai cũng khen ông là vị quan tốt. Ông lớn tiếng phản đối thái độ xem thường, coi nô lệ, người hầu như là súc vật. Con trai ông giết chết một nô lệ ông buộc người con trai của mình phải tự sát.
    Vương Mãng thật sự biết cách mua chuộc nhân tâm, sau khi tạo cho mình vỏ bọc đẹp đã và thực hiện thành công các mưu đồ kế hoạch của mình, dần nắm được trọng quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đoạt quyền cao nhất sau này, lập nên một triều đại mới mà ông ta sẽ là người đứng đầu.
    Vương Mãng tạo vỏ bọc cho mình, mua chuộc nhân tâm, là để phục vụ cho ý đồ làm hoàng đế của mình. Tạo một vỏ bề ngoài đẹp, cải thiện, nâng cao hình ảnh bản thân, ấn tượng bản thân trong mắt mọi người có thể cũng được gọi là trí mưu. Vương mãng dùng được thì người khác cũng có thể dùng được. Trên thương chiến hiện nay, làm thế nào để tạo cho công ty mình một vẻ bề ngoài thật ấn tượng, đem được thế mạnh, mặt hơn người của công ty bày ra trước mắt thiên hạ là một vấn đề quan trọng, đáng được quan tâm.
    Ở Mỹ có một công ty nhỏ tên là Kamala. Lĩnh vực hoạt động của công ty là chăm sóc, diệt cỏ, phun thuốc cho các khuôn viên, vườn tược. Khi mới bắt đầu vào 1969, cả công ty chỉ có 5 nhân viên và 2 chiếc xe. Đến năm 1985 số nhân viên này tăng lên 5000 người, số vốn kinh doanh lên tới 0,3 tỉ đô la. Có được kết quả này là nhờ vào sáng kiến khởi xướng: "tinh thần thân ái" của Duker - người sáng lập ra công ty Kamala. Chính tinh thần này đã xây dựng lên hình tượng tốt đẹp, đồng thời mang lại lợi ích khả quan cho công ty.
    Thời trẻ Duker rất nghèo, để nuôi gia đình ông đành bỏ dở trường đại học trở về nhà và trở thành nguồn lao động chính trong gia đình. Năm 1960, ông làm việc trên một nông trường và có được chút tiền. Năm 1968 ông mua nông trường này và lập ra công ty Kamala.
    Mỗi sớm ông đều cùng người cha già hơn 70 tuổi và 5 nhân viên lái xe đến từng nhà khách hàng cắt tỉa, chăm sóc cây cỏ, làm việc cho tới tận trời tối mới quay về. "Tinh thần thân ái" làm nên chữ tín cho công ty, hình thành cho nhân viên tinh thần trách nhiệm và lòng phục vụ tận tình, do đó uy tín của công ty ngày một cao. Mỗi khi kết thúc công việc, chuẩn bị ra về nhân viên đều viết một tờ giấy cho chủ nhà ghi rõ cần chú ý những gì và cũng ghi rõ nếu xảy ra điều gì thì chủ nhà phải chịu trách nhiệm (nếu chủ nhà không làm đúng theo lời dặn). Danh tiếng của công ty ngày càng cao, bởi lúc đó tinh thần làm việc như của công ty rất hiếm.
    Cha của Duker thường xuyên nói với ông: "Người là nhân tố quan trọng nhất, sau đó là khách hàng. Cứ chú ý hai mặt này nhất định công ty sẽ phát triển". Duker ghi nhớ điều này, ông đặc biệt phát triển "tinh thần thân ái" trong nội bộ nhân viên. Có lần ông dự định mua lại một chiếc thuyền cũ để sửa sang cho công nhân đi nghỉ mát. Người quản lý tài chính công ty phải khuyên mãi ông mới chịu thôi. Sau đó một hôm, ông đi ngang qua bãi biển thấy một nơi địa thế rất đẹp ông dự định xây một khu nghỉ mát cho công nhân ở đó. Người quản lý tài vụ lại phải một phen vất vả can ngăn ông. Cuối cùng ông vẫn quyết định mua một chiếc du thuyền đẹp, sang trọng cho ông nhân du lịch, nghỉ mát. Sau đó, ông còn thuê phi cơ cho nhân viên đến Washington du lịch. Về việc này phó giám đốc công ty nói: "Lúc đầu khi Duker muốn tôi ký cho khoản chi này, tôi thấy không hài lòng. Nhưng khi nhìn thấy nhân viên vui như thế nào khi lần đầu tiên được đi máy bay thì tôi không biết nói gì nữa" .
    Mọi người trong công ty đều đồng sức, đồng lòng đoàn kết như trong một nhà. Vậy mà Duker cũng vẫn chưa mãn nguyện.
    Ông muốn thể hiện "tinh thần thân ái" này trong việc phục vụ khách hàng. Có đồng nghiệp cho rằng làm như vậy thì thật thà và nói rằng phải ký hợp đồng với khách hàng, nếu khách hàng không thanh toán tiền thì lấy đó làm bằng chứng mà đi kiện". Nhưng Duker thì lại cho rằng, đến 99% khách hàng là người đứng đắn, số gian giảo, không chịu trả tiền chỉ chiếm 1%, và với bọn này thì có đi kiện cũng bằng thừa, tốt nhất là cho qua và không phục vụ cho chúng lần thứ hai. Vì có lòng tin ở khách hàng, xem họ là người tốt nên Duker cũng được họ coi như người nhà, để công nhân của ông tự do làm việc trong nhà mà không cần để ý, quản lý.
    "Tinh thần thân ái" khiến cho công ty ngày một nổi tiếng, tạo được ấn tượng tốt với khách hàng, lợi nhuận cũng tăng nhanh. Thu nhập bình quân của những người sáng lập ra công ty cao gấp hai lần thu nhập bình quân của 400 công ty có lợi nhuận cao nhất nước Mỹ.
     
  6. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 67: Đi Ngược Lại Quy Luật Phát Triển Tất Bị Đào Thải

    Đứng trên phương diện quan điểm chính trị của giai cấp phong kiến thì việc Vương Mãng đoạt quyền lập ra "tân triều” là việc làm nghịch đạo, là kẻ dã tâm. Nhưng với con mắt ngày nay nhìn lại thì việc họ Lưu hay họ Vương làm hoàng đế cũng như nhau cả thôi. Quan trọng là xem ông ta có đưa ra được các chính sách, bước đi theo kịp với xu hướng phát triển của thời đại và trào lưu hay không? Nhưng thật đáng tiếc cái "cải chế” mà Vương Mãng thực thi lại đẩy bánh xe lịch sử lùi về quá khứ của thời nhà Chu. Do đó mà "tân triều” của ông đoản mệnh và bản thân ông thì nhận một kết cục bi thương.
    Vương Mãng tôn sùng đến mức mê muội các trước tác của thời cổ đại như "Chu Lễ", "Lục Kinh". Ông cho rằng triều đại nhà Hán suy yếu là bởi không tuân theo chế độ lễ nhạc trong "Lục Kinh". Thế là ông ra sức bắt chước cổ nhân. Khi tiếp kiến nhân sĩ phải tắm gội sạch sẽ. Lúc tắm ba lần nắm tóc, khi ăn ba lần nuốt không trôi để biểu thị lòng tôn kính văn sĩ.
    Một trong nội dung quan trọng nhất của cải chế là đem toàn bộ đất đai của thiên hạ thống nhất gọi là "vương điền", cấm được mua bán. Đổi tên tất cả nô tì thành "tư thuộc", cấm mua bán nô tì. Đây là biện pháp cứng nhắc. Mục đích là phòng trừ việc thôn tính đất đai và việc tiểu nông biến thành nô tì như thời hậu Tây Hán. Trước đây, trong triều đã có nhiều ý kiến của các bậc nho sĩ, học giả cho việc giải quyết vấn đề này nhưng đều không có kết quả. Đến lượt Vương Mãng tiến hành cải cách theo đường lối cũ của Tây Chu thì gặp phải sự phản đối kịch liệt. Tư hữu ruộng đất đã có hàng trăm năm, làm sao có thể xóa bỏ bằng một tờ chiếu. Còn nô tì chẳng qua là hướng giải thoát của tiểu nông phá sản. Nay không cho mua bán nô tì thì số tiểu nông này chỉ còn cách ngồi nhà đợi chết. Đương nhiên chính sách xa rời thực tế "vương điền" và "tư thuộc" tự nó sẽ bị xã hội loại trừ sau 3 năm thực thi không kết quả.
    Còn một nội dung khác trong cải cách của Vương Mãng đó là quan phủ khống chế mọi hoạt động của thị trường thương phẩm. Chính phủ kinh doanh và lũng đoạn. Biện pháp này cũng là học từ Chu lễ. Mục đích là hạn chế quyền và lợi nhuận của tư nhân. Không ngờ vừa mới thực thi, bọn thương nhân tìm cách câu kết với quan phủ cùng lộng hành bóc lột người mua. Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn trước.
    Sai sót lớn khác của Vương Mãng là cải cách về tiền tệ. Bản thân ông không hiểu một chút gì về tính chất và tác dụng của tiền tệ. Ông cho lưu hành 28 loại tiền tệ: vàng, bạc bối (tiền cổ bằng vỏ sò), giáp (tiền cổ bằng mai rùa), vải... Giá trị của các loại đồng tiền cứ thay đổi liên tục, dẫn đến sự phá giá, vật giá tăng cao, hàng loạt thương nhân, tiểu nông bị phá sản. Cả xã hội lâm vào cảnh bất ổn, hỗn loạn. Tại sao Vương Mãng lại chọn phương pháp này? Thì ra đó là kết quả của việc mô phỏng chính sách tiền tệ "tứ mẫu đồng quyền" của nhà Chu.
    Vương Mãng còn học theo "Chu lễ" thay đổi toàn bộ tên các khu vực hành chính cũ và các chức quan. Mọi người không thể nhớ hết được cái tên mới này, thế là lại xảy ra cảnh hỗn loạn, hoang mang nơi quan trường và trong sinh hoạt của người dân.
    "Cải chế” nên phù hợp với thực tế của thời đại, như vậy mới thành công được. Còn như Vương Mãng đẩy lùi bánh xe lịch sử lấy cái cổ xưa để làm kim chỉ nam cho cải chế thì chỉ thu được một thảm họa mà thôi. Làm chính trị, việc đầu tiên là phải tinh tường đại cục. Kinh doanh cũng như vậy. Nếu đi ngược lại đại cục và trào lưu thì 10 người sẽ thất bại cả 10.
    Ngày 24 tháng 5 năm 1989 tàu chở dầu mang trọng tải 8 triệu tấn của hãng Akelin (Mỹ) đã bị rò rỉ một lượng dầu lớn tại vịnh thái tử William là một cảnh đẹp nổi tiếng, nước trong vắt, nguồn tài nguyên hải sản, cá, tôm, các loại tảo phong phú. Vệt dầu loang trên mặt vịnh rộng tới 1 km, dài 8 km khiến cho các loại cá, tôm, rong tảo đều bị ảnh hưởng, có loài không chịu nổi bị chết. Cả một quần thể sinh vật, sinh thái bị ô nhiễm nặng.
    Xảy ra một việc lớn như vậy công ty Akelin nên xin lỗi chính quyền và nhân dân địa phương, nhanh chóng tìm biện pháp khắc phục. Nhưng công ty này cho rằng mình là công ty xếp hàng sau hai công ty lớn là công ty xe hơi Ford và General (ba công ty này cùng thuộc một tập đoàn) nên hết sức chậm chạp, thờ ơ, không hề xử lý hậu quả do mình gây ra. Do đó vệt dầu ô nhiễm ngày một lan rộng, làm cho hệ sinh thái ngày một xấu đi trầm trọng.
    Quan chức của địa phương vùng bị ô nhiễm Mỹ và Canada liên tục phát biểu ý kiến chỉ trích sự vô trách nhiệm của Akelin. Các tổ chức bảo vệ môi trường phát động phong trào "phản đối Akelin" trên các phương tiện thông tin báo chí. Họ còn tổ chức một nhóm điều tra. Kết quả điều tra cho thấy đây là tai nạn do sự vô trách nhiệm của tàu trưởng. Ông này uống rượu say nên mới để xảy ra sự cố.
    Đến lúc này công ty Akelin không thể không tìm biện pháp can thiệp. Họ cho làm sạch mặt nước khu vực bị ô nhiễm, bồi thường thiệt hại, nộp các khoản phạt. Tổng chi phí lên tới hàng trăm triệu đô la. Sớm biết như vậy mà công ty không kịp thời nhận trách nhiệm, khắc phục hậu quả.
    Lòng dân chính là đại cục, mà đại cục thì khó lòng mà xoay chuyển được. Ở đời vẫn vậy, khi bạn làm việc gì mà sinh ra hậu quả xấu thì người ta quy kết là bạn xấu, những việc tốt mà bạn làm trước đây họ đều quên hết. Akelin công ty chẳng phải là có một kết cục như vậy sao?
     
  7. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 68: Làm Cho Số Đông Người Chấp Nhận Mình

