Làn Sóng Thứ Ba - Alvin Toffler

Discussion in 'Ebook' started by hontuyetlan, Aug 16, 2014.

  1. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 20

    SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGƯỜI TIÊU-SẢN
    NỀN KINH TẾ VÔ HÌNH
    Trong Làn sóng thứ nhất, hầu hết mọi người tiêu thụ những gì họ tự sản xuất được. Họ không phải là người sản xuất cũng không phải là người tiêu thụ theo nghĩa thông thường. Họ có thể được gọi là "người tiêu sản". Chính cuộc cách mạng công nghiệp đã chia tách hai chức năng này thành người tiêu thụ và người sản xuất. Sự chia tách này đã dẫn đến việc phát triển thị trường hoặc mạng lưới trao đổi buôn bán.
    Chúng ta đã đi từ một xã hội nông nghiệp dựa trên "nền sản xuất để dùng" đến một xã hội công nghiệp dựa trên "nền sản xuất để trao đổi". Tuy nhiên tình hình hiện nay phức tạp hơn, vì giống như đã có một số lượng nhỏ sản xuất để trao đổi trong Làn sóng thứ nhất, nên vẫn có một số lượng nhỏ sản xuất để tự dùng trong Làn sóng thứ hai. Do đó, cách rõ hơn để hiểu về kinh tế là xem nó gồm hai khu vực. Khu vực A gồm tất cả những công việc do người ta tự làm cho họ, cho gia đình họ, hoặc cho cộng đồng của họ. Khu vực B gồm tất cả những sản xuất về hàng hóa và dịch vụ để bán thông qua thị trường hoặc mạng lưới trao đổi.
    Như thế, chúng ta có thể nói rằng trong Làn sóng thứ nhất, khu vực A rất lớn và khu vực B rất nhỏ. Trong Làn sóng thứ hai, điều ngược lại là đúng. Thực vậy, sự sản xuất hàng hóa và dịch vụ cho thị trường phát triển đến nỗi các nhà kinh tế học Làn sóng thứ hai hầu như quên hẳn là đã có khu vực A. Chính từ ngữ "kinh tế" được định nghĩa để loại trừ tất cả các dạng công việc hoặc sản xuất không nhằm cho thị trường, và hình ảnh "người tiêu-sản" không còn nữa.
    Điều này có nghĩa là các công việc nội trợ trong nhà do phụ nữ đảm nhiệm bị xếp vào loại "phi kinh tế", dù rằng khu vục B - nền kinh tế có thể nhìn thấy được - sẽ không tồn tại nếu không có hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong khu vực A - nền kinh tế không nhìn thấy được. Nếu không có ai ở nhà để chăm sóc trẻ em thì sẽ không có các thế hệ người làm việc được trả lương trong khu vực B, và như thế hệ thống sẽ tự sụp đổ. Các nhà kinh tế Làn sóng thứ hai quên rằng khả năng sản xuất của mỗi khu vực phụ thuộc lẫn nhau rất nhiều.
    Ngày nay, khi các xã hội Làn sóng thứ hai đang gặp khủng hoảng, các nhà chính trị và chuyên gia vẫn còn đưa ra những con số thống kê kinh tế dựa hoàn toàn trên kinh doanh khu vực B. Họ lo lắng về "sự phát triển" và "sức sản xuất" đang suy thoái. Do đó chừng nào mà họ tiếp tục suy nghĩ theo cách Làn sóng thứ hai, chừng nào mà họ quên khu vực A và xem nó nằm ngoài nền kinh tế, thì họ không bao giờ có thể quản lý được công việc kinh tế của chúng ta.
    Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy có sự bắt đầu thay đổi cơ bản trong mối quan hệ giữa hai khu vực này, chúng ta thấy đường phân chia đang mờ dần giữa người tiêu thụ và người sản xuất, và một điều nữa là vai trò ngày càng tăng của người tiêu sản. Và trên tất cả là sẽ có sự biến đổi vai trò của thị trường trong cuộc sống chúng ta và trong hệ thống thế giới.
    NGƯỜI ĂN QUÁ NHIỀU VÀ GÓA PHỤ
    Những người trong các xã hội công nghệ cao gặp khó khăn về tâm lý, sức khỏe, xã hội... họ hình thành các nhóm để nói ra các vấn đề của mình và học hỏi lẫn nhau. Một số nhóm nghi ngờ các chuyên viên và họ tự làm các việc không cần chuyên gia, họ dựa hoàn toàn vào các lời khuyên lẫn nhau hoặc trên kinh nghiệm cuộc sống riêng của mình, chứ không dựa vào lời khuyên truyền thống của các chuyên gia. Một số thấy họ có bổn phận phải giúp đỡ những người gặp khó khăn. Một số người khác giữ vai trò chính trị nhằm vận động thay đổi trong các điều khoản luật pháp hoặc thuế má. Một số làm việc có tính chất. như là tôn giáo. Còn những người khác nữa là những cộng đồng các thành viên sống chung với nhau.
    Phong trào tự giúp lẫn nhau này đang cấu trúc lại môi trường xã hội. Những người nghiện thuốc, những người nói lắp, những người muốn tự tử, những người cờ bạc, các gia đình đẻ con sinh đôi, những người ăn quá nhiều, và những nhóm khác đang tạo thành mạng lưới dày đặc các tổ chức đan vào các gia đình Làn sóng thứ ba và cấu trúc công ty.
    Dù ý nghĩa của các phong trào trên đối với tổ chức xã hội như thế nào đi nữa, chúng vẫn biểu lộ sự dịch chuyển cơ bản từ người tiêu dùng thụ động sang người tiêu-sản tích cực, và như thế là họ cũng nắm giữ ý nghĩa kinh tế. Mặc dù rốt cuộc họ vẫn phụ thuộc vào thị trường và vẫn gắn bó với thị trường, họ đang chuyển hoạt động từ khu vực B sang khu vực A, từ khu vực trao đổi sang khu vực tiêu-sản.
    TỰ LÀM LẤY
    Việc khách hàng tự làm lấy một phần công việc tự phục vụ không phải là một điều mới mẻ. Các siêu thị đã thực hiện điều đó, trong hệ thống này người bán hàng được thay thế bằng chiếc xe đẩy, khách hàng tự làm lấy công việc mà trước đây người bán hàng làm. Ngày nay hình thức này đang diễn ra khắp nơi, ví dụ các cửa hàng giảm giá đang phát triển là một bước đi theo hướng đó. Ngay cả trong cửa hàng giầy dép từ lâu người bán hàng được xem như là cần thiết thì nay cũng được thay thế bởi khách hàng tự chọn lấy giầy dép.
    Nguyên lý đó được áp dụng khắp nơi. Ngay trong lĩnh vực bảo quản các thiết bị máy móc dùng trong nhà cũng vậy, người sử dụng có thể tự chữa lấy những hỏng hóc nhỏ dưới sự hướng dẫn của nơi bán máy móc thông qua hệ thống điện thoại, chứ không cần phải gọi thợ chuyên môn đến tận nhà để sửa chữa.
    Như thế những gì thay đổi là mối quan hệ giữa người tự làm lấy và các người chuyên nghiệp về xây dựng, đồ gỗ, đồ điện. Ví dụ ở Mỹ trước đây 30% dụng cụ đồ điện được bán cho người tự làm lấy, 70% bán cho những người có tay nghề. Trong vòng 10 năm, con số đó bị đảo ngược : ngày nay 30% được bán cho người có tay nghề, hơn 70% bán cho người tự làm lấy.
    Công nghiệp sản xuất đồ dùng tự làm lấy phát triển, điều dễ hiểu là vì giá thành nhiều dịch vụ tiếp tục leo thang, và khi giá thành dịch vụ càng cao thì chúng ta sẽ thấy càng ngày càng có nhiều người tự làm lấy. Điểm đó có nghĩa là người ta sẽ được lợi hơn nếu tự sản xuất lấy những đồ dùng cho riêng của mình, và như thế là chuyển xa hơn hoạt động nền kinh tế từ khu vực B sang khu vực A, từ sản xuất trao đổi sang sự tiêu-sản.
    BÊN NGOÀI VÀ BÊN TRONG
    Để nhìn thấy được tương lai dài hạn của sự phát triển này, chúng ta cần xem xét không phải chỉ dịch vụ mà còn là hàng hóa. Chúng ta sẽ thấy người tiêu thụ ngày càng bị lôi kéo vào trong quy trình sản xuất. Các nhà sản xuất ngày nay tuyển mộ, thậm chí trả lương khách hàng giúp thiết kế sản phẩm. Điều này không phải chỉ đúng cho các công nghiệp sản xuất sản phẩm bán trực tiếp cho khách hàng như thức ăn, xà phòng, thuốc đánh răng v.v... mà còn đúng cho các công nghiệp tiên tiến như điện tử là ngành mà sự phi-đại chúng hóa tiến triển nhanh nhất.
    Tất cả các sản phẩm có thể chia thành 2 loại : sản phẩm "bên trong-ra" và sản phẩm "bên ngoài vào". Sản phẩm "bên ngoài vào" không do người sản xuất xác định mà do khách hàng xác định, và những sản phẩm bên ngoài này là rất lý tưởng. Chúng ta càng di chuyển hướng về sản xuất tiên tiến bao nhiêu, thì chúng ta càng phi-đại chúng hóa và khách hàng hóa sản xuất bấy nhiêu, cùng với điều đó, sự tham gia của khách hàng vào qui trình sản xuất càng tăng lên bấy nhiêu.
    Nói tóm lại, dù là phong trào tự giúp lẫn nhau, khuynh hướng tự làm lấy, hoặc công nghệ sản xuất mới, chúng ta đều thấy có sự dịch chuyển hướng về sự tham gia chặt chẽ hơn của người tiêu thụ vào quá trình sản xuất. Trong một thế giới như thế, những phân biệt truyền thống giữa người sản xuất và người tiêu thụ sẽ biến mất. "Bên ngoài" trở thành "bên trong", và có nhiều sản xuất được dịch chuyển từ nền kinh tế khu vực B sang khu vực A ở nơi nào mà người tiêu-sản chiếm ưu thế.
    LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI TIÊU-SẢN
    Các nhà văn thường định nghĩa thị trường như là một hiện tượng tư bản, dựa trên tiền bạc. Thế nhưng thị trường chỉ là một từ ngữ khác của mạng lưới trao đổi, và hiện đang có nhiều loại mạng lưới trao đổi khác nhau. Ở phương Tây, dạng quen thuộc nhất là thị trường tư bản dựa trên lợi nhuận. Nhưng cũng có thị trường xã hội chủ nghĩa. Có thị trường dựa trên tiền bạc, nhưng cũng có thị trường dựa trên trao đổi. Thị trường không phải tư bản cũng không phải xã hội chủ nghĩa. Đó là hậu quả trực tiếp của sự tách biệt sản xuất ra khỏi tiêu thụ. Bất kỳ nơi nào sự tách biệt này xảy ra thì thị trường xuất hiện. Và bất kỳ nơi nào khoảng cách giữa tiêu thụ và sản xuất thu hẹp lại, thì toàn bộ chức năng, vai trò và quyền lực của thị trường bị đặt thành vấn đề. Do đó, việc xuất hiện của tiêu sản ngày nay bắt đầu thay đổi vai trò của thị trường trong cuộc sống của chúng ta.
    Chắc chắn thị trường hoặc khu vực B sẽ không biến mất. Chúng ta sẽ còn phụ thuộc nhiều và lâu dài vào thị trường. Tuy nhiên, vấn đề tiêu sản sẽ làm thay đổi nhận thức trong mối quan hệ giữa khu vực A và khu vực B, một mối quan hệ mà các nhà kinh tế Làn sóng thứ hai cho đến bây giờ hầu như quên mất.
    Vì sự tiêu-sản liên quan đến việc phi-thị trường hóa về một số hoạt động và do đó thay đổi rõ ràng vai trò thị trường trong xã hội. Có thể có một nền kinh tế của tương lai không giống như những gì mà chúng ta đã biết, một nền kinh tế không thiên về khu vực A hoặc khu vực B, nghĩa là một nền kinh tế không giống như nền kinh tế Làn sóng thứ nhất hoặc nền kinh tế Làn sóng thứ hai, mà thay vào đó có thể là sự hòa nhập các đặc tính của cả hai thành một sự tổng hợp lịch sử mới.
    Do giá thành dịch vụ tăng, do sự phá vỡ hệ thống quan liêu dịch vụ Làn sóng thứ hai, do các công nghệ Làn sóng thứ ba, do các vấn đề thất nghiệp, và do những nhân tố khác đang tụ hội đã dẫn đến sự xuất hiện người tiêu-sản cùng với lối làm việc và cách sắp xếp cuộc sống mới. Nếu chúng ta thừa nhận việc phi-đồng bộ hóa và kiểu làm việc không hết ngày công, sự xuất hiện ngôi nhà điện tử, hoặc cấu trúc thay đổi về cuộc sống gia đình, chúng ta có thể bắt đầu phân biệt được một số những thay đổi trong lối sống này.
    Như thế, chúng ta đang tiến về một nền kinh tế tương lai với một số lớn người lao động có công việc không hết ngày công, hoặc ngày công được định nghĩa lại với tuần làm việc hoặc năm làm việc ngày càng ngắn hơn. Đã có một số lớn người lao động chỉ làm việc ba hoặc bốn ngày trong một tuần, họ có thể nghỉ sáu tháng để đi học hoặc giải trí. Điều này đặt lại vấn đề giải trí theo quan điểm mới. Một khi thừa nhận rằng hầu hết thời gian giải trí của chúng ta là để sản xuất hàng hoá và dịch vụ cho riêng chúng ta dùng - nghĩa là tiêu sản - thì sự phân biệt cũ giữa công việc và giải trí không còn tồn tại. Vấn đề không phải công việc so với giải trí, mà là công việc được trả lương cho khu vực B so với công việc không được trả lương, tự định hướng và tự giám sát cho khu vực A.
    Trong bối cảnh Làn sóng thứ ba, lối sống với một nửa dựa trên sản xuất để trao đổi, một nửa dựa trên sản xuất để tiêu dùng thì lối sống đó cho thấy là thực tế hơn. Thật ra lối sống như thế đã là phổ biến trong thời buổi đầu của cuộc cách mạng công nghiệp với số nông dân chậm được cuốn hút vào cuộc sống thành phố. Trong một thời gian quá độ khá dài, hàng triệu người vừa làm việc ở nhà máy, vừa làm việc ở đồng ruộng, họ tự sản xuất thức ăn cho họ, họ mua vài thứ cần thiết, và tự làm những đồ dùng khác.
    Có thể hình dung một thế hệ lớn lên trong một môi trường làm việc không hết ngày công, rất nhiệt tình sử dụng đôi bàn tay của mình, được trang bị với nhiều thiết bị công nghệ nhỏ và không đắt tiền, họ đang tạo thành một bộ phận đáng kể của dân cư. Làm việc một thời gian chứ không phải cả năm, đôi khi nghỉ làm việc cả năm, họ có thể kiếm ít tiền hơn, nhưng bù lại họ tự cung cấp bằng lao động riêng của họ do đó khỏi phải mất tiền. Như thế có thể tạo ra các lối sống đa dạng và thay đổi luôn, ít đơn điệu hơn, tự thỏa mãn một cách sáng tạo hơn, ít tập trung thị trường hơn các lối sống do Làn sóng thứ hai tạo ra.
    KINH TẾ HỌC LÀN SÓNG THỨ BA
    Những thay đổi do sự xuất hiện của người tiêu-sản tác động mạnh vào kinh tế học. Các nhà kinh tế học sẽ phải phát triển một khái niệm mới và tổng thể hơn về kinh tế, nghĩa là phải phân tích những gì đang xảy ra ở khu vực A cũng như là phải biết hai khu vực đó liên quan với nhau như thế nào.
    Khi Làn sóng thứ ba bắt đầu cấu trúc lại nền kinh tế thế giới, ngành kinh tế học bị tấn công dữ dội vì sự bất lực của nó không giải thích được những gì đang xảy ra. Những công cụ phức tạp nhất của nó, gồm cả các mô hình và ma trận computơ hóa, báo cho chúng ta biết ngày càng ít thông tin về nền kinh tế đang hoạt động như thế nào. Thực vậy, nhiều nhà kinh tế học kết luận rằng tư tưởng kinh tế truyền thống của cả tư bản lẫn mácxít đều không có quan hệ với thực tế đang thay đổi nhanh.
    Một lý do then chốt có thể là vì ngày càng có nhiều thay đổi quan trọng nằm ngoài khu vực B, nghĩa là nằm ngoài toàn bộ qui trình trao đổi. Để đưa kinh tế học gắn lại với thực tế, các nhà kinh tế học Làn sóng thứ ba sẽ cần phát triển những mô hình mới, những biện pháp mới, những chỉ số mới cho việc diễn tả các qui trình trong khu vực A, và sẽ phải suy nghĩ lại nhiều giả thiết cơ bản từ sự xuất hiện của người tiêu-sản.
    Một khi chúng ta thừa nhận các mối quan hệ chặt chẽ liên kết sản xuất đo được (và sức sản xuất) ở khu vực B và sản xuất không đo được (và sức sản xuất) ở khu vực A (tức là nền kinh tế vô hình), thì chúng ta buộc phải định nghĩa lại những từ ngữ này. Kiến thức, kinh nghiệm, danh dự, và động cơ của người tiêu thụ ảnh hưởng đến sức sản xuất dịch vụ. Nhưng ngay cả trong những từ ngữ này, "sức sản xuất" của người tiêu thụ vẫn được nhìn theo khía cạnh của khu vực B, có nghĩa chỉ như là một phần đóng góp vào sản xuất để trao đổi. Như thế không có sự thừa nhận rằng sản xuất hiện nay cũng đang xảy ra ở khu vực A, nghĩa là hàng hóa và dịch vụ được sản xuất để tự dùng là có thật, và chúng có thể thay thế hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ở khu vực B. Các sơ đồ sản xuất truyền thống, đặc biệt là các sơ đồ Tổng sản phẩm thu nhập quốc dân, càng ngày càng ít có ý nghĩa hơn cho đến khi chúng ta mở rộng sơ đồ cho phép bao gồm cả những gì xảy ra ở khu vực A.
    Sự hiểu biết về việc xuất hiện người tiêu-sản cũng giúp nhìn rõ hơn khái niệm giá cả. Chúng ta sẽ hiểu vấn đề tốt hơn nếu chúng ta thừa nhận rằng tính hiệu quả của người tiêu-sản trong khu vực A có thể dẫn đến giá thành cao hơn hoặc thấp hơn cho các công ty hoặc cơ quan Nhà nước hoạt động trong khu vực B. Ví dụ, tỉ lệ cao về nghiện rượu, khủng hoảng tinh thần trong lực lượng lao động, tất cả đều cộng vào "giá thành hoạt động kinh doanh" như đã được đo trong khu vực B. Do đó nếu các nhóm tự giúp đỡ lẫn nhau làm giảm bớt những tình trạng như thế trong lực lượng lao động, thì giá thành hoạt động sẽ giảm. Hiệu suất tiêu-sản ảnh hưởng hiệu suất sản xuất.
    Những nhân tố tế nhị hơn cũng ảnh hưởng đến giá thành sản xuất trong kinh doanh. Khả năng biết đọc, biết viết của người lao động như thế nào ? Họ nói cùng một ngôn ngữ không ? Về văn hóa họ có đáp ứng được công việc không ? Kỹ năng xã hội hóa được trong cuộc sống gia đình làm tăng thêm hay làm giảm bớt khả năng nghề nghiệp của họ ? Tất cả những đặc tính, thái độ, giá trị, kỹ năng và động cơ cần thiết cho sức sản xuất cao trong khu vực B, được sản xuất, hay nói chính xác hơn được tiêu-sản trong khu vực A. Sự xuất hiện của người tiêu sản, nghĩa là sự hợp nhất người tiêu thụ vào sản xuất, sẽ bắt buộc chúng ta xem xét kỹ hơn những mối tương quan như thế.
    Sự thay đổi đó cũng buộc chúng ta phải định nghĩa lại hiệu suất. Ngày nay trong việc định nghĩa hiệu suất, các nhà kinh tế học so sánh sự khác nhau trong việc sản xuất cùng một sản phẩm hoặc dịch vu. Họ ít khi so sánh hiệu suất nó trong khu vực B đối với hiệu suất tiêu-sản nó trong khu vực A. Thế nhưng đấy chính là điều mà hàng triệu người đang làm. Một khi mức độ thu nhập được đảm bảo thì họ thấy rằng có lợi cả về kinh tế và tâm lý trong việc tiêu sản hơn là kiếm thêm tiền. Các nhà kinh tế học hoặc kinh doanh không thể phát hiện ảnh hưởng tiêu cực của hiệu suất khu vực B đối với khu vực A. Chúng ta có thể thấy rằng những gì dường như không có hiệu quả theo từ ngữ truyền thống khu vực B, lại vô cùng có hiệu quả khi chúng ta xem xét toàn bộ nền kinh tế chứ không phải một bộ phận của nó. Nói rõ hơn, "hiệu suất" phải tính đến cả những ảnh hưởng phụ, và cho cả hai khu vực của nền kinh tế chứ không phải chỉ cho một khu vực.
    Đối với những khái niệm như "thu nhập", "phúc lợi", "nghèo khổ" hoặc "thất nghiệp" thì như thế nào ? Nếu một người sống một nửa trong hệ thống và một nửa ngoài hệ thống thị trường, sản phẩm nào phải được xem như là một phần thu nhập của họ ? Chúng ta định nghĩa phúc lợi như thế nào trong một hệ thống như thế ? Người nhận phúc lợi có phải làm việc không ? Nếu làm việc thì tất cả công việc có cần ở trong khu B không ? hoặc có cần khuyến khích người nhận phúc lợi trở thành tiêu-sản không?
    Ý nghĩa thật sự của "thất nghiệp" là gì ? Một người công nhân xe ô tô bị thất nghiệp đang tự chữa ở nhà có cùng nghĩa với người thất nghiệp ngồi xem tivi hay không? Sự xuất hiện người tiêu sản bắt buộc phải xem xét lại toàn bộ cách nhìn của chúng ta một mặt về vấn đề thất nghiệp, mặt khác về vấn đề phí phạm quan liêu và sự hạn chế khối lượng công việc để khỏi có nạn thất nghiệp. Các xã hội Làn sóng thứ hai đã cố gắng đối phó với vấn đề thất nghiệp bằng những cách như chống lại công nghệ mới, đóng cửa không cho nhập cư, tạo ra sự trao đổi lao động, tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu, lập ra các chương trình tạo việc làm, cắt bớt giờ làm việc, tăng tính cơ động lao động, trục xuất cả một số dân cư, và ngay cả tiến hành chiến tranh để kích thích kinh tế. Thế nhưng vấn đề ngày càng trở thành phức tạp hơn và khó khăn hơn. Có thể nào vấn đề cung cấp nguồn lao động được giải quyết thích hợp trong khuôn khổ xã hội Làn sóng thứ hai ? Bằng cách xem nền kinh tế như là một tổng thể chứ không phải một phần của nó, chúng ta nhìn nhận lại vấn đề theo cách mới, điều đó liệu có giúp chúng ta giải quyết được vấn đề hay không ?
    Sự xuất hiện người tiêu-sản chắc chắn sẽ làm thay đổi toàn bộ quan điểm kinh tế của chúng ta. Nó cũng sẽ làm biến đổi cơ sở của sự xung đột kinh tế. Mâu thuẫn giữa người công nhân sản xuất và người quản lý sản xuất chắc chắn sẽ còn tiếp tục. Nhưng điều đó sẽ trở thành ít quan trọng khi việc tiêu sản tăng lên và chúng ta tiến sâu vào xã hội Làn sóng thứ ba. Những xung đột xã hội mới sẽ xuất hiện.
    CHẤM DỨT THỊ TRƯỜNG HÓA
    Nhân loại đã bận rộn xây dựng một mạng lưới trao đổi rộng khắp thế giới - một thị trường - ít nhất trong 10.000 năm. Trong 300 năm qua, kể từ khi Làn sóng thứ hai bắt đầu, qui trình này tiến mạnh với tốc độ cao. Nền văn minh Làn sóng thứ hai đã "thị trường hóa" thế giới. Ngày nay, khi vấn đề tiêu sản xuất hiện, qui trình này đến lúc phải chấm dứt. Ý nghĩa lịch sử to lớn của điều này sẽ không được đánh giá đúng nếu chúng ta không nhận thức rõ thị trường hoặc mạng lưới trao đổi là gì. Hãy tưởng tượng nó như là một ống dẫn dầu. Khi cuộc cách mạng công nghiệp mới xuất hiện trên trái đất, rất ít người trên hành tinh bị trói buộc vào hệ thống tiền tệ. Thương mại hiện hữu nhưng xã hội bị ảnh hưởng của thương mại rất ít. Những mạng lưới khác nhau của người bán buôn, người phân phối, người bác sĩ, chủ ngân hàng và các thành phần khác của hệ thống thương mại còn nhỏ và thô sơ, chỉ cung cấp một ít ống dẫn nhỏ mà thông qua đó hàng hóa và tiền bạc có thể lưu thông.
    Trong 300 năm chúng ta đã rút năng lượng trái đất để xây dựng đường ống dẫn này. Nó được thực hiện theo ba cách. Đầu tiên, các nhà buôn và những tên thực dân của nền văn minh Làn sóng thứ hai đi khắp trái đất, mời mọc hoặc ép buộc các dân cư khác gia nhập vào thị trường, nghĩa là sản xuất nhiều hơn và tiêu-sản ít hơn. Các bộ lạc ở châu Phi sống bằng tự cung tự cấp bị quyến rũ hoặc bị buộc phải trồng trọt và đào mỏ đồng. Nông dân châu Á bị bắt làm việc ở các đồn điền, lấy mủ cao su. Người Nam Mỹ trồng cà phê để bán cho châu Âu và Hoa Kỳ. Với một sự phát triển như thế, đường ống dẫn được xây dựng hoặc được hình thành tinh vi hơn và càng ngày càng có nhiều người phụ thuộc vào nó.
    Cách thứ hai mà thị trường phát triển là thông qua việc "tiện nghi hóa" cuộc sống. Không phải chỉ có phần lớn dân cư vướng víu vào thị trường, mà càng ngày càng có nhiều hàng hóa và dịch vụ để thiết kế cho thị trường, đòi hỏi một sự mở rộng liên tục về "dung lượng kênh" của hệ thống, nghĩa là sự mở rộng đường kính của đường ống.
    Sau cùng, thị trường được mở rộng theo một cách khác. Khi xã hội và kinh tế phát triển phức tạp hơn, số trung gian chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu thụ tăng lên, nghĩa là các chi nhánh mọc ra càng nhiều. Sự phức tạp hóa ngày càng tăng này của hệ thống tự nó là một hình thức phát triển xa hơn, giống như việc lắp thêm các đường ống đặc biệt và vun vào ống dẫn.
    Ngày nay tất cả các dạng phát triển thị trường này đang đạt đến giới hạn của chúng. Số người còn lại bị hút vào thị trường. Thị trường hết khả năng phát triển bằng việc quyến rũ số dân cư mới. Dạng phát triển thứ hai vẫn còn có khả năng trên lý thuyết. Có thể có thêm dịch vụ hoặc hàng hóa để bán hoặc để trao đổi. Chính điểm này mà sự xuất hiện người tiêu-sản trở thành có ý nghĩa. Các mối quan hệ giữa khu vực A và khu vực B là phức tạp, nhiều hoạt động của người tiêu-sản phụ thuộc vào việc mua vật liệu hoặc dụng cụ ở thị trường. Nhưng sự gia tăng về việc tự giúp đỡ lẫn nhau, phi-thị trường hóa nhiều hàng hóa và dịch vụ cho thấy sự kết thúc quá trình thị trường hóa.
    Sau cùng, độ phức tạp về phân phối gia tăng, cấp trung gian sinh ra ngày càng nhiều, nghĩa là sự tỉ mỉ ngày càng tăng của đường ống dẫn hình như cũng đang đạt đến đỉnh. Giá thành trao đổi đang vượt quá giá thành sản xuất vật liệu trong nhiều lĩnh vực. Ở một điểm nào đấy, qui trình này đạt đến giới hạn. Trong khi đó máy computơ và một số công nghệ khác cần hàng tồn kho nhỏ hơn và làm đơn giản hóa đường dây phân phối. Một lần nữa, bằng chứng cho thấy sự chấm dứt thị trường hóa đang đến gần.
    Nếu thị trường chấm dứt, điều này có ý nghĩa gì đối với công việc, giá trị và tâm lý của chúng ta ? Thị trường là cấu trúc mà thông qua đó hàng hóa và dịch vụ được phân đường. Hơn thế nữa, đó không phải đơn giản là cấu trúc kinh tế, mà còn là cách tổ chức con người, cách suy nghĩ, một đặc tính và sự mong chờ. Như thế thị trường là một cấu trúc tâm lý cũng như là thực tế kinh tế. Và những hậu quả của nó vượt quá xa khả năng kinh tế học.
    Bằng việc hàng tỉ người quan hệ qua lại với nhau một cách có hệ thống, thị trường đã tạo ra một thế giới mà trong đó không ai, không quốc gia nào, không nền văn minh nào có thể khép kín số phận của mình. Nó dẫn đến niềm tin rằng sự hợp nhất vào thị trường là "tiến bộ" và tự cung tự cấp là "lạc hậu". Nó truyền bá chủ nghĩa duy vật thông thường và niềm tin rằng kinh tế học và động cơ kinh tế là những động lực chính trong cuộc sống con người. Nó nuôi dưỡng quan điểm về cuộc sống như là sự nối tiếp nhau của việc thực hiện các hợp đồng, và về xã hội như được gắn bó với nhau bằng "hợp đồng hôn nhân" hoặc "hợp đồng xã hội". Như thế, thị trường hóa định hình tư tưởng và giá trị, và hành động của hàng tỉ người cũng như là phong thái của nền văn minh Làn sóng thứ hai.
    Sự đầu tư to lớn về thời gian, năng lượng, vốn, văn hóa và nguyên liệu để tạo ra một tình hình trong đó người đại lý mua hàng ở châu Mỹ có thể hoạt động kinh doanh với một người bán hàng không nhìn thấy, không quen biết ở châu Á - mỗi người với một bàn tính hoặc máy computơ riêng, mỗi người với một hình ảnh chủ quan về thị trường, mỗi người với những mong chờ ở người kia, người nào thực hiện nhiệm vụ của người ấy như một phần của một hệ thống toàn cầu khổng lồ liên quan hàng triệu, hàng tỉ người khác.
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai đã thị trường hóa thế giới. Ngày nay nhiệm vụ đó đã hoàn thành. Thời đại xây dựng thị trường đã chấm dứt, cần phải thay thế bằng một giai đoạn mới với sự bảo quản và đổi mới đường ống dẫn. Chúng ta chắc chắn phải thiết kế lại các phần quan trọng của nó để thích ứng với luồng thông tin đang gia tăng. Nền văn minh mới này sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào điện tử, sinh học và các công nghệ xã hội mới. Nó chắc chắn sẽ cần tài nguyên, trí tưởng tượng và vốn. Song so với cố gắng đã kiệt cạn trong việc thị trường hóa của Làn sóng thứ hai, thì chương trình tái sinh này cần thời gian, năng lượng, vốn và trí tưởng tượng ít hơn. Nó cần ít người và ít phần cứng hơn trong qui trình xây dựng đầu tiên. Tuy nhiên sự biến đổi phức tạp cho thấy rằng thị trường hóa không còn là đề án trung tâm của nền văn minh.
     