    Thời Tần Hán, có một thứ mà người đời sau rất lấy làm kỳ lạ đó là Sấm Vĩ. Vậy Sấm là gì vậy? Đấy chính là lời tiên đoán của người đương thời. Người thời ấy mong xuất hiện một điều gì đó thì tạo ra một lời sấm tương ứng, một khi lan truyền ra, những người khác trong xã hội đều rất tin vào đó. Thế còn Vĩ là gì vậy? Vĩ là từ Kinh mà ra, người đời Hán gọi những trước tác kinh điển của Nho gia là "Kinh Thư” , "Kinh Thư” thời ấy có đến sáu loại, gọi chung là "Lục Kinh". Để mượn chuyện mà nói thêm vào, nhằm đạt được mục đích của một số người nào đó, kèm theo những ẩn ý của một số người nào đó, liền có người mượn cái ý là chú giải cho "Lục Kinh" mà viết ra Vĩ thư liên miên dào dạt, còn dài hơn cả "Lục Kinh" rất nhiều. Cái truyền thống này có từ thời kỳ Chiến quốc, từ thời ấy các phương sĩ đã khá thích chơi cái trò này rồi, tuy nhiên đến đời Tần Hán về sau, đặc biệt là đời Hán, cái trò Sấm Vĩ này càng lúc càng ghê gớm, ảnh hưởng của nó trong xã hội cũng ngày càng lớn.
    Đời Tần Thủy Hoàng từng phái một người là phương sĩ Lữ Sinh ra biển cầu thần tiên, Lữ Sinh không gặp được thần tiên mà lại bắt được một cuốn đồ thư, trên đó viết: "Vong Tần giả Hồ dã" (Kẻ làm Tần diệt vong là Hồ vậy). Đấy là lời Sấm. "Hồ" ở đây rốt cuộc là gì? Tần Thủy Hoàng hiểu thành dân tộc thiểu số ở phương Bắc (tục gọi là người Hồ), liền phát binh tấn công Hung Nô. Ông ta đâu có ngờ được rằng, sau khi ông ta chết, đến đời thứ hai nhà Tần mới mất, lại mất trong tay con ông ta là Hồ Hợi. Có thể thấy, cái gọi là lời sấm, là những cái được gọi là "ý chỉ" của "Thượng đế , đều rất thần bí, không có ý nói ra rõ ràng, nó chỉ đưa ra những tín hiệu ngầm nào đấy, làm cho người ta phải nôn nóng đi tìm đáp án như là tìm lời giải cho câu đố vậy.
    Thông thường mà nói, khi xã hội tương đối yên ổn, loại Sấm ngữ này rất ít, đến khi xã hội có biến động mạnh mẽ thì những lời sấm này lại nhiều lên. Từ thời kỳ cuối Tây Hán đến Vương Mãng đoạt quyền, và cho đến thời kỳ Lưu Tú dựng nhà Đông Hán, là thời kỳ mà các loại sấm ngữ nhiều nhất. Thời Vương Mãng, thuyết rằng phát hiện được một hòn đá trong một cái giếng, trên đó viết mấy chữ màu đỏ "An Hán công Mãng vi hoàng đế” (Dẹp yên Hán công, Mãng làm vua), Vương Mãng liền nói rằng đó là lời ủy nhiệm của Thượng đế muốn ông ta làm vua, theo đó, ban đầu ông ta làm quyền hoàng đế, sau rồi làm luôn hoàng đế thật. Về sau, khi Lưu Tú làm vua cũng diễn lại cái trò tương tự đó.
    Còn về Vĩ thư, tác dụng của nó cũng như Sấm ngữ. Nó danh là giải thích Kinh Thư, thực tế nội dung phần lớn lại sử dụng học thuyết âm dương ngũ hành để nói cái chủ nghĩa thần bí, nó là một thứ đồng bộ với Sấm ngữ. Trong đó, nó dán cái mác Nho học của Khổng Tử, cung cấp cái cơ sở "hợp lý" cho sự xuất hiện của Sấm ngữ. Danh nghĩa là bao bọc hệ thống chính quyền từ thời Cao Tổ Lưu Bang, trên thực tế là nhằm tạo dựng dư luận cho một người nào đó bước lên vũ đài hoặc một chức quan nào đó.
    Đối với những thứ này, thời ấy từ trên xuống dưới đều tin vô cùng. Số ít người không tin vào đó thì vận số thật là không hay. Nhà tư tưởng Hoàn Đàm ở trước mặt Lưu Tú không chút kiêng dè dám nói rằng mình chưa bao giờ đọc Sấm, Lưu Tú nổi giận đòi lôi ông ta ra chém đầu, ông ta phải rập đầu đến chảy máu, Lưu Tú mới tha cho, không lâu sau thì ông ta chết trên đường lưu đày.
    Người đời nay nghe đến những thứ này, đều cảm thấy rất buồn cười, cảm thấy người thời xưa ấy làm sao có thể hoang đường đến mức độ đó. Kỳ thực, ở thời cổ đại khoa học chưa phát triển, hiện tượng này xuất hiện không có gì là kỳ lạ cả. Không phải nói thời cổ đại, chính trong thời hiện đại, ở một số quốc gia nào đó cũng đã xuất hiện những phong trào thần bí tương tự do con người tạo ra. Ở thời cổ đại xuất hiện Sấm Vĩ lấy thần học làm biện pháp, lấy chính trị làm mục đích, vậy thì có gì là lạ? Nói cho cùng, thời đó biện pháp để tạo dư luận của con người ta rất ít, để làm cho nó có hiệu ứng gây chấn động, chỉ có thể dùng phương thức này, trên thực tế vận dụng mánh khóe này cũng đã thực sự thu được thành công rất lớn. Có thể thấy, áp dụng thủ pháp dư luận, tuyên truyền có đặc sắc hay không, có thể làm cho người ta tiếp nhận hay không, đó là một chủ đề xuyên suốt cổ kim. Trong thương chiến hiện đại cũng vẫn còn tồn tại vấn đề này. Trong sản phẩm của anh ta như thế nào? Làm thế nào để khiến cho người ta chấp nhận sản phẩm của anh? Sử dụng thủ pháp tuyên truyền, dư luận ra sao để đạt được mục đích này? Những điều này, quả thật là cần phải mất rất nhiều suy nghĩ.
    Năm 1941 sau khi nổ ra sự kiện Trân Châu cảng, nước Mỹ chính thức tham gia cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Lúc đó tình hình tiêu thụ trong nước của công ty Coca Cola bị ảnh hưởng rất lớn, chủ đề của mọi người đã chuyển sang chiến tranh, đối với Coca Cola đã không còn mấy ai quan tâm nữa, tình hình tiêu thụ ở nước ngoài lại càng bế tắc không lối ra vì nguyên nhân chiến tranh. Công ty Coca Cola đang dần dần thu hẹp sản xuất, giới quản lý của công ty nhận thức được rằng, cứ cái đà đó thì rồi sẽ có một ngày phải sụp đổ! Biện pháp gì đây? Lối thoát của Coca Cola là ở đâu. Tổng giám đốc công ty Wudeluphtu bỗng thấy bừng lên ánh sáng: “Tại sao không đưa sản phẩm ra tiền tuyến? Cái mọi người quan tâm là chiến tranh, chỉ cần binh sĩ Mỹ đều thích Coca Cola, thì mọi người trên thế giới làm sao lại không biết đến Coca Cola được?"
    Wudeluphtu lập tức tới Bộ quốc phòng du thuyết. Thế nhưng, quan chức Bộ quốc phòng còn đang bận rộn vì chiến tranh, họ đâu có tâm tư nào để nghe du thuyết về Coca Cola? Cho dù Wudeluphtu dốc hết tâm sức giải thích, nhắc đi nhắc lại rằng, Coca Cola có thể "điều giải cuộc sống gian khổ của tướng sĩ nơi tiền tuyến", có thể "cổ vũ sĩ khí và ý chí chiến đấu của tướng sĩ” quan chức Lầu Năm Góc vẫn trả lời hết sức thờ ơ "Để chúng tôi nghiên cứu xem".
    Thôi được, chỉ cần không đóng cứng cửa là được. Wudeluphtu hạ quyết tâm, nhất định phải bằng thế trận tuyên truyền mạnh mẽ, dụ cho được quan chức của Lầu Năm Góc mắc câu, sau khi trù hoạch cẩn thận, đề cương tuyên truyền mới của Coca Cola đã được đưa ra. Xin mời nghe:
    "Hỡi các vị hãy thử nhắm mắt lại và nghĩ xem, trong hoàn cảnh mặt trời nóng nực, mồ hôi chảy ra như máu, chấp hành nhiệm vụ chiến đấu gian khổ, cổ họng khô như lửa đốt. Thứ mà các chiến sĩ nghĩ đến nhiều nhất, cần nhất là gì? Khỏi phải nói, tất nhiên là Coca Cola mát lạnh như đá mà trước đây họ thường uống".
    Thời gian không phụ người có tâm. Dưới sức tiến công mạnh mẽ của thế trận tuyên truyền, quan chức Bộ quốc phòng đã bị lay chuyển, họ không những đồng ý liệt Coca Cola vào hành quân nhu phẩm, mà còn ủng hộ xây dựng nhà máy gia công loại nhỏ cho bộ đội đóng ở đó. Đến lúc này, lại tới lượt Wudeluphtu mặc cả. Ông ta nói: "Xây dựng nhà máy (gia công) ở chiến trường, mức độ mạo hiểm của việc đầu tư quá lớn, vấn đề này cần phải nghiên cứu xem đã". Thực ra là ông ta không muốn phải bỏ ra khoản tiền xây dựng nhà máy gia công này.
    Nơi tiền phương tướng sĩ đã không thể tiếp tục chờ đợi dưới sự tuyên truyền mạnh mẽ của Coca Cola, họ chỉ muốn ngay lập tức được uống Coca Cola, tin tức phản hồi từ binh lính các nơi đã thành một áp lực đối với Bộ quốc phòng. Cuối cùng, Bộ quốc phòng chính thức quyết định, vô luận từ một góc bất kỳ nào đó ở các nơi trên thế giới, chỉ cần là nơi có quân Mỹ đồn trú, cần phải làm cho mỗi binh sĩ đều có thể được uống Coca Cola với giá 5 xu Mỹ. Tất cả mọi chi phí cần thiết cho toàn bộ thiết bị và kế hoạch cung ứng này, Bộ quốc phòng sẽ hết sức giúp đỡ ủng hộ.
    Lầu Năm Góc một khi đã bật đèn xanh, tiền lập tức cuồn cuộn như nước không ngừng đổ vào tài khoản của công ty Coca Cola ở ngân hàng. Trong thời gian không đầy 3 năm, công ty Coca Cola đã đưa ra nước ngoài 64 nhà máy gia công lớn nhỏ. Đến khi cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc. Coca Cola với tư cách "vật dụng quân nhu”, đã bán ra 5 tỉ chai, công ty Coca Cola thực sự đã trúng một quả chiến tranh cực lớn.
    Đại chiến thế giới lần thứ hai đã đưa dấu chân của quân đội Mỹ đến rất nhiều quốc gia trên đại lục âu, á, Coca Cola cũng theo dấu chân của quân đội Mỹ đi tới hầu khắp các quốc gia đó. Sau chiến tranh, Wudeluphtu lại lợi dụng cái vinh dự và địa vị nước thắng trận của Mỹ, lợi dụng sự sùng bái mù quáng của nhân dân thế giới đối với thực lực quân sự, thực lực kinh tế của nước Mỹ, nhanh chóng đưa tiếng vang của sản phẩm ra phạm vi càng rộng lớn hơn ở thị trường hải ngoại.
    Nếu như ban đầu Wudeluphtu không xúc tiến cuộc chiến tuyên truyền, nếu ông không thể làm cho Lầu Năm Góc chấp nhận, thì công ty Coca Cola liệu có thể có được thành công về sau này không?
     
  8. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 69: Không Có Da, Lông Mọc ở Đâu?

    Nhà Tây Hán thành, đời Ai Đế, nhà nho nổi tiếng thời đó là Lưu Hướng được nhà vua tuyên triệu, dẫn đầu một đám đông học giả và con trai là Lưu Hâm, chỉnh lý xét duyệt tàng thư trong thư viện quốc gia. Khi đó Lưu Hâm đã được vua cử làm Hoàng Môn Lang, trong quá trình giúp cha chỉnh lý điển tịch, đã viết ra bộ trước tác mục lục học "Thất lược". Đây là một bộ trước tác mục lục học sớm nhất của nước Trung Quốc, nó đặt nền móng cho địa vị học thuật về sau này của Lưu Hâm.
    Trong quá trình chỉnh lý sách vở, cha con Lưu Hướng phát hiện một lượng lớn điển tịch viết bằng loại văn tự trước thời Chiến quốc, trong đó số sách được phát hiện trong vách tường nhà Khổng Tử là sớm nhất, sau này loại điển tịch viết bằng "cổ văn” này được tìm thấy càng ngày càng nhiều. Lưu Hướng không có chút tin tưởng gì vào loại sách này, nhưng Lưu Hâm ngược lại càng đọc càng đánh giá cao. Bê con mới sinh không sợ hổ. Thời bấy giờ, được triều đình coi là có địa vị chính thống đều là những điển tịch kinh học viết bằng "kim văn" lưu hành trong xã hội, Lưu Hâm kiên quyết dâng thư lên triều đình, mong muốn có thể giành được một chỗ đứng cho kinh học "cổ văn". Tiếc rằng, ông ta tuy được vua ủng hộ, nhưng lại gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của quan viên trong triều và những người có quyền uy trong giới kinh học, kim văn.
    Sau khi Hán Ai Đế mất, Bình Đế kế vị, đại quyền rơi vào tay Vương Mãng. Từ hồi Lưu Hâm được vua cử làm Hoàng Môn Lang, Vương Mãng cũng được vua cử làm Hoàng Môn Lang, hai người từ lâu đã quen biết nhau, đối với học vấn của Lưu Hâm từ lâu Vương Mãng cũng đã hết sức tôn sùng. Vương Mãng là kẻ có dã tâm cướp ngôi, ông ta muốn cướp ngôi nhất thiết phải tìm cho được cơ sở lý luận trong kinh học. Lưu Hâm muốn xác lập địa vị cho kinh học "cổ văn", đương nhiên cũng cần được sự ủng hộ của Vương Mãng. Thế là Lưu Hâm ngả vào lòng Vương Mãng. Ông ta dựa vào điển tịch nổi tiếng trong kinh học "cổ văn" là "Chu lễ", thiết kế cho Vương Mãng hết đại điển này tới đại điển khác phỏng theo lối cổ, xây dựng lên hết nơi thờ cúng này đến nơi thờ cúng khác dựa theo "Chu lễ". Đối với những cái này, Vương Mãng hết sức tán thưởng, Lưu Hâm nhờ đó đã được trọng dụng, được phong làm Hồng Lưu Hầu, trở thành trợ thủ trọng yếu của Vương Mãng trên các phương diện tư tưởng, lý luận, học thuật. Lưu Hâm tuy không trực tiếp tham dự lập kế hoạch cụ thể cho cải cách chế độ của Vương Mãng, nhưng lý luận của ông ta, không còn phải nghi ngờ gì, đã trở thành cơ sở quan trọng của cải chế.
    Cải cách chế độ của Vương Mãng đã gặp phải thất bại nặng nề chưa từng có, các mâu thuẫn trong nước trở nên gay gắt, khắp nơi trên cả nước khởi nghĩa nông dân và các thế lực chống Vương Mãng khởi binh cát cứ, Lưu Hâm đối với tình thế đó tuy không kịp tính trước được, song không thể tự tìm cho mình một con đường rút. Chính vào lúc đó, hai con trai của Lưu Hâm dính líu vào vụ tranh giành quyền lực với Vương Mãng, bị Vương Mãng giết và vứt xác ngoài biên thùy. Đó là một đòn đánh quá nặng đối với Lưu Hâm. Cuối cùng, Đại Tư Mã Đổng Trung cũng chọn trúng Lưu Hâm, hy vọng ông ta có thể bắt tay hợp tác với mình, phát động chính biến trong cung, trừ diệt Vương Mãng. Lưu Hâm đồng ý và tham gia trù lập kế hoạch chính biến.
    Không ngờ, tin tức lọt ra ngoài, âm mưu bại lộ. Vương Mãng "tiên hạ thủ vi cường", cùng lúc bắt hết cả bọn Đổng Trung, Lưu Hâm và một người cùng tham dự kế hoạch khác nữa là Vương Thiệp. Đến lúc này, tất cả đều đã muộn, kết quả là Đổng Trung bị giết, Lưu Hâm và Vương Thiệp rút kiếm tự sát.
    Lưu Hâm vốn là phần tử trí thức, cha là Lưu Hướng luôn luôn phản đối Vương Mãng chuyên quyền, rất lo rằng Lưu Hâm sẽ bị lôi cuốn vào chính trị, kết quả là sau khi Lưu Hướng chết, Lưu Hâm quả nhiên bị cuốn vào vòng xoáy chính trị đoạt quyền của Vương Mãng, dẫn tới càng ngày càng dấn sâu, không thể tự thoát ra được, cuối cùng rơi vào cảnh thân bại danh liệt bi thương. "Da không còn, lông mọc vào đâu." Lưu Hâm tự đem số phận mình buộc vào con thuyền Vương Mãng, lên thuyền của kẻ cướp dễ, xuống thuyền của kẻ cướp khó. Vương Mãng không thể nào thoát khỏi sự trừng phạt của lịch sử, Lưu Hâm cuối cùng có thể có được quả gì để ăn? Cho nên, bất kỳ ai muốn mưu sống cầu vinh đều phải nhìn cho đúng cái phương hướng phát triển của mình có đúng đắn hay không, đối tượng mà mình dựa vào đó có thích hợp hay không. Nếu nhìn sai phương hướng, vào nhầm cửa, một khi phát sinh tai nạn và rủi ro thì hối đã muộn rồi.
    Trong thương chiến hiện đại, những cái "lông" công ty, xí nghiệp nên dựa vào "mảnh da" nào đây? Không chút nghi ngờ, "tấm da" đó phải là đối tượng phục vụ của mình.
    Công ty Nike của Mỹ là một doanh nghiệp chuyên sản xuất giày thể thao. Một trong những người sáng lập ra công ty là Pie Borman, nguyên trước đây là huấn luyện viên điền kinh của Trường đại học Michigan. Thực tiễn huấn luyện trong thời gian dài cho ông thấy rằng vấn đề khó xử nhất là chân vận động viên bị chấn thương, mà nguyên nhân gây chấn thương chân lại có liên quan rất lớn đến việc giày thể thao không phù hợp với chân. ông hạ quyết tâm phải nghiên cứu sản xuất ra loại giày thể thao có lực ma sát nhỏ, tính năng ổn định lại gọn nhẹ, được vận động viên ưa thích. Trải qua một thời gian nghiên cứu, ông cuối cùng đã thu được thành công. Các vận động viên do ông dẫn dắt sử dụng loại giày thể thao mà ông nghiên cứu sản xuất ra tham gia đại hội thể thao đều đạt được thành tích khá tốt. Pie Borman ngay từ đầu đã xác định đối tượng phục vụ của mình là các vận động viên. Để mang đến hạnh phúc cho nhiều vận động viên hơn, ông cùng với một số người cùng hợp tác làm ăn, gom góp được 1000 đô la, bắt đầu từ 200 đôi giày thể thao, đã trở thành khởi điểm xuất phát cho công ty Nike.
    Muốn sản xuất giày thể thao với số lượng lớn, cần thiết phải có kênh cung ứng nguyên liệu cố định. Thế nhưng, khi họ tìm đến gõ cửa, không có một công ty nào đồng ý cung cấp hàng cho họ, bởi vì quy mô sản xuất của họ quả thật quá nhỏ. Trong lúc đang khó khăn đó, một thương nhân Nhật Bản trong ngành giày đã giúp họ, người Nhật Bản này ngay lập tức đã nhận ra rằng đây là một sản phẩm rất có triển vọng, tương lai nhất định có thể nên trò trống, liền thẳng thắn đồng ý ký hợp đồng cung ứng hàng với họ.
    Các nhà cung cấp của Mỹ đều hướng mắt tới những công ty lớn, mà không hề để mắt tới công ty Nike, nhưng công ty Nike suy nghĩ từ nhu cầu thực tế của vận động viên, họ không ngừng đi sâu vào vận động viên để tìm hiểu ý kiến của họ về sản phẩm, kịp thời cải tiến thiết kế, nhờ đó giày thể thao do họ thiết kế ngày càng được ưa chuộng, kinh doanh cũng ngày càng phát triển. Khi mà họ đạt tới doanh số hơn 2 triệu đô la, thì số vận động viên đi giày thể thao Nike trong xã hội càng ngày càng nhiều, mức độ nổi tiếng của giày Nike trong xã hội cũng càng ngày càng lớn, cuối cùng đã thu hút sự chú ý của một số công ty lớn.
    Một trong những nhà sản xuất đồ thể thao lớn nhất trên thế giới, công ty Adidas, Mỹ, xem công ty Nike mới nổi là cái gai trước mắt, cái dằm trong thịt, họ ỷ với cơ sở vật chất hùng hậu, chi một khoản quảng cáo lớn, phái đi rất nhiều nhân viên tiếp thị, lợi dụng cơ hội Thế vận hội Olympic Los Angeles, Mỹ năm 1976, ra sức đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của mình, làm cho hầu như tất cả các vận động viên đoạt huy chương vàng đều mang giày thể thao của mình, từ đó dồn sản phẩm của hãng Nike đến thảm bại.
    Pie Borman đứng trước áp lực của công ty lớn, không hề nản lòng. Ông ta tin chắc, chỉ cần sản phẩm của mình được vận động viên ưa thích thì không thể không có thị trường. ông càng dốc hết tâm sức vào việc nghiên cứu sản xuất kiểu giày thể thao mới, căn cứ vào thông tin phản hồi từ vận động viên, thiết kế ra hàng loạt sản phẩm kiểu dáng mới, họ xem những điểm chưa vừa ý và chê trách của vận động viên về giày thể thao là động lực thúc đẩy mình tiến bộ. Vì vậy, giày thể thao do họ sản xuất, các vận động viên chuyên nghiệp và nghiệp dư đều rất thích.
    Chính là niềm tin vững chắc vào đối tượng phục vụ của mình, dựa vào đối tượng phục vụ của mình, tâm niệm kiên định từ trước tới sau hết lòng hết sức vì đối tượng phục vụ của mình, đã giúp công ty Nike chiến thắng hết khó khăn này đến khó khăn khác, ngoan cường vươn lên. Ngày nay, giày thể thao Nike đã thịnh hành trên toàn thế giới, lượng tiêu thụ của công ty Nike đã từ 1000 đô la lúc ban đầu phát triển tới con số hàng tỉ đô la.
    Chỉ cần tấm "da" mà mình dựa vào đó càng ngày càng chắc chắn, càng ngày càng rộng, càng ngày càng lớn, mình là những "lông" dựa trên "da" đó mới có được cơ sở hùng hậu vững chắc lâu bền cho mình phát triển. "Da" đối với "lông" mà nói, thật quan trọng biết bao.
     
  9. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 70: Cất Kỹ Ánh Sáng, Chờ Khi Tối Trời

    Lưu Tú là hậu duệ tôn thất nhà Hán. Tuy nói tổ tiên là hào tộc Nam Dương, nhưng đến thời ông ta thì đã lụn bại rồi. Khi Vương Mãng làm vua, Lưu Tú còn là một thiếu niên. Khoảng năm 20 tuổi, Lưu Tú bắt đầu đi ra xã hội, đầu tiên là đến Thái học, học tập, kết giao rất nhiều bạn bè. Cho tới khi lộ phí mang theo đã dùng hết, Lưu Tú mới trở về nhà. Tiếc rằng, thủ hạ của anh ông ta là Lưu Diễn phá nhà cướp của, liên lụy đến ông ta, khiến ông ta chẳng hiểu ra làm sao phải nuốt cái oan kiện tụng ở nhà lao trong một thời gian.
    Lưu Tú ra khỏi ngục không lâu, người cùng quê với ông là anh em Lý Thông, Lý Thất tìm đến, cho ông ta xem một câu Sấm ngữ: "Họ Lưu hưng, họ Lý phò trợ". Lời Sấm trong xã hội đương thời có tính thần bí, tính quyền uy nhất định, Lưu Tú từ lâu đã nhận thấy cái xã hội đó đã lại phải đứng trước thử thách của một cuộc chấn động, đây chính là cơ hội tốt để xây dựng lại nhà Hán. Thế là, sau khi bàn bạc với anh em nhà họ Lý, được anh trai là Lưu Diễn ủng hộ, liền tập hợp người ở các nơi Tân Dã, Uyển Huyện, Thung Lăng cử binh. Sau đó, họ tìm đến các tướng lĩnh của lực lượng khởi nghĩa nông dân ở Tân Thị, Bình Lâm và Vương Phượng, Trần Mục, hai bên thực hiện liên hiệp với nhau.
    Do chính quyền của Vương Măng rất mất lòng người, người ta lại lấy xây dựng lại nhà Hán làm mục tiêu phấn đấu. Đội quân này xây dựng lên, cũng mong muốn có thể chọn ra một người họ Lưu làm vua. Theo công lao, năng lực mà nói, Lưu Diễn là người đủ tư cách được tuyển chọn nhất, nhưng các tướng lĩnh quân nông dân Tân Thị, Bình Lâm không muốn tìm một người có năng lực làm vua, thế lực của họ lớn, cuối cùng để một vị tôn thất khác, năng lực bình thường là tướng quân Lưu Huyền thay thế làm hoàng đế của đội quân này.
    Tiếp theo đó, Lưu Tú chỉ huy thành công một chiến dịch lấy ít thắng nhiều vô cùng đẹp - trận đánh lớn ở Côn Dương. Theo lý mà nói, trận chiến này đã xoay chuyển cục diện bị động của lực lượng đấu tranh quân sự chống Vương Mãng, tiêu diệt gần hết quan quân chủ lực của Vương Mãng, anh em họ Lưu đáng ra phải được trọng đụng. Thế nhưng, Lưu Huyền và các lãnh tụ nông dân lại giết chết mất Lưu Diễn.
    Đối mặt với tin dữ đột nhiên phát sinh, Lưu Tú hết sức . lạnh lùng bình tĩnh. Ông ta biết, lúc này số phận mình còn bị người ta nắm trong tay, còn chưa phải lúc báo thù. Vì thế sau khi về đến Uyển Thành, trước mặt Lưu Huyền luôn tự xưng là mình có tội, rằng mình không khuyên bảo anh trai để đến phạm vào tội chết. Bọn tướng lĩnh Tân Thị, Bình Lâm dự tính là Lưu Tú sẽ tới báo thù, muốn mượn cơ hội giết luôn, không ngờ ông ta đến tự xin nhận tội, còn thì không nói thêm gì cả. Khi người ta đến an ủi Lưu Tú, ông ta cũng chỉ một mực nói mình có tội, chẳng hề nhắc gì đến chiến công lập được trong trận đại chiến Côn Dương.
    Lưu Tú lo liệu đám tang của Lưu Diễn một cách đơn giản, lời nói, cử chỉ bình thường như mọi người. Ban ngày cười nói vui vẻ với mọi người, nhưng đêm đến lại âm thầm nuốt nước mắt, khóc ướt gần hết cả cái gối. Phùng Dị, thủ hạ của ông ta, có lần nhìn thấy cái bí mật đó, khuyên ông ta nên bớt đau buồn, ông ta còn nói: "Chớ có nói xằng". Nhưng Phùng Dị đối với ông ta thực lòng, phân tích với ông ta rằng chính quyền Lưu Huyền đã hoàn toàn mất lòng người, nếu như có thể tách ra được một đội quân, đại nghiệp tất thành.
    Cơ hội cuối cùng đã đến. Lưu Huyền muốn phái một đại tướng có năng lực đi Hà Bắc để mở rộng thế lực, tôn thân Lưu Tứ đề nghị để Lưu Tú đi. Vốn bọn Lưu Huyền hoàn toàn không yên tâm với việc này, nhưng sau khi Lưu Tú hết sức thuyết phục, Lưu Tú đã được phái đi Hà Bắc.
    Quả nhiên, Lưu Tú vừa đến vùng Hà Bắc, như cá được nước. Ông ta đến mỗi nơi, đều lấy thân phận người gây dựng lại nhà Hán lôi kéo nhân tâm, đồng thời thu phục giới quan lại lớn nhỏ, bổ nhiệm hiền sĩ, phóng thích tội phạm, nhờ đó rất được lòng người, từ đấy triển khai kế hoạch của sự nghiệp to lớn trung hưng nhà Hán.
    Giả như Lưu Tú sau khi Lưu Diễn bị giết, không vận dụng sách lược cất kỹ ánh sáng, nuốt oan cầu toàn, thì kết cục của ông chắc chắn không thể tốt hơn Lưu Diễn, anh ông bao nhiêu. Chính là Lưu Tú trước sự kiện phát sinh đột xuất gặp biến không kinh sợ, dùng kế ẩn tối bảo toàn bản thân, kiên nhẫn chờ đợi thời cơ, mới giành được cơ hội triển khai kế hoạch to lớn tạo dựng lại Hán triều.
    Trong thương chiến hiện đại, những biến đổi đột nhiên phát sinh là thường xuyên xảy ra. Trước sự công kích nặng nề của tai họa bất ngờ chợt đến, làm thế nào bình tĩnh ứng phó, co để duỗi, tương tự cũng là vấn đề trọng đại quan hệ đến việc xí nghiệp có thể chấn hưng lại được hùng phong hay không vậy.
    "Blue" là nước khoáng nổi tiếng của nước Pháp, không chỉ rất nổi tiếng ở Pháp mà còn được bán rộng rãi tới các nước Âu, Mỹ, Á châu, rất có uy tín. Thế nhưng, tháng 2 năm 1989, ngành thực phẩm của Mỹ đột nhiên tuyên bố: qua xét nghiệm mẫu, phát hiện thấy có một số nước khoáng “Bính lục dịch" không phù hợp yêu cầu vệ sinh, có hàm lượng benzene (C6H6) vượt quá mức qui định hai đến ba lần, nếu sử dụng để uống lâu dài sẽ dẫn đến nguy cơ ung thư. Điều này đối với công ty nước khoáng "Blue” mà nói, thật là một tiếng sét giữa trời quang.
    Theo tình huống thông thường, đại đa số các công ty sẽ thu hồi lại số sản phẩm không đạt yêu cầu đó, rồi xin lỗi công chúng một cách tượng trưng, sau đó lấy thời gian thay đổi không gian, việc lớn hóa nhỏ, việc nhỏ hóa không, để cho chiều gió qua đi, lại buồn rầu bước ra sân khấu. Thế nhưng, công ty nước khoáng "Blue" lại lập tức cử hành ngay họp báo, trịnh trọng tuyên bố hiện đã bán ra các nơi trên thế giới 160 triệu chai nước khoáng, toàn bộ tiêu hủy tại chỗ, ngay lập tức dùng sản phẩm mới đền bù. Vì đó, tổn thất của công ty lên đến hơn 200 triệu franc. Không ít người lấy làm khó hiểu đối với cách làm ấy của công ty này.
    Thực ra đấy là kế giấu sáng chờ tối của công ty. Việc không hay đã xảy ra rồi, không còn có thể vãn hồi được nữa. Nhưng sự kiện này lại làm cho mức độ nổi tiếng của “Blue" tăng lên chưa từng có, giới lãnh đạo công ty muốn nhân cơ hội này thay đổi hình tượng, tăng cường mức độ nổi tiếng, biến việc xấu thành việc tốt, từ đó ở một cấp độ càng cao hơn vãn hồi danh tiếng của công ty.
    Sản phẩm nước khoáng mới "Blue" được tung ra thị trường! Lúc bấy giờ trên tất cả các báo lớn nhỏ của nước Pháp đã dành trọn một trang báo đăng in quảng cáo, người ta lại nhìn thấy cái chai màu xanh rêu trong suốt quen thuộc như xưa kia. Quảng cáo trên truyền hình làm càng tuyệt vời. Trên nền bối cảnh màu trắng, một chai nước khoáng "Blue" màu xanh nhỏ xuống từng giọt từng giọt nước khoáng lấp lánh, giống y như những giọt lệ. Ngoài hình ảnh là thanh âm uyển chuyển của một cô bé đang nghẹn ngào nức nở, giọng một người cha hiền từ đang khuyên nhủ cô bé. "Đừng khóc, chúng ta vẫn yêu con". Cô bé đó đáp: "Không phải con khóc, là con đang vui mừng đấy chứ!".
    Giới truyền thông thành công, làm động lòng hàng tỉ tỉ công chúng, người ta tận đáy lòng lại tha thứ cho "Blue" đông đảo người tiêu dùng đã bị mẩu quảng cáo tràn đầy tình người đó làm xúc động, họ lại khôi phục lòng tin đối với "Blue”.
    Nếu như "Blue" không như vậy, mà là có một thái độ khác, thì sẽ kết cục ra sao?
    Cách làm của công ty Nestle là một ví dụ điển hình. Sản phẩm dùng cho trẻ em của công ty này sản xuất, vì vấn đề chất lượng, dẫn đến sự công kích trong xã hội. Hai cuốn sách nhỏ "Hung thủ sát hại trẻ em", "Nestle hại trẻ em" bằng tiếng Anh và tiếng Pháp đã phơi bày vấn đề chất lượng sản phẩm của họ, làm cho công ty Nestle bị tổn thất rất lớn về dư luận, về uy tín. Nếu lúc bấy giờ họ vận dụng thái độ kiểu như "Blue" kia, có thể sẽ chủ động hơn. Thế nhưng, công ty Nestle lại chĩa mũi dùi vào dư luận, kiện lên tòa án rằng những người hoạt động tuyên truyền đó đã phá hoại danh tiếng của Nestle.
    Kết quả, tòa án thẩm án đến hai năm ròng. Nguyên người chú ý đến hai cuốn sách nhỏ trên chỉ có hạn, nhưng trong hai năm đó, hai cuốn sách ấy đã gây nên sự chú ý của cả thế giới. Cuối cùng, tuy nói là đã thắng kiện, nhưng hình ảnh của công ty Nestle trong công chúng lại thất bại thê thảm.
    Đấy là chuyện của những năm 70, cho đến những năm 80 công ty này mới chú ý đến vấn đề ấy, mới áp dụng biện pháp để xây dựng lại hình ảnh của công ty. Nếu như ngay từ đầu nó cũng có thể gặp biến không kinh sợ, ẩn sáng chờ tối, kết quả của nó chắc có lẽ phải tốt hơn rất nhiều.
     
  10. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 71: Bị Vây Thì Nghĩ Kế Giành Lấy Sinh Mệnh Mới

    Trận Côn Dương do Lưu Tú chỉ huy, là điểm chuyển ngoặt về mặt quân sự trong việc quân Hán đánh thắng quân Vương Mãng, nó với binh lực chưa đến một 1 vạn người, đánh thắng 40 vạn quân Vương Mãng, là một ví dụ chiến tranh lấy ít thắng nhiều nổi tiếng trong lịch sử.
    Để đập tan sự uy hiếp của quân nhà Hán đối với ông ta, lần này Vương Mãng đã đánh canh bạc lớn nhất. Ông ta không chỉ huy động toàn bộ quân đội có thể dùng được, mà còn tập trung tất cả những người hiểu binh pháp có thể tìm được lại. Hơn thế nữa, ông ta để hù dọa quân Hán, lấy can đảm cho mình, còn tìm đến một đại hán mình cọp mà xe ba ngựa kéo cũng kéo không chuyển, lại còn bắt về cả một lô các loại thú dữ như hổ, báo, tê giác, voi. Cách đánh này, quả là xưa nay chưa từng nghe qua.
    Quân Hán vỏn vẹn chỉ có chưa tới 9000 người, trước thế tấn công ồ ạt của lực lượng quan quân Vương Mãng, quả thực là rất căng thẳng. Thành Côn Dương mà họ chiếm cứ, tuy nói là thành hào còn kiên cố, muốn giữ thì thực sự cũng có thể giữ được một trận, nhưng bị quân địch vây hãm lâu dài, không nghi ngờ tất phải đổ. Trong chính quyền thay mới mà Lưu Huyền đứng đầu, thực sự hiểu về quân sự, ngoài anh em Lưu Tú ra, hầu như chẳng còn ai. Lưu Diễn lúc đó đang thống lĩnh quân sự tấn công Uyển Thành, trong thành Côn Dương, đám tướng lĩnh không biết chỉ huy quân sự, chẳng một ai chịu phục Lưu Tú. Nhưng, quân địch đã áp sát thành Côn Dương, những người khác không có ai đưa ra được một biện pháp khả dĩ, chỉ có Lưu Tú gặp nguy không sợ, có thể ung dung tính kế. Đại địch trước mặt, không nghe ông ta thì nghe ai đây?
    Hơn 40 vạn quan quân kéo thẳng tới Côn Dương, vây thành Côn Dương đến nước cũng không chảy lọt qua được. Bộ thuộc của Lưu Tú, chưa đầy 9.000 quân Hán do Vương Phượng thống lĩnh giữ thành, Lưu Tú dẫn hơn 10.000 người liều chết xông ra khỏi thành, chạy tới Yểm Thành, hy vọng Hán quân ở đó có thể cứu viện cho Côn Dương. Nhưng, các tướng lĩnh nông dân ở đó không chịu phục Lưu Tú, chỉ muốn giữ chặt tài bảo cướp được trong tay, không muốn xuất binh. Lưu Tú đem quan hệ lợi hại trình bày rõ với họ, khiến các tướng lĩnh này nhận rõ cái hiện thực không thể tự bảo tồn trước mắt.
    Lưu Tú tập hợp đám Hán quân đó, xông về phía thành Côn Dương đang bị bao vây trùng điệp. Sau đó, ông ta bỗng nảy ra một kế, phái sứ thần đem tới cho quân giữ thành Vương Phượng một phong thư, trong thư nói dối rằng Lưu Diễn đã chiếm được Uyển Thành, phong thư này lại được cố ý làm mất trên đường, để cho nó rơi vào tay quan quân. Tin tức này làm cho trận pháp quan quân đại loạn. Lưu Tú vừa thấy cơ hội đã đến, ông ta nhân cơ hội đó tổ chức một mũi đột kích, đánh thẳng vào trung quân của quan quân Vương Mãng. Trong chốc lát, trung quân của bọn quan quân đại loạn, mấy chục vạn quan quân rút đi như núi đổ. Quân giữ thành Vương Phượng ở bên trong nhìn thấy tình trạng đó, nhân cơ hội đánh mạnh ra ngoài thành. ông trời cũng tới trợ uy, đột nhiên đổ mưa như trút nước, trên chiến trường là một cảnh hỗn loạn, những thú dữ do quan quân mang tới, nhân đó xông ra khỏi lồng chạy toán loạn khắp nơi, bọn quan quân đến trốn chạy cũng không biết phương hướng, ào ào chạy xuống lòng sông Diễn Xuyên, người chết đuối đếm không xuể, dòng sông vì thế bị tắc lại không chảy nổi. Hơn 40 vạn quan quân trong khoảnh khắc biến thành số không.
    Trận Côn Dương thắng lớn. Sau khi quan quân thất bại tháo chạy, bỏ lại lương thảo binh khí nhiều vô kể, Hán quân chuyển trong hơn một tháng ròng còn chưa chuyển hết.
    Tài năng chỉ huy quân sự của Lưu Tú được bộc lộ một cách hoàn toàn trong trận đại chiến đó, ông ta không bị quan quân hùng mạnh gấp hàng chục lấn dọa cho thất bại, ngược lại ông ta đã tài tình thấy được rằng, cách đánh của quan quân, cũng giống như sư tử đánh bọ chét, sức dù có mạnh hơn nữa cũng không dùng được, mà bọ chét nhỏ muốn cắn sư tử như thế nào thì cắn, sư tử trước sự nhảy nhót của bọ chét, sẽ vồ đập lung tung, cuối cùng sẽ mệt mỏi rã rời. Nếu như tới lúc đó đánh cho nó một đòn chí mạng, nhất định sẽ chiến thắng triệt để. Trận Côn Dương lấy ít thắng nhiều chính là rút ra như thế.
    "Tôn Tử Binh pháp" từ lâu đã nói: "Vi địa tắc mưu” (Bị vây tất phải tính kế). Ý nói rằng, rơi vào trùng vây của địch, nhất thiết phải có kế lạ mới có thể đột phá vòng vây. Lưu Tú chính là dùng cách đánh này, ông ta làm cho quân địch trước sau không liên kết được với nhau, thế quân rối loạn, dồn sức đánh kẻ địch cùng đường mà thắng lớn. Trong thương chiến hiện đại “vi địa tắc mưu” cũng là một mưu trí quan trọng.
    Công ty dầu lửa Xuất Quang của Nhật Bản, sau đại chiến thế giới lần thứ hai, bị tấn công chí mạng, các thị trường Triều Tiên, Trung Quốc hoàn toàn bị phong tỏa, đặc quyền phân phối dầu lửa ở trong nước cũng bị gạt bỏ cùng lúc một cách tàn khốc. Công ty Xuất Quang rơi vào khốn cảnh bị bao vây trùng trùng ở cả trong lẫn ngoài nước.
    Lúc bấy giờ thị trường dầu lửa trong nước trên danh nghĩa nói là Tổ chức dầu mỏ thế giới chi phối, trên thực tế bị khống chế trong tay quân chiếm đóng Mỹ, một số công ty dầu lửa lớn của Mỹ thông qua quân Mỹ khống chế thị trường dầu lửa.
    Đứng trước tình thế bất lợi đó, Xuất Quang như nuốt phải mật báo đơn thương độc mã phản kích. Xem như họ có chút dở hơi, nhưng người bị ép vào cảnh này cũng khó có thể quan tâm đến nhiều chuyện như thế được. Họ công khai đệ thư lên Tổ chức dầu lửa thế giới, nói rõ Mỹ lũng đoạn thị trường dầu lửa Nhật Bản là một loại hành vi bóc lột, có rất nhiều tai hại.
    Xuất Quang làm như vậy, đã khiến cho Bộ tư lệnh quân Liên hợp quốc, công ty dầu lửa quốc tế cực kỳ tức giận, nhưng thư đệ lên của Xuất Quang câu chữ đúng lý, khiến họ không có cách gì phản bác được. Cuối cùng quân chiếm đóng vào Nhật Bản đến năm thứ ba, cục diện lũng đoạn bắt đầu lung lay, công ty Xuất Quang cũng được phân chia một số hạn ngạch, công ty rốt cuộc đã có tín hiệu tốt. Tới năm sau, chế độ dầu lửa khôi phục lại như trước kia, sự lũng đoạn bên ngoài hoàn toàn bị đánh đổ.
    Áp lực bên ngoài đã giảm nhẹ, cạnh tranh cùng lúc lại càng gay gắt hơn. Trong nước một số công ty liên hợp lại với nhau lật đổ công ty Xuất Quang. Trên thị trường quốc tế, một số công ty Anh, Mỹ cũng liên thủ phong tỏa kênh nhập khẩu dầu lửa của công ty Xuất Quang, mượn dịp báo thù.
    Đứng trước áp lực chồng chất trong và ngoài nước, Xuất Quang không hề chịu kém. Họ tuyệt đối không cúi đầu trước những công ty lớn kia, quyết tâm tự tổ chức đội tàu, dùng tàu chở dầu loại lớn để vận chuyển dầu, nào sợ khó khăn lớn hơn nữa cũng phải khắc phục.
    Dấu hiệu tốt lành cuối cùng đã xuất hiện! Năm 1953, chính phủ Iran quy dầu lửa vào sở hữu nhà nước, điều này đánh mạnh nhất vào công ty dầu lửa Adelu Irani của Anh, cổ đông lớn nhất của dầu lửa Iran trước đây. Nước Anh quyết định dùng vũ lực can thiệp, phái quân hạm phong tỏa vịnh Ba Tư, ép chính phủ Iran thay đổi chính sách, nước Mỹ xuất phát từ lợi ích bản thân cũng ủng hộ cách làm đó của nước Anh. Thế nhưng, công ty Xuất Quang lại gánh lấy áp lực cùng đứng về một phía với Iran, cử tàu chở dầu mới đóng "Nhật Chương Hoàn" đến thẳng cảng Iran chở dầu. Điều này tốt cho cả Iran và công ty Xuất Quang, thủ tướng Iran đích thân tới cảng nhiệt tình đón tiếp.
    Công ty Xuất Quang trong thời khắc then chốt đã ủng hộ chính phủ Iran, họ cũng có được nguồn dầu thô giá rẻ đặc biệt và điều kiện ưu đãi. Công ty Adelu Irani của Anh thẹn quá hóa giận, công nhiên khởi kiện lên tòa án quốc tế, lại nói dựng đứng lên rằng công ty Xuất Quang có hiềm nghi đưa và nhận hối lộ. Việc này đã gây nên cuộc sóng to gió lớn trên toàn thế giới, nhưng công ty Xuất Quang không chút sợ hãi, cuối cùng công ty Xuất Quang đã thắng kiện.
    Dầu lửa của Iran đã khiến công ty Xuất Quang có được sinh mệnh mới, dũng khí và mưu trí "vi địa tắc mưu” đã giúp cho công ty Xuất Quang trong hang sâu khốn cảnh trùng trùng có thể đi lên được, và đồng thời tự mình có thể đứng vững được.
     