  2. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 21

    VŨNG NƯỚC XOÁY TRÍ TUỆ
    Chưa bao giờ có nhiều người ở nhiều nước bị bối rối về trí thức như bây giờ, bị chìm ngập trong vũng nước xoáy của các tư tưởng xung đột và nhầm lẫn. Những tầm nhìn va chạm nhau đang làm rung chuyển thế giới trí tuệ của chúng ta.
    Mỗi ngày lại có thêm các thú vui kỳ quái, phát minh khoa học, tôn giáo, phong trào, hoặc tuyên ngôn. Sùng bái thiên nhiên, sinh-xã hội học, chủ nghĩa vô chính phủ, thuyết cấu trúc, chủ nghĩa Mác mới, thuyết vật lý mới, thần bí phương Đông, thích công nghệ, ghét công nghệ, và hàng ngàn luồng tư tưởng như thế tràn qua nhận thức.
    Hầu hết sự hỗn độn này là kết quả của một cuộc chiến tranh văn hóa dữ dội, sự xung đột của nền văn hóa Làn sóng thứ ba với những tư tưởng và giả thiết của xã hội công nghiệp. Vì giống như Làn sóng thứ hai đã truyền bá các quan điểm và hệ thống niềm tin, ngày nay chúng ta thấy sự bắt đầu của cuộc nổi loạn triết học nhằm lật nhào những nhận thức thống trị trong 300 năm qua. Những tư tưởng then chốt của giai đoạn công nghiệp đang bị giảm uy tín, bị coi nhẹ, bị thay thế, hoặc bị gộp vào trong những lý thuyết rộng lớn hơn và mạnh hơn.
    Những niềm tin cốt lõi của nền văn minh Làn sóng thứ hai không phải được chấp nhận dễ dàng mà không có sự đấu tranh dữ dội. Trong giáo dục, trong khoa học, trong tôn giáo, trong hàng ngàn lĩnh vực khác, những nhà tư tưởng "tiến bộ" của chủ nghĩa công nghiệp đã chiến đấu chống lại các nhà tư tưởng "phản động" của xã hội nông nghiệp. Ngày nay các nhà bảo vệ chủ nghĩa công nghiệp đang bị dồn đến chân tường khi một nền văn hóa mới Làn sóng thứ ba bắt đầu hình thành.
    HÌNH ẢNH MỚI CỦA THIÊN NHIÊN
    Không gì làm nổi bật sự xung đột tư tưởng này hơn hình ảnh thay đổi về thiên nhiên của chúng ta.
    Trong thập kỷ qua, một phong trào môi trường rộng khắp thế giới đã xuất hiện để trả lời cho những thay đổi đầy nguy hiểm trong môi trường sinh học của trái đất. Phong trào này không chỉ tấn công vào tình trạng ô nhiễm, chất phụ gia thực phẩm, lò phản ứng hạt nhân, đường cao tốc và thuốc xịt tóc. Nó còn bắt buộc chúng ta phải suy nghĩ lại về sự phụ thuộc của chúng ta vào thiên nhiên. Do đó, thay vì tiến hành chiến tranh với thiên nhiên, chúng ta đang hướng về quan điểm mới nhấn mạnh sự cộng sinh hoặc sống hài hòa với thiên nhiên.
    Trong lĩnh vực khoa học, điều này đã đưa đến hàng ngàn nghiên cứu nhằm hiểu được các mối quan hệ sinh thái để chúng ta có thể làm nhẹ bớt những tác động của chúng ta đối với thiên nhiên hoặc hướng chúng để chúng trở thành có ích cho chúng ta. Chúng ta bắt đầu đánh giá đúng độ phức tạp và tính năng động của những mối quan hệ này và nhận thức lại về xã hội theo hướng có thể phục hồi, chu kỳ hóa, và khả năng chống đỡ với các hệ thống thiên nhiên.
    Tất cả những điều này được phản ánh trong thái độ của mọi người đối với thiên nhiên. Thơ ca, phim ảnh ca ngợi thiên nhiên. Người sống ở thành phố chuyển ra ở nông thôn. Quan tâm đến thực phẩm tự nhiên, sinh đẻ tự nhiên, nuôi con bằng sữa mẹ, nhịp điệu sinh học v.v...
    Từ khi Làn sóng thứ ba bắt đầu, cách đây chừng 25 năm, nhà khoa học đã phát triển các công cụ mới để thăm dò thiên nhiên ở nơi xa nhất. Đến lượt các loại la de, tên lửa, gia tốc, plátma, computơ... đã làm bùng nổ nhận thức của chúng ta về những gì xung quanh chúng ta. Chúng ta đang xem xét các hiện tượng lớn hơn, nhỏ hơn, và nhanh hơn theo độ lớn. Ngày nay người ta cho rằng trái đất không phải là hành tinh độc nhất có người ở.
    Khi Làn sóng thứ ba xuất hiện, hành tinh của chúng ta dường như nhỏ hơn và mỏng manh hơn. Vị trí của chúng ta trong vũ trụ dường như bé đi Và chúng ta không phải là độc nhất trong vu trụ.
    Hình ảnh của chúng ta đối với thiên nhiên không còn như cũ nữa.
    THIẾT KẾ SỰ TIẾN HÓA
    Hình ảnh của chúng ta đối với sự tiến hóa cũng không còn như cũ nữa. Các nhà sinh học, khảo cổ học, và nhân chủng học cố gắng phát hiện ra những bí mật của tiến hóa, lại thấy một thế giới lớn hơn và phức tạp hơn họ tưởng ; họ phát hiện ra rằng những định luật một thời được xem như là phổ thông thì nay chỉ là những trường hợp đặc biệt.
    Trong lĩnh vực sinh học, các nhà khoa học đang tự hỏi có phải sự tiến hóa xã hội là sự đáp ứng với thay đổi và chọn lọc tự nhiên hay đó là sự tích lũy thay đổi ở cấp phân tử do "sự tiến triển gen" mà không có hoạt động của sự chọn lọc tự nhiên Đácuyn ? Những nhận thức khác đều bị phá vỡ. Các nhà sinh học đã nói với chúng ta rằng eukaryotes (nhân loại và các dạng sống khác) đều xuất phát từ các tế bào đơn giản gọi là prokaryotes (trong đó có vi khuẩn). Những nghiên cứu mới đang đặt lại vấn đề lý thuyết đó, đang dẫn đến khái niệm rằng dạng sống đơn giản xuất phát từ những tế bào phức tạp hơn.
    Hơn thế nữa, sự tiến hóa biệt đãi những thích nghi làm tăng sự tồn tại. Thế nhưng bây giờ chúng ta đang thấy những ví dụ về phát triển tiến hóa dường như chỉ ban cho những ích lợi dài hạn và phải trả giá bằng những bất lợi ngắn hạn. Vậy tiến hóa biệt đãi cái gì ? Có tư tưởng cho rằng sự tiến hóa có thể xảy ra nhảy vọt cũng như là thông qua sự phát triển dần dần của những thay đổi nhỏ.
    Thực vậy, thay vì xem biến hóa như là một qui trình nhịp nhàng, nhiều nhà khoa học và khảo cổ học ngày nay đang nghiên cứu "lý thuyết tai biến" để giải thích những "khe hở" và những "bước nhảy" trong các nhánh khác nhau của tiến hóa. Những người khác nghiên cứu những thay đổi nhỏ được tăng cường bằng hồi tiếp (Feedback) để biến đổi cấu trúc đột ngột. Những cuộc tranh luận nóng bỏng phân chia cộng đồng khoa học theo từng vấn đề này.
    Nhưng tất cả những cuộc tranh luận như thế trở thành nhỏ đi bởi một sự kiện làm thay đổi lịch sử. Đó là cấu trúc của DNA được làm sáng tỏ. Ngày nay, các kỹ sư gen trong các phòng thí nghiệm khắp thế giới có khả năng tạo ra các dạng sống hoàn toàn mới.
    Các nhà tư tưởng Làn sóng thứ hai nhận thức loài người như là cực điểm của một qui trình tiến hóa dài ; các nhà tư tưởng Làn sóng thứ ba bây giờ phải đối diện với sự kiện rằng chúng ta sẽ trở thành những người thiết kế sự tiến hóa. Sự tiến hóa không còn giống như cũ nữa. Giống như khái niệm về thiên nhiên, sự tiến hoá cũng đang ở trong qui trình phải được nhận thức lại.
    CÂY TIẾN BỘ
    Khi những tư tưởng Làn sóng thứ hai về thiên nhiên và tiến hoá đang thay đổi, thì không có gì đáng ngạc nhiên nếu tư tưởng Làn sóng thứ hai về tiến bộ đang bị đánh giá lại. Mỗi khi có một phát minh khoa học mới hoặc một sản phẩm cải tiến mới thì kỷ nguyên công nghiệp xem đó như là bằng chứng về sự tiến lên không tránh được hướng về sự hoàn hảo nhân loại. Những năm 50 và 60 phong trào híppi đã làm chủ đề văn hóa về con người trở nên bi quan. Những phong trào này đã thay thế sự lạc quan bằng sự tuyệt vọng. Nhưng ngay sau đó sự bi quan đã trở thành lịch sự một cách tích cực. Phim ảnh những năm đó đã thay thế các anh hùng ba hoa của những năm 30 và 40 bằng những người chống anh hùng đáng ghét - những người nổi loạn không có lý do, găng tơ bảnh bao, người nghiện ngập có sức quyến rũ, người lái xe mô tô, và những tên lưu manh thô bạo (nhưng có tâm hồn). Cuộc sống là một trò chơi chẳng ai thắng cả. Tiểu thuyết, kịch và nghệ thuật cũng bị kích thích bởi sự tuyệt vọng thê thảm trong nhiều quốc gia Làn sóng thứ hai. Đầu những năm 50, Camus đã nói về những chủ đề mà vô số các nhà viết tiểu thuyết sau đó tiếp tục khai thác. Một nhà phê bình người Anh tóm tắt các chủ đề như sau : "Con người là sai lầm, lý thuyết chính trị là tương đối, tiến bộ tự động hóa là ảo vọng".
    Công nghệ thay vì được diễn tả như là động cơ tiến bộ lại trở thành lực lượng tàn phá cả tự do con người lẫn môi trường vật lý. Thực vậy, đối với nhiều nhà môi trường học, "tiến bộ" là một từ ngữ bẩn thỉu. Khi xã hội Làn sóng thứ hai bước vào những năm 70, thì Câu lạc bộ Rome dự báo về "những giới hạn phát triển" với một giọng tang tóc về thập kỷ tiếp theo, họ nói đến một thảm họa cho thế giới công nghiệp. Lệnh cấm vận đầu năm 1973 làm gia tăng sự biến động, thất nghiệp và lạm phát, làm tăng thêm sự bi quan và sự bác bỏ về tư tưởng đối với tiến bộ nhân loại. Henry Kissinger đã nói về sự suy thoái của phương Tây càng làm lạnh xương sống thêm.
    Ngày nay khắp thế giới lan truyền nhanh sự thừa nhận rằng sự tiến bộ không thể chỉ đo bằng công nghệ hoặc mức sống vật chất ; rằng một xã hội suy thoái về đạo đức, thẩm mỹ, chính trị hoặc môi trường không phải là một xã hội tiến bộ, dù rằng xã hội đó giàu có hoặc công nghệ tiên tiến như thế nào. Nói tóm lại, chúng ta đang ngày càng hiểu biết hơn về sự tiến bộ - sự tiến bộ không còn được thực hiện một cách tự động và không còn chỉ được xác định bởi tiêu chuẩn vật chất.
    Chúng ta bắt đầu nghĩ về sự tiến bộ như là sự nở hoa của một cái cây với nhiều nhánh kéo dài vào tương lai, và chính sự đa dạng, phong phú của các nền văn hóa nhân loại là thước đo của sự tiến bộ. Theo nghĩa này, sự dịch chuyển ngày nay tiến về một thế giới đa dạng và phi-đại chúng hóa có thể được xem như là một bước nhảy quan trọng, điều đó tương tự như trong khuynh hướng tiến về sự khác biệt và sự phức tạp của tiến hóa sinh học.
    TƯƠNG LAI CỦA THỜI GIAN
    Mỗi nền văn minh xuất hiện mang theo nó không chỉ những thay đổi về cách con người sử dụng thời gian trong cuộc sống hàng ngày, mà cả những thay đổi trong những bản đồ tinh thần về thời gian. Làn sóng thứ ba đang vẽ lại những bản đồ thời gian này.
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai từ Niutơn trở đi cho rằng thời gian chạy trên một đường thẳng độc nhất từ quá khứ vào tương lai ; rằng thời gian là tuyệt dối, đồng đều xuyên suốt vũ trụ, độc lập với vật chất và không gian ? và rằng mỗi thời điểm là giống với thời điểm sắp đến. Vào đầu thế kỷ Anhstanh đã chứng minh rằng thời gian có thể bị co ép và bị kéo dài, và đã phá hủy hoàn toàn khái niệm cho rằng thời gian là tuyệt đối. Để chứng minh điều đó, ông ta đã đưa ra một ví dụ cổ điển về hai người quan sát và đường sắt. Ví dụ đó đã làm rõ luận điểm của Anhstanh cho rằng thứ tự thời gian của các biến cố - những gì đến đầu tiên, đến thứ hai, hoặc đến sau theo thời gian - phụ thuộc vào tốc độ của người quan sát. Thời gian không phải là tuyệt đối mà là tương đối.
    Ngày nay mỗi khi các nhà vật lý học phát hiện ra các hạt cơ bản hoặc hiện tượng vật lý học thiên thể như quark, quasar, lỗ đen... đều bắt phải có những thay đổi trong nhận thức về thời gian của chúng ta. Ví dụ lỗ đen hấp thụ tất cả từ năng lượng cho đến ánh sáng, và một thời điểm cạnh lỗ đen tương đương với thời kỳ đồ đá trên trái đất.
    Trong thế giới vi mô chúng ta cũng có cùng những hiện tượng kỳ lạ như thế. Khái niệm vi mô về thời gian rất khác với thế giới vĩ mô. Do đó, "thời gian" không thể được nói theo số ít, dường như có "thời gian" số nhiều dưới những định luật khác nhau ở trong những khu vực khác nhau mà chúng ta cư trú. Như thế chúng ta đang cấu trúc lại một cách cơ bản việc sử dụng thời gian, như bằng việc đưa thời gian linh động vào công việc, bằng việc tách công nhân ra khỏi dây chuyền cơ khí v.v..., chúng ta cũng đang lập thành hệ thống hình ảnh lý thuyết của chúng ta về thời gian.
    NGƯỜI DU HÀNH KHÔNG GIAN
    Những thay đổi trong khái niệm của chúng ta về thời gian cũng ảnh hưởng đến khái niệm của chúng ta về không gian vì cả hai gắn bó mật thiết với nhau. Nhưng chúng ta cũng biến đổi hình ảnh về không gian rất nhanh chóng. Chúng ta đang thay đổi không gian hiện nay mà trong đó tất cả chúng ta sống, làm việc và chơi. Chúng ta đi làm việc như thế nào, chúng ta phải đi bao xa, chúng ta sống ở đâu, tất cả những điều này ảnh hưởng kinh nghiệm của chúng ta về thời gian. Và tất cả những điều này đang thay đổi. Thực vậy, với Làn sóng thứ ba chúng ta đi vào giai đoạn mới trong mối quan hệ của con người với không gian.
    Làn sóng thứ nhất đã phát triển nông nghiệp trên thế giới cùng với sự định cư canh tác thường trực mà trong đó hầu hết mọi người sống cả cuộc đời của họ cách nơi họ sinh ra chừng vài dặm. Nông nghiệp đã tạo ra cuộc sống tập trung về không gian cố định, và khuyến khích những tình cảm địa phương sâu đậm - tinh thần làng xã.
    Ngược lại nền văn minh Làn sóng thứ hai đã tập trung số đông dân cư trong các thành phố lớn, và bởi vì nó cần lấy tài nguyên và phân phối hàng hoá ở nơi xa cách nên nó phải sinh sản những người cơ động. Nó tạo ra không gian bao quát là thành phố và quốc gia chứ không phải là làng mạc. Nền văn minh Làn sóng thứ ba thay đổi kinh nghiệm không gian của chúng ta bằng sự phân tán chứ không phải tập trung dân cư. Trong khi tại các nước công nghiệp đang phát triển hàng triệu người tiếp tục đổ vào đô thị, thì tại các nước công nghiệp phát triển lại đang diễn ra sự đảo ngược quá trình trên. Tokyo, London, Zurich, Glasgow và hàng chục thành phố lớn khác đang mất dần dân cư thì các thành phố trung bình và nhỏ đang được tăng thêm dân cư.
    Sự phân phối lại và sự phân tán dân cư sẽ thay đổi nhận thức và mong chờ của chúng ta về không gian cá nhân và xã hội, về cự ly nơi làm việc chấp nhận được, về mật độ nhà cửa, và về nhiều việc khác.
    THUYẾT TOÀN THỂ VÀ THUYẾT BÁN PHẦN
    Những thay đổi trong quan điểm của chúng ta về thiên nhiên, tiến hóa, tiến bộ, thời gian và không gian đến cùng với nhau khi chúng ta chuyển từ nền văn minh Làn sóng thứ hai với cách nghiên cứu sự việc độc lập với nhau sang nền văn minh Làn sóng thứ ba với sự nhấn mạnh về bối cảnh, mối quan hệ và cái toàn thể.
    Đầu những năm 50, các nhà lý thuyết và kỹ sư thông tin, các chuyên gia computơ, các nhà vật lý ở Mỹ, Anh và Pháp đã tiến hành công việc "nghiên cứu tích cực". Công việc này đã sinh ra cuộc cách mạng tự động hóa và một ngành công nghệ hoàn toàn mới làm nền tảng cho nền sản xuất Làn sóng thứ ba trong nhà máy và văn phòng. Cùng với việc đó là cách suy nghĩ mới, vì sản phẩm then chốt của cuộc cách mạng tự động hóa là "cách đặt vấn đề hệ thống".
    Trong khi các nhà tư tưởng Làn sóng thứ hai nhấn mạnh sự phân tích yếu tố mà bỏ qua hệ thống, các nhà tư tưởng hệ thống nhấn mạnh sự phân tích tổng thể. Cách suy nghĩ hệ thống chú trọng đến các mối quan hệ hồi tiếp (Feedback) giữa các hệ thống nhỏ và toàn bộ hệ thống lớn, nó có tác động văn hóa thâm nhập khắp nơi, kể từ giữa những năm 50 khi nó bắt đầu ra khỏi các phòng thí nghiệm. Ngôn ngữ và khái niệm của nó đã được sử dụng bởi các nhà khoa học xã hội và các nhà tâm lý học, bởi các nhà triết học và các nhà phân tích chính sách đối ngoại, bởi các nhà lôgic học và các nhà ngôn ngữ học, bởi các kỹ sư và các nhà quản trị.
    Nhưng những người ủng hộ lý thuyết hệ thống không phải là những người duy nhất đã thúc giục cách hợp nhất để xem xét vấn đề. Cuộc nổi loạn chống lại việc chuyên môn hóa hẹp cũng đã nhận được sự tán thành từ các chiến dịch môi trường của những năm 70, khi các nhà sinh thái học phát hiện ra mạng lưới của thiên nhiên, mối tương quan lẫn nhau của các loài, và tính toàn thể của hệ thống sinh thái. Cách đặt vấn đề sinh thái và cách đặt vấn đề hệ thống giống nhau và cùng tiến về sự tổng hợp và sự hợp nhất của kiến thức.
    Trong khi đó ở các trường đại học đã có những đòi hỏi về đào tạo liên ngành chứ không phải từng ngành riêng biệt. Những thay đổi này trong đời sống trí thức cũng được phản ánh khắp nơi. Ví dụ các tôn giáo phương Đông nở hoa ở phương Tây với giáo lý "tính duy nhất". Trong lĩnh vực y học, các nhà chữa bệnh tâm thần đã tìm cách chữa "toàn thể con người". Trong y tế, phong trào "sức khỏe thánh thiện" đã xuất hiện dựa trên cơ sở khái niệm rằng hạnh phúc của cá nhân phụ thuộc vào sự hợp nhất của cơ thể, tâm linh và tinh thần.
    Mỗi phong trào và mỗi luồng văn hóa là khác nhau. Nhưng yếu tố chung của chúng là rõ ràng. Tất cả chúng đều tấn công vào nhận thức cho rằng tính toàn thể có thể hiểu được bằng cách nghiên cứu các phần riêng biệt. Sự tấn công này đối với thuyết từng đoạn, từng phần và sự phân tích dữ dội đến nỗi một số người cuồng nhiệt đã quên mất các yếu tố trong khi họ theo đuổi tính tổng thể. Kết quả là không có thuyết tổng thể gì cả mà là một thuyết khác về từng phần. Thuyết toàn thể của họ là thuyết bán phần.
    PHÒNG CHƠI VŨ TRỤ
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai đã đảm bảo chúng ta rằng chúng ta biết nguyên nhân gì đã gây ra sự việc, rằng mỗi hiện tượng đã chiếm một vị trí độc nhất, có thể xác định được trong không gian và thời gian, rằng cùng những điều kiện như nhau luôn luôn cho cùng kết quả như nhau, rằng toàn bộ vũ trụ gồm nguyên nhân và kết quả.
    Quan điểm thuộc thuyết máy móc này về nguyên nhân đã và đang rất có ích. Nó giúp chúng ta chữa bệnh, xây nhà chọc trời, thiết kế máy móc kỳ diệu và tập hợp các tổ chức lớn. Thế nhưng dù trong cách giải thích từng hiện tượng chắc chắn như thế nào đi nữa, nó đã cho thấy chẳng phù hợp tí nào trong việc giải thích những hiện tượng như phát triển, suy tàn, bước nhảy đột ngột đến mức phức tạp mới, những thay đổi lớn biến đổi những biến cố nhỏ thành những lực nổ bùng khổng lồ.
    Ngày nay bàn chơi bida thời Niutơn đang bị nhét vào một góc của phòng chơi vũ trụ. Thuyết nguyên nhân cơ học được xem như là một trường hợp đặc biệt áp dụng cho một số hiện tượng chứ không phải cho tất cả các hiện tượng. Các nhà học giả và khoa học trên khắp thế giới đang tập hợp một quan điểm mới về biến đổi và nguyên nhân để theo kịp với những quan điểm thay đổi nhanh của chúng ta về thiên nhiên, tiến hóa và tiến bộ, về thời gian, không gian và vật thể.
    Thuyết nguyên nhân Làn sóng thứ ba đến từ khái niệm then chốt của lý thuyết hệ thống : khái niệm về hồi tiếp. Qui trình hồi tiếp bảo toàn sự cân bằng, hủy bỏ thay đổi khi một mức đã cho nào đó bị đe dọa. Được gọi là "hồi tiếp âm", nhiệm vụ của nó là duy trì sự ổn định.
    Khi hồi tiếp âm được xác định và khai thác bởi các nhà lý thuyết thông tin và các nhà tư tưởng hệ thống ở đầu những năm 50, các nhà khoa học đã bắt đầu tìm những sự việc tương đương. Họ đã tìm thấy các hệ thống bảo vệ ổn định tương tự trong mọi lĩnh vực từ sinh lý học đến chính trị. Hồi tiếp âm dường như hoạt động khắp nơi xung quanh ta, gây ra việc duy trì ổn định hoặc cân bằng của chúng.
    Đầu những năm 60 đã có những lời phê bình là đã chú trọng quá nhiều vào sự ổn định mà không chú ý gì đến sự thay đổi. Việc cần thiết là phải nghiên cứu thêm về "hồi tiếp dương", nghĩa là qui trình không ngăn cản sự thay đổi mà khuếch đại sự thay đổi, không duy trì sự ổn định mà thách đố nó, đôi khi còn lấn át cả sự ổn định. Hồi tiếp dương có thể sử dụng một độ lệch nhỏ trong hệ thống và khuếch đại nó thành một cấu trúc to lớn đáng ghê sợ.
    Nếu loại hồi tiếp đầu tiên là giảm thay đổi hoặc "âm" thì loại hồi tiếp thứ hai là tăng cường thay đổi hoặc "dương", cả hai đều cần được chú ý như nhau. Hồi tiếp dương có thể làm sáng tỏ nguyên nhân của một số quá trình không thể lý giải được trước đây. Vì hồi tiếp dương phá vỡ sự ổn định và tự nó cung cấp ngược lại cho nó, nên hồi tiếp dương giúp giải thích một số sự việc lẩn quẩn và một số quá trình tự kích - ví dụ như cuộc chạy đua vũ trang, mỗi lần Liên Xô có vũ khí mới, Mỹ chế tạo một cái lớn hơn mà nó sẽ kích thích Liên Xô chế tạo một cái khác...
    Khi chúng ta kết hợp hồi tiếp âm và dương lại với nhau, chúng ta sẽ thấy hai qui trình này tác động lẫn nhau phong phú như thế nào trong các cơ thể phức tạp từ bộ óc con người đến kinh tế. Thực vậy, một khi chúng ta thừa nhận bất kỳ hệ thống thật sự phức tạp nào, dù đó là cơ thể sinh học, một thành phố hoặc một trật tự quốc tế nào, thì hệ thống đó có cả bộ khuếch đại thay đổi và bộ giảm thay đổi tác động qua lại lẫn nhau, chúng ta bắt đầu nhìn thấy toàn bộ độ phức tạp trong thế giới mà chúng ta sống. Sự hiểu biết về nguyên nhân của chúng ta được tăng lên.
    Chúng ta càng hiểu thêm nếu chúng ta thừa nhận rằng những bộ giảm và khuếch đại thay đổi này không cần thiết có mặt ngay từ đầu trong hệ thống sinh học hoặc xã hội ; đầu tiên chúng không có mặt, nhưng sau đó lại phát triển tại chỗ, và đôi khi chỉ là kết quả của sự may rủi. Một biến cố tản mạn có thể kích thích một loạt các hậu quả không ngờ đến. Đó là lý do tại sao một quá trình đều đặn và chậm chạp có thể đột ngột biến đổi thành sự thay đổi nổ bùng, hoặc ngược lại. Và điều này giải thích tại sao nhiều điều kiện bắt đầu tương tự có thể đưa đến những kết quả không giống nhau - một tư tưởng xa lạ đối với nhận thức Làn sóng thứ hai.
    Thuyết nguyên nhân Làn sóng thứ ba đang dần dần hình thành cho thấy một thế giới phức tạp với những lực tác động qua lại lẫn nhau, một thế giới đầy ngạc nhiên với các bộ khuếch đại và bộ giảm thay đổi cũng như là các yếu tố khác. Đó là một thế giới rất xa lạ với thuyết cơ khí đơn giản ở Làn sóng thứ hai.
    BÀI HỌC CON MỐI
    Trong nhiều hệ thống phức tạp từ phân tử nước đến nơron não hoặc giao thông trong thành phố, các bộ phận của hệ thống luôn luôn chịu sự thay đổi qui mô nhỏ : chúng nằm trong sự thay đổi liên tục. Phần trong của bất kỳ hệ thống nào cũng đang rung theo sự dao động. Khi hồi tiếp âm hoạt động, những giao động này ngưng lại và sự cân bằng của hệ thống được duy trì. Nhưng khi hồi tiếp dương hoạt động, một số dao động này có thể được khuếch đại rất lớn, đến mức nào đó thì sự cân bằng của toàn bộ hệ thống bị đe dọa. Những dao động đến từ môi trường bên ngoài có thể tác động vào đúng thời điểm này và như thế càng làm tăng sự rung động cho đến khi sự cân bằng của toàn bộ hệ thống bị phá vỡ và cấu trúc hiện tại bị phá hủy.
    Dù là dao động do nội hoặc ngoại lực, hoặc cả hai, thì sự phá vỡ cân bằng cũ không phải cho kết quả hỗn độn hoặc tiêu hủy, mà là sự tạo ra một cấu trúc hoàn toàn mới ở cấp cao hơn. Cấu trúc mới này có thể khác biệt hơn, tác động qua lại bên trong nhiều hơn, và phức tạp hơn cấu trúc cũ, cần nhiều năng lượng và vật chất nhiều hơn để tự tồn tại.
    Sự tiến hóa có thể được xem như là một quá trình tiến về các chỉnh thể ngày càng phức tạp và sinh học đa dạng thông qua sự xuất hiện của các cấu trúc mới. Tuy nhiên, sự tiến hóa này không thể được lập kế hoạch hoặc được xác định trước theo kiểu máy móc. Cho đến khi lý thuyết lượng tử ra đời, nhiều nhà tư tưởng tiên tiến Làn sóng thứ hai tin rằng ngẫu nhiên không có vai trò gì trong sự thay đổi, rằng các điều kiện đầu tiên của một quá trình xác định kết quả của nó. Ngày nay trong ngành vật lý vi nguyên tử, sự ngẫu nhiên chi phối sự thay đổi được tin tưởng rộng rãi. Đã có nghiên cứu về sự kết hợp giữa ngẫu nhiên và tất yếu cùng với những điều kiện của mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Nói tóm lại, vào một điểm chính xác thì cấu trúc "nhảy" đến một cấp phức tạp mới mà không thể đoán trước được nó sẽ có dạng gì. Nhưng một khi con đường đã được chọn, một khi cấu trúc mới hình thành, thì quyết định luận lại chi phối thêm một lần nữa.
    Một trong những ví dụ về điều trên là xem con mối tạo ra các tổ mối có cấu trúc cao từ hoạt động dường như chẳng có cấu trúc gì cả. Tổ mối cho thấy những gì bắt đầu với hoạt động ngẫu nhiên trở thành các cấu trúc không ngẫu nhiên tí nào và rất tinh tế. Đó là trật tự từ hỗn độn. Thay vì bị khóa vào trong một vũ trụ khép kín hoạt động giống như một đồng hồ cơ khí, chúng ta đang ở trong một hệ thống linh động mà trong đó luôn luôn có khả năng về sự mất ổn định dẫn đến thuyết cơ khí mới. Chúng ta thực sự có "một vũ trụ mở rộng".
    Khi chúng ta vượt qua cách suy nghĩ về nguyên nhân ở Làn sóng thứ hai, khi chúng ta bắt đầu nghĩ theo nghĩa ảnh hưởng qua lại, nghĩ về khuếch đại và suy giảm, nghĩ về sự phá vỡ hệ thống và bước nhảy cách mạng đột ngột, nghĩ về cấu trúc tiêu tán và sự hợp nhất của ngẫu nhiên và tất yếu, thì chúng ta đang đi vào một nền văn hóa hoàn toàn mới, nền văn hóa của Làn sóng thứ ba. Nền văn hoá mới này được định hướng để thay đổi và phát triển đa dạng, nó cố gắng hợp nhất cái quan điểm mới về thiên nhiên, về tiến hóa và tiến bộ, những khái niệm mới, phong phú về thời gian và không gian, và sự hợp nhất về thuyết rút gọn với thuyết toàn thể, với thuyết nguyên nhân mới.
     