  11. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 72: Thôn Tính Lẫn Nhau, Hai Bên Đều Thiệt

    Chính quyền mới lên do Lưu Huyền làm vua cùng theo quân nông dân tiến vào thành Trường An, dân chúng lòng đầy nhiệt tình đón họ vào thành. Thế nhưng, đó một đội quân vô tổ chức, ô hợp, đứng đầu là hoàng đế Lưu Huyền suốt ngày chỉ biết uống rượu và vui chơi ở hậu cung, việc lớn đều giao cho bố vợ ông ta là Triệu Mạnh quản. Triệu Mạnh một mình nắm lấy đại quyền, muốn làm gì thì làm. Trong văn võ bá quan triều đình, có kẻ là thất phu vô học, có kẻ là tiểu thương lưu manh, có kẻ là phu thuê ăn nhờ. Mới được đắc thế quyền quý, bắt người cướp của vơ vét tài vật khắp nơi, cưỡng hiếp phụ nữ, dân chúng thất vọng vô cùng.
    Chính lúc đó, một lực lượng khởi nghĩa nông dân khác khởi binh từ Sơn Đông - quân Xích Mi lại đổ về hướng Trường An. Khởi nghĩa nông dân vốn là phá nhà cướp của, vơ vét khắp nơi, Quan Đông vét sạch, họ liền thẳng tiến tới Quan Trung. Không lâu sau, hai đội quân nông dân thôn tính tàn sát lẫn nhau. Kết quả đại chiến, quân Xích Mi thắng lớn, đội quân của Lưu Huyền chết trận mất hơn 3 vạn.
    Trước sự tấn công của quân Xích Mi, trong thành Trường An chưa đánh đã loạn, đám lãnh tụ nông dân thủ hạ của Lưu Huyền đề xuất với ông ta nhân cơ hội cướp sạch thành Trường An, rồi ra khỏi thành đi làm thảo khấu. Lưu Huyền đã làm vua rồi, tất nhiên là không đồng ý. Họ liền dự tính kế hoạch bức ép Lưu Huyền, uy hiếp buộc ông ta làm theo. Lưu Huyền cảm thấy bọn người này không dễ gì khống chế, liền muốn hạ thủ giết chết đám tướng lĩnh. Đám tướng lĩnh đó còn chưa bị giết lập tức làm phản Lưu Huyền, trắng trợn đốt hủy cung điện, Lưu Huyền đành phải chạy trốn khỏi Trường An.
    Kết quả tranh chấp nội bộ đã để quân Xích Mi công phá thành Trường An, Lưu Huyền chỉ còn cách phải đầu hàng Xích Mi. Lưu Huyền sợ đến mặt mày xám như tro, mình trần phơi thịt run bần bật như dây đàn quỳ ngay trước mặt ông vua con Lưu Bồn Tử của đội quân Xích Mi.
    Xích Mi thay thế chính quyền mới, chẳng thấy đem đến được điều gì tốt lành cho bá tánh. Chính quyền Xích Mi trong cung Trường Lạc, tranh công giành quyền, rối tinh rối mù, tiểu hoàng đế Lưu Bồn Tử sợ đến chỉ còn cách chui trốn. Lúc đầu khi ở Sơn Đông, Xích Mi nêu lên khẩu hiệu "kẻ giết người thì phải chết, làm người bị thương thì phải bồi thường vết thương", nhưng đến Trường An rồi, họ cũng giống y như chính quyền trước đây, trắng trợn cướp bóc. Nhưng, Trường An lúc đó đã chẳng còn bao nhiêu dầu mỡ. Trải qua hai lần cướp trắng, ngay cả lương thực cũng đã thành vấn đề, xem ra quân Xích Mi không thể tiếp tục trụ lại ở Trường An được nữa.
    Một mồi lửa lớn, quân Xích Mi đốt rụi toàn bộ cung thất Trường An, chúng lại rẽ sang một ngả đường phá nhà cướp của mới. Đại bộ phận trong số chúng đều muốn quay về quê Sơn Đông, tiếc rằng, đội quân này bị buộc phải rút về phía đông. Lưu Tú từng bị Xích Mi đánh bại nhiều lần, tới lúc này, vây cánh sớm đã phong mãn, ông ta đang trừng mắt hau háu nhìn đám quân Xích Mi. Ông ta đã bố trí các phương án, chuẩn bị bất ngờ tập kích quân Xích Mi. Quân Xích Mi vừa đói vừa rét, sau mấy tháng giao chiến với quân Phùng Dị, Đăng Vũ bộ tướng của Lưu Tú, cuối cùng gặp phải phục kích. 8 vạn quân Xích Mi trong thảm cảnh cùng đường tuyệt đối, đành phải đầu hàng Lưu Tú.
    Ở đây, người ta nhìn thấy tương đối rõ tính hạn chế của quân khởi nghĩa nông dân, nhược điểm hẹp hòi, tự tư của họ, dẫn đến chỗ họ không biết đoàn kết một lòng, cùng nhau chống địch. Nếu như họ không tự giết hại lẫn nhau, tranh chấp nội bộ, làm sao lại có thể thất bại nhanh đến thế?
    Người làm thương chiến hiện đại, từ các phương diện tiến bộ thời đại, tiến bộ lý tính của tri thức mà nói, đều vượt trên quân nông dân cổ đại rất nhiều, họ đáng ra phải xử lý quan hệ nội bộ tốt hơn. Tuy nhiên, trên thực tế người ta có thể cũng sẽ thấy, trong xí nghiệp hiện đại vì quan hệ này xử lý không được tốt, rốt cuộc đã dẫn tới công ty sụp đổ, việc như thế không phải là không có.
    Giữa thế kỷ 19, ba anh em Laiman, Đức rời bỏ nghề nuôi bò ở quê hương Batalia tham gia hành trình đi khai thác đại lục mới châu Mỹ. Họ sau khi tới nước Mỹ, mở một công ty thương mại sản phẩm dệt bông, lấy tên là Công ty Anh Em Laiman. Đầu thế kỷ 20, thế hệ sáng lập đời thứ nhất của gia tộc Laiman đã sớm tạ thế, đời thứ hai của gia tộc chuyển trọng điểm kinh doanh từ thương mại sang tiền tệ ngân hàng, đầu tư ngân hàng của họ hết sức tưng bừng thịnh vượng.
    Kể từ năm 1969, quyền lãnh đạo công ty bắt đầu do người ngoài gia tộc phụ trách quản lý. Mặc dù vậy, công ty vẫn làm ăn rất hưng vượng. Đến năm 1984, công ty Anh Em Laiman đã có tài sản 250 triệu đô la, đã trở thành một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất ở Phố Wall, New York. Chính vào lúc đó tranh chấp nội bộ giữa hai vị Tổng giám đốc công ty Peterson và Clarksman càng ngày càng căng thẳng, vận mệnh công ty đứng trước thử thách cam go.
    Peterson đã từng là trợ lý các vấn đề kinh tế quốc tế của tổng thống Mỹ tiền nhiệm Richard Nickson, năm 1973 rời khỏi chính phủ tới công ty Anh Em Laiman đảm nhiệm chức Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc. Clarksman từ 1962 đã làm việc ở công ty này, tư cách và kinh nghiệm hơn Peterson rất nhiều, nhưng ông ta mãi tới năm 1983 mới được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc mới. Như thế, công ty về mặt đối ngoại trên thực tế xuất hiện hai vị Tổng giám đốc. Bề ngoài, một người phụ trách đối ngoại, một người phụ trách bên trong, không thể có vấn đề gì lớn cả. Nhưng mà như tục ngữ đã nói, một núi không thể có hai hổ. Chỗ sơ hở về thể chế này, cộng thêm tham vọng quyền thế và danh lợi to lớn, một cuộc "chính biến cung đình” không tránh khỏi đã phát sinh.
    Một buổi sáng sớm của một ngày vào tháng 7 năm 1984, sau khi hai người gặp nhau ở công ty, Clarksman lật bài ngửa ra với Peterson.
    Clarksman: Tôi đã ngẫm nghĩ về cả cuộc đời mình. Anh biết đấy, tôi suốt đời thích bơi thuyền và chạy tàu, khi tự mình cầm lái trên thuyền cảm thấy thật là thỏa mãn. Giờ đây tôi cũng muốn có được cảm giác thỏa mãn đó ở công ty Laiman.
    Peterson. Để tôi xem, xem có phải là đã hiểu được lời anh hay không nhé. Ý anh muốn tự mình gánh vác công việc kinh doanh ở đây phải không.
    Clarksman: Đúng rồi, bây giờ tôi muốn là người quản lý công việc. Bởi vì tôi biết tôi hiện tại tinh lực dồi dào, có thể tiếp nhận ngay.
    Không đừng được, Clarksman lập tức muốn thương định với Peterson về thời gian biểu giao nhận giữa hai người. Peterson còn muốn vãn hồi cái cục diện bị động đó, nhưng tất cả đều uổng công. Clarksman từ lâu đã sắp sẵn mưu mô trong hội đồng quản trị, rất nhiều người đều bị lôi kéo về phía ông. Muộn rồi, Peterson không còn biết phải làm thế nào, đành phải từ chức chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc.
    Clarksman đã đắc thủ. Nhưng rồi ông ta được gì? Ngoài các chức vụ đó ra, chào đón ông ta là sự hỗn loạn từ trên xuống dưới của công ty. Do ông ta đứng đầu trong công ty gây chia rẽ, làm cho một số người bất mãn, không ít những người cùng cộng tác lần lượt rời bỏ ông ta ra đi. ông ta nhận chức chỉ hơn một năm, sự nghiệp của công ty Anh Em Laiman từ đỉnh cao đổ xuống vực thẳm, không một ai có thể cứu vãn được tòa cao ốc sắp đổ đó. Vốn là một ngân hàng đầu tư thực lực hùng hậu, dưới sự chia rẽ nội bộ, thôn tính lẫn nhau mà sụp đổ tan tành, cuối cùng bị sát nhập vào một công ty con của một công ty đầu sỏ khác ở Phố Wall - công ty Transport American.
    Michael Thomas một người công tác trước đây của công ty Anh Em Laiman thở dài than rằng: "Công ty này chịu đựng được qua cuộc chiến tranh Nam Bắc mà tồn tại, nhưng lại không chịu nổi trận nội chiến giữa Peterson và Clarksman". Chọi nhau tất cả đổ vỡ, hòa hợp mới là đáng quý. Chọi nhau tất hai bên đều thiệt hại, hòa hợp thì hưng vượng phát đạt. Từ xưa đến nay, những chuyện như thế chẳng phải là hiếm phải không?
     
  12. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 73: Mượn Đầu Đề Phát Triển Thêm, Nhất Cử Lưỡng Tiện

    Lý Thất là người sớm nhất cùng Lưu Tú mưu sự đánh Vương Mãng. Thế nhưng, sau khi họ cộng tác Tân Thị, Bình Lâm không lâu, Lý Thất đã rời bỏ Lưu Tú, còn quay lại đứng về phía "ông vua thế chỗ" Lưu Huyền, tham dự vào việc mưu hại Lưu Diễn, anh Lưu Tú.
    Sau khi Lưu Tú tới Hà Bắc không lâu, đã phát triển thế lực của mình, nhưng đối với Lưu Huyền đã chia rẽ đôi đường. Ông sai thủ hạ là đại tướng Đại Vũ thống lĩnh hơn 2 vạn quân tinh nhuệ bám sát chặt chẽ Lưu Huyền, không để cho ông ta lên phía bắc. Lưu Huyền sau khi biết tin, cũng sai Chu Vĩ, Lý Thất tiến binh vào Lạc Dương, nhằm kiềm chế chủ lực của Lưu Tú. Lưu Tú để mở rộng hơn nữa thành quả chiến tranh ở Hà Bắc, đặc phái Phùng Dị đóng giữ Mạnh Tân, ngăn chặn Chu Vĩ, Lý Thất, nhằm phòng tránh mối lo về sau.
    Lý Thất trong lòng hiểu rõ, ông ta đã đắc tội với Lưu Tú, Lưu Tú sẽ không tha cho ông ta, nhưng ông ta thấy thế lớn của Lưu Huyền sắp mất, theo ông ta sẽ chẳng thể làm nên trò trống gì. Suy trước tính sau, đang trong lúc mâu thuẫn, ông ta nhận được thư của Phùng Dị viết từ Mạnh Tân gửi đến cho ông ta. Thư viết rất uyển chuyển cảm động, mong ông ta chờ cơ hội lại trở về với Lưu Tú. Lý Thất cũng viết thư cho Phùng Dị, lời lẽ trong thư cũng hết sức cảm động, ý là: "Nếu như ông và tôi có thể đồng lòng nhất trí, thì tôi cũng không có gì phải lo nghĩ nữa. Xin chuyển lời tới Lưu Tú, tôi nguyện cống hiến công lao khuyển mã vì ông ấy. Nếu như quý quân tiến công đánh Lưu Huyền, tôi tuyệt đối không cứu ông ta".
    Phùng Dị sau khi biết được ý tứ của Lý Thất rồi, mạnh dạn tấn công Lưu Huyền, đầu tiên lấy Thiên Tỉnh Quan và Thượng Đảng, tiếp đó đánh hạ hơn 10 thành trì. Lý Thất quả nhiên khoanh tay đứng nhìn, xem Lưu Huyền bị đánh một cách bị động.
    Tình hình đó, Phùng Dị nhanh chóng báo cáo với Lưu Tú. Lưu Tú nhiều lần đắn đo, cảm thấy Lý Thất là một kẻ tiểu nhân gió chiều nào ngả chiều ấy, lật lọng thất thường, nếu như kết nạp hắn, tương lai chắc chắn hậu họa vô cùng. Tuy nhiên, hắn đã tỏ thái độ như thế, nếu cự tuyệt từ ngoài cửa, sẽ bị người ta cảm thấy rằng Lưu Tú không thể dung nạp người, điều đó cũng không có lợi cho việc chiêu hàng các thế lực khác về sau này. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng nghĩ ra được một cách, đó là mượn tay Lưu Huyền trừ diệt Lý Thất.
    Thế rồi, Lưu Tú một mặt viết thư cho Phùng Dị, để ông ta giữ vững trận địa, đừng để thái độ của Lý Thất mê hoặc, mặt khác công khai bức mật thư do Lý Thất viết cho các tướng lĩnh thủ hạ của mình xem, muốn mọi người bình luận đánh giá xem, Lý Thất viết bức thư đó rốt cuộc là có ý gì. Các tướng lĩnh bàn tán sôi nổi, nhưng cũng có chút nghi hoặc bứt rứt, bức thư quan trọng như thế sao lại có thể đem ra cho bọn mình chuyền nhau xem được chứ?
    Trên đời không có vách nào là không lọt gió. Chuyện Lý Thất viết thư cho Phùng Dị, nhanh chóng bị thượng cấp trực tiếp trên đầu mình là Chu Vĩ biết được. Ông ta vô cùng tức giận với việc tư thông với Lưu Tú, rời bỏ Lưu Huyền của Lý Thất, ngay tức khắc giết chết Lý Thất.
    Hành động này của Lưu Tú hết sức cao minh, vừa trừ dứt kẻ tiểu nhân tráo trở thất thường, báo thù cho anh mình, vừa không bị mang tiếng xấu là giết kẻ đầu hàng. Mưu kế đó, vừa là phản gián, vừa là mượn dao giết người. Đến lúc đó, tướng lĩnh dưới tay Lưu Tú mới như vừa tỉnh mộng, hóa ra ông ta công khai mật thư của Lưu Thất, mục đích là mượn đầu đề phát triển thêm, nhằm giải quyết vấn đề khó khăn của ông ta. Trong thương chiến hiện đại, văn chương mượn đầu đề phát huy có không gian càng rộng lớn, đôi khi một chuyện nhỏ chẳng đáng kể cũng có thể trở thành đầu đề có thể mượn dùng để đạt được mục đích.
    New York, Mỹ có một tòa cao ốc năm tầng, nó là tòa lầu tổng bộ của công ty liên hợp hóa học. Ngày ấy, công ty này đang trù hoạch vấn đề hình ảnh mới cho quảng cáo, một đám đông các nhà hoạch định đang vô cùng nhọc lòng bàn luận, vắt kiệt óc nghĩ cách.
    Bỗng nhiên, một đàn bồ câu bay tới ngay một gian phòng của tòa nhà. Những người khác chẳng hề để ý gì đến việc đó, nhưng mà các nhà hoạch định quảng cáo lại cùng lúc đều như thấy thần linh bay tới. Họ đóng cửa cẩn thận, điều chỉnh lại nhiệt độ trong phòng, sau đó gọi điện mời quan chức của ủy ban bảo vệ động vật Mỹ tới, làm y như là mời họ đến xử lý vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ bồ câu thật vậy.
    Ủy ban bảo vệ động vật vừa làm rùm beng lên một cái, giới tin tức Mỹ cứ như là lại bắt được một tin thời sự lớn vậy, ba hãng truyền hình lớn, các báo lớn của New York đều cử rất nhiều phóng viên tới công ty liên hợp hóa học phỏng vấn về sự kiện chim bồ câu.
    Phóng viên đến nhiều như thế, đám bồ câu đều trở thành chim sợ cành cong, chúng bay khắp tất cả các gian phòng, khắp mọi xó xỉnh của tòa lầu. Lần này, mọi người trong tòa lầu của công ty liên hợp hóa học bận túi bụi. Người ta phải mất ba ngày chạy đi chạy lại toàn thân vã mồ hôi, giới truyền thông cũng bám theo đưa tin ba ngày, từ khi bắt con bồ câu đầu tiên tới con bồ câu cuối cùng bị nhốt vào gian phòng đã được chỉ định, toàn bộ quá trình đó đều được các phóng viên truyền hình quay phim, các báo lớn cũng tới tấp đăng tin, ảnh, và bài đặc biệt viết riêng về sự kiện này.
    Công ty liên hợp hóa học bỗng nhiên nổi tiếng! Nó trở thành một tiêu điểm, một trung tâm chú ý của giới tin tức Mỹ. Các nhân vật ở các cấp đầu não của công ty cũng nhân cơ hội đó liên tục làm nổi bật hình ảnh trong giới truyền thông. Toàn thể dân chúng nước Mỹ đều quan tâm chú ý tới sự kiện này, sự kiện chim bồ câu phát sinh ở công ty liên hợp hóa học đã trở thành một điểm nóng thời sự.
    Kết cục sau cùng, đám bồ câu đó từng con từng con được thả vào tự nhiên, giới quản lý, nhân viên của công liên hợp hóa học đồng thời với việc thả bồ câu, cũng đã đưa danh tiếng của công ty này cùng với bồ câu, bay tới khắp các nơi trên cả nước. Chi phí quảng cáo tốn kém được tiết kiệm lại, hình ảnh mà sự kiện chim bồ câu tạo nên cho công ty hay hơn so với bất kỳ một hình ảnh nào làm nên từ chi phí quảng cáo tốn kém. Trong mắt mọi người, công ty liên hợp hóa học là thiên sứ bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ động vật nhỏ bé, sản phẩm của họ tự nhiên cũng trở thành lễ vật mà thiên sứ ban tặng cho thiên nhiên.
    Bạn xem, mượn đầu đề phát triển thêm có tác dụng lớn biết bao nhiêu.
     
  13. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 74: Lòng Dạ Rộng Rãi, Không Giết Kẻ Hàng Đầu

    Trong dãy Tiêu Sơn hiểm trở, có một hẻm núi hẹp dài hơn 30 dặm, xe ngựa không thể đi được, người đi bộ phải thận trọng nhích bước. 8 vạn quân Xích Mi bị Lưu Tú truy binh dồn vào chân Tiêu Sơn, không còn đường nào khác, đành phải đầu hàng Lưu Tú.
    Tuy nhiên, đấy chỉ là một bộ phận của quân Xích Mi. Một cánh quân chủ lực khác của Xích Mi, còn tới hơn 10 vạn đại quân, trong đó có không ít là vợ con đi theo. Tiểu hoàng đế Lưu Bồn Tử của quân Xích Mi cũng ở trong số đó. Chúng gian nan vượt qua đội quân chặn đánh của Lưu Tú, nhưng lại vừa đói vừa mệt, thật không thể tiếp tục gắng gượng được nữa. Mà trước mặt chúng, lại là đội quân do đích thân Lưu Tú thống lĩnh.
    Làm thế nào đây? Không lẽ đem mạng sống của hơn 10 vạn quân ra làm trứng chọi đá sao? Suy đi nghĩ lại, chúng chỉ còn cách tìm đến Lưu Cung anh của Lưu Bồn Tử, để ông ta lấy thân phận tôn thất họ Lưu tới trước mặt Lưu Tú xin hàng. Lưu Tú chấp nhận cho họ đầu hàng, cũng đồng ý không giết Lưu Bồn Tử.
    Thế rồi, Lưu Bồn Tử dẫn các nhân vật lãnh tụ chủ yếu của quân Xích Mi, tự trói mình, đến đại doanh của Lưu Tú, quỳ trước mặt Lưu Tú và các tướng lĩnh khác xin chịu tội, Lưu Bồn Tử hiến dâng ngọc tỷ truyền quốc đoạt được từ chỗ ông vua thế chỗ Lưu Huyền. Lưu Tú cũng dùng lễ đối đãi, long trọng tiếp nhận sự đầu hàng của chúng, tước vũ khí của chúng, sau đó để chúng tới huyện thành Nghi Dương ăn cơm.
    Ngày hôm sau, trước đại quân hùng tráng của Hán quân, Lưu Tú tìm các lãnh tụ Xích Mi Lưu Bồn Tử, Phiên Sùng, Từ Tuyên đến nói chuyện, ông ta trước hết hỏi Lưu Bồn Tử:
    Lưu Tú: Ngươi có đáng tội chết không?
    Lưu Bồn Tử: Tội thần đáng chết vạn lần, nhưng xin bệ hạ có thể miễn xá cho thần.
    Lưu Tú: Thằng bé này thật khéo ăn nói, người họ Lưu không ngốc.
    Tiếp theo, lại hỏi tới bọn Sùng Phiên. Sau đó, Lưu Tú nói: "Các ngươi đã làm không ít việc xấu, những nơi đã đến, giết hại người già trẻ em, phá hủy đàn tế thần linh, còn phá hoại giếng bếp của người ta. Nhưng, các ngươi còn có mấy việc chưa đến nỗi tồi tệ là bất kể đánh đến đâu, chưa từng bỏ rơi mất vợ con, quân chủ lập nên vẫn là người họ Lưu, cuối cùng chọn con đường đầu hàng, không giống như một số bọn trộm cướp, giết quân chủ của mình để tranh công giành thưởng .
    Lưu Tú có thể đối đãi với quân nông dân, đầu hàng khá rộng rãi độ lượng, không giết kẻ đầu hàng, hết sức được lòng người. Lưu Tú biết rằng mình còn chưa đến lúc sau cùng bình định được thiên hạ, còn có không ít thế lực cát cứ tranh hùng cần ông ta giải quyết, vì thế xử trí thế nào cho ổn thỏa mười mấy vạn quân Xích Mi, có quan hệ to lớn tới việc về sau này ông ta có thể đứng vững được hay không. Xử trí của Lưu Tú rất là đích đáng, ông ta không những không giết hàng quân Xích Mi, mà còn sắp đặt bố trí cho lãnh tụ của chúng, để cho họ có thể ở tại Lạc Dương, mỗi người đều được cấp đất cấp nhà. Đương nhiên, làm như thế cũng tiện khống chế những người đó. Các nông dân khác thì để họ trở về với ruộng vườn quê nhà. Như thế vừa có lợi cho sản xuất xã hội, lại vừa phù hợp với tâm nguyện bản thân họ.
    Thương chiến hiện đại, đương nhiên không thể có vấn đề đối đãi thế nào với một đội quân đầu hàng. Tuy nhiên, trong mỗi xí nghiệp đều có một số đông nhân viên, khi công ty có sự sa sút, làm thế nào để ổn định tinh thần của nhân viên, tranh thủ sự ủng hộ của họ, đấy cũng là mưu trí trong quản lý xí nghiệp. Trên ý nghĩa này mà nói, lòng dạ rộng rãi và đức độ cao được thể hiện qua việc Lưu Tú không giết kẻ đầu hàng, là cái mà mỗi nhà lãnh đạo xí nghiệp nên cần có.
    Nhật Bản có một công ty đồ chơi, do kinh doanh không tốt, đã xuất hiện cảnh sa sút, thu nhập tài chính tụt thẳng xuống. Đúng lúc đó, giám đốc điều hành của công ty bị bệnh nằm viện. Sự trùng hợp này khiến trong công ty trên dưới lòng người phấp phỏng, những lời đồn đại rất nhiều. Tất nhiên, nhiều nhất là loại lời đồn rằng "công ty sắp sụp đổ rồi", một số nhân viên nôn nóng đã thành chim sợ cành cong, chuẩn bị tìm đường khác mưu sinh. Dưới bầu không khí đó, ai còn muốn yên tâm làm việc.
    Làm thế nào ổn định tinh thần nhân viên đây? Một vị phó giám đốc điều hành của công ty ra mặt, triệu tập đại hội nhân viên toàn công ty, ông ta nhiều lần rêu rao rằng công ty không thể sụp đổ, mong mọi người cùng công ty dựa vào nhau vượt khó khăn. Cho dù ông ta nói rách cả miệng, mọi người đều bán tín bán nghi, luôn cảm thấy vị phó giám đốc điều hành này lúc đó "không có nổi 300 lạng, cố ý làm ra vẻ", lời ông ta nói không đáng tin.
    Vị phó giám đốc điều hành này thất bại, công ty trên dưới vẫn như cũ. Chính vào lúc đó, giám đốc phòng quan hệ công cộng, ông Bản Điền đi công tác trở về. ông ta vừa nghe thấy chuyện này, không hề nói gì, lập tức tìm các vị "phê bình lãnh tụ" trong nhân viên tới.
    Nguyên ông Bản Điền là một nhân viên quản lý giàu kinh nghiệm về quan hệ công cộng, ngày thường rất chú ý nghiên cứu tình trạng của công ty, ông ta dựa trên kinh nghiệm ước đoán rằng, nhân viên công ty tinh thần phấp phỏng nhất định có liên quan với ý kiến dẫn đường của mấy vị "phê bình lãnh tụ”. Ông ta trước hết cẩn thận, nhẫn nại lắng nghe ý kiến của họ, tìm ra nguồn gốc căn bệnh lo lắng trong tư tưởng của họ, rồi dẫn họ tới bệnh viện thăm vị giám đốc điều hành đang bệnh nặng. Ông Bản Điền không nói gì nhiều, mà chủ yếu dùng sự thực để nói, để cho mấy vị "phê bình lãnh tụ” hiểu được tình hình thực tế. Tiếp theo, ông ta lại phá lệ để họ tới phòng tài vụ công ty xem các bảng báo cáo tình hình kinh doanh thực tế của công ty.
    Những hành động này, thu được hiệu quả kỳ diệu. Mấy vị phê bình lãnh tụ đó bị sự thành thực của ông Bản Điền đánh động, sự thật khiến họ càng tin tưởng hơn vào giới quản lý công ty. Quả nhiên, không bao lâu, tinh thần trên dưới toàn công ty đã được ổn định. Vấn đề mà ban đầu vị phó giám đốc điều hành kia phí rất nhiều công sức đều không giải quyết nổi, ông Bản Điền đã thông qua các vị “phê bình lãnh tụ” giải quyết xong.
    Dắt bò phải dắt mũi bò, nắm vấn đề phải nắm vào điểm then chốt. Tất nhiên, cái đó phải lấy lòng dạ rộng rãi làm tiền đề.
     
  14. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 75: Đánh Bại Từng Người Một Giải Quyết Vấn Đề Khó

    Khi Lưu Tú dựng nhà Đông Hán, các thế lực cát cứ trong nước còn rất nhiều. Ông ta muốn bình định thiên hạ, đi đến thống nhất trở lại, quả thật rất khó khăn. Khi xưa đối thủ của Lưu Bang chỉ có một Hạng Vũ, còn đối thủ của Lưu Tú lại rất nhiều, và Xích Mi chưa phải là vấn đề sau cùng phải giải quyết.
    Đối đãi với Xích Mi, Lưu Tú áp dụng cách tiếp nhận sự đầu hàng của chúng, sắp đặt yên ổn làm thượng sách. Đối với các hoàng đế quân phiệt ôm binh cát cứ, Lưu Tú áp dụng thủ pháp đánh bại từng người một, mềm rắn kết hợp. Các thế lực cát cứ đó chủ yếu có bọn Lưu Vĩnh, Bành Hoằng, Tần Phong, Lữ Phương, Khôi Hiệu, Công Tôn Thuật, Điền Mậu.
    Lưu Tú quyết định, trước hết giải quyết thế lực cát cứ mặt đông. Bởi vì mối đe dọa ở mặt tây tạm thời nhỏ hơn một chút, mà đe dọa ở mặt đông lớn hơn. Quyết sách đã định, Lưu Tú sai Cái Diên dẫn đại quân tập trung tấn công đánh Lưu Vĩnh. Lưu Vĩnh ở trong thành Tiều Dương lương thực cạn kiệt, khiến ông ta trụ lại không nổi, trong lúc ra khỏi thành rốt cuộc bị giết. Trương Bộ cùng các tướng lĩnh dưới quyền khác cũng lần lượt bị tiêu diệt. Bình định Lưu Vĩnh có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố Quan Đông của Lưu Tú.
    Sau đó, tin thắng trận bốn phía truyền về, Tần Phong ở miền Nam, Bành Hoằng ở Hà Bắc bị tiêu diệt. Toàn bộ Trung Nguyên về cơ bản bị Lưu Tú khống chế. Tương đối khó đối phó là Công Tôn Thuật ở Ba Thục và Khôi Hiệu ở Tây Bắc. Lúc đầu Lưu Tú vận dụng sách lược khuyên hàng Công Tôn Thuật, đánh Khôi Hiệu, nhằm phân hóa liên minh liên kết giữa hai người bọn họ. Lưu Tú mấy lần viết thư cho Công Tôn Thuật, Công Tôn Thuật vẫn không chịu đầu hàng. Tuy rằng tiến đánh Khôi Hiệu phải trả một giá rất đắt, nhưng chung quy vẫn phải gặm cho được khúc xương khó gặm này.
    Phá xong Khôi Hiệu, Lưu Tú bèn tập trung ưu thế binh lực để đối phó Công Tôn Thuật, Công Tôn Thuật tự cho rằng mình là căn cứ theo lời nói trên Sấm ngữ mà làm hoàng đế, có thiên mệnh giúp đỡ, vì thế chẳng xem Lưu Tú vào đâu. Lưu Tú sau khi bình định Khôi Hiệu, không tiếp tục khuyên hàng Công Tôn Thuật nữa, mà sai Ngô Hán các tướng soái lĩnh đại quân tiến đánh Thành Đô. Công Tôn Thuật đích thân mặc giáp ra trận, nhưng lại bị bắn rơi xuống ngựa. Cây đổ thì hồ ly tan, khu vực Ba Thục cuối cùng được bình định.
    Lữ Phương ở xa mãi biên thùy, tuy rằng chẳng có đe dọa trực tiếp gì đối với Lưu Tú, nhưng đại bộ phận các khu vực trong nước đã bình định xong, còn lại ông ta là tai họa cuối cùng. Do ông ta ở biên thùy cấu kết với Hung Nô, quân Hán muốn đánh ông ta cũng không phải dễ. Nhiều năm sau, Lữ Phương tự hiểu ra rằng mình không thể nào thắng được quân Hán, thế là ông ta lúc thì ngả về Hán triều lúc lại ngả sang Hung Nô. Khi ông ta ngả về Hán triều, Lưu Tú đã từng lấy lễ để đối đãi phong vương cho ông ta. Nhưng ông ta sau cùng lại ngả sang Hung Nô.
    Dưới sách lược thành công đánh bại từng người một của Lưu Tú, thế lực cát cứ lần lượt bị quét sạch, Hán triều lại được thống nhất trở lại. Thủ pháp đánh bại từng người một, ở mỗi thời kỳ, mỗi khu vực đều có thể vận dụng một cách thành công, trong thương chiến hiện đại, tình huống nhờ đó thành công cũng không phải là hiếm thấy.
    Trung Quốc có một công ty sản xuất thuốc tiến hành đàm phán liên doanh với công ty S của Mỹ, phía công ty Trung Quốc vận dụng thủ pháp đánh bại từng người một, khiến đàm phán đã thu được thành công.
    Mới đầu, phía công ty Mỹ đề xuất lấy bản hợp đồng do họ đưa ra làm cơ sở, trong đó lại đề xuất lấy bản quyền sáng chế, bản quyền kỹ thuật hạng mục riêng biệt và bản quyền thương hiệu của phía công ty Mỹ làm cấu thành chủ yếu để liên doanh và mua cổ phần.
    Luật sư Triệu của phía Trung Quốc trước hết tách riêng vấn đề văn bản hợp đồng với các vấn đề khác để tiến hành thảo luận. Ông ta nói: "Đàm phán phải lấy bản hợp đồng của phía Trung Quốc là cơ sở, bởi vì trong bản hợp đồng của phía Mỹ có một số chỗ mơ hồ không rõ ràng, có một số chỗ lại mâu thuẫn với pháp luật Trung Quốc".
    Đại diện phía Mỹ Jack đề nghị luật sư Triệu lấy ví dụ.
    Luật sư Triệu chỉ rõ: "Hợp đồng trước hết phải xác định rõ ràng đương sự là ai, trong văn bản của quý công ty, có lúc là công ty S, có lúc là nhà máy sản xuất thuốc S.E. Thế rốt cuộc do ai đứng ra gánh vác trách nhiệm pháp luật?" Lại nói: "Luật xí nghiệp liên doanh Trung Quốc với nước ngoài" của nước tôi qui định, hình thức của doanh nghiệp liên doanh chỉ có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, loại công ty này không có quyền phát hành cổ phiếu. Trong bản hợp đồng của quý công ty lại đề xuất muốn phát hành và tự do chuyển nhượng cổ phiếu, điều này hiển nhiên là trái với pháp luật nước tôi".
    Những ví dụ đưa ra không ít. Jack tiếc rằng đành phải đồng ý lấy bản hợp đồng của phía Trung Quốc làm cơ sở.
    Sau đó, luật sư Triệu mới tập trung bàn đến vấn đề thương hiệu. Ông ta cho rằng: "Thương hiệu của phía Mỹ đã đăng ký ở Trung Quốc, về lý đáng ra được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bản hợp đồng này không có liên quan với thương hiệu của phía Mỹ. Bởi vì hai bên đã xác nhận, trong sản phẩm của xí nghiệp liên doanh sau này, 45% do phía Mỹ bán ra nước ngoài, 55% do phía Trung Quốc tiêu thụ trong nước. Bộ phận mà phía Trung Quốc tiêu thụ trong nước không có sử dụng thương hiệu Mỹ, bộ phận bán ra nước ngoài, phía Mỹ muốn dùng thương hiệu gì, hoàn toàn tôn trọng nghe theo. Như vậy, thương hiệu Mỹ làm bản quyền mua cổ phần hiển nhiên không thích hợp, không thể bắt xí nghiệp liên doanh trả tiền cho thương hiệu của phía Mỹ".
    Jack thấy thương hiệu mua cổ phần hết hy vọng, bèn quay sang bản quyền sáng chế. Luật sư Triệu lập tức trả lời: "Theo tôi biết, bản quyền sáng chế của các ông đại bộ phận đã hết hạn, làm bản quyền mua cổ phiếu e không thích hợp. Tuy nhiên, nếu sử dụng bồi thường bản quyền sáng chế thì có thể nghiên cứu thêm".
    Phía Mỹ xem chừng chống đỡ không nổi nữa, liền muốn giữ vững tuyến phòng thủ cuối cùng. Jack nói: "Hợp đồng yêu cầu phía Mỹ bảo đảm tính tiên tiến về kỹ thuật của xí nghiệp liên doanh, điều này phía Mỹ không có cách gì bảo đảm. Bởi vì nhân tố để xí nghiệp đạt đến tiêu chuẩn quốc tế là rất nhiều phương diện, phía Mỹ không thể nào khống chế từ một mặt được". Ý nghĩa của câu này là, anh không thể để bản quyền sáng chế của tôi làm bản quyền trong mua cổ phần, tính tiên tiến của sản phẩm sau này cũng không thể do tôi chịu trách nhiệm được.
    Luật sư Triệu thấy ông ta đề cập đến vấn đề tính tiên tiến của sản phẩm, liền trả lời riêng về vấn đề này. "Tính tiên tiến kỹ thuật cần phải đảm bảo chắc chắn. Tuy nhiên thứ nhất, phía Mỹ cần phải bảo đảm tính tiên tiến của sản phẩm trong thiết kế, thứ hai, hai bên đều áp dụng biện pháp, cố gắng nỗ lực lớn nhất bảo đảm xí nghiệp đạt đến tiêu chuẩn quốc tế”.
    Sự chặt chẽ về logic, cộng thêm giải quyết lần lượt từng vấn đề một, khiến đàm phán thu được thành công thuận lợi. Nếu như để lộn chung tất cả các vấn đề phức tạp rối tinh đó vào một, càng gỡ càng rối, vấn đề đương nhiên không thể nào giải quyết nổi. Xem ra, biện pháp lần lượt đánh bại từng người một thật là rất công hiệu.
     