  3. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 22

    SỰ TAN VỠ VỀ QUỐC GIA
    Vào thời điểm khi những ngọn lửa chủ nghĩa quốc gia cháy bùng trên khắp thế giới, khi các phong trào giải phóng quốc gia xuất hiện ở những nơi như Êtiôpi và Philippin, khi các quần đảo nhỏ như Đôminica ở biển Caribê hoặc đảo Fiji ở Nam Thái Bình Dương tuyên bố độc lập và gửi phái đoàn đến Liên Hợp Quốc, thì một điều kỳ lạ đang xảy ra trong thế giới công nghệ cao : thay vì những quốc gia mới xuất hiện, các quốc gia cũ đang có mối nguy hiểm bị chia tách.
    Khi Làn sóng thứ ba lan tràn trên trái đất, tổ chức chính trị then chốt của kỷ nguyên Làn sóng thứ hai là nhà nước-quốc gia bị gây áp lực từ trên xuống và từ dưới lên. Một số lực lượng tìm cách chuyển giao quyền lực chính trị hướng từ nhà nước - quốc gia xuống các vùng và các nhóm quốc gia. Số khác tìm cách chuyển quyền lực hướng từ quốc gia lên cho các cơ quan hoặc tổ chức đa quốc gia. Các quá trình đó kết hợp với nhau đang biến sự tan vỡ của các quốc gia công nghệ cao thành những đơn vị nhỏ hơn và ít quyền lực hơn.
    NGƯỜI ABKHAZIAN VÀ NGƯỜI TEXAS
    Ở Pháp, đảo Corse đòi độc lập, vùng Bretagne đòi ly khai, vùng Alsace và Lorraine đòi tự quyết. Ở Anh, chủ nghĩa quốc gia Scotland nổi lên đòi tự trị, vùng Wales cũng thế. Ở Bỉ, sự căng thẳng giữa các nhóm Wallooa, Flemish và Bruxelloise đang tăng. Ở Đức người vùng Sudeten Germans đòi quay trở về với Tiệp Khắc. Các nhóm Nam Tư ở Ý, người Slovene ở Áo, người Basque và Catalan ở Tây Ban Nha, người Croatian ở Nam Tư, và hàng chục nhóm khác ở châu Âu đang gây áp lực liên tục.
    Ở bên kia Đại Tây Đương, Canada có vấn đề Québec đòi ly khai. Bên kia Thái Bình Dương, Ốtxtrâylia và Niu Dilân cũng gặp vấn đề các vùng đòi tự trị. Ở Liên Xô, các nước cộng hòa Armenia, Grudia... đòi tự trị. Ngay cả trong nước cộng hòa Grudia, nhóm Abkhazian cũng đòi quyền lợi của họ. Ở Mỹ, bang Texas đòi tự trị.
    Những tiếng nói chống đối này trên khắp thế giới có ý nghĩa gì, đấy là chưa kể đến phản đối và bạo động. Câu trả lời không nhầm lẫn vào đâu được : những căng thẳng nội bộ trong các quốc gia sinh ra từ cuộc cách mạng công nghiệp. Một số căng thẳng này rõ ràng xuất phát từ cuộc khủng hoảng năng lượng và nhu cầu dịch chuyển từ cơ sở năng lượng Làn sóng thứ hai sang cơ sở năng lượng Làn sóng thứ ba. Các căng thẳng khác xuất phát từ xung đột trong việc chuyển tiếp từ cơ sở công nghiệp Làn sóng thứ hai sang cơ sở công nghiệp Làn sóng thứ ba. Ở một số nơi thì sự phát triển các nền kinh tế vùng hoặc khu vực lại rộng lớn hơn, phức tạp hơn và khác biệt hơn nền kinh tế quốc gia. Nhưng điều đó tạo thành bệ phóng kinh tế cho các phong trào ly khai hoặc đòi tự quyết.
    Nhưng dù là dưới dạng chủ trương ly khai, chủ trương phân vùng, chủ trương hai ngôn ngữ hay chủ trương phân quyền đi nữa thì những lực ly tâm này vẫn được sự ủng hộ của quần chúng vì các chính phủ quốc gia không thể đáp ứng linh hoạt sự phi đại chúng hóa nhanh chóng của xã hội. Khi xã hội đại chúng của kỷ nguyên công nghiệp phân hoá dưới tác động của Làn sóng thứ ba, các nhóm tôn giáo, địa phương, dân tộc, xã hội phát triển ít giống nhau. Những điều kiện và nhu cầu khác nhau. Cá nhân cũng phát hiện hoặc xác nhận lại sự khác biệt của họ.
    Khi các công ty gặp các vấn đề trên, họ giải quyết bằng việc giới thiệu sự đa dạng các sản phẩm của họ hoặc bằng chính sách "chia cắt thị trường". Ngược lại, các chính phủ quốc gia thấy khó khăn đưa ra các chính sách theo nguyện vọng của nhân dân. Bị gắn chặt vào trong các cấu trúc chính trị và quan liêu Làn sóng thứ hai, họ thấy không thể có biện pháp khác nhau cho từng vùng, từng tôn giáo, từng dân tộc, từng xã hội, từng giới tính. Khi các điều kiện trở thành đa dạng, các nhà lãnh đạo quốc gia vẫn không hay biết gì về những nhu cầu địa phương thay đổi nhanh. Nếu họ thử xác định những nhu cầu đặc biệt hoặc địa phương hóa này, họ sẽ bị sa lầy trong các số liệu quá chi tiết và không thể tiêu hóa nổi.
    Do đó, các chính phủ quốc gia ở Oasintơn, Luân Đôn, Pari hoặc Mátxcơva tiếp tục áp đặt các chính sách giống nhau, tiêu chuẩn hóa, được thiết kế cho một xã hội đại chúng ngày càng chia cắt và khác nhau. Những nhu cầu địa phương và cá nhân thường hay bị quên hoặc không được biết đến, điều đó đã gây ra ngọn lửa phẫn uất. Khi sự phi-đại chúng hóa tiến triển, thì các lực lượng ly khai tăng cường hoạt động và đe dọa sự thống nhất của nhiều quốc gia - nhà nước.
    Làn sóng thứ ba gây áp lực rất lớn đối với quốc gia - nhà nước từ dưới lên.
    TỪ TRÊN XUỐNG
    Cùng lúc đó, chúng ta thấy có những áp lực mạnh mẽ tác động đến quốc gia - nhà nước từ bên trên. Làn sóng thứ ba mang đến những vấn đề mới, cấu trúc mới về thông tin, và những diễn viên mới trên vũ đài thế giới, tất cả những cái đó làm giảm bớt quyền lực của từng quốc gia - nhà nước.
    Giống như trước nhiều vấn đề quá nhỏ hoặc mang tính địa phương quá hẹp, các chính phủ quốc gia khó có thể xử lý có hiệu quả, đồng thời đang nổi lên nhiều vấn đề mới quá lớn mà bất kỳ quốc gia nào nếu chỉ một mình cũng không thể đối phó nổi. Nhà nước quốc gia vốn tự xem họ có quyền lực tuyệt đối, thì bây giờ tỏ ra quá nhỏ bé để có vai trò thật sự ở cấp toàn cầu. Không một nhà nước nào trong số 28 nhà nước châu Âu lại có thể đảm bảo quốc phòng, sự thịnh vượng, nguồn tài nguyên công nghệ, ngăn chặn chiến tranh nguyên tử và thảm họa sinh thái, Mỹ, Liên Xô và Nhật cũng vậy.
    Những liên kết kinh tế chặt chẽ giữa các quốc gia làm cho từng chính phủ quốc gia không thể quản lý nền kinh tế riêng của họ một cách độc lập hoặc hạn chế lạm phát được. Nếu một chính trị gia nào tuyên bố rằng các chính sách đối nội của họ có thể chặn đứng lạm phát hoặc "quét sạch thất nghiệp" thì họ hoặc là ngây thơ hoặc là nói dối, vì bây giờ hầu hết các căn bệnh "truyền nhiễm" kinh tế đang vượt qua các biên giới quốc gia. Cái vỏ kinh tế của quốc gia - nhà nước càng ngày càng bị thâm nhập dễ dàng. Hơn thế nữa, các biên giới quốc gia đã không thể ngăn chặn các luồng chảy kinh tế thì cũng không thể ngăn chặn các lực môi trường. Nếu nhà máy hóa chất Thụy Sĩ đổ chất thải vào Sông Rhine, ô nhiễm sẽ chảy qua Đức, Hà Lan và ra biển Bắc. Cả Đức và Hà Lan không thể đảm bảo chất lượng đường sông của họ. Dầu tràn ra từ các tàu chở dầu, ô nhiễm không khí, thay đổi thời tiết không cố ý, phá rừng, và những hoạt động khác vượt qua các biên giới quốc gia.
    Hệ thống thông tin mới toàn cầu giúp thâm nhập tin tức từ bên ngoài vào mỗi quốc gia. Nhưng hình thức thâm nhập văn hóa Làn sóng thứ hai này là nhỏ so với hình thức thâm nhập văn hóa Làn sóng thứ ba dựa trên vệ tinh, computơ, máy fax, hệ thống cáp tự tác động qua lại và đài mặt đất. Có thể tấn công một quốc gia bằng cách giới hạn luồng tin tức - cắt liên lạc giữa trụ sở chính và chi nhánh ở nước ngoài của một công ty đa quốc gia, xây các bức tường tin tức xung quanh một quốc gia. Một thuật ngữ mới đang ghi vào từ ngữ quốc tế : "chủ quyền tin tức".
    Biên giới quốc gia đóng cửa như thế nào và trong bao lâu ? Sự di chuyển tiến về cơ sở công nghiệp Làn sóng thứ ba đòi hỏi sự phát triển hệ thống tin tức mở rộng và nhạy bén, sự ngăn chặn tin tức của một quốc gia có thể ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của họ. Hơn thế nữa, mỗi phát minh công nghệ đều có những cách riêng để thâm nhập vào các quốc gia.
    Tất cả những phát triển như thế - những vấn đề kinh tế mới, những vấn đề môi trường mới, và những công nghệ thông tin mới - đang hội tụ để làm suy giảm vị trí quốc gia - nhà nước.
    CÔNG TY TOÀN CẦU
    Một trong những lực lượng mới xuất hiện trên vũ đài thế giới thách thức quyền lực quốc gia là công ty xuyên quốc gia, thường được gọi là công ty đa quốc gia.
    Những gì chúng ta thấy trong 25 năm vừa qua là sự toàn cầu hóa phi thường về sản xuất, không phải chỉ dựa trên việc xuất khẩu nguyên liệu hoặc hàng hóa sản xuất từ nước này sang nước khác, mà còn dựa trên việc tổ chức sản xuất vượt qua biên giới quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể nghiên cứu ở một nước, sản xuất các yếu tố của sản phẩm ở một nước khác, lắp ráp chúng ở một nước thứ ba, bán hàng hoá sản xuất tại một nước thứ tư, gửi tiền lãi ở một nước thứ năm v.v... Nó có thể có chi nhánh ở hàng chục nước. Tầm vóc, sự quan trọng và quyền lực chính trị của tổ chức mới này trên phạm vi toàn cầu đã tăng tiến kể từ giữa những năm 50. Ngày nay có ít nhất 10.000 công ty ở các nước công nghệ cao không cộng sản có chi nhánh của họ ở nước ngoài. Trên 2.000 công ty có chi nhánh trong 6 hoặc nhiều nước khác.
    Công ty đa quốc gia là phát minh tư bản, song lại có chừng 50 công ty đa quốc gia xã hội chủ nghĩa hoạt động ở các nước COMECON, đặt đường ống dẫn dầu, chế tạo hóa chất, chiết xuất kali cácbônát và amiăng, vận hành đường tàu biển. Hơn thế nữa, các ngân hàng và cơ quan tài chính xã hội chủ nghĩa, từ Ngân hàng quốc gia Mátxcơva đến Tổng công ty bảo hiểm Hắc Hải và Ban-tích, tiến hành kinh doanh ở Zurich, Viên, Luân Đôn, Frankfurt, hoặc Pari. Một số nhà lý thuyết mácxít xem việc "quốc tế hóa sản xuất" là tất yếu và "tiến bộ".
    Các công ty đa quốc gia không phải chỉ có ở các quốc gia giàu có. 25 nước trong hệ thống kinh tế châu Mỹ latinh gần đây đã thành lập các công ty đa quốc gia của riêng họ trong lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp, nhà ở giá thấp và vốn hàng hóa. Sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia làm thay đổi vị trí của quốc gia - nhà nước trên hành tinh.
    Các nhà mácxít có khuynh hướng xem các chính phủ quốc gia như là đầy tớ của các công ty, và hay nhấn mạnh về quyền lợi chung giữa hai tổ chức trên, thế nhưng công ty đa quốc gia thường có quyền lợi riêng và có thể chống lại quyền lợi của quốc gia gốc của họ, và ngược lại. Các công ty đa quốc gia Anh vi phạm lệnh cấm vận của Anh. Các công ty đa quốc gia Mỹ vi phạm điều lệ Mỹ liên quan đến sự tẩy chay của Ả Rập về các công ty Do Thái. Sự trung thành đối với quốc gia tan biến nhanh chóng khi cơ hội xuất hiện ở nơi khác, nên các công ty đa quốc gia chuyển giao công việc từ nước này sang nước khác, tránh được những ràng buộc môi-trường, kích động nước này chống nước khác.
    Trong ma trận này, quyền lực một thời là độc quyền của quốc gia - nhà nước thì nay bị giảm rõ ràng. Thực vậy, các công ty đa quốc gia phát triển quá lớn đến nỗi chúng có những đặc tính giống như quốc gia - nhà nước, gồm cả bộ phận giống như ngoại giao đoàn và các cơ quan tình báo vô cùng hữu hiệu riêng của họ.
    Đôi khi hợp tác với quốc gia "gốc" của họ, đôi khi lợi dụng nó, đôi khi thực hiện chính sách của nó, đôi khi dùng nó để thực hiện chính sách của họ, các công ty đa quốc gia không tốt cũng không xấu. Nhưng với khả năng ngăn chặn không cho hàng tỉ đôla chạy qua lại giữa các quốc gia, với quyền lực triển khai và di chuyển nhanh công nghệ, các công ty đa quốc gia thường qua mặt các chính phủ quốc gia.
    Theo nghĩa hệ thống quyền lực toàn cầu, sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia lớn đã làm giảm vai trò quốc gia - nhà nước vào đúng lúc những áp lực ly tâm từ bên dưới khiến quốc gia - nhà nước có nguy cơ tan rã.
    MẠNG T XUẤT HIỆN
    Ngoài công ty đa quốc gia, chúng ta còn thấy các nhóm khác xuất hiện như liên hiệp thương mại đa quốc gia ; các phong trào tôn giáo, văn hóa và chủng tộc vượt qua biên giới quốc gia và liên kết với nhau ; phong trào chống vũ khí hạt nhân đã tổ chức biểu tình ở nhiều nước châu Âu cùng một lúc ; việc ra đời của các nhóm, các đảng phái chính trị đa quốc gia. Song song với những phát triển này là sự sinh sôi nảy nở nhanh của các hội đa quốc gia phi-chính phủ. Những nhóm như thế quan tâm đến mọi thứ từ giáo dục đến khai thác đại dương, từ thể thao đến khoa học, từ nghề làm vườn đến cứu trợ thiên tai. Nếu Liên Hợp Quốc là một tổ chức thế giới thì những nhóm này tạo thành "tổ chức thế giới thứ hai". Chúng quan hệ với nhau theo ngành dọc, chúng quan hệ với địa phương, khu vực, quốc gia và các nhóm khác đến với nhau dưới cùng tổ chức đa quốc gia. Chúng cũng liên hệ ngang thông qua côngsoóctiom, ủy ban liên tổ chức và lực lượng đặc nhiệm. Các tổ chức này tạo thành mạng đa quốc gia (hoặc mạng T) để thêm một chiều khác vào hệ thống thế giới Làn sóng thứ ba đang hình thành.
    Vai trò quốc gia - nhà nước lại càng bị giảm khi các quốc gia buộc phải tự thành lập các cơ quan siêu quốc gia. Các nhà nước - quốc gia đấu tranh để duy trì càng nhiều chủ quyền và khả năng tự do hành động càng tốt. Nhưng dần dần họ bị buộc phải chấp nhận những giới hạn mới về sự độc lập của họ. Ví dụ các nước châu Âu bị buộc phải tạo ra thị trường chung, để dần dần tạo ra quốc hội châu Âu, hệ thống tiền tệ châu Âu, các cơ quan chuyên ngành châu Âu.
    Thị trường chung châu Âu là một ví dụ về sức hút quyền lực cho một cơ quan siêu quốc gia. Nhưng đây không phải là ví dụ duy nhất. Các nhóm hoặc các côngsoóctiom của ba hoặc nhiều nước thành lập các tổ chức liên chính phủ (IGO). Chúng gồm các tổ chức như Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), Tổ chức năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Tổ chức cà phê quốc tế (ICO), hoặc Hội thương mại tự do châu Mỹ La tinh (LAFTA), hoặc OPEC.
    Thông qua các tổ chức IGO này, quốc gia - nhà nước tìm cách đối phó với những vấn đề lớn hơn vấn đề quốc gia, trong khi duy trì tối đa sự kiểm soát quyết định ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, dần dần quyền lực được chuyển giao cho các tổ chức siêu quốc gia, nếu không thì các quyết định của quốc gia - nhà nước cũng bị giới hạn rất nhiều.
    Nói tóm lại, từ việc xuất hiện của các công ty đa quốc gia, các hiệp hội đa quốc gia, và sự thành lập các IGO, chúng ta thấy sự phát triển đều đi theo cùng một hướng. Các quốc gia ngày càng ít khả năng hành động độc lập - họ đang mất dần chủ quyền.
    Ý THỨC TOÀN CẦU
    Từ khi có Làn sóng thứ ba các quốc gia - nhà nước bị thu hẹp nó phản ánh sự xuất hiện của một nền kinh tế toàn cầu kiểu mới. Quốc gia - nhà nước đã là cái khuôn khổ chính trị cần thiết cho nền kinh tế tầm cở quốc gia. Ngày nay cái khuôn đó không những bị rò rỉ mà còn bị lỗi thời bởi chính những thành công của nó. Đầu tiên là do sự lớn lên của các nền kinh tế khu vực khi nó kết hợp những nền kinh tế quốc gia. Thứ hai là do nền kinh tế thế giới đã nổ bùng trên quy mô lớn và đang có những hình thức mới kỳ lạ.
    Như thế nền kinh tế toàn cầu mới bị các công ty đa quốc gia lớn thống trị. Nó được phục vụ bởi công nghệ tài chính và nhà băng hoạt động theo tốc độ điện tử. Nó sinh sản tiền bạc và tín dụng mà không quốc gia nào có thể điều chỉnh được. Nó tiến đến sử dụng các loại tiền tệ đa quốc gia, không phải duy nhất một thứ tiền tệ thế giới mà là sự đa dạng các loại tiền tệ. Nó bị xâu xé bởi một cuộc xung đột thế giới giữa những người cung cấp và những người sử dụng tài nguyên. Nó là một nền kinh tế hỗn hợp, với các công ty tư bản tư nhân và xã hội chủ nghĩa nhà nước tạo thành các liên doanh và làm việc cạnh nhau. Và ý thức hệ của nó không phải là thuyết tự lực cánh sinh hoặc chủ nghĩa mácxít, mà là thuyết toàn cầu, đấy là thuyết làm cho chủ nghĩa quốc gia trở thành lỗi thời.
    Giống như Làn sóng thứ hai đã tạo ra những người có quyền lợi lớn hơn quyền lợi địa phương và trở thành nền tảng cho ý thức hệ quốc gia chủ nghĩa, Làn sóng thứ ba cũng sinh ra các nhóm có quyền lợi lớn hơn quyền lợi quốc gia. Các nhóm này tạo thành nền tảng của ý thức hệ toàn cầu đang hình thành và thường được gọi là "ý thức toàn cầu".
    Ý thức này được chia sẻ bởi các nhà quản trị đa quốc gia, những người đấu tranh bảo vệ môi trường, các nhà tài chính, các nhà cách mạng, các nhà trí thức, các nhà thơ và họa sĩ. Thuyết toàn cầu phát ngôn cho cả thế giới giống như chủ nghĩa quốc gia phát ngôn cho cả quốc gia. Và sự xuất hiện của nó được xem như là cần thiết cho sự tiến hóa, một bước gần hơn tới "ý thức vũ trụ" sẽ bao trùm tất cả.
    Nói tóm lại, ở bất kỳ lĩnh vực nào, từ kinh tế và chính trị đến tổ chức và ý thức hệ, chúng ta đang chứng kiến một sự tấn công tàn phá từ bên trong và từ bên ngoài vào cột trụ của nền văn minh Làn sóng thứ hai : quốc gia - nhà nước.
    Vào đúng thời điểm lịch sử khi nhiều nước nghèo đang đấu tranh một cách tuyệt vọng để thành lập tính đồng nhất quốc gia vì tính chất là một quốc gia trong quá khứ đã là cần thiết cho việc công nghệ hóa thành công, thì các nước giàu đang chạy đua vượt qua chủ nghĩa công nghiệp, đang giảm bớt, đang thay thế, đang làm giảm cấp vai trò của quốc gia.
    HUYỀN THOẠI VÀ PHÁT MINH
    Ngày nay không ai có thể biết hệ thống thế giới sẽ như thế nào, loại thiết chế mới gì sẽ hình thành để lập được trật tự khu vực hoặc toàn cầu. Nhưng có thể làm rõ một số huyền thoại phổ biến.
    Huyền thoại đầu tiên cho rằng thế giới sẽ bị chia cắt và do các công ty đa quốc gia điều hành. Hình ảnh đơn giản này dựa trên các phép ngoại suy trực tiếp từ các luật lệ Làn sóng thứ hai : chuyên môn hóa, tối đa hóa và tập quyền hóa. Hình ảnh này dựa trên hình ảnh lỗi thời Làn sóng thứ hai về công ty là gì và nó được cấu trúc như thế nào ?
    Huyền thoại thứ hai cho rằng hành tinh sẽ do một chính phủ thế giới trung ương điều hành. Nghĩa là có một thiết chế hoặc chính phủ như "Hợp chủng quốc thế giới" hoặc "Nhà nước vô sản hành tinh". Đây cũng là một tư tưởng đơn giản của các nguyên tắc Làn sóng thứ hai.
    Như thế trong tương lai không phải dạng công ty đa quốc gia hoặc chính phủ toàn cầu thống trị mà là một hệ thống phức tạp tương tự như các tổ chức ma trận đang xuất hiện trong một số nước công nghiệp tiên tiến. Ví dụ, có thể có tổ chức ma trận đại dương gồm nhà nước - quốc gia, khu vực, thành phố, công ty, tổ chức môi trường, các nhóm khoa học và những nhóm khác có sự quan tâm đến biển. Khi thay đổi xảy ra, các nhóm mới xuất hiện và gia nhập vào ma trận, trong lúc đó có nhóm rời bỏ tổ chức. Các cấu trúc tổ chức tương tự như thế được thành lập để giải quyết các vấn đề khác như ma trận không gian, ma trận thực phẩm, ma trận giao thông, ma trận năng lượng v.v...
    Nói tóm lại chúng ta đang di chuyển về một hệ thống thế giới gồm các đơn vị quan hệ qua lại với nhau mật thiết giống như các nơron trong bộ não chứ không phải là tổ chức giống như cục, phòng của hệ thống quan liêu.
     