  15. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 76: Hư Hư Thực Thực, Đi Đường Vòng Mà Đánh

    Vua Hán Quang Vũ Lưu Tú ban bố hiệu lệnh, phái đại tướng Cảnh Yểm thảo phạt thế lực cát cứ Trương Bộ. Cảnh Yểm thu thập toàn bộ binh lực dưới tay mình, bao gồm cả hàng tốt bắt được trong chiến dịch trước đây và gia binh vốn có, điều động bộ thuộc xong, cùng Trần Tuấn và các bộ tướng dẫn đại quân từ Triệu Dương Kiều vượt Tế Thủy.
    Trương Bộ nghe tin, phái đại tướng dưới quyền là Phí ấp thống lĩnh binh mã phòng giữ các nơi Lịch Hạ, Chúc A, đồng thời lấy binh lực hàng chục trại ở Chung Thành Thái Sơn chuẩn bị nghênh đánh Cảnh Yểm.
    Cảnh Yểm đầu tiên vượt Tế Thủy, rồi vượt Hoàng Hà, lấy ngay được Chúc A. Trận này đánh rất thuận lợi, trời sáng bắt đầu công thành, chưa đến trưa đã hạ được thành. Cảnh Yểm cố ý bỏ ngỏ một góc thành Chúc A, để cho bại binh trong thành tháo chạy về Chung Thành. Sau đó, Cảnh Yểm tiến binh áp sát Cự Lí.
    Trong Chung Thành, quân giữ thành của Phí ấp nghe nói Chúc A đã bị đánh bại, tất cả đều trở thành chim sợ cành cong, vội vàng tranh nhau bỏ trốn khỏi thành. Phí ấp thấy tình thế không tốt, liền lệnh cho Phí Cảm em ông ta nhất định phải giữ vững Cự Lí. Có ai ngờ lúc ấy, Cảnh Yểm lại cứ xông tới đánh Cự Lí.
    Cảnh Yểm cho tướng sĩ thủ hạ chặt rất nhiều cây, rêu rao rằng cần phải lấp thành Cự Lí. Mấy ngày sau, trong thành có lính ra hàng, cung cấp tin tức nói rằng: "Phí ấp nghe nói Cảnh Yểm đánh Cự Lí, em ông ta dường như không chống đỡ nổi, bản thân ông ta cũng muốn đến cứu viện".
    Cảnh Yểm một mặt ra lệnh tướng sĩ trong quân nhanh chóng làm các loại dụng cụ đánh thành, mặt khác công khai công bố mệnh lệnh, rằng ba ngày sau chính thức tổng tấn công Cự Lí. Lại ngầm thả lỏng sự canh giữ tù binh quân đối địch, để cho chúng trốn chạy về báo tin.
    Quả nhiên, tù binh trốn về đem tin tức Cảnh Yểm đánh Cự Lí truyền đi. Phí ấp tin đó là thật, ba ngày sau quả thật đích thân dẫn hơn 3 vạn tinh binh đến cứu viện em ông ta, Phí Cảm.
    Cảnh Yểm mừng lớn: "Thỏ non lần này mắc câu rồi". Ông ta nói với bộ tướng: "Ta muốn mọi người làm dụng cụ đánh thành, chính là để dụ Phí ấp đến đây. Lần này Phí ấp đến thật rồi, hậu quả sẽ khiến hắn thân làm thân chịu”. Lập tức phái 3000 tinh binh giữ Cự Lí, tự mình dẫn chủ lực lên sườn núi gần đó, ở trên cao nhìn xuống, dàn trận thế đánh nhau với Phí ấp.
    Phí ấp đi đường gấp gáp, vừa đến ngoài thành Cự Lí thì bị đánh ập xuống đầu xuống mặt. Ông ta còn chưa kịp hiểu ra sự thể làm sao thì đã bị chém chết. Cảnh Yểm lệnh đem thủ cấp của Phí Ấp treo cao thị chúng, nhằm cảnh cáo quân phòng bị ngoan cố kháng cự trong thành Cự Lí. Binh tướng thủ hạ của Phí Cảm lòng quân đã loạn, người người sợ hãi. Phí Cảm thấy thế lớn đã mất, liền dẫn một đám quân ít ỏi bỏ trốn Trương Bộ.
    Đại quân của Cảnh Yểm đã rất thuận lợi đánh hạ được thành Cự Lí, san bằng hơn 40 dinh lũy ngoan cố kháng cự trong và ngoài thành, giành đại thắng.
    Cách mà Cảnh Yểm dùng để thắng Phí Cảm chính là thủ pháp đánh lạc hướng hư hư thực thực. Ông ta tạo ra một hiện tượng giả đánh lừa địch, chờ địch mắc câu rồi thì tung một mẻ lưới quét sạch. Trong thương chiến hiện đại, kiểu thủ pháp hư hư thực thực này cũng thường hay gặp, nhất là trong đàm phán thương mại, loại thủ pháp này rất dễ thu được hiệu quả.
    Năm 1984, một công ty Thượng Hải, Trung Quốc để nhập một dây chuyền sản xuất, qua lựa chọn so sánh rất nhiều nhà, đã chọn công ty G của Mỹ. Công ty G cử ông E đại diện của công ty này ở Hồng Kông đến Thượng Hải đàm phán việc này.
    Ông E này là người Trung Quốc, đến Hồng Kông chưa được mấy năm, mắt đã để lên trán rồi. Ông ta ngạo mạn nói: " Các ông đừng có nhầm lẫn, chúng tôi không phải là công ty Nhật, cũng không phải là công ty Hồng Kông, mà là công ty Mỹ. Người Mỹ xưa nay là thật, không có giả bao giờ". Lại còn tăng thêm áp lực với phía Trung Quốc. "Tôi đã mua sẵn vé máy bay về Hồng Kông ngày kia. Nếu như các ông có thành ý, cần làm kịp hợp đồng”.
    Công ty Thượng Hải này rất hài lòng về sản phẩm của công ty G, chỉ cho là giá cả hơi cao. Ông E về giá cả lúc đầu không chút nhượng bộ, sau lại nói: "Nể mặt các ông, giảm cho các ông 1%".
    Để trước hết về khí thế làm tiêu tan thái độ ngạo mạn của ông E, phía Trung Quốc cử ông Tân Quốc Thanh giàu kinh nghiệm ra mặt. Ông Tân Quốc Thanh không bàn chuyện làm ăn, mà nói chuyện thường ngày trong nhà. Ông ta lấy giọng bình tĩnh nói với đối phương: "Tôi cũng đã từng làm việc mấy năm ở Hồng Kông”. Ý của câu nói này là, đừng có hễ ra khỏi nước mình là trở thành "giặc ngoại xâm giả” quên mất chính mình, ngay bản thân mình là người nước ngoài cũng không biết nữa. Ông E nghe ra câu nói có hàm ý khác, thái độ ngạo mạn mới bớt đi phần nào.
    Tiếp theo, ông Tân huơ huơ mớ tài liệu trong tay, nói với ông E: "Hạng mục này còn có mấy công ty cũng muốn làm, về báo giá mà nói, báo giá của các ông thực sự quá cao. Đây là hư thôi, tình hình thực tế công ty G còn thấp hơn hai công ty khác 10%.
    Ông E nghi ngờ: Thật sao? ông nói cao, cao bao nhiêu?
    Ông Tân đáp: "Cao 13%. Ví dụ như thiết bị L". Ở đây thực, hư đều có, thiết bị L là thực, 13% là hư.
    Ông E trán bắt đầu đổ mồ hôi: “Thế này vậy, tôi thử liên lạc lại với tổng bộ xem sao".
    Ông Tân còn muốn đánh thêm một đòn. Ông ta nói với nhân viên phía trên: "Ông ngày kia phải về rồi, công ty khác kia bao giờ có thể tới?"
    Nhân viên đáp: "Ba ngày sau khi ông E đi". Tất nhiên, đây cũng là hư.
    Ông E nghe xong, sợ việc làm ăn bị người khác đoạt mất, ngay trong ngày liên lạc với tổng bộ, đến ăn ngủ đều không rời phòng, ông ta sợ không nghe được điện thoại.
    Rất nhanh, hợp đồng giữa hai bên được ký. Phía Mỹ giảm giá 12%, phía Trung Quốc nhận được một mức giá rất lý tưởng.
    Ông Tân không hổ là tay lão luyện vận dụng thành thục kỹ xảo đàm phán hư hư thực thực, ông ta làm cho đối phương mất cảnh giác về tâm lý, từng bước từng bước bị dẫn vào cái bẫy đã giương sẵn, tự nhiên làm đối phương phải nhượng bộ.
     
  16. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 77: Trên Dưới Một Lòng, Quý Hơn Vàng

    Một hôm, công chúa Hồ Dương - chị Lưu Tú đi ra ngoài thì xảy ra chuyện. Khi xe công chúa qua Hạ Môn Đình nổi tiếng trong thành Lạc Dương, huyện lệnh Lạc Dương Đổng Tuyên dẫn một bọn nha dịch chặn xe công chúa lại. Đổng Tuyên muốn bắt một gia nô của công chúa Hồ Dương, theo trinh sát, tên gia nô này cũng đi cùng đoàn xe. Công chúa Hồ Dương vừa thấy, chức huyện lệnh Lạc Dương cỏn con, lại dám công nhiên ngăn chặn đội xe của hoàng thân, liền đùng đùng nổi giận, lớn tiếng mắng Đổng Tuyên to gan.
    Đổng Tuyên không chút run sợ, ông ta cũng lớn tiếng đáp lại công chúa Hồ Dương, nói công chúa bao che tội phạm giết người, đồng thời nghiêm khắc ra lệnh tên gia nô phạm tội giết người đó mau xuống ngựa. Công chúa Hồ Dương thấy Đổng Tuyên không xem mình vào đâu, vẫn muốn bênh vực tên gia nô đó, nhưng đã không kịp nữa. Chỉ thấy Đổng Tuyên mắt sáng tay nhanh, lệnh cho nha dịch dưới quyền nhanh chóng bắt tên gia nô đó lại, đồng thời ngay trước mặt công chúa Hồ Dương, đánh chết tên gia nô đó tại chỗ.
    Công chúa Hồ Dương giận đến run lên. Bà ta từ trước tới giờ chưa bao giờ gặp phải sự nhục nhã như vậy, cái tức này vô luận thế nào cũng thật khó mà nuốt trôi. Bà ta quay đầu xe, chạy thẳng tới cấm cung nơi hoàng đế ở.
    Hoàng thư tới, Lưu Tú đương nhiên phải gặp bà ta. Chỉ thấy công chúa Hồ Dương vừa hầm hầm tức giận khóc kể lại chuyện trải qua cho Lưu Tú, vừa đòi Lưu Tú giúp bà ta trút cơn giận này, nghiêm khắc trừng phạt Đổng Tuyên.
    Con người Đổng Tuyên, Lưu Tú rất biết. Con người kiên cường chính trực này, chấp pháp như sơn. Thời kỳ ông ta làm Bắc Hải tướng, từng bắt cha con gia tộc Công Tôn Đan ở đó về tội giết người, còn giết hơn 30 người của gia tộc Công Tôn Đan đến gây rối nha môn. Sự việc bùng to, triều đình bắt Đổng Tuyên và phán ông ta tội "lạm sát" xử Chết. Sát trước giờ ông ta phải chấp hành hình phạt xử tử, lệnh xá của Lưu Tú truyền tới Đổng Tuyên mới may mắn được tha.
    Lưu Tú tuy hiểu tính cách của Đổng Tuyên, nhưng đối với cái giận của hoàng thư về nỗi bị nhục trước đám đông cũng cảm thấy khó nuốt trôi, ông ta lập tức hạ lệnh cho vệ sĩ bắt Đổng Tuyên vào cung, chuẩn bị xử chết ông ta.
    Đổng Tuyên vẫn không hề thay đổi sắc mặt. Ông ta nói rằng chết cũng được nhưng chỉ xin được bày tỏ một câu: - Bệ hạ thánh minh, nhà Hán có được hưng thịnh. Nhưng nếu gia nô thân thuộc của mình cố tình sát hại người khác mà không bị xử lý nghiêm. Vậy bệ hạ làm sao trị nổi thiên hạ! Muốn thần chết cũng không khó, chẳng cần đến roi đâu, thần tự sát là được rồi.
    Nói xong Đổng Tuyên lao đầu vào cột cửa tự xử.
    Lưu Tú cũng bị cái chính khí của Đổng Tuyên lay chuyển. Ông ta xúc động thương tâm "người cương chính như thế có thể trị tội sao?" Về sau, tuy tha cho Đổng Tuyên tội chết, nhưng cái uy nghiêm của hoàng đế vẫn khiến Lưu Tú bắt Đổng Tuyên phải rập đầu xin lỗi công chúa Hồ Dương. Con người thẳng thắn Đổng Tuyên vẫn không chịu khấu đầu, hoạn quan túm đầu ông ta đè xuống, Đổng Tuyên vẫn cứ thà chịu chết chứ không chịu cúi đầu.
    Công chúa Hồ Dương không biết trút giận vào đâu. Bà ta nói vội Lưu Tú: "Nếu ngươi là thiên tử tại sao không ra mệnh lệnh chứ?" Lưu Tú bình thản trả lời: "Chính vì là thiên tử mới không thể làm như đám áo vải được". Công chúa Hồ Dương không biết làm sao đành đi về.
    Một ông vua có thể tiết chế người thân của mình như thế, cách làm đó của Lưu Tú thật hết sức sáng suốt. Có lẽ, ông ta rút ra được bài học từ việc Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán là từ quan hệ "cạp váy" mà dẫn tới chăng. Đối với người thân của mình, phải để cho anh (chị) ta đứng vào vị trí của mình suy nghĩ một chút, nhận thức một chút về cái khó của người làm vua, anh (chị) ta sẽ không còn đưa ra những yêu cầu quá đáng nữa. Cái đạo lý này, không chỉ trong chính trị cung đình thời xưa là như vậy, trong thương chiến hiện đại cũng có cái gợi ý y như vậy.
    Hàn Quốc có một nhà máy sản xuất các loại sản phẩm giấy vệ sinh, băng vệ sinh, tã lót trẻ em, giấy hóa trang. Vị giám đốc của nhà máy này thực hiện một chế độ rất đặc biệt, đó là để cho công nhân lần lượt thay nhau làm giám đốc nhà máy một ngày. Thông qua "chế độ giám đốc nhà máy một ngày" này, để cho nhân viên nhận thức được trách nhiệm của giám đốc nhà máy, nhận thức được trách nhiệm phải ra sức trên cương vị của mình, nhằm tăng thêm ý thức làm chủ của công nhân. Từ tháng 3 năm 1983 bắt đầu thực hiện chế độ này, trong toàn thể 500 công nhân của nhà máy, có không ít người đã từng làm qua "giám đốc nhà máy một ngày" cứ mỗi thứ ba, chính là ngày thực hiện "chế độ giám đốc nhà máy một ngày".
    "Giám đốc" 9 giờ đến làm việc, trước hết nghe báo cáo ngắn của quản đốc các bộ phận, tiếp theo tìm hiểu sơ bộ về tình hình vận hành kinh doanh của toàn nhà máy, sau đó cùng những người phụ trách của các bộ phận đi xem xét nhà máy. Một ngày đó, "giám đốc" có quyền xử lý công văn, báo cáo của các bộ phận, các phân xưởng mang tới cần do "giám đốc" phê duyệt viết lên đó ý kiến của mình, rồi do giám đốc chính thức định đoạt. "Giám đốc nhà máy" trong quá trình "chấp chính” một ngày đó, có ý kiến gì về công việc trước đây, cần ghi chép cụ thể vào nhật ký làm việc, sau đó chuyển cho những người phụ trách ở các bộ phận, các phân xưởng và công nhân truyền đọc. Bộ phận và cá nhân bị phê bình phải chỉnh sửa cách làm việc của kỳ hạn, nhằm đảm bảo uy quyền của ý kiến "giám đốc nhà máy".
    Có một nữ công nhân 22 tuổi sau khi làm "Giám đốc nhà máy một ngày” đã nói: "Khi tôi nhận được sự đối xử quan trọng như đối với giám đốc nhà máy thật ấy, quả thật khiến tôi lúng túng, chân tay như thừa thãi không biết để đâu. Tuy vậy cơ hội này đã cho tôi thể nghiệm được nghiệp vụ của nhà máy, hơn nữa các bộ phận đều từ bỏ đi chủ nghĩa bản vị, tăng thêm sự giao lưu giúp đỡ lẫn nhau. Trước đây chúng tôi không vừa lòng với một số cách làm trong nhà máy, bây giờ ngược lại có thể hiểu được chỗ khó của giám đốc nhà máy, thông cảm được với nỗi khổ tâm của giám đốc. Nếu lại cho tôi cơ hội được làm giám đốc nhà máy một lần nữa, tôi tin là tôi sẽ làm tốt hơn. Nhưng bây giờ mới biết, giám đốc nhà máy quả thật vất vả, chỉ có người đã từng làm qua mới nhận thức được”.
    Đại đa số công nhân làm qua "giám đốc nhà máy một ngày”, tinh thần trách nhiệm đối với nhà máy đều có phần tăng lên. Trước đây, một số yêu cầu của nhà máy đưa ra, như "hợp tác giúp đỡ lẫn nhau”, "tiết kiệm giá thành" v.v... rất nhiều công nhân chỉ xem đó là khẩu hiệu, trong lòng chẳng chút cảm động. Sau khi làm "giám đốc nhà máy", rất nhiều công nhân đều có thể tự giác chấp hành yêu cầu của nhà máy.
    Thực hiện chế độ "giám đốc nhà máy một ngày" trong một năm, nhà máy này đã thu được hiệu quả rõ rệt, ngay năm đó tiết kiệm giá thành được 2 triệu đô la. Nhà máy lại đem số tiền đó làm tiền thưởng phát cho công nhân, làm cho công nhân toàn nhà máy không ai là không vui mừng cổ vũ. Chế độ "giám đốc nhà máy một ngày" mang lại cho nhà máy này tiến bộ nổi bật, Bộ lao động Hàn Quốc xếp nó là "nhà máy kiểu mẫu quan hệ lao động tiền lương kiệt xuất".
    Trên dưới hiểu nhau, thông cảm lẫn nhau, rất nhiều việc vốn không dễ làm, đều được giải quyết tương đối tốt. Công chúa Hồ Dương nếu có thể đứng vào vị trí của Lưu Tú để suy nghĩ, bà ta có lẽ không đến nỗi như thế. Lưu Tú có thể đứng trên lập trường vì lợi ích căn bản của quốc gia mà tiết chế người thân, giải quyết vấn đề mới tương đối công bằng. Vị giám đốc nhà máy Hàn Quốc đưa ra "chế độ giám đốc một ngày" đó, không phải là đã nhìn thấy sự ảo diệu trong đó sao?
     