  4. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 23

    GANDHI VỚI VỆ TINH
    Vào giai đoạn cuối, nền văn minh công nghiệp bỏ lại phía sau một thế giới trong đó 1/4 nhân loại sống trong sự giàu có tương đối, ba phần tư sống trong sự nghèo khổ tương đối - và 800 triệu người mà Ngân hàng thế giới gọi là "vô cùng nghèo". 700 triệu người thiếu ăn và 550 triệu người mù chữ. Chừng 1.200 triệu người không được chăm sóc y tế hoặc không có nước uống trong sạch.
    Nó bỏ lại phía sau một thế giới chừng 20 đến 30 quốc gia công nghiệp phụ thuộc vào các nguồn năng lượng và nguyên liệu rẻ mạt để họ có được thành công kinh tế. Nó bỏ lại một hạ tầng cơ sở toàn cầu - Quỹ tiền tệ quốc tế, GATT, Ngân hàng thế giới và COMECON - đã điều hành kinh doanh và tài chính vì quyền lợi của các cường quốc Làn sóng thứ hai. Nó bỏ lại nhiều nước nghèo với nền kinh tế phục vụ nhu cầu của những nước giàu.
    Làn sóng thứ ba không phải chỉ chấm dứt sự thống trị của Làn sóng thứ hai, nó còn làm bùng nổ tất cả những tư tưởng truyền thống của chúng ta về việc chấm dứt nghèo khổ trên hành tinh.
    CHIẾN LƯỢC LÀN SÓNG THỨ HAI
    Từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX một chiến lược độc nhất đã tập trung hầu hết những cố gắng làm giảm khoảng cách giữa nước giàu và nghèo của thế giới. Có thể gọi đây là chiến lược Làn sóng thứ hai.
    Chiến lược này bắt đầu với tiền đề rằng các xã hội Làn sóng thứ hai là đỉnh cao của sự tiến bộ, tiến hóa và rằng để giải quyết vấn đề của họ, tất cả những xã hội khác phải tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp giống như đã xảy ra ở phương Tây, ở Liên Xô hoặc ở Nhật. Sự tiến bộ gồm việc di chuyển hàng triệu người ra khỏi nông nghiệp để đưa vào sản xuất hàng loạt. Sự tiến bộ yêu cầu đô thị hóa, tiêu chuẩn hóa, và các nguyên tắc khác của Làn sóng thứ hai. Nói tóm lại, sự phát triển liên quan đến sự bắt chước trung thành của một mô hình đã thành công. Các chính phủ từ nước này sang nước khác đã cố gắng thực hiện phương án này. Một số nước như Nam Triều Tiên hoặc Đài Loan, nơi có những điều kiện đặc biệt tác động mạnh, thì dường như thành công trong việc thiết lập một xã hội Làn sóng thứ hai. Nhưng các nước khác lại gặp phải thảm họa.
    Những thất bại này trong một loạt nước đã bị bần cùng hóa thường được đổ cho nhiều lý do khác nhau. Chủ nghĩa thực dân mới. Kế hoạch sai. Tham nhũng. Tôn giáo lạc hậu. Chủ nghĩa bè phái. Công ty siêu quốc gia CIA. Trì trệ. Nóng vội. Thế nhưng, dù lý do gì đi nữa, sự việc là công nghiệp hóa theo mô hình Làn sóng thứ hai thất bại nhiều hơn là thành công.
    Iran là một ví dụ điển hình. Nhà vua Iran muốn làm cho Iran trở thành một quốc gia công nghiệp tiên tiến trong vùng Trung Đông bằng cách chạy theo chiến lược Làn sóng thứ hai từ năm 1975. Những gì xảy ra ở Iran là chung cho các nước khác đang theo đuổi chiến lược Làn sóng thứ hai từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ La tinh.
    Sự sụp đổ của chế độ vua Ba Tư ở Têhêran đã gây ra những cuộc tranh luận rộng rãi ở các thủ đô từ Manila đến Mêhicô City. Một câu hỏi được đặt ra là nhịp điệu thay đổi. Nhịp điệu có phải quá nhanh hay không ? Có phải người Iran đang bị cú sốc tương lai hay không ? Với lợi nhuận về dầu hỏa, chính phủ có thể nhanh chóng tạo ra một giai cấp trung lưu rộng lớn đủ để tránh được cuộc biến động cách mạng hay không ? Nhưng thảm kịch Iran và sự thay thế chế độ vua Ba Tư bằng một chính trị thần quyền đàn áp buộc chúng ta phải xem lại các tiền đề cơ bản của chiến lược Làn sóng thứ hai. Sự công nghiệp hóa cổ điển có phải là con đường duy nhất dẫn đến tiến bộ hay không ? Có nghĩa gì không trong việc bắt chước mô hình công nghiệp vào đúng lúc tự nền văn minh công nghiệp đang hấp hối ?
    MÔ HÌNH THÀNH CÔNG BỊ TAN VỠ
    Chừng nào mà các quốc gia Làn sóng thứ hai vẫn còn "Thành công", nghĩa là ổn định, giàu có và trở thành giàu có hơn, thì rất dễ xem họ như là một mô hình cho các nước còn lại trên thế giới. Tuy nhiên vào cuối những năm 60, cuộc tổng khủng hoảng của chủ nghĩa công nghiệp đã bùng nổ.
    Đình công, mất điện, suy sụp, tội ác, và kiệt sức tâm lý lan tràn khắp thế giới Làn sóng thứ hai. Hệ thống năng lượng và gia đình bị lung lay. Hệ thống giá trị và cấu trúc đô thành sụp đổ. Ô nhiễm, tham nhũng, lạm phát, bất hòa, cô đơn, kỳ thị chủng tộc, quan liêu, ly dị, thuyết tiêu thụ vô tâm, tất cả đều bị tấn công dữ dội. Các nhà kinh tế cảnh cáo về khả năng sụp đổ hoàn toàn hệ thống tài chính.
    Trong lúc đó phong trào môi trường toàn cầu cảnh cáo rằng ô nhiễm, năng lượng và giới hạn tài nguyên trong thời gian ngắn sẽ làm các nước Làn sóng thứ hai không thể nào tiếp tục hoạt động bình thường. Ngay cả nếu có phép lạ nào đó, chiến lược Làn sóng thứ hai thành công trong các quốc gia nghèo thì nó sẽ biến đổi cả hành tinh thành một nhà máy khổng lồ và tàn phá sinh thái.
    Một sự phát triển khác cũng phá tan niềm tin, rằng chiến lược Làn sóng thứ hai là con đường duy nhất dẫn đến giàu có. Trong chiến 1ược này luôn luôn có nhận thức ẩn ngầm rằng "đầu tiên phải phát triển, sau đó là giàu có", phồn vinh là kết quả của làm việc tận tụy, tiết kiệm, đạo đức tin lành và một quá trình lâu dài biến đổi kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, sự cấm vận của OPEC và sự tràn ngập đột ngột đôla đầu tư vào Trung Đông đã lật nhào chiến lược trên. Chỉ trong vài tháng hàng tỉ đôla đổ vào Iran, Saudi Arabia, Kuwait, Libya và các nước Ả Rập khác, và thế giới đã thấy của cải vô tận đi trước chứ không phải đi sau sự biến đổi. Ở Trung Đông, chính tiền tạo ra sự "phát triển" chứ không phải sự "phát triển" đã tạo ra tiền. Trên một qui mô rộng lớn chưa bao giờ có chuyện như thế xảy ra.
    CHIẾN LƯỢC LÀN SÓNG THỨ NHẤT
    Do những thất bại của chiến lược Làn sóng thứ hai, do các nước nghèo đòi hỏi xem xét lại toàn bộ nền kinh tế toàn cầu, và do các nước giàu lo lắng về chính tương lai của họ, nên các nước giàu trong những năm 70 bắt đầu thiết kế một chiến lược mới cho các nước nghèo. Nhiều chính phủ và "các cơ quan phát triển" gồm cả Ngân hàng thế giới, Cơ quan phát triển quốc tế và Hội đồng phát triển nước ngoài đã lập phương án có thể gọi là chiến lược Làn sóng thứ nhất.
    Chiến lược này gần như là sự đảo ngược của chiến lược Làn sóng thứ hai : Thay vì bòn rút nông dân và buộc họ phải vào các thành phố, chiến lược này quan tâm đến sự phát triển nông thôn. Thay vì xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, nó thúc giục tự cung tự cấp. Thay vì thúc ép tăng tổng sản phẩm thu nhập quốc dân, hy vọng phúc lợi đến với các nước nghèo, nó tìm các nguồn tài nguyên thỏa mãn trực tiếp "các nhu cầu cơ bản của con người". Thay vì đẩy mạnh sự phát triển các công nghệ tiết kiệm lao động, nó khuyến khích loại sản xuất cần nhiều lao động với các yêu cầu thấp về vốn, năng lượng và tay nghề. Thay vì xây dựng các nhà máy cán thép khổng lồ hoặc các nhà máy qui mô lớn ở thành phố, nó cổ vũ các cơ sở phân tán và qui mô nhỏ được thiết kế cho làng xã.
    Bằng việc làm đảo ngược các lập luận Làn sóng thứ hai, những người ủng hộ chiến lược Làn sóng thứ nhất, cho thấy rằng nhiều nền công nghệ công nghiệp là một tai họa khi chuyển giao cho các nước nghèo. Máy móc bị hỏng và không được sửa chữa. Họ cần các nguyên liệu nhập khẩu giá cao. Lao động được đào tạo không đủ. Do đó, những gì cần thiết là "công nghệ thích hợp", hay còn được gọi là "công nghệ trung gian". Các trung tâm của sự phát triển cho những công nghệ như thế nhanh chóng xuất hiện khắp nơi ở Mỹ và châu Âu. Nhóm phát triển công nghệ trung gian được thành lập năm 1965 ở Anh có thể được xem là một mô hình đầu tiên. Nhưng các nước đang phát triển cũng tạo ra những trung tâm như thế và bắt đầu đưa ra những cải tiến công nghệ qui mô nhỏ.
    Chiến lược Làn sóng thứ nhất cũng đã được áp dụng trên cơ sở rộng lớn hơn. Năm 1978 khi chính phủ Ấn Độ đang còn bị quay cuồng vì giá dầu và phân bón tăng cùng với nỗi khát vọng của các chiến lược Làn sóng thứ hai do Nehru và Indira Gandhi đề xướng, thì họ cấm việc phát triển xa hơn công nghệ dệt cơ khí và thúc giục tăng sản xuất vải bằng khung cửi chứ không phải bằng máy móc. Ý đồ không những chỉ để tăng thêm việc làm mà còn làm chậm lại việc đô thị hóa bằng cách biệt đãi công nghiệp nông thôn.
    Công thức mới này dường như có lý vô cùng. Vì nó làm chậm lại sự di dân ào ạt vào thành phố. Vì nó làm cho làng xã có thể sống được. Vì nó nhạy cảm với các nhân tố sinh thái. Vì nó nhấn mạnh việc sử dụng các nguồn tài nguyên địa phương rẻ hơn là hàng nhập khẩu đắt giá. Vì nó thách thức khái niệm "hiệu quả" truyền thống và hẹp hòi. Vì nó đề nghị cách giải quyết vấn đề công nghệ cho sự phát triển bằng cách chú ý đến văn hóa và phong tục. Vì nó nhằm cải thiện các điều kiện của những nước nghèo hơn là đưa vốn qua tay những nước giàu.
    Thế nhưng với những ưu điểm đã có, công thức Làn sóng thứ nhất vẫn giữ nguyên trạng, mặc dù là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện Làn sóng thứ nhất, nhưng thực tế đã không quan tâm đến việc biến đổi chúng. Đây không phải là cách chữa bệnh tận gốc như nhiều chính phủ trên thế giới nhận thức. Tổng thống Suhato của Inđônêxia phát biểu quan điểm đã được thừa nhận rộng rãi khi ông ta tố cáo rằng một chiến lược như thế có thể là dạng đế quốc mới. Nếu phương Tây chỉ đóng góp cho những dự án cơ sở qui mô nhỏ thì hoàn cảnh của Inđônêkia sẽ đỡ đi một chút, nhưng Inđônêxia sẽ không bao giờ phát triển.
    Tăng việc làm cũng bị tố cáo là phục vụ cho các nước giàu. Các nước nghèo còn nằm trong tình trạng điều kiện Làn sóng thứ nhất càng lâu bao nhiêu thì hàng hóa cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới càng ít bấy nhiêu. Họ gắn chặt với đất đai càng lâu bao nhiêu thì họ ít cần dầu khí và các nguồn tài nguyên hiếm bấy nhiêu, và họ càng yếu và càng ít rắc rối về chính trị bấy nhiêu. Cũng có một nhận thức gia trưởng được hình thành sâu đậm trong chiến lược Làn sóng thứ nhất là trong khi những nhân tố sản xuất khác cần phải được tiết kiệm, thì thời gian và năng lượng của người lao động không cần phải tiết kiệm.
    Tệ hơn nữa là Làn sóng thứ nhất xem thường vai trò của khoa học và công nghệ tiên tiến. Nhiều công nghệ được cho là "thích hợp" thực ra lại còn thô sơ hơn công nghệ cho nông dân Mỹ năm 1776. Hầu hết những gì mà chúng ta bây giờ gọi là "khoa học tiên tiến" đã được các nhà khoa học phát triển trong các nước giàu để giải quyết các vấn đề cho các nước giàu. Có rất ít những nghiên cứu cho các vấn đề hàng ngày của các nước nghèo.
    Ở một số nơi và vào một thời điểm nào đó, chiến lược Làn sóng thứ nhất có thể cải thiện đời sống cho một số lớn dân cư. Thế nhưng có ít bằng chứng cho thấy rằng bằng cách sử dụng các phương pháp tiền cơ khí của Làn sóng thứ nhất, không phải bất kỳ nước nào cũng có thể tạo ra những thay đổi. Thực vậy, rất nhiều bằng chứng cho thấy điều ngược lại. Nước Trung Quốc của Mao Trạch Đông là một ví dụ.
    Nói tóm lại, công thức Làn sóng thứ nhất cũng chỉ là một phương pháp trì trệ và không thể áp dụng được cho tất cả các nước nghèo như chiến lược Làn sóng thứ hai.
    CÂU HỎI LÀN SÓNG THỨ BA
    Sự xuất hiện của Làn sóng thứ ba làm thay đổi tất cả mọi thứ, trong khi không có lý thuyết nào của thế giới công nghệ cao, dù là tư sản hay mácxít để giải quyết các vấn đề của các nước "đang phát triển", và không có mô hình sẵn có nào hoàn chỉnh để chuyển giao, thì một mối quan hệ mới kỳ lạ giữa các xã hội Làn sóng thứ nhất và nền văn minh Làn sóng thứ ba đang nhanh chóng hình thành.
    Chúng ta đã nhìn thấy những cố gắng ngây thơ nhằm "phát triển" các nước Làn sóng thứ nhất bằng việc áp đặt các dạng Làn sóng thứ hai không thích hợp - sản xuất hàng loạt, thông tin đại chúng, giáo dục kiểu nhà máy, chính phủ nghị viện, và quốc gia - nhà nước, v.v... - mà không để cho những nước này hoạt động thành công thì truyền thống gia đình, phong tục hôn nhân, tôn giáo và các cấu trúc vai trò, tất cả đều bị nghiền nát, toàn bộ nền văn hóa bị phá tan đến tận gốc rễ.
    Ngược lại, nền Văn minh Làn sóng thứ ba có nhiều tính chất giống các tính chất trong xã hội Làn sóng thứ nhất như sản xuất phân quyền hóa, qui mô thích hợp, năng lượng có thể phục hồi, phi đô thị hóa, làm việc tại nhà, mức tiêu sản cao, v.v... Có thể nói đó là sự quay lại biện chứng. Ngày nay điều đáng ngạc nhiên là các nền văn minh Làn sóng thứ nhất và Làn sóng thứ ba dường như có gì đó chung với nhau hơn là với nền văn minh Làn sóng thứ hai. Nói tóm lại là chúng hợp với nhau.
    Với sự phù hợp kỳ lạ này, ngày nay liệu các nước Làn sóng thứ nhất có thể sử dụng một số tính chất của nền văn minh Làn sóng thứ ba mà không phải phá tan nền văn hóa của họ hoặc không cần đi qua giai đoạn phát triển Làn sóng thứ hai hay không ? Liệu có nước nào áp dụng các cấu trúc Làn sóng thứ ba tốt hơn là công nghiệp hóa theo cách cổ điển hay không ?
    Có thể nào một xã hội có thể đạt được mức sống cao mà không cần phải tập trung toàn bộ năng lượng của nó cho sản xuất để trao đổi không ? Với những khả năng chọn lựa khác nhau của Làn sóng thứ ba, người ta có thể làm giảm tỉ lệ tử vong trẻ em, làm tăng tuổi thọ, làm giảm nạn mù chữ, làm tăng mức dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống nói chung mà không cần phá tan tôn giáo hoặc giá trị của họ.
    Các chiến lược "phát triển" của ngày mai sẽ không đến từ Oasinhtơn, Mátxcơva, Pari hoặc Giơnevơ, mà đến từ châu Phi, châu Á và châu Mỹ La tinh. Chúng sẽ là bản xứ, phù hợp với nhu cầu địa phương hiện tại. Chúng sẽ không quá nhấn mạnh kinh tế đến mức phải trả giá về sinh thái, văn hóa, tôn giáo hoặc cấu trúc gia đình và tâm lý về sự tồn tại. Chúng sẽ không bắt chước bất kỳ mô hình bên ngoài nào cả. Làn sóng thứ ba sẽ cung cấp cho các nước nghèo nhất cũng như là các nước giàu nhất những cơ hội hoàn toàn mới.
    MẶT TRỜI VÀ MẠCH VI ĐIỆN TỬ
    Sự phù hợp đáng ngạc nhiên giữa nhiều tính chất cấu trúc của các nền văn minh Làn sóng thứ nhất và Làn sóng thứ ba cho thấy rằng có thể kết hợp các yếu tố của quá khứ và tương lai để tạo ra một hiện tại mới tốt hơn trong những thập kỷ sắp đến.
    Ví dụ vấn đề năng lượng. Với cuộc khủng hoảng năng lượng trong những nước đang chuyển tiếp vào nền văn minh Làn sóng thứ ba, người ta thường quên rằng các xã hội Làn sóng thứ nhất cũng đang gặp cuộc khủng hoảng năng lượng của riêng họ. Bắt đầu từ một cơ sở cực kỳ thấp, họ sẽ tạo ra loại hệ thống năng lượng nào ? Chắc chắn họ cần những nhà máy năng lượng lớn dựa vào hầm mỏ tập trung của loại Làn sóng thứ hai. Nhưng thực tế, ngày nay trong nhiều xã hội, nhu cầu bức thiết nhất là năng lượng phân tán cho nông thôn chớ không phải nguồn năng lượng tập trung rộng lớn cho thành phố.
    Những nghiên cứu về nhu cầu năng lượng nông thôn cho thấy mỗi làng xã chỉ cần một nhà máy khí sinh học nhỏ, rẻ tiền sử dụng chất thải của người và súc vật trong làng. Hàng ngàn nhà máy như thế có ích hơn, tiết kiệm hơn và đảm bảo sinh thái hơn so với các nhà máy phát điện to lớn và tập trung. Một loại nhà máy điện khác là nhà máy năng lượng mặt trời đang được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ...
    Cuộc khủng hoảng năng lượng là một phần thất bại của nền văn minh Làn sóng thứ hai, nó đang tạo ra nhiều tư tưởng mới cho việc sản xuất năng lượng cả qui mô nhỏ và qui mô lớn, cả tập trung và phân tán trong các nước nghèo. Có sự giống nhau rõ ràng về một số vấn đề mà các xã hội Làn sóng thứ nhất và Làn sóng thứ ba đang gặp phải. Cả hai xã hội không thể dựa vào hệ thống năng lượng đã được thiết kế cho kỷ nguyên Làn sóng thứ hai.
    Đối với nông nghiệp, người ta có thể tưởng tượng hầu hết nông nghiệp dành cho các nông trại năng lượng - nghĩa là trồng các loại cây để sản xuất năng lượng. Chúng ta cũng có thể thấy sự tụ hội của việc thay đổi thời tiết, máy computơ, vệ tinh giám sát, và công nghệ gen để cách mạng hóa nguồn thực phẩm của thế giới. Các chính phủ Làn sóng thứ nhất phải xem xét những tiềm năng này trong việc lập kế hoạch nông nghiệp dài hạn của họ và phải tìm các cách kết hợp cái cuốc với máy computơ.
    Những công nghệ mới gắn với nền văn minh Làn sóng thứ ba cũng mở ra những khả năng mới. Sự xuất hiện của các nền công nghệ sinh học Siêu-tiên tiến rất có triển vọng biến đổi các xã hộ Làn nóng thứ nhất. Những nền công nghệ như thế bao gồm mọi thứ từ khai thác đại dương đến việc sử dụng côn trùng và những sinh vật khác cho công việc sản xuất, xử lý chất thải xenlulôza thành thịt bằng vi sinh vật và sự biến đổi loại cây như giống cây đại kích thành nhiên liệu không có chất sunphua. Những tiến bộ trong các lĩnh khác cũng đặt lại vấn đề trong cách suy nghĩ truyền thống về phát triển. Một vấn đề nóng bỏng cho các quốc gia Làn sóng thứ nhất là sự thất nghiệp và tình trạng thiếu việc làm. Điều này đã gây ra cuộc tranh luận toàn cầu giữa những người ủng hộ Làn sóng thứ nhất với những người ủng hộ Làn sóng thứ hai. Một bên cho rằng công nghiệp sản xuất hàng loạt không dùng hết lao động, và rằng sự phát triển phải dựa trên các nhà máy qui mô nhỏ và công nghệ thô sơ sử dụng nhiều người hơn, ít vốn và năng lượng hơn. Phía kia thúc giục việc đưa các công nghiệp Làn sóng thứ hai ra khỏi các quốc gia công nghệ tiên tiến - thép, ôtô, giày, dệt, v.v...
    Xây dựng một nhà máy cán thép Làn sóng thứ hai là rất tốn kém. Xây dựng một nhà máy cán thép có thể đó là một chiến lược, song ngày nay với những vật liệu tổng hợp mới có thể bền hơn, cứng hơn và nhẹ hơn nhôm, với vật liệu trong suốt cũng cứng như thép, với ống nhựa thay thế cho ống nước mạ, thì nhu cầu thép còn cần trong bao lâu nữa ? Do đó, thay vì vay tiền hoặc yêu cầu nước ngoài đầu tư để xây dựng nhà máy thép, các nước nghèo phải chuẩn bị từ bây giờ cho "thời đại vật liệu".
    Làn sóng thứ ba đưa đến nhiều khả năng khác. Các nước nghèo có thể bỏ qua công nghiệp qui mô nhỏ Làn sóng thứ nhất hoặc công nghiệp qui mô lớn, tập trung Làn sóng thứ hai để tập trung vào một trong những công nghiệp then chốt Làn sóng thứ ba : vi điện tử.
    Việc nhấn mạnh thái quá về nền công nghiệp cần nhiều lao động với sức sản xuất thấp có thể là cái bẫy cho các nước nghèo. Hiện nay sức sản xuất đang tăng mạnh trong công nghiệp mạch vi điện tử máy computơ, do đó chắc chắn có lợi cho các nước đang phát triển ít vốn sẽ có được lãi lớn so với vốn đầu tư. Hơn thế nữa, sự đa dạng sản phẩm trong ngành vi điện tử có nghĩa là các nước đang phát triển có thể sử dụng nền công nghiệp cơ sở và thích nghi nó dễ dàng hơn với nhu cầu xã hội riêng của họ hoặc nguyên liệu. Công nghệ vi điện tử giúp cho việc phân tán sản xuất. Điều ngày có nghĩa là số dân ở các thành phố lớn sẽ giảm và giá thành giao thông cũng giảm.
    Làn sóng thứ ba cũng đưa nhu cầu giao thông và thông tin vào một viễn cảnh mới. Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, đường sá là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển xã hội, chính trị và kinh tế, ngày nay, một hệ thống thông tin điện tử là cần thiết.
    Giá thành thông tin giảm do thấy có thể sử dụng thông tin thay thế cho nhiều chức năng giao thông. Lắp đặt một hệ thống thông tin tiên tiến mới về lâu dài có thể rẻ hơn, tiêu thụ năng lượng ít hơn và phù hợp hơn là xây dựng hệ thống đường sá đắt giá. Rõ ràng đường sá giao thông là cần thiết, nhưng ở một mức độ nào đó vì sản xuất được phân tán, nên giá thành giao thông có thể được giảm đến mức tối thiểu mà không cô lập các làng mạc với nhau.
    Vấn đề đối với các nước Làn sóng thứ nhất là làm thế nào phân chia nguồn tài nguyên giới hạn giữa viễn thông và giao thông. Nếu có các phương tiện hiện đại Làn sóng thứ ba như vệ tinh, đài mặt đất, máy computơ... các xã hội Làn sóng thứ nhất có thể tránh được những khoản chi tiêu khổng lồ dành cho giao thông mà các nước Làn sóng thứ hai đã phải trả. Cách đây không lâu, Tổng thống Suharto của Inđônêxia đã ấn nút khánh thành hệ thống viễn thông vệ tinh nối các quần đảo của Inđônêxia lại với nhau. Làm như thế, ông ta đã biểu tượng hóa những cách chọn lựa mới mà Làn sóng thứ ba hiến dâng cho các nước đang đi tìm sự biến đổi. Những phát triển giống như thế trong năng lượng, công nghệ và thông tin cho thấy đã có những xã hội mới dựa trên sự hòa nhập của quá khứ và tương lai, của Làn sóng thứ nhất và Làn sóng thứ ba. Như thế có một chiến lược biến đổi dựa trên sự phát triển của các công nghiệp nông thôn, vốn rẻ, thiên về làng xã và một số các công nghệ cao được lựa chọn cẩn thận. Ngày càng có nhiều các nhà tư tưởng có tầm nhìn xa, các nhà phân tích xã hội, các nhà học giả, và các nhà khoa học tin rằng một sự biến đổi như thế đang xảy ra và đang đưa chúng ta đến sự tổng hợp mới rất cơ bản : Gandhi với vệ tinh.
    NHỮNG NGƯỜI TIÊU - SẢN THỰC THỤ
    Tiềm ẩn trong cách đặt vấn đề này là một sự tổng hợp khác ở mức độ sâu hơn. Điều này liên quan đến toàn bộ mối quan hệ kinh tế của con người với thị trường, dù đó là thị trường tư bản hay xã hội chủ nghĩa. Nó buộc chúng ta phải đặt ra vấn đề thời gian toàn bộ và lao động của bất kỳ cá nhân nào dành cho sản xuất là bao nhiêu và dành cho việc tiêu sản là bao nhiêu, nghĩa là thời gian làm việc ăn lương là bao lâu và thời gian làm việc cho chính mình là bao lâu.
    Hầu hết những người Làn sóng thứ nhất đã bị hút vào trong hệ thống tiền tệ. Họ đã bị "thị trường hóa". Nhưng trong khi thu nhập tiền bạc do những người nghèo nhất của thế giới kiếm được có thể là thiết yếu cho sự tồn tại của họ, sản.xuất để trao đổi chỉ là một phần thu nhập của họ ; sự tiêu sản cung cấp phần còn lại.
    Làn sóng thứ ba khuyến khích chúng ta xem xét lại vấn đề theo cách hoàn toàn mới. Từ nước này sang nước khác, hàng triệu người thất nghiệp. Nhưng việc làm đủ ngày công trong những xã hội này có phải là một mục tiêu hiện thực không ? Sự tổng hợp những chính sách nào có thể cung cấp công ăn việc làm cho hàng triệu người thất nghiệp ? Có phải chính khái niệm "thất nghiệp" là một khái niệm của Làn sóng thứ hai ? Sự xuất hiện đáng chú ý của người tiêu - sản trong các quốc gia giàu có ngày nay - một hiện tượng nổi bật của Làn sóng thứ ba - khiến chúng ta phải đặt lại vấn đề về nhận thức và mục tiêu của hầu hết các nhà kinh tế Làn sóng thứ hai.
    Có thể đây là một sai lầm khuyến khích cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Tây đem chuyển giao hầu hết hoạt động kinh tế khu vực A (khu vực tiêu sản) vào khu vực B (khu vực thị trường). Có thể tiêu sản phải được xem như là một lực lượng tích cực chớ không phải là sự nuối tiếc quá khứ. Có thể người ta cần loại công việc không làm hết ngày công được trả lương cộng với các chính sách mới sáng tạo nhằm làm cho sự tiêu sản trở thành "sản xuất" nhiều hơn. Thực vậy, liên kết hai dạng hoạt động kinh tế này một cách thông minh có thể là chìa khóa sống còn cho hàng triệu người.
    Làn sóng thứ ba cũng buộc chúng ta phải nhìn lại giáo dục bằng con mắt hoàn toàn mới. Mọi người đều công nhận rằng giáo dục là trung tâm để phát triển, nhưng loại giáo dục nào ?
    Khi các cường quốc thực dân đưa giáo dục chính trị thúc vào châu Phi, Ấn Độ và các nơi khác của thế giới Làn sóng thứ nhất là họ đã "xuất khẩu" trường học kiểu nhà máy của họ. Ngày nay các mô hình giáo dục Làn sóng thứ hai đang bị đặt thành vấn đề ở khắp mọi nơi. Làn sóng thứ ba tấn công vào khái niệm của Làn sóng thứ hai cho rằng giáo dục cần thiết phải ở trong phòng học. Ngày nay chúng ta cần kết hợp giáo dục với công việc, đấu tranh chính trị, phục vụ cộng đồng, v.v... Tất cả những nhận thức truyền thống của chúng ta về giáo dục cần phải được xem xét lại cả trong các nước giàu và nghèo.
    Ví dụ biết đọc biết viết có phải là một mục tiêu thích hợp không ? Nó có nghĩa là gì ? Có phải nó có nghĩa cả đọc và viết ? Đọc dễ hơn và có ích hơn viết, nên không phải tất cả mọi người đều cần phải biết viết. Nền công nghệ tổng hợp tiếng nói mở ra những khả năng vô cùng to lớn. Một máy nông cụ có thể hướng dẫn người nông dân mù chữ cách thao tác máy thông qua mạch vi tổng hợp tiếng nói lắp sẵn vào trong máy. Theo nghĩa này, ngay cả định nghĩa chức năng biết đọc biết viết cũng cần phải xem xét lại.
    Sau cùng, Làn sóng thứ ba cũng khuyến khích chúng ta xem lại khái niệm của Làn sóng thứ hai về động cơ thúc đẩy. Việc dinh dưỡng tốt dường như làm tăng trí thông minh và khả năng tay nghề của hàng triệu trẻ em, đồng thời nó cũng làm tăng động cơ thúc đẩy và sự kích thích. Những người Làn sóng thứ hai thường nói về tính thụ động và thiếu động cơ thúc đẩy ở những người Làn sóng thứ nhất. Bỏ qua những yếu tố làm nhụt ý chí như suy dinh dưỡng, khí hậu, sự kiểm soát chính trị, đàn áp, thì việc thiếu động cơ thúc đẩy dường như là sự thiếu thiện chí. Phải xé nát nhà cửa, gia đình và cuộc sống của một người hiện nay để trong vài năm có một cuộc sống tốt hơn là điều đáng nghi ngờ. Chừng nào mà "sự phát triển" có nghĩa là sự áp đặt một nền văn hóa hoàn toàn xa lạ lên trên nền văn hóa hiện tại, và chừng nào mà những cải thiện tình cảnh hiện nay không đạt được, thì có mọi lý do để người ta bám chặt vào cái đang có.
    ĐƯỜNG XUẤT PHÁT
    Nền văn minh Làn sóng thứ ba không cho sẵn mô hình thi đua. Nền văn minh Làn sóng thứ ba chưa phát triển hoàn chỉnh. Nhưng đối với các nước nghèo cũng như nước giàu, nó mở ra những khả năng mới. Vì nó gợi sự chú ý không phải về sự yếu kém, sự nghèo khổ và sự khốn khổ của thế giới Làn sóng thứ nhất, mà về sức mạnh vốn có của Làn sóng thứ nhất. Chính những tính chất của nền văn minh cổ này dường như là lạc hậu đối với quan điểm Làn sóng thứ hai lại xuất hiện như là những lợi thế tiềm tàng so với mô hình Làn sóng thứ ba.
    Chỗ phù hợp của hai nền văn minh này làm biến đổi quan điểm của chúng ta về các mối quan hệ giữa nước giàu và nước nghèo trên trái đất. Nước nghèo cũng như nước giàu đã ở vị trí lấy đà tại đường xuất phát của cuộc chạy đua mới vào tương lai.
     