  17. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 78: Lấy Tình Cảm Lay Động Lòng Vua

    Thái Mậu là một vị danh nho quận Hà Nội thời cuối nhà Tây Hán, dưới thời Hán Ai Đế, Hán Bình Đế, do học thức uyên bác mà được người đời tôn sùng. Triều đình mở khoa thi tiến sĩ, Thái Mậu trong khi trình bày và phân tích về vấn đề tai họa, đưa ra kiến giải độc đáo của mình, đồng thời có thể trình bày có lý lẽ, có căn cứ, kết quả đỗ khá cao, được triều đình bổ nhiệm làm Nghị lang, sau thăng làm Thị trung. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Thái Mậu vì có quan hệ rất tốt với Đậu Dụng, để trấn tránh cái khổ của chiến tranh loạn lạc mới tìm đến nương tựa Đậu Dụng. Đậu Dụng lúc đó đứng đầu một chính quyền cát cứ, ông ta muốn mời Thái Mậu ra đảm nhận chức Thái thú của Trương Dịch dưới quyền quản lý của ông ta, kết quả bị Thái Mậu khéo léo từ chối, không ra nhận chức. Mỗi lần mang lương thực tiền bạc đến cho ông ta, ông ta chỉ lấy theo đúng nhu cầu mà nhân khẩu trong gia đình cần dùng đến, tuyệt không lấy thêm. Sau khi vua Hán Quang Vũ Lưu Tú dựng vương triều Đông Hán, ông ta và Đậu Dụng đều được triều đình gọi, lại nhận chức Nghị lang. Về sau, Thái Mậu lại thăng lên làm Thái thú Quảng Hán, công lao nổi bật, rất được triều đình khen ngợi.
    Nguyên phi phu nhân của Hán Quang Vũ Lưu Tú là Âm Lệ Hoa. Dựa vào địa vị đặc biệt của bà ta trong triều, gia tộc họ Âm ở địa phương thường xuyên hoành hành ngang ngược, mà hương họ Âm ở lại chính thuộc phạm vi quản hạt của Thái Mậu. Gia tộc họ Âm nhiều lần vi phạm pháp luật, Thái Mậu đều không nể nang phán tội xử phạt theo pháp luật, và cũng không hề vì hoàn cảnh chính trị của họ Âm mà chiếu cố.
    Lúc bấy giờ, vừa đúng vào lúc xảy ra việc huyện lệnh Lạc Dương Đổng Tuyên xử vụ án gia nô của công chúa Hồ Dương. Quang Vũ Đế Lưu Tú lúc đầu nổi giận đùng đùng bắt ngay Đổng Tuyên, không lâu sau lại tha cho ông ta. Thái Mậu cổ vũ cho tính cách cương chính bất khuất của Đổng Tuyên, mong muốn triều đình có thể chế định ra cấm lệnh nhất định, nhằm quản thúc hành vi bất pháp của hoàng thân quốc thích.
    Thái Mậu dâng thư lời lẽ tình cảm đều rất tuyệt vời, đọc rất cảm động lòng người. Ông ta viết:
    "Thần nghe nói chấn chỉnh tác phong và giáo dục nhân dân nhất thiết phải khuyên nhủ trước. Muốn quốc thái dân an, không coi điều đó quan trọng hơn các hình phạt.
    Ân đức của bệ hạ có liên quan đến sự hưng vong của quốc gia, từ khi lên ngôi tới nay thiên hạ sống yên ổn không có chuyện gì xảy ra. Do vậy, bệ hạ không tiếc mình quên ăn quên ngủ để lo cho thiên hạ được thái bình.
    Nhưng mà, gần đây liên tục có người trong hoàng thân quốc thích và gia thuộc môn khách của họ vi phạm pháp luật, họ ỷ thế ân tứ của hoàng đế và quyền thế của họ giết người mà không phải thường mạng. Hình pháp quốc gia nhiều lần bị bỏ đi. Cơ quan tư pháp do vậy mà mất đi cái uy nghiêm.
    Gần đây nhất, gia nô của công chúa Hồ Dương sau khi giết người còn dám theo xe chủ nhân đi vào quan phủ, tiêu diêu ngoài vòng pháp luật nhiều ngày, chính nghĩa không được bộc lộ. Huyện lệnh Lạc Dương Đổng Tuyên thẳng thắn làm rõ đại nghĩa, mạo phạm công chúa, bắt kẻ phạm tội. Bệ hạ ngài lại chưa làm rõ sự thực, trước hết bắt Đổng Tuyên ra roi một trận. Sau khi Đổng Tuyên bị bắt, bá tánh trong thành vô cùng quan tâm chú ý. Và sau này Đổng Tuyên được miễn xá, cả nước đều biết rất nhanh.
    Hiện nay, hoàng thân quốc thích kiêu ngạo ngang ngược, môn hạ tân khách cũng vô pháp vô thiền, bệ hạ nên hạ lệnh cho cơ quan tư pháp nghiêm khắc trừng phạt tội phạm, nâng đỡ các vị quan lại dũng cảm vì nghĩa lớn, nhằm dẹp yên tinh thần bất mãn ở các nơi".
    Bài văn này đọc lên có lý có tình, vừa có sức thuyết phục, mỗi câu kết ra lại đều xuất phát từ sự trị an lâu dài của triều đình, thấy rõ tác giả dụng tâm rất lớn. Do đó, Lưu Tú rất nhanh đã tiếp nhận kiến nghị của Thái Mậu.
    Từ xưa đến nay, tuy rằng quan trường như chiến trường, nó như cuộc đọ sức anh chết tôi sống, vừa thảm khốc vừa vô tình. Nhưng mà, đâu biết rằng lấy tình để lay chuyển, lấy lý để làm cho người hiểu cũng là một loại mưu trí chứ? Bạn thấy đó, bản tấu văn này của Thái Mậu là nói về việc trừng trị hoàng thân quốc thích phạm tội, thông thường mà nói thì đây là việc phạm vào kỵ húy. Thế nhưng, Thái Mậu nói có tình có lý, Lưu Tú cho dù có cái ý đó đi nữa, nhưng nếu kẻ hạ thần có phương thức biểu đạt không tương xứng, ông ta có thể chấp nhận sao? Thương chiến hiện đại, cạnh tranh gay gắt. Nhưng bạn đã từng nghĩ qua chưa? Nhân tố tình cảm cũng là một trong những mưu trí giành thắng lợi trong thương chiến đấy.
    Công ty cơ khí thương dụng quốc tế Mỹ có một nhân viên tiếp thị xe hơi, xe tải, tên là Jo Chilader. Trong sách "Đại toàn thế giới", ông ta được gọi là "Nhân viên tiếp thị vĩ đại nhất trên thế giới".
    Phàm là khách hàng của Chilader, thông thường luôn nhận được bưu thiếp của ông ta gửi tới, màu sắc, to nhỏ của mỗi lần đều khác nhau. Đầu năm, ông ta gửi tới khách hàng lời chúc: "Jo Chilader chúc mừng năm mới ngài"; tháng 2, khách hàng của ông ta sẽ nhận được lời chúc: "Nhân dịp ngày sinh của George Washington chúc ngài vui vẻ hạnh phúc", tháng 3, khách hàng của ông lại nhận được lời chúc mừng "Chúc lễ thánh Pateric vui vẻ", ngày sinh nhật, khách hàng của ông ta sẽ bất ngờ nhận được thiệp chúc mừng. Những khách hàng này đều xem Chilader như người thân của mình, thường xuyên trả lời thư của ông.
    Nếu như xe mà khách hàng mua gặp hỏng hóc, ông ta sẽ đích thân lái xe đến phòng phục vụ, nói giúp với giám đốc, cho tới khi hỏng hóc được khắc phục mới thôi. Ông ta thường nói: "Khách sạn lớn của Mỹ đều lấy thức ăn ngon của nhà bếp họ làm để giành được khách hàng. Xe tôi bán, chính là phải để cho tâm lý khách hàng giống như là được ăn uống no say mà rời khách sạn đi vậy".
    Con người đâu phái cỏ cây, ai có thể vô tình. Đi mua hàng cũng vậy, một nơi thái độ nhiệt tình chu đáo, xem bạn như “vua", một nơi thái độ lạnh nhạt như băng sương, không coi bạn là người. Bạn thử nói xem, bạn sẽ mua hàng của nơi nào. Chilader trong lòng hiểu rõ cái đạo lý đó, con đường thành công của ông ta là ở đó.
     
  18. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 79: Hợp Lý, Có Lợi, Tiết Chế

    Sau khi chính quyền Đông Hán thành lập, Quang Vũ Đế Lưu Tú đã có cách xử trí khôn ngoan đối với những công thần từng có công giúp ông ta bình thiên hạ.
    Cách xử trí đó vừa bảo đảm được sự mạnh hóa của tập quyền trung ương, lại vừa hết sức chăm lo chu đáo cho các công thần. Trong lịch sử đó là một thời kỳ tiêu biểu về chính sách đối đãi công thần.
    Bản thân Lưu Tú là người dùng binh đao mà có được thiên hạ, nên ông có sự phòng thủ đối với các công thần sau khi chiến tranh kết thúc, ngăn ngừa họ ỷ công lộng quyền là chuyện hết sức thông thường. Hơn nữa các công thần phần đông là võ tướng, không thông thuộc chế độ điển chương triều chính. Không thể dựa vào bọn họ mà trị nước được. Do đó Lưu Tú luôn dùng phương châm "thoái công thần, tiến văn lại", cũng có nghĩa là tôn trọng địa vị xã hội của những võ tướng công thần, nhưng về mặt chính trị lại không cho họ nắm thực quyền, đồng thời Lưu Tú rất trọng thị những sĩ phu lánh chốn quan trường, ẩn cư trong rừng núi. Ông cho rằng những người đó vừa hiểu văn trị lại có cốt cách cao thượng nên ra sức cầu kiến, chiêu mộ. Những danh nho như Trác Dung, Phục Trạm đều được Lưu Tú chiêu mộ làm trọng thần.
    Còn để những công thần đó phục tùng ý chỉ của mình, Lưu Tú lại lấy tư tưởng "công thành thân thoái" ra giáo dục họ: Một mặt vì bọn họ là công thần, không để bọn họ dây máu ăn phần chính trị, đó là điều bất di bất dịch, mặt khác chăm lo chu đáo cho cuộc sống những người này, để bọn họ có thể vui vẻ an hưởng tuổi già.
    Năm thứ hai Lưu Tú làm hoàng đế, ông bắt đầu phong hầu dần dần cho các công thần, như Đặng Vũ phong làm Lương hầu, Ngô Hán phong làm Quảng Bình hầu v.v... Một mặt phong hầu, một mặt nhắc nhở bọn họ "làm người nên biết đủ, đừng nên chỉ vì nhất thời cao hứng mà quên đi vương pháp, cần giữ gìn những công lao trong quá khứ, mà cũng nên cẩn thận làm người, đừng sơ suất". Đó vừa là giáo huấn mà cũng là răn đe. Còn về chuyện phong đất, những công thần đó muốn phong ở đâu Lưu Tú đều cố gắng chiều ý bọn họ.
    Sau khi những công thần đó cáo thoái, Lưu Tú một mặt chú ý tiết chế họ, nên không có trường hợp nào ỷ công phạm pháp, mặt khác cũng không sao lãng việc quan tâm đến bọn họ. Năm thứ 13 Kiến Vũ, Lưu Tú sau cuộc bình định thế lực cát cứ Công Tôn Thuật, rất đỗi vui mừng. Đồng thời ông tiến hành ban thưởng, phong hầu cho những quần thần có công trong chiến tranh, làm người người tâm phục khẩu phục. Để duy trì tính liên tục của chính sách. Đặng Hàn Tín, Lý Thông, Giả Phục ba người ở hàng Tam công tham dự vào triều chính. Sau này, thực quyền chính sự quy về bộ thượng thư. Ba người này cũng không can thiệp triều chính nữa.
    Chính vì vậy mà những công thần năm đầu Đông Hán đều rất biết ơn Lưu Tú, không hề xảy ra bi kịch qua cầu rút ván, tàn sát công thần như chuyện những năm đầu Tây Hán đối với Hàn Tín, Bành Việt, Lư Quán, Trần Hi. Cách xử trí của Lưu Tú có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử sau này. Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn Bắc Tống trong phương pháp đối đãi công thần cũng đã học hỏi vay mượn rất nhiều kinh nghiệm của Lưu Tú Đông Hán.
    Cách xử trí với công thần của Lưu Tú là vừa hợp lý, vừa có lợi, vừa tiết chế. Đó là một mưu lược ổn thỏa vừa bảo đảm sự vững mạnh của hoàng quyền Đông Hán, ngăn chặn được hậu quả không tốt của việc công thần can dự triều chính, lại vừa bảo toàn được công danh vãn tiết cho bản thân các công thần. Mưu trí trình độ cao này quả đáng cho người sau học hỏi. Trong thương trường hiện đại cũng có vấn đề "mức độ", vào lúc nào, đối với người nào, dùng phương pháp nào, để nắm được chừng mực chắc chắn một vấn đề khá đau đầu. Trong đàm phán thương nghiệp, càng cần chú ý vận dụng mưu trí này.
    Năm 1986, có chuyện nhà máy thủy tinh Quảng Đông nhập thiết bị, tiến hành đàm phán với công ty thủy tinh Owenx của Mỹ. Hai bên tranh chấp không khoan nhượng vấn đề phải nhập hết toàn bộ hay chỉ một bộ phận. Phía Mỹ kiên quyết đòi phải nhập hết. Bên Trung Quốc lại kiên quyết chỉ nhập bộ phận thiết bị tiên tiến nhất trong số đó. Bên Mỹ cảm thấy chỉ nhập một bộ phận thì đối với bên Trung Quốc mà nói sẽ không phân định được, phía Trung Quốc lại cho rằng nhập toàn bộ thì dùng chẳng hết mà cũng không cần thiết. Tranh cãi qua lại, đàm phán rơi vào bế tắc.
    Đại diện lãnh đạo bên nhà máy thủy tinh Quảng Đông để giải thoát cục diện bế tắc đã nhẹ nhàng cười nói: "Trình độ khoa học kỹ thuật, thiết bị và kỹ sư của công ty Owenx các bạn đều là hàng đầu thế giới. Công tác xuất khẩu thiết bị cũng là hàng đầu, không ai không biết uy tín. Hợp tác giữa nhà máy tôi với quý công ty chỉ có thể dùng thiết bị tiên tiến nhất, có như vậy chúng tôi mới có thể vươn lên hàng số một thế giới. Điều này không chỉ có lợi cho chúng tôi mà càng có lợi hơn cho các bạn”.
    Đại diện công ty Owenx nghe những lời dẫn dụ ấy vô cùng vui vẻ. Vị đại diện lãnh đạo nhà máy Quảng Đông lại chuyển đề tài: "Ngoại hối của nhà máy chúng tôi rất có hạn, không thể mua quá nhiều được. Vì vậy những thiết bị mà trong nước sản xuất được thì không định nhập khẩu nữa. Hiện tại, các bạn cũng rõ, các nhà máy của Pháp, Bỉ, Nhật đều có hợp tác với các nhà máy cùng ngành ở miền Bắc nước tôi. Nếu như các bạn không nhanh chóng đi đến hiệp nghị với chúng tôi, không cho nhập thiết bị và kỹ thuật tiên tiến nhất thì e là các bạn sẽ mất cơ hội tốt, mất thị trường Trung Quốc, hơn nữa người ta cũng cười là công ty Owenx các bạn không có khả năng."
    Cách nói hợp tình hợp lý, có cương có nhu khiến cho không khí căng thẳng trong cục diện đàm phán đã ôn hòa trở lại. Hai bên càng tiến thêm bước thuận lợi, đi đến Hiệp nghị chỉ nhập bộ phận thiết bị tiên tiến. Nhà máy thủy tinh Quảng Đông tiết kiệm được một khoản chi phí ngoại hối lớn. Công ty Owenx của Mỹ cũng được khuếch trương thanh thế, bởi nhà máy thủy tinh Quảng Đông sau khi lắp đặt thiết bị đã trở thành một xí nghiệp chất lượng sản phẩm cao nhất, hao mòn năng lượng thấp nhất trong các xí nghiệp cùng ngành.
     