  5. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 24

    ĐOẠN CUỐI : SỰ HỢP ĐỒNG VĨ ĐẠI
    Mỗi nền văn minh hoạt động trong và trên vũ trụ sinh học, phản ánh và làm thay đổi sự trộn lẫn về dân cư và tài nguyên. Mỗi nền văn minh có một môi trường công nghệ đặc trưng - một cơ sở năng lượng gắn với hệ thống sản xuất mà hệ thống này lại gắn với hệ thống phân phối. Mỗi nền văn minh có một môi trường xã hội gồm các thiết chế xã hội tương quan và có tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi nền văn minh có một môi trường tin tức - các kênh thông tin mà tin tức cần thiết chảy qua. Mỗi nền văn minh có phạm vi quyền lợi riêng của nó. Mỗi nền văn minh có các mối quan hệ đặc trưng với thế giới bên ngoài - bóc lột, cộng sinh, chiến đấu hoặc hòa bình. Và mỗi nền văn minh có ý thức hệ riêng của nó - những nhận thức văn hóa, cấu trúc quan điểm về thực tế và biện hộ những hoạt động của nó.
    Làn sóng thứ ba đang mang đến những thay đổi cách mạng và tự tăng cường ngay tức thì ở các cấp độ khác nhau. Hậu quả không phải chỉ là sự phân hóa xã hội cũ mà còn là việc tạo ra nền tảng cho xã hội mới.
    Khi các thiết chế Làn sóng thứ hai sụp đổ, khi tội ác gia tăng, khi gia đình hạt nhân tan rã, khi các hệ thống quan liêu một thời đáng tin cậy hoạt động chệch choạc, khi hệ thống y tế sụp đổ và các nền kinh tế công nghiệp lung lay một cách nguy hiểm, chúng ta chỉ thấy sự đổ nát và suy sụp xung quanh chúng ta. Thế nhưng sự suy sụp xã hội là lớp phân trộn của nền văn hóa mới. Trong năng lượng, công nghệ, cấu trúc gia đình, văn hóa, và những lĩnh vực khác, chúng ta đang lắp đặt cấu trúc cơ bản xác định những tính chất chủ yếu của nền văn minh mới đó.
    Thực vậy, lần đầu tiên chúng ta có thể xác định những tính chất chính này và các mối tương quan lẫn nhau giữa chúng. Nền văn minh phôi thai Làn sóng thứ ba không những chỉ chặt chẽ và có thể thực hiện được theo nghĩa sinh thái và kinh tế, mà còn hợp với khuôn phép và dân chủ hơn nền văn minh Làn sóng thứ hai.
    Chắc chắn giai đoạn giao thời sẽ đầy những mâu thuẫn xã hội, rối loạn kinh tế, các phe phái đụng độ, ly khai, lộn xộn về công nghệ hoặc thảm họa, hỗn loạn chính trị, bạo động, chiến tranh và nguy cơ chiến tranh. Trong một bối cảnh với các thiết chế và giá trị đang phân hóa, những kẻ mị dân và các phong trào sẽ tìm cách cầm quyền. Sự đụng độ của hai nền văn minh sẽ tạo ra những mối nguy hiểm thê thảm.
    NHỮNG CƠ SỞ CỦA NGÀY MAI
    Nền văn minh Làn sóng thứ ba không giống như những nền văn minh trước, nó sẽ lấy năng lượng từ nhiều nguồn khác nhau, những nguồn năng lượng tự lực và có thể hồi phục được chứ không phải những nguồn tài nguyên kiệt cạn.
    Nền văn minh Làn sóng thứ ba cũng sẽ dựa trên cơ sở công nghệ khác nhau như sinh học, công nghệ gen, điện tử, khoa học vật liệu, kỹ thuật vũ trụ và đại dương học. Trong khi một số công nghệ cần năng lượng cao, hầu hết công nghệ Làn sóng thứ ba được thiết kế để sử dụng ít năng lượng. Các nền công nghệ Làn sóng thứ ba cũng không đại chúng hoặc nguy hiểm về sinh thái như những nền công nghệ quá khứ. Nhiều công nghệ sẽ là qui mô nhỏ, vận hành đơn giản, với chất thải sẽ được tái sinh để trở thành vật liệu cho một công nghiệp khác.
    Đối với nền văn minh Làn sóng thứ ba, nguyên liệu cơ bản nhất là tin tức, gồm cả trí tưởng tượng. Với tin tức trở thành quan trọng hơn trước đây, nền văn minh mới sẽ cấu trúc lại giáo dục, định nghĩa lại nghiên cứu khoa học và tổ chức lại thông tin. Thay vì bị một số thông tin đại chúng thống trị, nền văn minh làn sóng thứ ba sẽ dựa trên thông tin tác động qua lại với nhau và phi đại chúng hóa, nền thông tin này sẽ chuyển hình ảnh đa dạng và cá nhân hóa cao ra vào dòng trí tuệ của xã hội.
    Sự dịch chuyển lên một xã hội điện tử cao, dựa trên cơ sở tin tức sẽ làm giảm nhu cầu của chúng ta đối với năng lượng giá thành cao. Việc computơ hóa xã hội sẽ không phi cá nhân hóa các mối quan hệ con người. Sự hòa nhập về các dạng năng lượng, công nghệ, và tin tức Làn sóng thứ ba sẽ làm tăng tốc những thay đổi cách mạng trong lao động. Các nhà máy vẫn còn tiếp tục được xây dựng, nhưng nhà máy Làn sóng thứ ba không giống như những nhà máy chúng ta biết và số người làm việc trong các nhà máy sẽ tiếp tục giảm.
    Nhà máy Làn sóng thứ ba sẽ không còn là mô hình cho những loại thiết chế khác phỏng theo. Nó sẽ sản xuất những sản phẩm phi-đại chúng hóa. Nó sẽ dựa trên những phương pháp sản xuất tiên tiến. Nó sẽ dùng ít năng lượng, phí phạm ít nguyên vật liệu, sử dụng ít linh kiện hơn, và đòi hỏi thiết kế thông minh hơn. Các nhà máy Làn sóng thứ ba sẽ được đặt ở ngoài các thành phố lớn. Chúng cũng nhỏ hơn các nhà máy của quá khứ, với các đơn vị tổ chức nhỏ hơn, mỗi đơn vị được quyền tự quản lớn hơn. Tương tự như thế, văn phòng Làn sóng thứ ba sẽ không còn giống như văn phòng ngày nay. Công việc bàn giấy của văn phòng sẽ được thay thế bằng máy computơ. Nhiệm vụ của thư ký cũng sẽ được thay thế bằng máy computơ. Văn phòng sẽ được tự động hóa hoàn toàn.
    Để điều hành những nhà máy và văn phòng này của tương lai, các công ty Làn sóng thứ ba sẽ cần những công nhân giàu sáng kiến và tháo vát. Để chuẩn bị cho những người làm việc như thế, trường học sẽ dần dần loại bỏ những phương pháp giáo dục hiện nay đã tạo ra những công nhân Làn sóng thứ hai với những công việc lặp đi lặp lại.
    Sự thay đổi rõ nét nhất trong nền văn minh Làn sóng thứ ba có thể là chuyển việc làm từ văn phòng về nhà. Không phải tất cả mọi công việc đều được làm tại nhà. Nhưng khi thông tin giá thành thấp được thay thế cho giao thông giá thành cao, khi chúng ta tăng vai trò của thông tin và trí tưởng tượng trong sản xuất, thì vai trò lao động đơn điệu cũng giảm và một phần lớn lực lượng lao động trong các xã hội Làn sóng thứ ba sẽ thực hiện ít nhất một phần công việc ở nhà, nhà máy được dành cho những người phải điều khiển các loại máy móc lớn.
    Sự xuất hiện người tiêu sản, sự phát triển của ngôi nhà điện tử, sự phát minh ra những cấu trúc tổ chức mới trong kinh doanh, sự tự động hóa và phi đại chúng hóa của sản xuất - tất cả đều hướng về ngôi nhà ở như là một đơn vị trung tâm trong xã hội ngày mai, một đơn vị với những chức năng kinh tế, y tế, giáo dục và xã hội được nâng cao. Thế nhưng chẳng có thiết chế nào, dù là ngôi nhà sẽ giữ vai trò trung tâm như nhà thờ hoặc nhà máy trong quá khứ. Vì xã hội dường như sẽ được xây dựng xung quanh một mạng lưới chứ không theo đẳng cấp của các thiết chế mới.
    Điều này có nghĩa là các công ty không còn là biểu tượng cho các thiết chế xã hội khác. Trong các xã hội Làn sóng thứ ba, công ty vẫn được công nhận như là tổ chức phức tạp, và sẽ đáp ứng đồng thời cùng một lúc nhiều mục tiêu, chứ không phải chỉ cho lợi nhuận hoặc chỉ tiêu sản xuất. Các công ty hoặc tự nguyện hoặc bị buộc phải đáp ứng với những gì mà ngày nay được xem như là phi kinh tế và với những nhân tố như sinh thái, chính trị, xã hội, văn hóa và đạo đức.
    Những khái niệm của Làn sóng thứ hai về tính hiệu quả thường được dựa trên khả năng của công ty đưa vào giá thành gián tiếp để người tiêu dùng hoặc người đóng thuế phải trả, sẽ được tính lại gộp cả những giá thành xã hội, kinh.tế v.v... để chuyển đổi thành giá thành kinh tế thích ứng. "Tư tưởng kinh tế" - tức là cái gì cũng quy ra giá trị kinh tế - đó là đặc trưng của những người quản lý Làn sóng thứ hai. Tư tưởng đó ngày càng sẽ trở thành ít phổ biến hơn.
    Giống như những tổ chức khác, công ty sẽ chịu sự cấu trúc lại khi những luật lệ của nền văn minh Làn sóng thứ ba có hiệu lực. Thay vì một xã hội đồng bộ hóa với nhịp điệu của dây chuyền sản xuất, xã hội Làn sóng thứ ba sẽ có nhịp điệu và thời gian biểu linh động. Thay vì tiêu chuẩn hóa xã hội đại chúng về cách xử thế, tư tưởng, ngôn ngữ và cách sống, xã hội Làn sóng thứ ba sẽ được xây dựng trên sự đa dạng. Thay vì một xã hội tập trung dân cư, năng lượng và những tính chất khác của cuộc sống, xã hội Làn sóng thứ ba sẽ phi tập trung hóa và phân tán. Thay vì chấp nhận nguyên tắc "lớn hơn là tốt hơn", xã hội Làn sóng thứ ba sẽ hiểu được ý nghĩa "qui mô thích hợp". Thay vì một xã hội tập quyền cao, xã hội Làn sóng thứ ba sẽ thừa nhận giá trị quyết định của phân quyền.
    Tất cả các xã hội trong thời kỳ chuyển tiếp đến Làn sóng thứ ba đều gặp phải vấn đề thất nghiệp. Từ năm 1950 trở đi, công việc bàn giấy và dịch vụ đã giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động bị khu vực sản xuất đang phá sản sa thải. Ngày nay, khi công việc bàn giấy đến lượt được tự động hóa, thì câu hỏi đặt ra là khu vực dịch vụ truyền thống có thể đảm nhiệm nổi vấn đề trên không ? Một số nước đã che đậy vấn đề bằng việc hạn chế khối lượng công việc để khỏi có nạn thất nghiệp, nới rộng cơ chế quan liêu, xuất khẩu lao động dư thừa, v.v... Nhưng vấn đề vẫn không thể giải quyết được chừng nào vẫn còn trong khuôn khổ của các nền kinh tế Làn sóng thứ hai.
    Điều này giải thích tầm quan trọng của việc hòa nhập giữa người sản xuất và người tiêu thụ, hay là người tiêu-sản. Nền văn minh Làn sóng thứ ba sẽ tạo ra khu vực kinh tế dựa trên sản xuất để tiêu dùng chứ không phải để trao đổi, một khu vực dựa trên việc "tự làm lấy" chứ không phải "làm cho thị trường". Sau 300 năm "thị trường hóa", bước ngoặt đột ngột này sẽ đòi hỏi và tạo ra tư tưởng hoàn toàn mới về các vấn đề kinh tế của chúng ta, từ thất nghiệp và thịnh vượng đến giải trí và vai trò công việc.
    Con người Làn sóng thứ ba sẽ chấp nhận những nhận thức mới về thiên nhiên, tiến bộ, tiến hóa, thời gian, không gian, vật chất và nguyên nhân. Tư tưởng của họ sẽ ít bị máy móc ảnh hưởng, được định hình nhiều hơn những khái niệm như qui trình, hồi tiếp, và mất cân bằng. Họ sẽ biết rõ hơn về tính gián đoạn trực tiếp từ tính liên tục. Những tôn giáo mới, những nhận thức mới về khoa học, những hình ảnh mới về bản chất con người, những dạng về nghệ thuật mới sẽ xuất hiện, đa dạng hơn so với thời kỳ công nghiệp.
    Sự khác biệt ngày càng tăng của xã hội cũng có nghĩa là vai trò nhà nước - quốc gia bị giảm. Nền văn minh Làn sóng thứ ba sẽ dựa trên sự phân phối lại quyền lực mà trong đó quốc gia không còn quyền lực tuyệt đối như trong quá khứ, trong khi đó các thiết chế khác như công ty đa quốc gia hoặc thành phố - nhà nước sẽ có quyền lực lớn hơn.
    Các khu vực sẽ có quyền lực lớn hơn khi thị trường và kinh tế quốc gia bị chia nhỏ, một số khu vực có thị trường và kinh tế lớn hơn thị trường và kinh tế quốc gia. Những liên minh mới hình thành không phải theo cự ly địa lý mà là trên các mối quan hệ chung về văn hóa, sinh thái, tôn giáo hoặc kinh tế. Do đó một vùng ở Bắc Mỹ có thể phát triển các mối quan hệ chặt chẽ với một vùng ở châu Âu hoặc ở Nhật chứ không phải với vùng láng giềng cạnh họ, hoặc ngay cả với chính phủ quốc gia của họ. Liên kết các vùng lại với nhau không có nghĩa là sẽ có một chính phủ - thế giới độc nhất mà là một mạng lưới dày đặc của các tổ chức xuyên quốc gia mới.
    Ngoài các quốc gia giàu có ra, ba phần tư các nước không công nghiệp của nhân loại sẽ chiến đấu chống lại nghèo khổ với những công cụ mới chứ không phải bắt chước xã hội Làn sóng thứ hai hoặc trở về những điều kiện Làn sóng thứ nhất. Những "chiến lược phát triển" mới và cơ bản sẽ xuất hiện, phản ánh đặc tính văn hóa và tôn giáo đặc biệt của mỗi vùng.
    KHÁI NIỆM VỀ "THỰC TẾ - LÝ TƯỞNG"
    Những gì chúng ta thấy ở đây là những nét phác họa một cách hoàn toàn mới về cuộc sống, nó ảnh hưởng không chỉ đến cá nhân mà đến cả hành tinh. Nền văn minh mới được phác thảo ở đây không thể nào là điều không tưởng. Vấn đề cá nhân và cộng đồng. Vấn đề chính trị. Vấn đề bình đẳng, công bằng và đạo đức. Vấn đề nền kinh tế mới, đặc biệt là mối quan hệ giữa việc làm, phúc lợi, và tiêu sản - Tất cả những vấn đề đó và các vấn đề khác nữa sẽ khuấy động những nhiệt tình say mê đấu tranh.
    Làn sóng thứ ba mang theo nó những thách thức sâu sắc đối với nhân loại, từ nguy cơ sinh thái đến mối nguy hiểm về chủ nghĩa khủng bố nguyên tử và chủ nghĩa phát xít điện tử, nó không phải đơn giản là sự kéo dài đầy ác mộng của chủ nghĩa công nghiệp. Ở đây, chúng ta thấy nổi lên cái có thể được gọi là "thực tế - lý tưởng", tức là cái không tốt nhất cũng không xấu nhất của tất cả thế giới mà là cái vừa thực tế hơn vừa được ưa thích hơn những cái mà chúng ta đã có. Không giống như thuyết không tưởng, thuyết thực tế - lý tưởng không phải là không có khuyết điểm, không có sự kinh tởm chính trị và không có những cái xấu. Không giống như hầu hết thuyết không tưởng, thuyết thực tế - lý tưởng không phải là tĩnh hoặc bị hạn định trong sự hoàn hảo không thực tế.
    Nói tóm lại, thuyết thực tế - lý tưởng tạo ra một khả năng cách mạng và tích cực mà vẫn nằm trong khoảng cách có thể đạt được một cách thực tế.
    Theo nghĩa này, nền văn minh Làn sóng thứ ba chính là một tương lai thực tế - lý tưởng. Người ta có thể nhìn thấy trong nó một nền văn minh cho phép sự khác biệt cá nhân, chấp nhận sự đa dạng về chủng tộc, khu vực, tôn giáo và văn hóa. Một nền văn minh đầy sáng tạo và có khả năng tạo ra sự ổn định tương đối cho những người cần hoặc muốn có sự ổn định. Một nền văn minh không đòi hỏi phải dốc hết nghị lực tốt nhất vào thị trường hóa. Một nền văn minh có khả năng hưởng niềm say mê lớn vào nghệ thuật. Một nền văn minh đang đối diện với những chọn lựa lịch sử chưa từng có về công nghệ gen và tiến hóa, tạo ra những tiêu chuẩn đạo đức và luân lý để đối phó với những vấn đề phức tạp. Sau cùng, một nền văn minh rất dân chủ và nhân đạo, ở thế cân bằng với vũ trụ sinh học và không còn phụ thuộc một cách nguy hiểm vào các nguồn trợ cấp có thể khai thác được của phần còn lại của thế giới. Công việc khó khăn là thực hiện, nhưng không phải là không thể thực hiện.
    CÂU HỎI ĐẶT SAI
    Tại sao điều này xảy ra ? Tại sao Làn sóng thứ hai đột ngột không hoạt động được nữa ? Tại sao cơn sóng văn minh mới này lại va chạm với nền văn minh cũ ? Không ai biết cả. Ngay cả ngày nay, 300 năm sau sự việc, các nhà lịch sử cũng không thể xác định "lý do" của cuộc cách .mạng công nghiệp. Mỗi nhóm các nhà hàn lâm hoặc trường phái triết học có cách giải thích riêng của họ.
    Trong thế giới ngày nay cũng thế, chúng ta có thể xác định nhiều nguyên nhân. Nhiều chuyên gia cho rằng nhu cầu tăng về năng lượng trong khi nguồn dầu khí kiệt cạn, sự phát triển dân số thế giới hoặc nguy cơ ô nhiễm toàn cầu đó là những lực then chốt làm thay đổi cấu trúc trên qui mô hành tinh. Còn những người khác cho rằng chính sự tiến bộ không tưởng tượng nổi trong khoa học và công nghệ kể từ cuối Thế chiến II cùng những thay đổi chính trị và xã hội đang kéo theo sự việc. Những người khác nữa lại cho rằng do sự thức tỉnh của thế giới không - công nghiệp và những biến động chính trị đe dọa lối sống của chúng ta gắn liền với năng lượng và nguyên liệu rẻ.
    Chúng ta có thể tìm thấy hàng trăm dòng thay đổi chảy vào nơi hợp lưu vĩ đại, tất cả chúng đều tương quan qua lại và tác động lẫn nhau. Còn nguyên nhân của Làn sóng thứ ba theo nghĩa một biến số độc lập độc nhất hoặc mắt xích kéo cả dây xích thì chúng ta không thể tìm được. Thực vậy, hỏi "nguyên nhân là gì ?" có thể là câu hỏi sai hoặc cách đặt câu hỏi sai. "Nguyên nhân của Làn sóng thứ ba là gì ?" có thể là câu hỏi của Làn sóng thứ hai.
    Điều này không có nghĩa là loại bỏ nguyên nhân mà là thừa nhận sự phức tạp của nó. Nền văn minh Làn sóng thứ hai có thể bị tan vỡ và không thể hoạt động nữa, nhưng điều đó không có nghĩa là nền văn minh Làn sóng thứ ba được phác họa ra ở đây nhất thiết phải hình thành. Bất kỳ một lực nào cũng có thể thay đổi một cách cơ bản viễn cảnh. Những quyết định của cá nhân, nhóm hoặc chính phủ có thể làm chệch hướng những dòng thay đổi. Trong các nước cũng thế. Những thay đổi nhỏ có thể kéo theo những hệ quả lớn.
    Trong các nước công nghiệp tiên tiến, các vùng lạc hậu đấu tranh để hoàn thành việc công nghiệp hóa. Vùng đó, họ cố gắng bảo vệ các nhà máy Làn sóng thứ hai và công việc dựa vào chúng. Điều này đặt họ vào vị trí xung đột trực tiếp với các vùng đã tiến xa trong việc xây dựng cơ sở công nghệ cho các hoạt động Làn sóng thứ ba. Những cuộc chiến đấu như thế xé nát xã hội ra từng mảng, nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội cho hoạt động chính trị và xã hội.
    Cuộc siêu đấu tranh đang được tiến hành trong mỗi cộng đồng giữa những người Làn sóng thứ hai và những người Làn sóng thứ ba, điều đó không có nghĩa là những cuộc đấu tranh khác mất đi sự quan trọng của chúng. Xung đột giai cấp, xung đột chủng tộc, xung đột thế hệ, xung đột khu vực, xung đột giới tính, xung đột tôn giáo - tất cả những xung đột này vẫn tiếp tục. Nhưng tất cả xung đột đó được định hình hoặc bị phục tùng theo cuộc siêu đấu tranh. Chính cuộc siêu đấu tranh xác định một cách cơ bản tương lai.
    Trong lúc đó, có hai sự việc đụng đến mọi thứ khi Làn sóng thứ ba tràn qua. Một là sự di chuyển hướng về mức đa dạng hóa cao hơn trong xã hội - sự phi đại chúng hóa của xã hội đại chúng. Hai là gia tốc - nhịp điệu biến đổi lịch sử diễn ra nhanh hơn. Kết hợp với nhau, những sự việc này gây ra những căng thẳng khổng lồ và tác động lên cả cá nhân và thể chế, làm tăng cường cuộc siêu đấu tranh.
    Đã quen đối phó với sự đa dạng thấp và thay đổi chậm, cá nhân và thể chế đột ngột thấy họ phải đối phó với sự đa dạng cao và thay đổi tốc độ nhanh. Những áp lực thường xuyên làm họ không đủ khả năng quyết định nữa. Kết quả là gây ra một cú sốc tương lai.
     
  6. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 25

    MÔI TRƯỜNG TÂM LÝ MỚI
    Trong các quốc gia giàu có, những hình ảnh sau đây quá quen thuộc : tỉ lệ thanh thiếu niên tự tử tăng, nạn nghiện rượu cao, suy sụp tâm lý phổ biến, phá hoại công trình công cộng và tội ác. Những định nghĩa khiếm khuyết về những hiện tượng trên và những con số thống kê không đáng tin cậy đã làm cho các thế hệ ngày nay nghi ngờ sự việc, cũng rất đáng ngờ là những xã hội trước kia đã có những mô hình tinh thần lành mạnh. Thế nhưng chắc chắn ngày nay có điều gì đó không ổn. Hàng triệu cá nhân tìm kiếm một cách điên cuồng cho sự đồng nhất của riêng họ hoặc cho một số phương pháp chữa bệnh kỳ quái để hợp nhất lại nhân tính của họ, nhằm tạo ra sự thân mật hoặc trạng thái xuất thần chốc lát, nhằm đưa họ đến trạng thái nhận thức cao hơn.
    Làn sóng khó chịu này không tấn công các nước công nghiệp với những lực bằng nhau. Do đó, người ở châu Âu và ở các nơi khác cho rằng đó là hiện tượng Mỹ, trong khi ở Mỹ lại cho rằng đó là hiện tượng ở bang Caliphoócnia. Những quan điểm đó đều xa sự thật. Nếu sự suy sụp tâm lý và sự phân hóa nổi bật rõ ràng ở Mỹ và đặc biệt ở Caliphoócnia, thì điều đó chỉ phản ánh sự việc rằng Làn sóng thứ ba đã và đang đến nơi đó sớm hơn ở những nơi khác, gây ra tình trạng các cấu trúc Làn sóng thứ hai bị lật nhào sớm hơn và ngoạn mục hơn.
    Thực vậy, một loại hoang tưởng từng phần đã tác động vào nhiều cộng đồng chứ không phải chỉ riêng ở Mỹ. Ở Roma và Turin, các tên khủng bố đi hiên ngang trên đường phố. Ở Paris và Luân Đôn, cướp cạn và phá hoại công trình công cộng tăng lên. Ở Chicago, người già sợ ra đường ban đêm, v.v...
    Có mùi bệnh hoạn trong không khí. Đó là mùi của nền văn minh Làn sóng thứ hai đang chết.
    TẤN CÔNG VÀO CÔ ĐƠN
    Để tạo ra một cuộc sống tình cảm trong sáng và một vũ trụ tâm lý lành mạnh cho nền văn minh ngày mai, chúng ta phải thừa nhận ba yêu cầu cơ bản của bất kỳ cá nhân nào : những nhu cầu cho cộng đồng, cấu trúc và ý nghĩa. Hiểu được làm thế nào sự sụp đổ của xã hội Làn sóng thứ hai phá hoại ba yêu cầu này sẽ cho phép chúng ta thiết kế một môi trường tâm lý lành mạnh hơn cho chúng ta và cho con cái của chúng ta trong tương lai.
    Bất kỳ xã hội nào cũng phải tạo ra tinh thần cộng đồng. Cộng đồng bù đắp sự cô đơn. Nó tạo ra cho con người một ý thức tập thể. Thế nhưng ngày nay các thiết chế ràng buộc cộng đồng đang sụp đổ trong các xã hôi công nghệ. Kết quả là tai họa lan tràn về sự cô đơn. Sự cô đơn không phải là vấn đề mới. Nhưng ngày nay cô đơn quá phổ biến đến nỗi nó trở thành một kinh nghiệm được chia sẻ.
    Cộng đồng đòi hỏi nhiều hơn chứ không phải chỉ có mối quan hệ tình cảm giữa các cá nhân. Nó cũng đòi hỏi các mối ràng buộc vững chắc về lòng trung thành giữa các cá nhân với tổ chức của họ. Thiếu tình bè bạn, hàng triệu người ngày nay cảm thấy bị cách biệt với những thiết chế mà họ là một bộ phận trong đó. Họ ước mong tha thiết những thiết chế xứng đáng với sự kính trọng, tình cảm và sự trung thành của họ.
    Công ty là một ví dụ. Khi các công ty phát triển lớn hơn và làm đa dạng nhiều hoạt động khác nhau, những người làm việc ít có ý thức về nhiệm vụ được chia sẻ. Tinh thần cộng đồng không có. Trung thành với một công ty được nhiều người xem như là sự phản bội đối với bản thân mình. Các mối quan hệ công việc ngày càng tạm thời và không thỏa mãn tình cảm. Ngay cả khi công ty tạo điều kiện cho người làm việc hoạt động tập thể, hầu hết các mối quan hệ công việc chỉ là hời hợt.
    Vì lý do đó, ngày nay ít người có ý thức gắn bó với một cái gì đó lớn hơn và tốt hơn bản thân họ. Điều này kích thích tinh thần tham gia đôi khi tự phát trong những đợt khủng hoảng, căng thẳng, thảm họa hoặc nổi loạn quần chúng. Ví dụ, các cuộc bãi khóa lớn của sinh viên vào những năm 60 và các cuộc biểu tình chống vũ khí nguyên tử ngày nay đã tạo ra sự sôi nổi của tinh thần cộng đồng.
    Một nguyên nhân của tai họa cô đơn nằm trong mức độ đang gia tăng của sự đa dạng hóa xã hội. Bằng việc phi đại chúng hóa xã hội, bằng việc nhấn mạnh những khác nhau chứ không phải những tương tự, chúng ta giúp con người tự họ cá tính hóa. Chúng ta đã tạo ra cho chính mình một tiềm lực riêng và do đó cũng làm cho sự tiếp xúc con người trở nên khó khăn hơn. Vì chúng ta càng cá tính hóa bao nhiêu thì càng khó gặp được người bạn hoặc người thương yêu có chung những quyền lợi, giá trị, thời gian biểu hoặc thị hiếu. Mỗi người trở thành người độc đáo trong các mối quan hệ xã hội. Và những người khác cũng thế. Kết quả là các mối quan hệ không thuần nhất hoặc không hề có một mối quan hệ nào cả.
    Do đó, trong khi từ chối sự hứa hẹn về việc tự hoàn thành cá nhân nhiều hơn, xã hội đại chúng tan rã làm lan tràn nỗi đau khổ về cô đơn. Nếu xã hội Làn sóng thứ ba không lạnh lùng như kim loại với trái tim trống rỗng, thì nó phải đương đầu với vấn đề này. Nó phải lập lại cộng đồng. Một khi chúng ta thừa nhận rằng sự cô đơn không còn là một vấn đề cá nhân mà là vấn đề xã hội do sự phân hóa của các thiết chế Làn sóng thứ hai gây ra, thì chúng ta có rất nhiều việc phải làm. Chúng ta có thể bắt đầu từ nơi mà cộng đồng thường bắt đầu - nghĩa là trong gia đình, bằng việc phát triển những chức năng đã bị thu hẹp.
    Từ khi có cách mạng công nghiệp, gia đình không ngừng giải phóng khỏi gánh nặng về người già. Nếu chúng ta đã tước bỏ trách nhiệm gia đình này, có thể đã đến lúc phải lập lại nó từng phần. Có thể phải khuyến khích bằng kinh tế cho các gia đình chăm sóc người già. Và tại sao không khen thưởng những người duy trì và củng cố các mối quan hệ gia đình giữa các thế hệ khác nhau ? Gia đình cũng cần được khuyến khích giữ vai trò nhiều hơn trong việc giáo dục trẻ em. Cha mẹ muốn dạy tốt con cái của họ ở nhà phải được trường học giúp đỡ, chứ không phải bị xem như là vi phạm luật lệ. Và cha mẹ phải kết hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giáo dục con cái.
    Trường học cũng có thể tạo ra ý thức tập thể. Thay vì cho điểm học sinh theo học lực cá nhân, một số điểm cho học sinh là điểm chung cho cả lớp. Điều này ủng hộ công khai tư tưởng là mỗi người chúng ta có trách nhiệm với người khác. Nếu được khuyến khích, các nhà giáo dục sẽ có những cách tốt hơn để đẩy mạnh ý thức cộng đồng.
    Các công ty cũng có thể bắt đầu xây dựng lại các mối quan hệ con người. Sản xuất Làn sóng thứ ba tạo ra sự phân quyền và các đơn vị làm việc nhỏ hơn và có tính cá nhân hơn. Các công ty có thể xây dựng ý thức về cái chung bằng cách yêu cầu người làm việc tự tổ chức các công ty nhỏ hoặc hợp tác xã và ký hợp đồng trực tiếp với những nhóm này để thực hiện công việc. Sự chia tách các công ty khổng lồ thành các đơn vị nhỏ và tự quản không những giải phóng năng lượng sản xuất mới to lớn mà đồng thời còn tạo ra cộng đồng.
    Công ty cũng có thể xem lại vấn đề về hưu. Thay vì cho về hưu đột ngột, có thể lập các kế hoạch cho về hưu từ từ, hoặc vừa làm việc cho công ty vừa làm việc cho cộng đồng. Có thể đề nghị những người về hưu làm cố vấn giúp đỡ cho các thế hệ trẻ học nghề. Trong nhiều trường hợp, mối quan hệ lành mạnh phát triển giữa "cố vấn" và "người được cố vấn" sẽ vượt qua giới hạn hướng dẫn nghề nghiệp.
    CỘNG ĐỒNG VIỄN THÔNG
    Đối với chính sách xã hội dài hạn, chúng ta phải tiến nhanh về hướng "cộng đồng viễn thông". Những người muốn cộng đồng được lập lại phải tập trung chú ý về tác động phân vùng xã hội, về việc đi lại và tính cơ động cao. Một trong những bước để xây dựng ý thức cộng đồng trong Làn sóng thứ ba là sự thay thế có chọn lọc của thông tin cho giao thông.
    Nỗi lo phổ biến cho rằng máy computơ và viễn thông sẽ tước đoạt của chúng ta việc tiếp xúc mặt đối mặt và làm cho mối quan hệ con người bị máy móc thay thế, nỗi lo đó là ngây thơ và đơn giản. Thực vậy, điều ngược lại mới là đúng. Trong khi các mối quan hệ ở nhà máy và văn phòng bị suy giảm, thì các mối quan hệ trong nhà và trong cộng đồng có thể được tăng cường bởi những công nghệ mới này. Máy computơ và viễn thông có thể giúp chúng ta tạo ra cộng đồng. Các nền công nghệ hiện đại này có thể giúp cho một số lớn người lao động làm việc tại nhà, nên chúng có thể làm cho các gia đình ấm cúng hơn, gắn bó hơn, và tạo ra một cuộc sống cộng đồng thân mật hơn.
    Thông tin khi được áp dụng một cách có chọn lọc có thể phục vụ mục tiêu của cộng đồng viễn thông. Nói tóm lại, khi chúng ta xây dựng nền văn minh Làn sóng thứ ba, có nhiều điều chúng ta có thể làm để duy trì và làm phong phú cộng đồng chứ không phải hủy diệt cộng đồng.
    CẤU TRÚC HÊRÔIN
    Tuy nhiên việc xây dựng lại cộng đồng phải được xem như là một phần nhỏ của một qui trình lớn hơn. Vì sự sụp đổ của các thiết chế Làn sóng thứ hai cũng phá vỡ cấu trúc và ý nghĩa trong cuộc sống của chúng ta. Các cá nhân cần cấu trúc cuộc sống. Việc thiếu cấu trúc cuộc sống là một sự tan vỡ không có mục đích.
    Cấu trúc cung cấp những điểm chuẩn tương đối cố định mà chúng ta cần. Đó là lý do tại sao đối với nhiều người việc làm về mặt tâm lý lại quan trọng hơn cả tiền lương. Một yếu tố cấu trúc để cuộc sống của họ có thể được tổ chức đó là việc làm rõ những nhu cầu về thời gian và năng lượng. Những nhu cầu tuyệt đối do đứa trẻ đòi hỏi ở cha mẹ, trách nhiệm chăm sóc người tàn tật, kỷ luật chặt chẽ trong một đảng - tất cả những điều đó có thể áp đặt một cấu trúc đơn giản vào cuộc sống.
    Một số thanh niên đối diện với việc thiếu cấu trúc nên họ sử dụng ma túy. Việc nghiện hêrôin đã cho thanh niên một cách sống. Vì phải chịu sự vô mục đích kéo dài, nên cấu trúc của họ gồm việc làm thế nào thoát khỏi cảnh sát, làm thế nào có tiền, ở đâu có người cho họ tiền - tất cả những điều này giúp cho họ có năng lượng thế vào chỗ của thế giới không cấu trúc trước đây.
    Gia đình hạt nhân, thời gian biểu do xã hội áp đặt, vai trò được xác định rõ ràng, phân biệt trạng thái nhìn thấy được, ranh giới quyền lực có thể nhận thức được - tất cả những nhân tố đó đã tạo ra cấu trúc cuộc sống đúng mực cho hầu hết mọi người trong kỷ nguyên Làn sóng thứ hai. Ngày nay sự suy sụp của Làn sóng thứ hai đang làm tan rã cấu trúc trong cuộc sống nhiều cá nhân trước khi các thiết chế tạo ra cấu trúc mới của tương lai Làn sóng thứ ba hình thành. Điều này giải thích tại sao ngày nay đối với hàng triệu người cuộc sống hàng ngày phải chịu sự vô trật tự không thể chấp nhận được.
    Với việc mất trật tự này, chúng ta cảm thấy cuộc sống giảm ý nghĩa. Ý nghĩa cuộc sống của chúng ta đến từ các mối quan hệ lành mạnh với xã hội xung quanh - từ gia đình, công ty, nhà thờ, hoặc phong trào chính trị. Nó cũng phụ thuộc vào khả năng tự nhìn thấy chúng ta là một phần của sự sắp xếp có hệ thống của sự việc.
    Ngày nay, sự di chuyển đột ngột các luật lệ cơ sở xã hội, sự mờ nhạt của vai trò, của phân biệt trạng thái, và của ranh giới quyền lực, đặc biệt sự suy sụp của hệ thống tư tưởng lớn thực tế công nghiệp, tất cả làm tan vỡ hình ảnh thế giới trong bộ não chúng ta. Do đó, hầu hết mọi người ngày nay thấy thế giới xung quanh họ chỉ là hỗn độn. Họ đang chịu dựng cảm giác bất lực và mất định hướng cá nhân.
    BÍ MẬT CỦA CÁC GIÁO PHÁI
    Tại sao có hàng ngàn người bề ngoài thông minh và thành công trong cuộc sống lại bị cuốn hút vào vô số giáo phái đang sinh sôi trong những đổ vỡ của hệ thống Làn sóng thứ hai ? Ở Mỹ, người ta đánh giá có chừng 3 triệu người Mỹ thuộc chừng 1.000 giáo phái. Các giáo phái có các tên như : Nhà thờ Thống Nhất, Nhiệm vụ khai minh Thần Thánh, Hare Khrish Na, Đạo… mỗi giáo phái có chùa hoặc chi nhánh trong hầu hết các thành phố lớn. Không phải chỉ có giáo phái xuất hiện ở Mỹ, mà ở châu Âu cũng có đủ loại giáo phái nhưng số lượng ít hơn.
    Câu hỏi đặt ra là tại sao những nhóm như thế có thể điều khiển hầu như hoàn toàn sự hiến dâng và sự tuân theo của các thành viên ? Bí mật của họ thật đơn giản. Họ hiểu được nhu cầu về cộng đồng, cấu trúc và ý nghĩa. Vì đó chính là những thứ mà các giáo phái đang rao bán.
    Đối với những người cô đơn, các giáo phái đưa ra tính bằng hữu không phân biệt. Các giáo phái cũng đưa ra cấu trúc bằng việc áp đặt những hạn chế chặt chẽ trong cách xử thế. Họ yêu cầu và tạo ra kỷ luật khắc nghiệt. Sau cùng, sản phẩm được giáo phái bán ra thị trường là "ý nghĩa". Mỗi giáo phái có một mô hình với một mục đích về thực tế - tôn giáo, chính trị hoặc văn hóa. "Ý nghĩa" do giáo phái phổ biến nghe rất vô lý đối với người ngoài. Nhưng điều đó không quan trọng. Quyền lực của nó nằm trong việc cung cấp sự tổng hợp, trong việc đưa ra cái thay thế cho các loại văn hóa linh tinh xung quanh chúng ta. Một khi giáo lý được các tín đồ của nó chấp nhận, nó giúp tổ chức các tin tức hỗn độn từ bên ngoài đang tấn công vào họ. Do đó, nó giúp giải phóng các tín đồ của nó khỏi sự căng thẳng do quá tải và lầm lẫn. Nó cung cấp không phải là sự thật, mà là trật tự, và từ đó là ý nghĩa.
    Bằng việc giúp cho thành viên giáo phái có ý thức rằng thực tế là có ý nghĩa, giáo phái tạo ra mục đích và sự cố kết trong một thế giới dường như rời rạc. Tuy nhiên, giáo phái rao bán cộng đồng, cấu trúc và ý nghĩa với một giá cực cao - đó là sự đầu hàng không chú ý của cái tôi. Đối với một số người thì đây là cái cách thay cho sự phân hóa cá nhân. Nhưng đối với hầu hết chúng ta thì cái cách thoát ra bằng con đường giáo phái là quá đắt.
    Để làm cho nền văn minh Làn sóng thứ ba lành mạnh và dân chủ, chúng ta cần phải tạo ra cộng đồng, cấu trúc và ý nghĩa chứ không phải chỉ tạo ra nguồn cung cấp năng lượng mới và công nghệ mới.
    NHỮNG NHÀ TỔ CHỨC CUỘC SỐNG VÀ BÁN - GIÁO PHÁI
    Cách đơn giản nhất và trực tiếp nhất là tạo ra bộ khung các nhà tổ chức cuộc sống chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Việc cấu trúc cuộc sống cho một người dưới những điều kiện ngày nay trong sự rối loạn xã hội và công nghệ cao khó khăn hơn là thực hiện. Sự tan vỡ của các cấu trúc Làn sóng thứ hai, sự chọn lựa quá nhiều các cách sống, thời gian biểu và các khả năng giáo dục - tất cả làm tăng thêm khó khăn. Đối với những người nghèo, áp lực kinh tế áp đặt cấu trúc cao. Đối với giai cấp trung lưu thì điều ngược lại là đúng. Tại sao không công nhận sự việc này ?
    Một số nhà tâm lý học ngày nay thực hiện chức năng tổ chức cuộc sống. Chúng ta cần nhiều các nhà cố vấn như thế, tức là các nhà cung cấp cấu trúc, và không có gì xấu hổ khi nhờ sự giúp đỡ của họ. Trong giáo dục, cần phải dạy cho học sinh cấu trúc của cuộc sống hàng ngày chứ không phải chỉ dạy cơ cấu chính phủ hoặc cấu trúc amíp.
    Chúng ta cũng cần có cái nhìn mới về các thiết chế tạo ra cấu trúc, gồm cả các giáo phái. Nếu chúng ta thấy sự khuất phục hoàn toàn được đòi hỏi bởi các giáo phái là quá kinh tởm, chúng ta có thể khuyến khích sự thành lập của các "bán - giáo phái" nằm giữa sự tự do không cấu trúc và tổ chức cấu trúc chặt chẽ. Một số người có thể sống một thời gian trong một bán - giáo phái. Sau đó trở về thế giới bên ngoài, rồi lại quay lại tổ chức bán - giáo phái một thời gian, ... Như thế họ thay đổi giữa cấu trúc cao do tổ chức bán - giáo phái áp đặt và sự tự do mà xã hội tạo cho.
    Có thể tạo ra các đoàn dịch vụ dân sự do thành phố, trường học hoặc công ty tổ chức để thực hiện các dịch vụ cộng đồng có ích trên cơ sở ký hợp đồng. Ví dụ "đoàn chống nhiễm", "đoàn vệ sinh công cộng", "đoàn bán y tế", hoặc "đoàn giúp đỡ người già" - những tổ chức như thế có thể giúp cho cả cộng.đồng và cá nhân. Thêm vào việc cung cấp các dịch vụ có ích và mức độ cấu trúc cuộc sống, những tổ chức đó cũng có thể giúp tạo ra ý nghĩa cần thiết cho cuộc sống của thành viên của họ, không phải là thần học chính trị hoặc thần bí mà là lý tưởng đơn giản của dịch vụ cho cộng đồng. Ngoài những biện pháp như thế, chúng ta có thể cần phải hợp nhất ý nghĩa cá nhân với các quan điểm thế giới bao quanh.
     
  7. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 26

    NHÂN CÁCH TƯƠNG LAI
    Khi nhìn lại sự suy tàn và sự phân hóa xung quanh chúng ta, liệu chúng ta có thấy xuất hiện những hình ảnh của nhân cách tương lai hay nói cách khác là "con người mới" không ? Đã có những dự báo về các loại con người mới. Ví dụ cuối thế kỷ XVIII có "Adam người Mỹ" - người sinh ra ở Bắc Mỹ, không có những thói hư tật xấu và nhược điểm của người châu Âu. Đến giữa thế kỷ XX, có con người siêu nhân của Hitler - người thuộc chủng tộc Arian với một phần là nông dân, một phần là lính chiến, một phần là thiên thần.
    Hình ảnh "con người mới" này cũng ám ảnh những người cộng sản. Người Liên Xô vẫn còn nói về "con người xã hội chủ nghĩa". Nhưng chính Trotsky đã diễn tả sống động về con người tương lai. Con người sẽ trở thành khỏe hơn, khôn ngoan hơn và nhậy cảm hơn. Cơ thể của họ sẽ trở thành hài hòa hơn, những động tác của họ nhịp nhàng hơn, tiếng nói của họ êm dịu hơn. Cách sống của họ sẽ có những đặc tính gây cảm xúc mạnh mẽ. Con người bình thường sẽ đạt đến trình độ của một Aristote, của một Goethe, của một Marx.
    Cách đây một hay hai thập kỷ, Frantz Fanon diễn tả con người mới là người có "tinh thần mới". Che Guevara thấy con người lý tưởng của ông trong tương lai có cuộc sống nội tâm phong phú. Tất cả các hình ảnh đó đều khác nhau.
    Thế nhưng rất ngu xuẩn nếu báo trước một lần nữa sự ra đời của "con người mới" được coi là mô hình lý tưởng độc nhất mà toàn bộ nền văn minh phải cố gắng tích cực noi gương. Và trong một xã hội đang nhanh chóng hướng về sự phi-đại chúng hóa, thì điều đó chẳng có gì hứa hẹn cả. Cũng rất ngu xuẩn nếu tin rằng những điều kiện vật chất của cuộc sống bị thay đổi một cách cơ bản lại không ảnh hưởng gì đến nhân cách hay nói chính xác hơn là đến đặc tính xã hội của con người. Khi chúng ta thay đổi cấu trúc của xã hội, chúng ta cũng biến đổi con người.
    Do đó, những gì mà Làn sóng thứ ba đang làm là không phải tạo ra con người siêu nhân lý tưởng hoặc loại anh hùng mới nào cả, mà là tạo ra những thay đổi trong nhân cách thông qua xã hội - không phải một con người mới mà là một tính cách xã hội mới. Nhiệm vụ của chúng ta là không phải tìm kiếm con người huyền thoại mà là những nét tính cách con người được nền văn minh ngày mai coi trọng.
    Những đặc tính này không phải được tạo nên do áp lực bên ngoài đối với con người. Chúng hình thành từ sự thôi thúc nội tâm của các cá nhân và ảnh hưởng của xã hội. Nhưng một khi được tạo thành thì những nét tính cách này có tác động đối với sự phát triển kinh tế và xã hội.
    Làn sóng thứ hai đã mang theo nó những tính cách tiết kiệm, làm việc không ngừng và ban thưởng chậm - những nét đó nhằm hướng nghị lực khổng lồ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế. Làn sóng thứ hai cũng mang theo những thay đổi trong tính khách quan - tính chủ quan, trong chủ nghĩa cá nhân, trong thái độ đối với quyền lực, trong khả năng suy nghĩ trừu tượng, khả năng làm nổi bật và khả năng tưởng tượng.
    Đối với người nông dân được đưa vào lực lượng lao động công nghiệp, họ phải biết đọc biết viết. Họ phải được giáo dục, được thông tin và được uốn nắn. Họ phải hiểu rằng có thể có một cách sống khác. Tư tưởng của họ phải được giải phóng khỏi hiện tại gần nhất. Như thế, giống như chủ nghĩa công nghiệp phải dân chủ hóa thông tin và chính trị, nó cũng bị buộc phải dân chủ hóa trí tưởng tượng.
    Ngày nay, một lần nữa chúng ta đang ở bên bờ biến động về văn hóa tâm lý. Chúng ta có thể hình dung những thay đổi mạnh mẽ mà chúng dường như ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý trong xã hội Làn sóng thứ ba. Những thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con cái, đến giáo dục, đến công việc và đến sự hình thành tính cách của mỗi người. Và cũng không thể thay đổi tất cả những điều này nếu không biến đổi cơ bản toàn bộ đặc tính xã hội của tương lai.
    TRƯỞNG THÀNH KHÁC NHAU
    Sự lão hóa của dân cư trong tất cả các nước công nghiệp cao ẩn ngầm sự chú ý nhiều vào nhu cầu của người già và giảm bớt sự tập trung vào thanh thiếu niên. Hơn thế nữa, khi phụ nữ làm việc trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu truyền thống hướng toàn bộ nghị lực của họ vào nhiệm vụ làm mẹ bị giảm đi. Trong thời kỳ Làn sóng thứ hai, những người làm cha làm mẹ mơ ước con cái của họ có được cuộc sống kinh tế và xã hội tốt hơn họ. Sự mong muốn hướng thượng này đã khuyến khích cha mẹ tập trung những năng lượng tâm lý khổng lồ vào con cái họ. Ngày nay, nhiều cha mẹ thuộc giai cấp trung lưu bị vỡ mộng khi con cái họ đi xuống chứ không phải đi lên trên bậc thang kinh tế - xã hội.
    Ngày nay hàng triệu đứa trẻ phải chịu cảnh hoặc cha hoặc mẹ độc thân nuôi nấng. Chúng cũng có thể được nuôi trong các gia đình mà cả cha mẹ làm việc ở nhà, nghĩa là các gia đình ngôi nhà điện tử. Như thế trẻ con có thể tham gia vào nhiệm vụ công việc của gia đình ở tuổi rất sớm.
    Những điều đó cho thấy thời thơ ấu và thời thiếu niên sẽ ngắn hơn nhưng trách nhiệm và sức sản xuất sẽ tăng lên. Trẻ con làm việc chung với người lớn trong những ngôi nhà như thế sẽ ít bị áp lực từ bên ngoài xã hội. Chúng có thể trở thành những người thành công cao của ngày mai. Do đó, chúng ta có thể thấy sự tương phản rõ ràng giữa thanh niên trưởng thành nhanh vì có trách nhiệm công việc sớm trong ngôi nhà điện tử và thanh niên trưởng thành chậm hơn ở ngoài xã hội.
    Chúng ta cũng có thể hy vọng giáo dục sẽ thay đổi. Trẻ em sẽ học bên ngoài nhiều hơn ở trường học. Năm học bắt buộc sẽ ngắn hơn chứ không phải dài hơn. Giáo dục sẽ trở thành phân tán hơn và liên kết với công việc chặt chẽ hơn. Và công việc, dù là sản xuất cho thị trường hoặc cho tiêu-sản để dùng ở nhà, sẽ bắt đầu sớm hơn trong cuộc đời. Vì những lý do như thế, nền văn minh Làn sóng thứ ba có thể phát huy những nét khác nhau trong thanh niên.
    Dù điều trên có xảy ra hay không, song một điều chắc chắn là sự trưởng thành sẽ khác nhau. Và từ đó nhân cách cũng khác nhau.
    NGƯỜI LAO ĐỘNG MỚI
    Khi thanh niên trưởng thành và đi vào thị trường công việc, sẽ có những lực mới tác động lên tính cách của họ.
    Trong kỷ nguyên Làn sóng thứ hai, công việc trong nhà máy và văn phòng cứ lặp đi lặp lại, chuyên môn hóa, chặt chẽ về thời gian, các ông chủ muốn người làm việc phục tùng, đúng giờ và vui vẻ thực hiện những nhiệm vụ quen thuộc. Các đặc điểm tương ứng cũng đã được đào tạo ở trường học và được các công ty khuyến khích.
    Khi Làn sóng thứ ba tràn qua xã hội chúng ta, công việc ít lặp đi lặp lại hơn. Công việc ít tỉ mỉ hơn, với mỗi người làm một nhiệm vụ lớn hơn. Thời gian linh hoạt và nhịp điệu riêng thay thế cho việc đồng bộ hóa đại chúng về hành động. Người làm việc bị buộc phải đối phó với những thay đổi thường xuyên hơn trong nhiệm vụ của họ, cũng như là phải đối phó với sự thay đổi vị trí cá nhân, thay đổi sản phẩm và sự tổ chức lại.
    Do đó, những gì mà các ông chủ Làn sóng thứ ba ưa thích là những người chấp nhận trách nhiệm, hiểu được làm thế nào công việc của họ ăn khớp với công việc của những người khác, có thể xử lý những nhiệm vụ lớn hơn, nhanh chóng thích nghi với các tình huống thay đổi và hòa nhập được với những người xung quanh.
    Công ty Làn sóng thứ hai trả công xứng đáng cho thái độ quan liêu. Công ty Làn sóng thứ ba yêu cầu những con người phức tạp, có cá tính rõ rệt, hãnh diện với những tính cách mà họ khác với mọi người. Họ tiêu biểu cho lực lượng lao động phi-đại chúng hóa được công nghiệp Làn sóng thứ ba cần đến.
    Trong các công ty Làn sóng thứ hai, mỗi người làm việc có một thủ trưởng độc nhất. Các cuộc tranh luận giữa những người làm việc thường phải đưa đến thủ trưởng để giải quyết. Trong các tổ chức ma trận mới, phong cách hoàn toàn mới. Người làm việc có nhiều thủ trưởng cùng một lúc. Những người với cấp bậc khác nhau và kỹ năng khác nhau sẽ làm việc chung với nhau trong các nhóm lâm thời.
    Hệ thống này sẽ phạt những người làm việc phục tùng một cách mù quáng. Nó sẽ cho phép một người dám nói ngược lại trong giới hạn cho phép. Những người làm việc ham tìm tòi, dám dấu tranh với những người quản lý, muốn làm việc có suy xét hoặc muốn công việc của họ có trách nhiệm với xã hội đã bị công nghiệp Làn sóng thứ hai xem là những người gây rối, thì ngược lại công nghiệp Làn sóng thứ ba không thể hoạt động nếu không có họ. Do đó, chúng ta đang thấy một sự thay đổi tế nhị nhưng sâu sắc trong các nét cá tính được hệ thống kinh tế mới coi trọng, một sự thay đổi định hình đặc tính xã hội đang xuất hiện.
    ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI TIÊU-SẢN
    Nền kinh tế gồm hai khu vực, khu vực sản xuất để trao đổi và khu vực tiêu sản. Mỗi khu vực đều có những tác động tâm lý riêng lên chúng ta. Mỗi khu vực đều khuyến khích đạo đức riêng của nó, các giá trị riêng của nó và định nghĩa riêng về thành công của nó.
    Trong Làn sóng thứ hai, sự phát triển rộng lớn của kinh tế thị trường trong các nước tư bản và xã hội chủ nghĩa đã khuyến khích đạo đức hám lợi. Nó đã sinh ra định nghĩa kinh tế hẹp hòi về sự thành công cá nhân. Ngược lại, Làn sóng thứ ba sẽ đẩy mạnh nền kinh tế tiêu-sản. Sự sản xuất để dùng này dường như sẽ có ý nghĩa kinh tế lớn hơn. Và khi nó bắt đầu chiếm nhiều thời gian và nghị lực của chúng ta hơn, nó sẽ định hình cuộc sống chúng ta và tạo ra đặc tính xã hội.
    Đạo đức thị trường xếp loại con người theo của cải họ có, đạo đức tiêu sản sẽ đánh giá con người căn cứ theo những gì con người làm được. Có nhiều tiền bạc vẫn còn được coi trọng, song những đặc tính khác cũng được xem trọng. Những đặc tính này có thể là tinh thần tự lực, khả năng thích nghi và tồn tại trong những điều kiện khó khăn, và khả năng tự làm các việc với chính bàn tay của mình. Hơn thế nữa, trong khi đạo đức thị trường khuyến khích sự theo đuổi một mục đích duy nhất thì đạo đức tiêu sản lại khuyến khích sự đa dạng mục đích.
    Một số lớn người làm việc trong sản xuất cho thị trường hàng ngày phải giải quyết với sự trừu tượng về chữ nghĩa, con số, mô hình mà họ biết rất ít về những điều đó. Đối với họ, công việc trí thức rất hấp dẫn nhưng nó lại không gắn với cuộc sống hàng ngày. Vậy nên những sự cổ vũ ngày nay về thủ công nghiệp, làm vườn... nghĩa là những gì làm bằng tay chân có thể là sự bù đắp vào tính trừu tượng trong khu vực sản xuất. Ngược lại, trong tiêu-sản chúng ta thường phải đối phó với thực tế cụ thể và ngay tức thì, nghĩa là sự tiếp xúc trực tiếp với sự việc và con người. Khi có nhiều người chia thời gian của họ cho sản xuất và cho tiêu-sản, thì họ ở vị trí vừa làm việc cụ thể, vừa làm việc trừu tượng, nghĩa là vừa làm việc trí óc vừa làm việc chân tay. Đạo đức tiêu-sản làm cho lao động thủ công được tôn trọng trở lại sau 300 năm bị xem thường. Và sự cân bằng này dường như sẽ ảnh hưởng đến việc phân phối những nét cá tính.
    Trong nền văn minh công nghiệp, công việc nhà máy đều phụ thuộc lẫn nhau một cách phổ biến, điều đó khiến cho đàn ông trở thành khách quan, trong khi những nhiệm vụ ít phụ thuộc lẫn nhau được phụ nữ làm tại nhà đã khiến cho phụ nữ trở thành chủ quan. Ngày nay có nhiều phụ nữ tham gia sản xuất cho thị trường, họ được khuyến khích suy nghĩ như đàn ông, nghĩa là họ được "khách quan hóa". Ngược lại, khi có nhiều đàn ông làm nhiều công việc nội trợ tại nhà, nhu cầu của họ làm việc cho "khách quan" giảm bớt, có nghĩa là họ bị "chủ quan hoá". Trong tương lai, khi nhiều người Làn sóng thứ ba phải chia cuộc sống của họ giữa làm việc không hết ngày công trong các công ty hoặc tổ chức lớn phụ thuộc lẫn nhau với làm việc cho mình cùng với gia đình trong các đơn vị tiêu-sản tự chủ, thì chúng ta có thể hy vọng có sự cân bằng giữa khách quan và chủ quan trong cả hai giới tính nam và nữ.
    Nói tóm lại, với sự tiêu-sản trở thành quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế, chúng ta đang tiến về một sự thay đổi tâm lý khác. Sự tác động tổng hợp của những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu-sản cùng với những thay đổi cơ bản trong nuôi dạy con cái và giáo dục sẽ có thể cải biến đặc tính xã hội của chúng ta cũng quyết liệt như Làn sóng thứ hai đã làm 300 năm trước đây.
    CUỘC CÁCH MẠNG THÔNG TIN
    Mối liên hệ giữa thông tin và các đặc tính của con người là phức tạp, nhưng không phải không phá vỡ được. Một cuộc cách mạng trong phương tiện thông tin có nghĩa là một cuộc cách mạng tâm lý. Trong thời kỳ Làn sóng thứ hai, con người bị chìm đắm trong hình ảnh sản xuất hàng loạt. Cá nhân được khuyến khích liên tục tự so sánh họ với một số ít mẫu hình nhân cách và sự đánh giá lối sống của họ theo các tiêu chuẩn chọn lọc. Do đó, phạm vi các kiểu cá tính được xã hội thừa nhận là tương đối hạn hẹp. Việc phi-đại chúng hóa thông tin đại chúng ngày nay tạo ra sự đa dạng về mô hình nhân cách và lối sống mà người ta có thể tự so sánh. Thay vì phải chọn trong những cá tính giống nhau, chúng ta buộc phải chọn cái riêng cho mình. Điều này rất khó thực hiện và nó giải thích tại sao hàng triệu người đang tìm kiếm một cách tuyệt vọng cho cá tính.
    Trong cố gắng đó, chúng ta nâng cao sự hiểu biết về tính cách riêng của mình, nghĩa là những nét không giống ai cả. Như thế hình ảnh riêng của chúng ta thay đổi. Chúng ta đòi hỏi phải được nhìn nhận, được đối xử như là cá nhân và điều này xảy ra đúng vào lúc hệ thống sản xuất mới yêu cầu có những người lao động cá nhân hóa hơn.
    Ngoài việc giúp chúng ta kết tinh những gì là đơn thuần cá nhân trong chúng ta, các phương tiện thông tin mới của Làn sóng thứ ba sẽ biến chúng ta thành người sản xuất ra chính bản thân mình. Trong Làn sóng thứ hai, những người thông tin chuyên nghiệp sản xuất ra những tin tức cho khán thính giả. Khán thính giả không thể phản ứng trực tiếp hoặc tác động qua lại với người truyền tin. Ngược lại, tính chất cách mạng nhất của các phương tiện thông tin mới là khả năng tác động qua lại cho phép cá nhân người dùng có thể thu phát hình ảnh vào ra với thế giới bên ngoài. Dây-cáp hai chiều, video cassette, máy photocopy và máy ghi âm - tất cả đều là phương tiện thông tin của cá nhân.
    Cuộc cách mạng thông tin cho chúng ta một hình ảnh phức tạp hơn về cái tôi. Nó làm chúng ta khác biệt nhiều hơn. Nó làm tăng tốc chính qui trình mà chúng ta thử tìm các hình ảnh khác nhau của cái tôi và gia tăng sự di chuyển của chúng ta qua các hình ảnh liên tiếp nhau. Nó giúp chúng ta phóng chiếu hình ảnh của mình ra thế giới bằng điện tử. Và chưa có ai đánh giá được hết tác động của nó đối với cá tính mỗi người. Vì trước đây chúng ta chưa hề có một công cụ nào mạnh mẽ như thế. Chúng ta càng ngày càng có thêm công nghệ nhận thức.
     