  19. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 80: Coi Trọng Giáo Dục

    Quang Vũ Đế Lưu Tú lập nước không lâu thì nhiều đại thần liên minh lại dâng tấu lên hoàng đế nói "Nhục hình cổ đại rất nặng, con người không chịu nổi nỗi đau xác thịt nên rất sợ hãi pháp lệnh. Pháp luật bây giờ, điều khoản nhiều nhưng cách xử lý còn quá nhẹ, vì vậy những việc phạm pháp mới ngày càng nhiều. Nên gia tăng nhiều hơn, nghiêm hơn các pháp lệnh, để nhổ tận rễ những hành vi phạm tội. Lưu Tú hạ chiếu đề nghị công khanh cùng nghị luận. Cách nhìn của Đỗ Lâm không đồng nhất, ông dâng tấu có đoạn viết:
    "Lòng dân chịu thương tổn, phong khí chính nghĩa khó ngẩng đầu. Pháp luật quá phức tạp sẽ khiến cho các luồng gió lệch lạc có thể thông qua cửa ngõ bất chính là cầu xá miễn. Khổng Tử đề xướng dùng chính lệnh giáo dục, dùng pháp luật định tội đồng thời cũng dùng đức chính giáo dục, dùng lễ nghĩa định tội. Để phòng ngừa phạm tội mà làm cho người ta mất đi lòng xấu hổ, chỉ có làm người ta xấu hổ mới có thể phòng ngừa phạm tội".
    Đỗ Lâm từ kinh nghiệm lịch sử cổ đại nhận ra rằng khi nhà Hán bắt đầu đã giản hóa không ít những điều lệ phức tạp của pháp luật nhà Tần, kết quả thiên hạ thái bình, lòng người yên ổn, dân phong khoan hậu, đức chính thịnh hành. Nhưng đến sau này các pháp lệnh lại phức tạp trở lại, từ những chuyện nhỏ như biếu quả dưa, mớ rau cũng phát triển thành ăn hối lộ phá kỷ cương, từ những chuyện xúc phạm nhỏ nhặt cũng phát triển thành cướp của giết người dùng đến cực hình. Từ đó nhà không còn phép tắc, nước không còn liêm khiết, không còn phẩm hạnh hoàn mỹ. Trong quan trường pháp luật cũng không thể cấm. Lệnh không thể cản được quan lại trên dưới bao che, dẫn đến những chuyện tổn hại do pháp luật gây nên ngày càng nhiều. Đỗ Lâm cho rằng chế định pháp luật không thể đảo ngược đầu đuôi.
    Lưu Tú ghi nhận ý kiến của Đỗ Lâm.
    Pháp chế vốn dĩ dựa vào con người mà chế định ra, dựa vào con người mà thi hành. Nếu có luật mà không theo, thì luật có tốt mấy chế định ra cũng chẳng có tác dụng. Làm không tốt thì pháp luật càng phức tạp, người phạm tội càng nhiều. Vì vậy Trung Quốc thời cổ lấy truyền thống trọng giáo dục, trọng giáo hóa là rất chính xác. Đỗ Lâm đề xuất là phải làm cho người ta vừa biết pháp luật, lại vừa hiểu lễ nghĩa, đức chính đó mới là biện pháp căn bản. Thực tiễn lịch sử chứng minh, biện pháp như vậy là đúng đắn. Tư tưởng trọng thị giáo dục là rất đáng tin dùng, học tập.
    Các xí nghiệp cỡ lớn của Đức đều coi trọng chuyện giáo dục nhân công, giáo dục làm cho những xí nghiệp đó đứng vững được trong cạnh tranh thị trường.
    Công ty Siemens từ khi thành lập đến nay đã có hơn 140 năm lịch sử. Nó đứng vào hàng thứ 17 của 500 xí nghiệp lớn nhất danh tiếng trên thế giới, và hàng thứ 3 của 100 xí nghiệp lớn nhất nước Đức. Trong khủng hoảng kinh tế những năm 30 của thế kỷ 20 và trong đại chiến thế giới lần thứ hai, công ty Siemens đã có thể trải qua những khảo nghiệm, mà không hề bị đánh bại, nguyên nhân căn bản do: một là dựa vào khoa học kỹ thuật, hai là dựa vào giáo dục. Khoa học kỹ thuật giúp cho sản phẩm phong phú, giáo dục giúp cho chất lượng sản phẩm không ngừng nâng cao.
    Công ty Siemens coi việc huấn luyện giáo dục nhân công là một yếu tố thế mạnh trong cạnh tranh thị trường. Từ năm 1871 nó đã mở lớp đào tạo đầu tiên do những giáo viên kinh nghiệm phong phú đến bồi dưỡng có hệ thống cho các thợ học việc trẻ. Những năm 80 của thế kỷ 20, công ty Siemens bên cạnh chú trọng bồi dưỡng nhân tài kỹ thuật, cũng bắt đầu chú trọng nhân tài kinh doanh.
    Tại đại hội kỷ niệm "100 năm thành tựu đào tạo nhân công công ty Siemens”, một vị chủ tịch quản lý nghiệp vụ đào tạo của công ty đã nói "Xí nghiệp tất yếu phải đầu tư vào đào tạo nhân công, nếu không, có đầu tư vào các lĩnh vực khác cũng không có hiệu quả". Quả thực như vậy, công ty Siemens từ năm 1903 thành lập xưởng đào tạo đầu tiên, năm 1906 mở trường dạy nghề đầu tiên, cho đến nay đã có hơn 10 vạn người được qua huấn luyện. Ngày nay, công ty đã phát triển được 11 trung tâm đào tạo tổng hợp với 700 các giáo sư chuyên ngành chuyên đào tạo nhân công cho các xí nghiệp lớn, còn thiết lập thêm 9 trung tâm đào tạo nữa ở 18 quốc gia. Chính bởi dựa vào lực lượng nhân công có trình độ kỹ thuật cao, chăm chỉ say mê công việc do chính mình đào tạo mà công ty Siemens mới vượt qua được mọi cửa ải khó khăn, đạt đến thành tựu to lớn như ngày nay.
    Công ty ô tô Tazusi cũng là một xí nghiệp lớn của Đức. Họ cũng xem vấn đề đào tạo giáo dục nhân công là "đầu tư trước tiên" đối với xí nghiệp. Công ty đã xây dựng trung tâm đào tạo của mình trên một diện tích là 12.000 m2 với số vốn đầu tư đến hơn 10 triệu mac. Trong mỗi phòng học thí nghiệm đều trang bị các thiết bị và máy móc tinh xảo tiên tiến, như người máy, các dụng cụ điều khiển từ xa, bàn thí nghệm khí động thủy áp thiết bị đo lường truyền cảm điện tử, máy kỹ thuật số. Mỗi năm chi phí đào tạo nhân công lên tới 2.700 mac.
     
  20. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Chương 81: Dư Âm Của Đời Hậu Hán

    Dư Âm Của Đời Hậu Hán
    Không Vào Hang Cọp, Không Bắt Được Cọp Con

    Đã từng có công lao tỏ rõ uy lực của nước mạnh đối với các nước bên ngoài, từng có thời hoàng kim của con đường tơ lụa. Tuy vậy, các thành lũy lô cốt có ở khắp nơi trong nước lại cho mọi người thấy rằng, đây là một triều đại có nền kinh tế trung viên thuộc chế độ sở hữu đất đai. Phần lớn của cải không đem lại mức tăng trưởng của lực ngưng tụ, ngược lại khuynh hướng ly tâm trên chính trị ngày càng nghiêm trọng, các quan lại tranh giành quyền lực, độc đoán, chuyên quyền đã khiến triều chính lâm vào cảnh tăm tối trong một thời gian dài.
    Nhà Hán là dân tộc chính của Trung Quốc. Triều đại hình thành tộc Hán là triều đại lần đầu tiên thống nhất, dung hòa với các dân tộc khác trong cùng đất nước, là triều đại giàu có và sáng tạo nền văn minh tinh thần. Vậy mà triều đại này đã tồn tại mấy trăm năm lịch sử, từ lúc còn trẻ khỏe đến khi về già, những thành tựu huy hoàng mà nó tạo ra được truyền lại cho đời sau.

    Ban Siêu tuy sinh ra trong một gia đình dòng dõi viết sử, cha là Ban Bưu, anh cả là Ban Cố, đều là những sử gia nổi tiếng, riêng bản thân ông từ nhỏ đã thích học tập Trương Hiên đời Tây Hán trở thành nhà hoạt động đối ngoại. Thời Minh Đế, Đông Hán, ông tham gia cuộc chiến với quân Hung Nô, tướng quân lúc ấy thấy ông có tài bèn tiến cử với triều đình cho ông đi sứ Tây Vực.
    Ban Siêu đem theo đoàn sứ thần ngoại giao Đông Hán đặt chân đến nước Thiện Thiện. Lúc đầu, quốc vương đối đãi rất thịnh tình, nhưng sau cứ lạnh nhạt dần. Ban Siêu nói với bộ hạ. "Các ngươi có biết tại sao quốc vương đối xử với chúng ta lạnh nhạt, vô lễ không? Theo ta nhất định là sứ thần Hung Nô đã tới đây khiến cho quốc vương không biết xoay sở ra sao”. Để kiểm chứng ông cho gọi người hầu đến, giả bộ đã biết hết mọi chuyện, hỏi: "Sứ thần Hung Nô đến đã mấy ngày rồi, không biết là nghỉ ở đâu?" Người hầu này vốn được lệnh giữ kín chuyện sứ thần Hung Nô, nghe hỏi vậy liền đem mọi chuyện ra kể hết.
    Ban Siêu có tất cả 36 sứ sĩ, ông cho họ tập trung lại, uống rượu. Đang khi uống ngà ngà ông liền nói: "Mọi người đều giống như ta, đến đây từ Trung Nguyên xa xôi và đều vì muốn lập công với triều đình. Hiện nay, sứ thần Hung Nô đã tới đây, thái độ của Thiện Thiện quốc vương đối với chúng ta thì lạnh nhạt như vậy. Nếu như quốc vương dâng nộp chúng ta cho bọn Hung Nô thì e khó bề xoay xở, vậy mọi người tính sao?” Bộ hạ đồng thanh nói "Xung quanh chúng ta đều là nguy hiểm, sống chết gì chúng tôi cũng xin nghe Tư mã". Ban Siêu thấy tình hình đúng như dự kiến bèn nói: "Tốt, không vào hang cọp làm sao bắt được cọp con. Hiện nay chỉ có một biện pháp đó là nhân đêm tối, nổi lửa đốt doanh trại chúng, làm cho bọn Hung Nô không biết được ta có bao nhiêu người, vừa thừa cơ tiêu diệt chúng luôn. Chỉ cần trừ khử được bọn sứ thần này quốc vương nước Thiện Thiện sẽ kinh sợ, như thế là lập công lớn rồi". Mọi người đều khen kế hay.
    Sau khi trời tối, Ban Siêu dẫn theo sứ sĩ thuộc hạ tiến về doanh trại sứ thần Hung Nô. ông ra lệnh cho 10 sứ sĩ vác trống, thanh la nấp ở sau doanh trại Hung Nô, dặn họ khi thấy có lửa thì lập tức gõ trống, la hét. Số người còn lại cầm gươm, mũi tên mai phục ở phía tây. Ban Siêu châm lửa, lửa theo chiều gió cháy ngùn ngụt. Tiếng trống, la hét bốn phía khiến sứ thần Hung Nô sợ vỡ mật. Ban Siêu giết chết 3 người, quân mai phục giết được hơn 30 người, còn hơn 100 người bị lửa thiêu cháy.
    Ngày hôm sau, Ban Siêu cho mời quốc vương tới cho xem thủ cấp của sứ thần Hung Nô, quốc vương sợ đến nỗi không nói được. Ban Siêu còn dùng nhiều biện pháp uy hiếp khác, cuối cùng đạt được mục đích, giành phần thắng, phần lợi về cho triều đình. Công lao của Ban Siêu chẳng mấy chốc đến tai hoàng đế, hoàng đế hết lời khen ngợi phong ông làm quân tư mã và lại cho đi sứ Tây Vực. Tướng quân định cấp thêm quân cho ông thì ông cười mà nói rằng: "Thần chỉ cần 30 người như lần trước là đủ, người đông, lại không nắm rõ tình hình chỉ thêm rắc rối".
    Bất luận là quan trường, chiến trường hay thương trường, tinh thần "không vào hang cọp, không bắt được cọp con" thì người chỉ huy nào cũng phải có, nó vừa là dũng khí, vừa là trí mưu. Dựa vào tinh thần này cùng với tài sắp đặt mưu kế phi phàm, Ban Siêu đã giết được bọn sứ thần Hung Nô, lật ngược thế bị động của cả đoàn ngoại giao. Trên thương trường ngày nay, khắp nơi đều có cạm bẫy, nguy hiểm, làm thế nào để cưỡi lên đỉnh sóng, san bằng nguy hiểm, dùng sự can đảm và mưu trí hóa nguy thành an là điều thiết yếu của mỗi xí nghiệp, mỗi một lãnh đạo. Không có tinh thần: "Không vào hang cọp không bắt được cọp con" thì việc hóa nguy thành an chỉ là lời nói rỗng không.
    Công ty dầu khí Shell của Mỹ là một trong những công ty về năng lượng lớn nhất thế giới. Nó có hơn 100 năm lịch sử, phạm vi kinh doanh phủ khắp hơn 100 quốc gia, khu vực. Tổng thu nhập của công ty năm 1990 là 107 tỉ đô la, đứng thứ hai thế giới, chỉ sau công ty xe hơi General. Đối với những tập đoàn công ty lớn xuyên quốc gia như Shell, những rủi ro, thử thách phải đối mặt rất nhiều. Bởi vì tất cả những cái bất ngờ phát sinh trong kinh doanh, hoặc sự việc ngoài ý muốn đều ảnh hưởng trực tiếp tới công ty. Đối mặt với những thử thách ấy nhưng công ty luôn vững vàng. Hơn nữa lại còn chủ động đối đầu với thử thách, đưa ra dự tính về những tình huống có thể phát sinh, cố gắng hạ rủi ro tới mức thấp nhất. Vì vậy công ty thiết lập nên ba tuyến phòng đạo:
    Thứ nhất là phân tán địa lý. Công ty có điểm thăm dò dầu khí và khí đốt thiên nhiên ở trên 50 quốc gia, có nhà máy luyện dầu ở 34 quốc gia, sản phẩm tiêu thụ ở trên 100 nước. Phương Đông gặp rắc rối đã có phương Tây hỗ trợ, thị trường phương Nam đen tối đã có phương Bắc gánh đỡ. Sự phân bố về địa lý này khiến cho rủi ro cũng được phân tán. Do đó nếu có ảnh hưởng tới sản xuất cũng không đến nỗi tuyệt mệnh. Thứ hai là đa dạng hóa sản xuất. Mặt hàng chính của công ty là dầu khí và khí đốt thiên nhiên. Thế nhưng ngoài hai mặt hàng chính này công ty còn kinh doanh gas, công nghiệp hóa chất, kim loại màu... Nếu như dầu khí, khí đốt gặp rủi ro thì các ngành này sẽ là cây cột chống đỡ.
    Cách phòng thủ thứ ba của công ty là phản ứng nhanh trước những sự việc đột xuất. Thế cục thế giới thiên biến, vạn hóa, lực lượng chuyên môn tổ chức của công ty, luôn theo dõi sát sao tình hình kinh tế, chính trị của các nơi trên thế giới, kịp thời đưa ra những đối sách trước các biến đổi, làm tốt công tác chuẩn bị để thích nghi với biến đổi ấy. Do vậy cảm giác về "nguy cơ" hay rủi ro thường trực khắp nơi trong công ty. Các chi nhánh công ty ở các nơi mỗi năm đều phải tổ chức bốn lần diễn tập về tình huống đột ngột bị cắt đứt đường dây cung cấp dầu. Công ty có 122 đội thuyền lớn vận chuyển xăng dầu, nếu xảy ra chuyện gì, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể tiếp viện. Những cuộc diễn tập như thế gia tăng tốc độ năng lực ứng biến khi phát sinh tình hình ở các công ty con.
    Cảnh giác trước sự cố, nguy cơ... khiến cho năng lực xử lý sự cố tình huống của công ty được tăng lên mạnh mẽ, chống chọi được với những cơn lốc biến đổi thường xuyên của kinh tế thế giới. Theo thống kê cũ, mấy năm qua, giá dầu bán ra của công ty luôn thấp hơn so với giá bình quân thế giới. Và điều này cũng góp phần lớn mang lại lợi nhuận cho công ty.
     

Share This Page