  8. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 27

    LĂNG TẨM CHÍNH TRỊ
    Không thể nào làm nổ bùng đồng thời cùng một lúc cuộc cách mạng trong năng lượng, cuộc cách mạng trong công nghệ, cuộc cách mạng trong cuộc sống gia đình, cuộc cách mạng trong vai trò giới tính và cuộc cách mạng trên khắp thế giới trong thông tin mà không phải đối mặt sớm hay muộn với cuộc cách mạng chính trị.
    Tất cả các đảng phái chính trị trong thế giới công nghiệp, tất cả các quốc hội và nghị viện, các tổng thống và thủ tướng, các tòa án và cơ quan tư pháp, các chính phủ quan liêu - nói tóm lại, tất cả các công cụ chúng ta dùng để vạch ra và duy trì các quyết định chung - đang lỗi thời và phải được biến đổi. Nền văn minh Làn sóng thứ ba không thể hoạt động với một cấu trúc chính trị như Làn sóng thứ hai. Cũng giống như các nhà cách mạng đã tạo ra kỷ nguyên công nghiệp không thể cai trị với bộ máy phong kiến, ngày nay một lần nữa chúng ta cần phát minh ra những công cụ chính trị mới.
    LỖ HỔNG ĐEN
    Ngày nay mặc dù sự nghiêm trọng chưa được thừa nhận, chúng ta đang chứng kiến một cuộc khủng hoảng sâu sắc không phải của chính phủ này hoặc chính phủ kia, mà là chính nền dân chủ đại nghị trong tất cả các hình thức của nó. Từ nước này sang nước khác, nền công nghệ chính trị của Làn sóng thứ hai đang hoạt động chệch choạc một cách nguy hiểm. Ở Mỹ chúng ta thấy một sự tê liệt hầu như hoàn toàn về những quyết định chính trị đối với các vấn đề sống chết của xã hội. Sáu năm sau sự cấm vận của OPEC, bộ máy chính trị Mỹ vẫn quay tròn trên cái trục của nó, không thể sản xuất ra được cái gì đấy giống như một chính sách năng lượng phù hợp.
    Lỗ trống chính trị này không phải là duy nhất. Mỹ cũng không có chính sách đô thị, chính sách môi trường, chính sách công nghệ, chính sách gia đình toàn diện hoặc rõ ràng. Nó cũng không có chính sách đối ngoại rõ ràng. Hệ thống chính trị Mỹ cũng không có khả năng hợp nhất hoặc ưu tiên hóa những chính sách như thế ngay cả khi chúng đã hiện hữu. Tuy nhiên sự phá sản của hệ thống quyết định này không phải là do một đảng hoặc một tổng thống gây ra. Nó đã nặng nề từ những năm 60 song không một tổng thống nào dù là cộng hòa hay dân chủ có thể vượt qua nổi khuôn khổ của hệ thống hiện nay. Những vấn đề chính trị này đang tác động xấu đến các thiết chế xã hội khác như gia đình, trường học và công ty.
    Hàng tá bộ luật với tác động trực tiếp vào cuộc sống gia đình đã hủy bỏ và gây mâu thuẫn lẫn nhau, làm xấu thêm sự khủng hoảng gia đình. Hệ thống giáo dục được cấp đầy ngân quỹ xây dựng vào đúng lúc số trẻ em đến tuổi đi học giảm xuống, như thế gây ra việc xây dựng vô ích trường học, và như thế lại phải cắt giảm ngân quỹ rất cần cho những mục đích khác. Trong khi đó công ty bị buộc phải hoạt động trong một môi trường chính trị phập phù đến nỗi họ không thể nói ngày mai chính phủ muốn gì ở họ.
    Cùng lúc đó, bộ máy luật lệ tạo ra một mạng lưới những qui định không thể nào chấp nhận được - chỉ trong một năm cho ra 45.000 trang những qui định phức tạp. 27 cơ quan chính phủ khác nhau giám sát 5600 điều lệ liên bang chỉ liên quan đến sản xuất thép. Sự phức tạp qua lại này đã kéo nền kinh tế xuống, trong khi đó những phản ứng thất thường của những người quyết định chính quyền làm tăng thêm ý thức vô chính phủ đang thắng thế. Hệ thống chính trị làm phức tạp thêm cuộc chiến đấu của các thể chế chính trị cho sự tồn tại.
    Sự tan rã về cơ chế quyết định này không phải chỉ có ở Mỹ. Các chính phủ Pháp, Đức, Nhật, Anh và Ý có cùng triệu chứng. Các nước công nghiệp cộng sản khác cũng vậy. Bộ máy quyết định chính trị trong tất cả các nước đó không ngừng bị căng thẳng, bị quá sức, quá tải, bị chìm ngập trong các số liệu không thích hợp và đối mặt với những mối nguy hiểm mới. Do đó, những gì chúng ta đang thấy là những người lãnh đạo chính phủ không có khả năng ra những quyết định ưu tiên cao, trong khi họ lao đầu đuổi theo những quyết định ít quan trọng. Đó là lý do tại sao nhiều người, gồm cả tầng lớp thượng lưu, cảm thấy quá bất lực.
    Sự tan vỡ về khả năng ra những quyết định đúng lúc và có hiệu lực đang thay đổi các mối quan hệ quyền lực trong xã hội. Bình thường thì các nhà cầm quyền trong bất kỳ xã hội nào cũng sử dụng hệ thống chính trị để củng cố luật lệ và mục đích của họ. Quyền lực của họ được xác định bởi khả năng làm cho một số việc xảy ra hoặc ngăn chặn một số việc không cho xảy ra. Điều này có nghĩa là khả năng của họ tiên đoán và kiểm soát được các biến cố.
    Ngày nay các nhà lãnh đạo không còn có thể đoán trước được kết quả của chính hành động của họ. Họ hoạt động trong một hệ thống chính trị không hợp thời, bị các biến cố bỏ quá xa, đến nỗi ngay cả khi được kiểm soát chặt chẽ vì các quyền lợi riêng tư của họ, các kết quả thường đem lại những điều ngược lại sự mong đợi. Nhưng cũng đừng tưởng rằng quyền lực mà các nhà lãnh đạo bị mất sẽ chuyển về cho xã hội. Quyền lực không được chuyển giao, nó càng ngày càng bị ngẫu nhiên hóa, đến nỗi chẳng ai biết ai chịu trách nhiệm về việc gì, ai có quyền hành thật sự hoặc quyền hành đó kéo dài trong bao lâu. Trong tình trạng nửa vô chính phủ này, người dân bình thường hoài nghi một cách đắng cay không chỉ đối với các nhà "đại biểu" của họ, mà còn đối với chính tình trạng được đại diện. Kết quả là "nghi thức đảm bảo" về bầu cử bắt đầu mất quyền lực của nó. Càng ngày càng có ít người đi bỏ phiếu bầu cử trong các nước công nghiệp cao. Các cử tri có ít lòng tin vào chính phủ của họ, họ cảm thấy xa cách với những người lãnh đạo của họ.
    Không phải chỉ ở Mỹ mà cả các nước Làn sóng thứ hai cũng bị sự thay đổi của Làn sóng thứ ba đụng đến, ở các nước này xuất hiện một lỗ hổng lớn về quyền lực - một "lỗ hổng đen" trong xã hội.
    QUÂN ĐỘI RIÊNG
    Những mối nguy hiểm từ lỗ hổng quyền lực này có thể được đánh giá bởi những gì xảy ra vào giữa những năm 70. Đó là sự cấm vận OPEC ảnh hưởng đến năng lượng và nguyên liệu, lạm phát và thất nghiệp bùng lên, đồng đô la bị giảm giá mạnh và châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh bắt đầu đòi sự thoả thuận kinh tế mới, những dấu hiệu về bệnh lý chính trị xuất hiện từ nước này sang nước khác trong các quốc gia Làn sóng thứ hai. Ở Anh, nơi nổi tiếng về sự khoan dung và lịch sự, các vị tướng về hưu bắt đầu tuyển mộ quân đội riêng để lập lại trật, tự, và một phong trào phát xít - Mặt trận quốc gia - đã đưa ứng cử viên ra tranh cử trong 90 khu vực bầu cử nghị viện. Những người phát xít và những người cánh tả đánh nhau ở đường phố Luân Đôn. Ở Ý, nhóm phát xít cánh tả - Lữ đoàn Đỏ - đã gia tăng bắt cóc và ám sát. Ở Ba Lan, cố gắng của chính phủ tăng giá thực phẩm để theo kịp lạm phát đã đưa đất nước đến bờ nổi loạn... Đúng là những dấu hiệu này về sự mất ổn định chính trị đã lu mờ khi các nền kinh tế công nghiệp hồi phục lại một phần vào cuối những năm 70. Tuy nhiên, những bằng chứng về sự mất ổn định làm chúng ta tự hỏi là hệ thống chính trị Làn sóng thứ hai hiện nay trong mỗi quốc gia công nghiệp có thể tồn tại trong các cuộc khủng hoảng sắp đến không. Vì những cuộc khủng hoảng của những năm 80 và 90 dường như nghiêm trọng hơn và nguy hiểm hơn các cuộc khủng hoảng trong quá khứ.
    Thực vậy, các hệ thống chính trị Làn sóng thứ hai ngày nay còn tệ hơn những năm 70, các chính phủ ít thẩm quyền hơn, ít có tầm nhìn chiến lược hơn và ít nhìn xa trông rộng hơn trong việc đối phó với các cuộc khủng hoảng của những năm 80 và 90. Và điều này khiến chúng ta phải xem xét lại từ gốc những ảo tưởng chính trị.
    PHỨC HỆ VỊ CỨU TINH
    Phức hệ vị cứu tinh là ảo tưởng mà chúng ta tự cứu lấy mình bằng việc thay đổi người cao nhất. Thấy các nhà chính trị Làn sóng thứ hai sai lầm trong việc giải quyết các vấn đề do Làn sóng thứ ba gây ra, hàng triệu người đi đến lời giải thích độc nhất, đơn giản, dễ hiểu là : "thất bại do sự lãnh đạo".
    Ngày nay sự khao khát có những người lãnh đạo siêu việt được những người thiện chí nhất lên tiếng khi thế giới của họ bị sụp đổ, khi môi trường của họ ngày càng không thể nói trước được và khi sự ước mong tha thiết của họ cho trật tự, cấu trúc và sự dự đoán để tăng lên. Ở Mỹ, tổng thống bị kết án là "thiếu sự lãnh đạo". Ở Anh, Thatcher được bầu vì bà ta đưa ra ảo tưởng là "Người đàn bà thép". Ngay cả trong các nước công nghiệp cộng sản, nơi mà sự lãnh đạo là bất kỳ cái gì đó trừ sự rụt rè, áp lực để có "sự lãnh đạo mạnh hơn" đang tăng cường. Ở Nhật, các nhóm cánh hữu đòi trở lại chủ nghĩa độc đoán trước chiến tranh...
    Nói tóm lại, sự dấy lên của yêu cầu "lãnh đạo mạnh hơn" trùng hợp với sự bùng nổ của các nhóm độc tài hy vọng có lợi trong sự tan rã của hệ thống chính phủ đại nghị. Bùi nhùi và ngọn lửa đang ở cạnh nhau một cách nguy hiểm.
    Tiếng la hét mãnh liệt này đòi hỏi sự lãnh đạo được dựa trên ba khái niệm sai, khái niệm đầu tiên là huyền thoại về tính hiệu quả độc đoán. Một số ít tư tưởng vẫn duy trì quan điểm cho rằng các nhà độc tài "làm cho tàu hỏa chạy đúng giờ". Ngày nay có nhiều thiết chế đang tan rã và việc không có khả năng dự báo là phổ biến đến nỗi hàng triệu người sẵn sàng đổi một ít tự do để làm cho các con tàu kinh tế, xã hội và chính trị chạy đúng giờ.
    Thế nhưng sự lãnh đạo mạnh, và ngay cả với chủ nghĩa độc đoán, đều không hình dáng gì đến tính hiệu quả. Không có bằng chứng gì cho thấy Liên Xô ngày nay hoạt động có hiệu quả, mặc dù sự lãnh đạo của nó chắc chắn "mạnh hơn" và độc đoán hơn sự lãnh đạo ở Mỹ, Pháp hoặc Thụy Điển. Ngoài quân đội, mật vụ và một số ít tổ chức khác quan trọng để làm cho chế độ tồn tại mãi mãi, theo sự đánh giá chung Liên Xô thực ra là một con tàu đang đầy nước. Đấy là một xã hội bị lụn bại lãng phí, vô trách nhiệm, trì trệ và tham nhũng - nói tóm lại, bởi "sự không có hiệu quả của độc đoán".
    Ngay cả nước Đức phát xít, rất có hiệu quả trong việc quét sạch người Ba Lan, người Nga,. người Do Thái, và những người "không thuộc chủng tộc Arian", và đã được xem là có hiệu quả ở những lĩnh vực khác, thế nhưng nếu so sánh kỹ với các lĩnh vực khác nữa thì nền Đế chế thứ Ba chỉ là một ví dụ về tính hiệu quả quân sự hoặc công nghiệp như một huyền thoại lố bịch.
    Cần nhiều thứ khác chứ không phải chỉ riêng lãnh đạo mạnh để làm cho con tàu chạy đúng giờ.
    Khái niệm sai thứ hai là việc cho rằng kiểu lãnh đạo đã hoạt động được trong quá khứ, thì ngày nay hoặc tương lai cũng vẫn sẽ hoạt động được. Khi chúng ta nghĩ về sự lãnh đạo thì chúng ta đang lần lượt nhớ lại những hình ảnh từ quá khứ - Rudơven, Churchill, Đờ Gôn. Thế nhưng các nền văn minh khác nhau đòi hỏi phẩm chất lãnh đạo vô cùng khác nhau. Và những gì là mạnh trong một nền văn minh này thì có thể lại là bất lực và yếu kém một cách thảm hại trong một nền văn minh khác.
    Trong nền văn minh nông nghiệp của Làn sóng thứ nhất, sự lãnh đạo bắt nguồn từ dòng dõi, chứ không phải là từ thành đạt trí thức. Một vị vua cần một số kỷ xảo thực tế có giới hạn như khả năng lãnh đạo trong chiến đấu, sự tinh khôn trong việc kích các nam tước chống đối lẫn nhau, sự tính toán trong hôn nhân vụ lợi. Biết đọc biết viết và khả năng tư duy trừu tượng không phải là những yêu cầu cơ bản. Hơn thế nữa, các lãnh chúa được tự do sử dụng quyền lực cá nhân một cách kỳ quái nhất mà không bị hiến pháp, tư pháp hoặc nhân dân kiểm tra. Nếu sự chuẩn y là cần thiết, thì điều đó chỉ do một nhóm nhỏ các nhà quí tộc, các quan đại thần. Các lãnh chúa có thể huy động sự ủng hộ này và điều đó được xem là "mạnh".
    Ngược lại, người lãnh đạo Làn sóng thứ hai phải làm việc với quyền lực khách quan và ngày càng trừu tượng. Ông ta phải ra nhiều quyết định về các sự việc rộng lớn, từ việc đối phó với thông tin đại chúng đến việc quản lý kinh tế vĩ mô. Quyết định của ông ta phải được thực hiện thông qua một loạt các tổ chức và cơ quan với các mối quan hệ phức tạp mà ông ta phải biết và có sự phối hợp. Ông ta phải biết đọc biết viết và phải có khả năng lý luận trừu tượng. Thay vì chỉ có một nhóm nhỏ các nam tước, ông ta phải đối phó với các nhà lãnh đạo cấp trên và cấp dưới. Hơn thế nữa, quyền lực của ông ta - ngay cả khi ông ta là một nhà độc tài chuyên chế - bị giới hạn bởi hiến pháp, bởi tiền lệ luật pháp, bởi những yêu cầu chính trị của đảng, và bởi sức mạnh dư luận quần chúng.
    Với những tương phản này, người lãnh đạo Làn sóng thứ nhất "mạnh nhất" nếu được đưa vào bộ khung chính trị Làn sóng thứ hai sẽ trở thành cực kỳ yếu rất dễ nhầm lẫn, sai lầm và không có khả năng giải quyết vấn đề so với một người lãnh đạo "yếu kém nhất" của Làn sóng thứ hai.
    Tương tự như thế, khi chúng ta tiến về một nền văn minh mới, thì các nhà lãnh đạo "mạnh" của xã hội công nghiệp không thể giữ được vị trí của mình vì không có khả năng giải quyết các vấn đề mới. Sự tìm kiếm các nhà lãnh đạo cả quyết, khăng khăng bám giữ ý kiến của mình chỉ là sự nuốii tiếc quá khứ, một sự tìm kiếm dựa trên những giả thiết lỗi thời. "Sự yếu kém" của các nhà lãnh đạo ngày nay không phản ánh phẩm chất cá nhân mà đó là hậu quả sự sụp đổ của các thiết chế tạo nên quyền lực của họ.
    Khi Làn sóng thứ ba tiếp tục biến đổi xã hội, đưa xã hội phát triển đến mức cao hơn về tính đa dạng và tính phức tạp thì tất cả các nhà lãnh đạo trở thành phụ thuộc nhiều hơn vào số người giúp họ soạn thảo và thực hiện các quyết định. Lãnh đạo càng có những công cụ hùng mạnh bao nhiêu như máy bay chiến dấu phản lực, vũ khí nguyên tử, máy computơ, viễn thông, thì lãnh đạo càng bị phụ thuộc.
    Đây là mối quan hệ không thể phá vỡ được vì nó phản ánh độ phức tạp đang gia tăng mà trên đó quyền lực đang dựa vào. Điều này giải thích tại sao tổng thống Mỹ ngồi cạnh nút bấm nguyên tử có thể phá tung hành tinh, mà vẫn cảm thấy bất lực. Công suất và không công suất là hai mặt đối nhau của một mạch vi điện tử.
    Vì những lý do trên, nền văn minh Làn sóng thứ ba đòi hỏi một kiểu lãnh đạo mới hoàn toàn. Những phẩm chất cần thiết của các nhà lãnh đạo Làn sóng thứ ba chưa thật sự rõ ràng. Có thể sức mạnh của người lãnh đạo nằm trong việc lắng nghe người khác, nằm trong trí tưởng tượng, nằm trong sự thừa nhận về tính bị giới hạn của sự lãnh đạo trong thế giới mới. Các nhà lãnh đạo ngày mai có thể phải đối phó với một xã hội phân quyền và đa dạng hơn ngày nay. Sự lãnh đạo ngày mai có thể là tạm thời hơn, ứng biến hơn.
    Ngay cả khi có các ông thánh, các thiên tài, các anh hùng cứu chúng ta ra khỏi thảm họa, chúng ta vẫn phải đối diện với sự khủng hoảng về chính phủ đại nghị - nghĩa là nền công nghệ chính trị của kỷ nguyên Làn sóng thứ hai.
    MẠNG THẾ GIỚI
    Nếu chỉ phải lo lắng chọn lãnh đạo "giỏi nhất" thì vấn đề có thể được giải quyết ngay trong khuôn khổ của hệ thống chính trị hiện nay. Tuy nhiên vấn đề còn sâu sắc hơn nhiều. Các nhà lãnh đạo, dù là những người "giỏi nhất" cũng vẫn bị tê liệt bởi những thể chế lỗi thời mà họ phải cùng nhau làm việc.
    Các cấu trúc chính phủ và chính trị đã được thiết kế vào thời kỳ nhà nước - quốc gia đang hình thành. Mỗi chính phủ có thể ra những quyết định ít nhiều độc lập. Ngày nay điều đó không thể được nữa mặc dù chúng ta. vẫn duy trì huyền thoại chủ nghĩa. Lạm phát trở thành một căn bệnh truyền nhiễm quốc tế đến nỗi ông Brêgiơnhép hoặc người kế vị cũng không thể ngăn chặn được căn bệnh vượt qua biên giới. Các quốc gia công nghiệp cộng sản, mặc dù chỉ bị nền kinh tế thế giới ảnh hưởng một phần và được kiểm soát chặt chẽ bên trong, song vẫn phải phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên bên ngoài về dầu khí, trực phẩm, công nghệ, tín dụng và những nhu cầu khác. Năm 1979, Liên Xô bị buộc phải tăng giá nhiều mặt hàng tiêu dùng. Tiệp Khắc tăng gấp đôi giá xăng dầu. Hunggari tăng giá điện lên 51%.
    Pháp xây dựng nhà máy xử lý nguyên tử ở một nơi nếu bụi phóng xạ thoát ra sẽ bay sang Anh. Rò rỉ dầu Mêhicô ảnh hưởng đến bờ biển Texas cách đó 500 dặm. Và nếu Saudi Arabia hoặc Libria tăng hoặc giảm quôta sản xuất dầu thì điều đó sẽ ảnh hưởng lâu dài hoặc tức khắc đến nền sinh thái của nhiều nước.
    Trong cái mạng liên kết chặt chẽ với nhau này giữa các nước, các nhà lãnh đạo quốc gia mất nhiều tính hiệu quả của họ dù có nói gì đi chăng nữa. Những quyết định của họ có thể gây ra những ảnh hưởng đắt giá, không được mong muốn, nguy hiểm ở mức độ thế giới và khu vực. Qui mô của chính phủ và sự phân bổ quyền lực quyết định là hoàn toàn không đúng cho thế giới ngày nay.
    Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những lý do giải thích tại sao cấu trúc chính trị hiện nay đã lỗi thời.
    VẤN ĐỀ HÀI HÒA CÁC MẶT
    Các thiết chế chính trị của chúng ta cũng phản ánh sự lỗi thời về kiến thức tổ chức. Mỗi chính phủ có các bộ chuyên về các lĩnh vực riêng biệt như tài chính, ngoại giao, quốc phòng, nông nghiệp, thương mại, bưu điện hoặc giao thông. Không một chính phủ Làn sóng thứ hai nào kể cả chính phủ độc tài hoặc tập quyền nhất, có thể giải quyết vấn đề hài hòa các mặt : làm thế nào hợp nhất những hoạt động của tất cả các đơn vị này để chúng có thể tạo ra các chương trình tổng thể và trật tự, chứ không phải là những hậu quả mâu thuẫn và tự hủy lẫn nhau.
    Những gì chúng ta học được trong các thập kỷ qua là các vấn đề chính trị và xã hội quan hệ qua lại với nhau, ví dụ năng lượng ảnh hưởng tới kinh tế, kinh tế ảnh hưởng tới y tế, y tế ảnh hưởng tới giáo dục, việc làm, cuộc sống gia đình và hàng ngàn thứ khác. Tìm cách đối phó với các vấn đề riêng biệt, tự nó vẫn là sản phẩm của tâm tình công nghiệp, chỉ tạo ra sự hỗn độn và tai họa. Thế nhưng cấu trúc tổ chức chính phủ đó đã phản ánh chính xác cách đặt vấn đề về thực tế của Làn sóng thứ hai. Cấu trúc lỗi thời này dẫn đến tranh chấp quyền lực không bao giờ dứt, đến việc các cơ quan giải quyết vấn đề riêng của mình mà không chú ý đến cơ quan khác và đến việc tạo ra những hiệu quả ngược lại. Điều này giải thích tại sao mỗi lần chính phủ cố gắng giải quyết một vấn đề lại đưa đến một loạt các vấn đề mới, thường là xấu hơn vấn đề cũ. Các chính phủ cố gắng giải quyết vấn đề liên kết các mặt bằng cách tập quyền nhiều hơn. Nhưng tập quyền không còn hoạt động được nữa. Một biện pháp tuyệt vọng khác là tạo ra vô số các ủy ban liên bộ để phối hợp và xem xét các quyết định. Kết quả là tăng thêm các bộ phận gây cản trở trên con đường mà các quyết định phải đi qua và làm phức tạp hóa hơn nữa những trạng thái phiền phức quan liêu. Các chính phủ và cấu trúc chính trị hiện nay của chúng ta lỗi thời vì chúng nhìn thế giới thông qua lăng kính Làn sóng thứ hai.
    SỰ TĂNG TỐC QUYẾT ĐỊNH
    Các chính phủ Làn sóng thứ hai và các thiết chế nghị viện đã được thiết kế để quyết định với tốc độ chậm chạp, phù hợp với một thế giới mà trong đó tin tức có thể cần cả tuần để đi từ tỉnh này sang tỉnh khác. Ngày nay khi Iran bắt giữ con tin ở Têhêran, các viên chức ở Oasinhtơn, Mátxcơva, Pari hoặc Luân Đôn có thể phải quyết định trong vòng vài phút. Tốc độ thay đổi cực nhanh làm các chính phủ và các nhà chính trị mất cảnh giác và làm cho họ nhiều khi dễ cảm thấy hoang mang và bối rối.
    Sự thay đổi xã hội cũng gia tăng và gây thêm áp lực đối với những người ra quyết định chính trị. Nghề chính trị chuyên nghiệp cũng tăng tốc và thường gây cho họ những bất ngờ. Đầu năm 1970, bà Thatcher tiên đoán rằng cho đến khi hết cuộc đời bà ta, sẽ không có phụ nữ được bổ nhiệm chức vụ cao nhất trong nội các Anh. Năm 1979, bà giữ chức Thủ tướng. Ở Mỹ, khi Carter đắc cử Tổng thống nhưng chưa nhậm chức, chính ông ta chứ không phải Ford đối phó với các vấn đề về Trung Đông, khủng hoảng năng lượng và các vấn đề khác trước khi các hòm phiếu được đếm hết. Thời gian chính trị quá gấp gáp, lịch sử chuyển động quá nhanh không cho phép được chậm trễ.
    Việc tăng tốc đời sống chính trị phản ánh sự tăng tốc những biến đổi xã hội nói chung làm tăng sự tan vỡ các chính phủ và các chính sách. Nói một cách đơn giản là các nhà lãnh đạo của chúng ta bị buộc phải làm việc thông qua các thiết chế Làn sóng thứ hai được thiết kế cho một xã hội trì trệ hơn, họ không thể có được những quyết định thông minh như các biến cố nhanh đòi hỏi. Hoặc là quyết định ra quá muộn hoặc không có quyết định gì cả.
    Sự tăng tốc thay đổi áp đảo khả năng quyết định của các thiết chế của chúng ta, làm cho cấu trúc chính trị ngày nay lỗi thời dù đó là ý thức hệ hoặc sự lãnh đạo. Những thiết chế này không tương xứng về qui mô, cấu trúc và tốc độ.
    SỰ NHẤT TRÍ BỊ TAN VỠ
    Làn sóng thứ hai sinh ra xã hội đại chúng, còn Làn sóng thứ ba phi đại chúng hóa chúng ta, đưa toàn bộ hệ thống xã hội đến một trình độ cao hơn về tính đa dạng và tính phức tạp. Qui trình cách mạng này giống như sự khác biệt sinh học xảy ra trong qui trình tiến hóa, giúp giải thích một trong những hiện tượng chính trị được chú ý nhiều nhất ngày nay - Sự nhất trí bị tan vỡ.
    Từ nước công nghiệp này sang nước công nghiệp khác, chúng ta nghe các nhà chính trị than phiền về việc không có "mục đích quốc gia", về sự xói mòn "thống nhất quốc gia", về việc thiếu "tinh thần đoàn kết" như trước kia và về sự bùng nổ của các nhóm phái trên từng vấn đề như phá thai, kiểm soát vũ khí, quyền đồng tính luyến ái, năng lượng nguyên tử, v.v… Các nhóm phái này quá đa dạng ở cấp quốc gia và cả địa phương đến nỗi các nhà chính trị và các viên chức không thể nào theo dõi nổi nữa. Những khái niệm của chúng ta về liên minh chính trị, liên kết hoặc mặt trận thống nhất cũng nhanh chóng bị lãng quên. Trong xã hội Làn sóng thứ hai, một nhà lãnh đạo chính trị có thể thống nhất một nửa tá các khối quần chúng và các tổ chức với hy vọng là liên minh này kéo dài trong nhiều năm. Ngày nay, cần phải liên kết hàng trăm, hàng ngàn các nhóm nhỏ, quyền lợi đặc thù và thời gian tồn tại không lâu, do đó sự liên minh cũng tồn tại ngắn ngủi.
    Sự phi đại chúng hóa này về đời sống chính trị phản ánh tất cả những khuynh hướng trong công nghệ, sản xuất, thông tin và văn hóa làm khó khăn thêm cho các nhà chính trị phải ra những quyết định sống còn. Những đòi hỏi đặc biệt tràn ngập các cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp quan liêu bằng đủ mọi con đường. Những đòi hỏi quá nhiều này làm cho các nhà chính trị chẳng còn thời gian để suy nghĩ kỹ lưỡng nữa. Hơn thế nữa, vì xã hội đang thay đổi với tốc độ nhanh, thì một quyết định chậm trễ còn tệ hơn là không có quyết định gì cả, tất cả mọi người đều đòi phải trả lời ngay tức khắc.
    Tình hình có khác nhau ở từng nước, nhưng điều không khác nhau là sự thách thức có tính cách mạng do Làn sóng thứ ba đặt ra cho các thiết chế Làn sóng thứ hai lỗi thời vì đã quá chậm so với nhịp điệu thay đổi, vì không có khả năng đối phó với những mức độ mới của sự đa dạng xã hội và chính trị. Sự thách thức này tấn công vào khái niệm cơ bản của lý thuyết chính trị Làn sóng thứ hai : khái niệm về đại diện.
    Thật vậy, mặc dù các hệ thống chính trị của chúng ta về lý thuyết được xây dựng trên nguyên tắc đa số, nhưng sự đa dạng có nghĩa là không thể tạo ra được một đa số ngay cả cho các vấn đề quyết định sống còn. Từ đó, sự tan vỡ về nhất trí có nghĩa rằng ngày càng có nhiều chính phủ là chính phủ thiểu số dựa trên những liên minh không chắc chắn.
    Vì đa số không có được nên nó làm cho khái niệm dân chủ trở thành khôi hài. Dưới sự hội tụ của tốc độ và đa dạng, nó buộc chúng ta phải tự hỏi là có cử tri nào được "đại diện" không. Trong xã hội công nghiệp đại chúng, khi con người và nhu cầu của họ tương đối đồng đều và cơ bản, sự nhất trí là một mục tiêu có thể đạt được. Trong xã hội phi đại chúng hóa, không những chúng ta không có mục đích quốc gia, mà chúng ta còn không có cả mục đích của tỉnh hoặc thành phố. Sự đa dạng trong khu vực bầu cử nghị viện hoặc quốc hội quá lớn đến nỗi không có một "đại biểu" nào dám khẳng định một cách hợp pháp là phát ngôn cho sự nhất trí. Họ không thể đại diện cho nguyện vọng chung vì một lý do đơn giản là không có nguyện vọng chung. Vậy thì, điều gì xảy ra cho chính khái niệm về "dân chủ đại nghị" ?
    Đặt câu hỏi này không phải để tấn công dân chủ, mà để làm rõ một việc : không phải chỉ các thiết chế Làn sóng thứ hai mà ngay các khái niệm làm chỗ dựa cho các thiết chế ấy đã lỗi thời. Nói tóm lại, nền công nghệ chính trị lỗi thời và quá tải của thời đại công nghiệp đang tan rã dưới. chính con mắt chúng ta.
    SỰ NỔ TUNG BÊN TRONG CÁC QUYẾT ĐỊNH
    Quá nhiều quyết định, quá nhiều vấn đề kỳ lạ và không quen thuộc đã chứng minh sự bất lực của các quyết định chính trị ngày nay. Các thiết chế của chúng ta đang quay cuồng vì sự bùng nổ bên trong các quyết định. Hoạt động với nền công nghệ chính trị lỗi thời, khả năng ra các quyết định có hiệu lực của chính phủ đang nhanh chóng xấu đi. Các cơ quan hành pháp cũng chẳng hơn gì. Có bộ bị nghiền nát dưới sức nặng của các quyết định đang gia tăng. Có bộ bị buộc phải củng cố vô số các qui định và phải tạo ra một số lớn các quyết định hàng ngày dưới những áp lực vô cùng lớn.
    Những gì mà chúng. ta đang phải đối mặt là một sự thực mới và những đe dọa mới. Chừng nào còn bị buộc phải hoạt động trong các thiết chế không phù hợp, suy sụp và quá tải, thì các nhà lãnh đạo dù mạnh đến đâu cũng không thể giải quyết được các cuộc khủng hoảng chính trị.
    Một hệ thống chính trị không những phải có khả năng vạch ra và củng cố các quyết đinh ; mà còn phải hoạt động với qui mô đúng, phải có khả năng kết hợp hài hòa các chính sách khác hẳn nhau, phải có khả năng ra quyết định đúng, phải phản ánh và đáp ứng tính đa dạng của xã hội. Nếu nó thất bại ở bất kỳ điểm nào trên đây, thì nó chuốc lấy tai họa. Vấn đề của chúng ta không còn là vấn đề của "cánh tả" hoặc "cánh hữu", "lãnh đạo mạnh" hoặc "lãnh đạo yếu". Hệ thống quyết định mới tự nó trở thành một mối đe dọa.
    Sự lỗi thời nhanh chóng của các hệ thống chính trị Làn sóng thứ hai trong một thế giới sẵn sàng đánh nhau bằng vũ khí nguyên tử và ở bên bờ phá sản kinh tế hoặc sinh thái, đang tạo ra một nguy cơ vô cùng lớn cho toàn xã hội. Cái gọi là các hệ thống chính tri "hiện đại" sao chép từ mô hình được phát minh trước khi hệ thống nhà máy xuất hiện - trước tủ lạnh, nhiếp ảnh, máy đánh chữ, điện thoại, máy bay, ôtô, rađiô, tivi, tên lửa, computơ,... chúng được thiết kế trong một thế giới trí thức hầu như không tưởng tượng nổi - một thế giới trước Mác, trước Đácuyn, trước Freud, trước Anhxtanh.
    Vậy thì đây là vấn đề chính trị quan trọng nhất đối diện với chúng ta : sự lỗi thời của các thiết chế chính quyền và chính trị cơ bản nhất của chúng ta.
     
  9. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 28

    DÂN CHỦ THẾ KỶ XXI
    Việc xây dựng một nền văn minh mới trên đống đổ nát của nền văn minh cũ liên quan đến sự thiết kế các cấu trúc mới, thích ứng hơn trong nhiều quốc gia đồng thời cùng một lúc. Đây là một đề án khó khăn nhưng cần thiết và chắc chắn cần nhiều thập kỷ để hoàn thành.
    Có nhiều khả năng sẽ phải có cuộc đấu tranh kéo dài để xem xét lại toàn bộ một cách cơ bản quốc hội Mỹ, Trung ương Đảng và Bộ Chính trị của các quốc gia công nghiệp cộng sản, Hạ nghị viện và Thượng nghị viện Anh, Quốc hội Pháp, Đức, Nhật, các bộ khổng lồ và các cơ quan dân sự của nhiều quốc gia, hiến pháp và hệ thống tòa án - nói tóm lại, hầu hết các bộ máy ngày càng không hoạt động được nữa của các chính phủ coi như mang tính đại nghị.
    Làn sóng đấu tranh chính trị này cũng không dừng lại ở cấp quốc gia. Trong những thập kỷ sắp đến, toàn bộ "bộ máy luật pháp toàn cầu", từ Liên Hợp Quốc đến hội đồng thành phố, sẽ đối mặt với sự đòi hỏi không chống lại được về việc phải cấu trúc lại.
    Tất cả những cấu trúc này sẽ bị thay đổi một cách cơ bản, không phải vì chúng có hại, cũng không phải vì chúng bị giai cấp này hoặc nhóm nọ kiểm soát, mà vì chúng ngày càng không hoạt động được nữa, chúng không còn phù hợp với những nhu cầu của một thế giới đang thay đổi.
    Nhiệm vụ này liên quan đến hàng trăm triệu người. Nếu sự xem xét lại toàn bộ này bị cản trở thô bạo, nó có thể gây ra cảnh đổ máu. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến diễn biến và kết quả của quá trình này như các nhà lãnh đạo linh hoạt hoặc không khoan nhượng, sự thay đổi có được giúp sức bằng sự phá sản kinh tế hay không. Rõ ràng các mối nguy hiểm là lớn. Thế nhưng còn nguy hiểm hơn nếu không xem xét lại toàn bộ các thiết chế chính trị và chúng ta càng bắt đầu sớm chừng nào thì càng an toàn chừng ấy.
    Để xây dựng các chính phủ mới hoàn toàn và để tiến hành nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, chúng ta sẽ phải lột bỏ sự dập khuôn tích lũy suốt kỷ nguyên Làn sóng thứ hai. Và chúng ta sẽ phải suy nghĩ lại đời sống chính trị theo ba nguyên tắc then chốt.
    QUYỀN LỰC THIỂU SỐ
    Nguyên tắc đầu tiên của chính phủ Làn sóng thứ ba là quyền lực thiểu số. Nguyên tắc đa số là nguyên tắc hợp pháp then chốt của kỷ nguyên Làn sóng thứ hai đang ngày càng lỗi thời. Không phải đa số mà là thiểu số được quan tâm đến. Và các hệ thống chính trị của chúng ta phải phản ánh sự việc đó.
    Ngày nay chúng ta đang rời bỏ chủ nghĩa công nghiệp và đang nhanh chóng trở thành một xã hội phi - đại chúng hóa. Do đó, càng ngày càng khó khăn huy động một đa số hoặc một liên minh cầm quyền. Đây là lý do tại sao Italia trong 6 tháng và Hà Lan trong 5 tháng không có chính phủ. Các nhà cai trị Làn sóng thứ hai luôn luôn tự cho là phát ngôn nhân danh đa số, vì tính hợp pháp của họ phụ thuộc vào nó. Chính phủ Mỹ là "của dân... do dân... và vì dân". Đảng Cộng sản Liên Xô phát ngôn cho "giai cấp lao động". Ông Nixon nhận là đại diện cho "đa số thầm lặng" Mỹ. Và ở Mỹ ngày nay, các nhà trí thứ tân - bảo thủ tấn công những đòi hỏi của các nhóm thiểu số như da đen, phụ nữ, hoặc người Chicago, và nhận là phát ngôn cho quyền lợi của đa số rộng lớn, vững chắc, ôn hòa. Thế nhưng các nhà tân bảo thủ có thể đang khéo che đậy các chính sách chống thiểu số của họ trong vỏ bọc của một đa số huyền thoại chứ không phải là thực tế.
    Điều đó cũng đúng cho những hình ảnh chính trị khác. Trong nhiều nước Tây Âu, các đảng xã hội chủ nghĩa và cộng sản nhận là phát ngôn cho "quần chúng lao động". Thế nhưng khi chúng ta càng rời xa xã hội đại chúng công nghiệp bao nhiêu, thì những luận điểm mácxít càng ít được bảo vệ bấy nhiêu. Vì cả quần chúng và giai cấp công nhân đang mất nhiều ý nghĩa trong nền văn minh Làn sóng thứ ba.
    Thay vì một xã hội nhiều tầng lớp mà trong đó một số các lực lượng liên minh để tạo ra đa số, chúng ta có một xã hội tổng thể - nghĩa là một xã hội với hàng ngàn nhóm thiểu số tạo thành các mô hình tạm thời, ít khi đạt được sự nhất trí 51% về các vấn đề chính. Như thế nền văn minh Làn sóng thứ ba làm yếu đi chính tính hợp pháp của nhiều chính phủ hiện nay.
    Làn sóng thứ ba cũng thách thức tất cả những nhận thức truyền thống của chúng ta về mối quan hệ giữa nguyên tắc đa số và công bằng xã hội. Trong suốt kỷ nguyên nền văn minh Làn sóng thứ hai, cuộc chiến đấu cho nguyên tắc đa số đã có ý nghĩa nhân đạo và giải phóng. Trong các xã hội Làn sóng thứ hai, nguyên tắc đa số luôn luôn có nghĩa là sự thay đổi tốt hơn cho người nghèo. Vì người nghèo đã là đa số. Song, ngày nay chính sự ngược lại mới đúng ở trong những nước bị Làn sóng thứ ba tác động. Những người thật sự nghèo không còn chiếm con số lớn nữa. Ở nhiều nước họ trở thành thiểu số. Do đó, nguyên tắc đa số không còn là một nguyên tắc hợp lý nữa, nó cũng không còn nhân đạo hoặc dân chủ nữa trong các xã hội đang đi vào Làn sóng thứ ba.
    Các nhà tư tưởng của Làn sóng thứ hai thường xuyên than vãn về sự tan tã của xã hội đại chúng. Thay vì xem sự đa dạng phong phú này là một cơ hội cho sự phát triển nhân loại, họ phê phán nó là "tủn mủn" và qui cho nó là "sự ích kỷ" của các nhóm thiểu số. Lời giải thích tầm thường này coi hậu quả là nguyên nhân. Vì sự hoạt động gia tăng của các nhóm thiểu số không phải là kết quả của sự bắt đầu đột ngột về ích kỷ ; nó phản ánh những nhu cầu của một hệ thống sản xuất mới đòi hỏi một xã hội đa dạng, cởi mở và khác nhau.
    Những tiềm ẩn của sự việc này là vô cùng lớn. Ví dụ, khi người Nga cố gắng hủy diệt sự đa dạng mới hoặc ngăn chặn sự đa nguyên chính trị, họ "kềm chế phương tiện sản xuất" - nghĩa là họ làm chậm lại sự biến đổi kinh tế và công nghệ của xã hội. Chúng ta ở thế giới không cộng sản cũng phải đối diện với cùng sự chọn lựa : hoặc chúng ta chống lại bước tiến về đa dạng trong một cố gắng vô ích cuối cùng để cứu vãn các thiết chế chính trị Làn sóng thứ hai của chúng ta, hoặc chúng ta chấp nhận sự đa dạng và thay đổi những thiết chế cho phù hợp.
    Sự chọn lựa thứ nhất chỉ có thể được thực hiện bằng các phương pháp độc đoán và sẽ gây ra sự đình trệ kinh tế, văn hóa ; sự chọn lựa thứ hai đưa đến sự tiến hóa xã hội và nền dân chủ thế kỷ XXI dựa trên thiểu số.
    Để xây dựng lại dân chủ trong Làn sóng thứ ba, chúng ta cần phải vứt bỏ nhận thức sai lầm cho rằng sự đa dạng tăng lên sẽ đưa đến căng thẳng và khủng hoảng tăng lên trong xã hội. Điều ngược lại mới là đúng. Xung đột trong xã hội không chỉ là cần thiết mà nó còn đáng mong muốn trong những giới hạn nào đó. Nếu có được những sắp xếp xã hội phù hợp, sự đa dạng có thể tạo ra một nền văn minh an toàn và ổn định.
    Ngày nay chính việc không có các thiết chế chính trị phù hợp làm trầm trọng một cách không cần thiết sự xung đột giữa các nhóm thiểu số để dẫn đến bờ bạo động. Chính việc không có những thiết chế như thế làm các nhóm thiểu số không khoan nhượng và làm cho ngày càng khó tìm được đa số. Câu trả lời cho những vấn đề này là không phải che giấu sự bất đồng quan điểm hoặc buộc tội các nhóm thiểu số là ích kỷ. Câu trả lời nằm trong những giải pháp hòa giải mới cho sự đa dạng hợp pháp và phù hợp - nghĩa là những thiết chế mới nhạy cảm với những nhu cầu dịch chuyển nhanh chóng của các nhóm thiểu số đang thay đổi và đang tăng lên. Sự xuất hiện của nền văn minh phi-đại chúng hóa đặt tương lai của nguyên tắc đa số và toàn bộ hệ thống bầu cử thành vấn đề. Chúng ta cần những cách đặt vấn đề mới được thiết kế cho nền dân chủ của các nhóm thiểu số. Chúng ta cần hiện đại hóa toàn bộ hệ thống để tăng cường vai trò của các nhóm thiểu số khác nhau nhằm cho phép họ tạo thành đa số. Tuy nhiên, để làm điều đó sẽ cần những thay đổi cơ bản trong các cấu trúc chính trị của chúng ta, bắt đầu với chính biểu tượng của dân chủ là thùng phiếu.
    Trong các xã hội Làn sóng thứ hai, bầu cử để xác định nguyện vọng, nhân dân đã cung cấp một hậu thuẫn (hay một nguồn tiếp sức) quan trọng cho các nhà lãnh đạo. Vì lý do này hay lý do khác, khi các điều kiện trở thành không thể chấp nhận được cho đa số, và 51% người bầu cử biểu lộ sự mệt mỏi của họ, các nhà lãnh đạo có thể thay đổi đảng phái, thay đổi chính sách hoặc tạo ra một số liên minh khác. Tuy nhiên, ngay cả trong xã hội đại chúng của ngày hôm qua, nguyên tắc 51% rõ ràng là một công cụ đơn thuần về lượng. Bầu cử để xác định đa số không cho thấy gì về chất lượng những quan điểm của một người.
    Trong một xã hội đại chúng, những điểm yếu cơ bản của nguyên tắc đa số được bỏ qua vì hầu hết các nhóm thiểu số thiếu quyền lực chiến lược để phá vỡ hệ thống. Trong xã hội liên kết tinh vi ngày nay mà tất cả chúng ta là thành viên của các nhóm thiểu số thì điều trên không còn đúng nữa. Với một xã hội Làn sóng thứ ba phi - đại chúng hóa, hệ thống hậu thuẩn của quá khứ công nghiệp là quá thô thiển, nên chúng ta sẽ phải sử dụng bầu cử theo một cách cơ bản mới.
    Có nhiều cách nhằm tăng quyền lực cho các nhóm thiểu số, nhưng điều quan trọng ở đây không phải là những đề nghị cụ thể. Điều quan trọng là con đường chúng ta chọn để đi. Hoặc chúng ta chiến đấu chống lại các nhóm thiểu số đang nổi lên, hoặc chúng ta xây dựng lại hệ thống chính trị của chúng ta để thích ứng với sự đa dạng mới. Chúng ta có thể tiếp tục sử dụng các công cụ đàn áp thô thiển của hệ thống chính trị Làn sóng thứ hai, hoặc chúng ta có thể thiết kế những công cụ mới cho một nền dân chủ dựa trên thiểu số của ngày mai.
    Khi Làn sóng thứ ba phi-đại chúng hóa xã hội đại chúng Làn sóng thứ hai, những áp lực của nó sẽ bức chế sự chọn lựa đó. Vì nếu chính trị đã là "tiền-đa số" trong Làn sóng thứ nhất, và "đa số" trong Làn sóng thứ hai, thì nó dường như sẽ là "tiểu-đa số" ngày mai - một sự hợp nhất của nguyên tắc đa số với quyền lực thiểu số.
    DÂN CHỦ BÁN - TRỰC TIẾP
    Cột trụ thứ hai của các hệ thống chính trị ngày mai là nguyên tắc "dân chủ bán-trực tiếp" - sự thay thế các đại biểu đại diện cho chúng ta. Sự kết hợp giữa dân chủ đại diện với dân chủ trực tiếp là nền dân chủ bán - trực tiếp.
    Sự nhất trí bị phá vỡ làm phá sản chính khái niệm đại diện. Không có sự nhất trí trong các cử tri ở khu vực bầu cử, thì đại biểu thực sự "đại diện" cho ai ? Đồng thời các nhà lập pháp ngày càng dựa vào bộ máy giúp việc và các chuyên gia bên ngoài cố vấn trong việc làm luật pháp, nghĩa là có sự dịch chuyển quyền lực khỏi quốc hội đến các cơ quan dân sự không được bầu cử. Các đại biểu trúng cử của chúng ta ngày càng hiểu biết ít hơn về các việc mà họ phải quyết định, họ bị buộc phải dựa ngày càng nhiều vào sự phán đoán của những người khác. Thậm chí đại biểu không còn đủ tiêu chuẩn để đại diện cho chính họ.
    Các nghị viện, các quốc hội là những nơi mà theo lý thuyết thì những tranh chấp giữa các nhóm thiểu số đối lập có thể được đưa ra giải quyết. "Đại biểu" của các nhóm có thể ngồi lại đàm phán với nhau. Nhưng ngày nay không nhà lập pháp nào lại có thể giám sát quá nhiều nhóm thiểu số mà họ đại diện, do đó để mặc cho các nhóm tự họ giải quyết với nhau. Các quốc hội càng quá tải bao nhiêu thì tình hình càng xấu thêm bấy nhiêu. Điều này giải thích tại sao những nhóm áp lực chính trị cho một vấn đề độc nhất trở thành không khoan nhượng. Các nhóm thấy cơ hội cho sự hòa giải phức tạp thông qua quốc hội hoặc cơ quan lập pháp là bị giới hạn, những đòi hỏi của họ đối với hệ thống trở thành không thương lượng được. Lý thuyết coi chính phủ đại nghị như là một người hòa giải cũng phá sản.
    Đàm phán không đem lại kết quả, các quyết định không được thực hiện, sự tê liệt tệ hại của các thiết chế đại nghị cho thấy về lâu dài, nhiều quyết định, hiện nay được thực hiện bởi một số nhỏ các nhà giả đại biểu, có thể phải chuyển về lại cho cử tri. Nếu các đại biểu trúng cử không thể đàm phán thay cho chúng ta thì chúng ta sẽ phải tự làm việc đó. Nếu luật lệ họ định ra xa rời những nhu cầu của chúng ta, thì chúng ta phải tự làm lấy luật lệ cho mình. Tuy nhiên để thực hiện điều này, chúng ta cũng sẽ cần các thiết chế mới và các công nghệ mới.
    Các nhà cách mạng Làn sóng thứ hai đã phát minh ra các thiết chế đại biểu đều hiểu về những khả năng dân chủ đại biểu trực tiếp đã có những dấu vết về nền dân chủ trực tiếp trong Hiến pháp cách mạng Pháp năm 1793. Mác và các đồ đệ của ông ta thường dẫn chứng Công xã Paris như là một mô hình về sự tham gia của nhân dân vào việc làm và thi hành luật pháp. Nhưng những nhược điểm và giới hạn của dân chủ trực tiếp cũng được biết rất rõ và vào thời điểm đó cũng có sức thuyết phục.
    Những nhược điểm của dân chủ trực tiếp là phản ứng tình cảm của nhân dân và thông tin. Các đại biểu do bầu cử được coi như là ít bị xúc động và thận trọng hơn quần chúng. Vấn đề phản ứng quá.tình cảm của quần chúng có thể được khống chế bằng nhiều cách khác nhau. Những điểm về thông tin cũng không còn nữa trong điều kiện dân chủ trực tiếp phát triển. Lần đầu tiên, những tiến bộ ngoạn mục trong nền công nghệ thông tin mở ra những khả năng cho sự tham gia trực tiếp của quần chúng vào các quyết định chính trị. Sử dụng máy computơ, vệ tinh, điện thoại, kỹ thuật bỏ phiếu, v.v... quần chúng có học có thể bắt đầu ra những quyết định chính trị của riêng họ.
    Vấn đề không phải là hoặc thế này hoặc thế kia. Đây không phải là lựa chọn hoặc dân chủ trực tiếp, hoặc dân chủ gián tiếp, hoặc tự đại diện, hoặc đại diện bởi người khác. Vì cả hai hệ thống đều có ưu điểm, và có nhiều cách sáng tạo để kết hợp sự tham gia trực tiếp của quần chúng với "đại diện" trong một hệ thống mới về dân chủ bán - trực tiếp.
    Có những cách thích ứng để mở lối ra và dân chủ hóa một hệ thống gần sụp đổ và trong hệ thống đó ít người cảm thấy được đại diện đầy đủ. Chúng ta không thể nào giải quyết vấn đề của chúng ta với các ý thức hệ, các mô hình, các cấu trúc của quá khứ Làn sóng thứ hai. Nền dân chủ bán - trực tiếp dường như rất nguy hiểm và kỳ lạ đối với một số người, nhưng nó là một nguyên tắc ôn hòa có thể giúp chúng ta thiết kế những thiết chế mới có thể hoạt động được cho tương lai.
    SỰ PHÂN CẤP, PHÂN CÔNG QUYẾT ĐỊNH
    Nguyên tắc sống còn thứ ba đối với nền chính trị tương lai là nhằm phá vỡ sự tắc nghẽn cơ chế quyết định và giao quyền quyết định vào đúng chỗ của nó. Điều này không phải đơn giản chỉ cần cải tổ lãnh đạo mà còn là vấn đề tìm thuốc chữa bệnh tê liệt chính trị - Đó là sự phân cấp và phân công quyết định.
    Một số vấn đề không thể giải quyết ở cấp địa phương. Một số khác không thể giải quyết ở cấp quốc gia. Một số khác đòi hỏi hành động ở nhiều cấp đồng thời cùng một lúc. Hơn thế nữa, nơi thích hợp để giải quyết vấn đề cũng thay đổi theo thời gian. Để giải tỏa sự tắc nghẽn quyết định do việc quá tải về thiết chế, chúng ta phải thực hiện việc phân công và phân cấp quyết định.
    Những thỏa thuận chính trị ngày nay vi phạm nguyên tắc này một cách nghiêm trọng. Vấn đề đã di chuyển, nhưng quyền lực quyết định không di chuyển. Thật vậy, quá nhiều quyết định vẫn còn tập trung và kiến trúc thiết chế vẫn phức tạp nhất ở cấp quốc gia. Ngược lại, thiếu những quyết định cần thiết ở cấp đa quốc gia và các cấu trúc ở cấp đó lại chậm phát triển một cách kinh khủng. Thêm vào đó, quá ít quyền quyết định dành cho cấp dưới quốc gia như : khu vực, tiểu bang, tỉnh, địa phương hoặc các nhóm xã hội không theo khu vực địa lý.
    Nhiều vấn đề mà các chính phủ quốc gia đang vật lộn là vượt quá khả năng của họ. Do đó, chúng ta cần phát minh những thiết chế mới ở cấp đa quốc gia để nhiều quyết định có thể được chuyển giao. Chúng ta cần những thoả thuận đa quốc gia mới để thiết lập các luật lệ về hoạt động công ty ở cấp toàn cầu. Chúng ta cần những côngsóoctiom và các tổ chức phi chính phủ để xử lý các vấn đề toàn cầu khác nhau.
    Chúng ta cần các cơ quan điều chỉnh tiền tệ không kiểm soát được. Chúng ta cần sự biến đổi hoàn toàn quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, COMECON, NATO và các thiết chế khác giống như thế...
    Ngày nay ở cấp đa quốc gia, chúng ta cũng ấu trĩ và chậm phát triển về chính trị giống như ở cấp quốc gia khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu cách đây 300 năm. Bằng việc chuyển một số quyết định ở cấp nhà nước - quốc gia lên trên, chúng ta không chỉ làm cho cấp giải quyết vấn đề có thể hành động một cách có hiệu quả, và đồng thời làm giảm gánh nặng quyết định cho trung tâm đang bị quá tải là cấp nhà nước - quốc gia. Sự phân cấp quyết định là thiết yếu.
    Nhưng không phải chỉ chuyển quyền quyết định lên trên, mà còn phải chuyển nó xuống dưới. Lại một lần nữa đây không phải là vấn đề hoặc thế này hoặc thế kia. Đây không phải là vấn đề phân quyền đối với tập quyền theo nghĩa tuyệt đối. Vấn đề là phân cấp lại cho hợp lý quyền quyết định trong một hệ thống quá nặng về tập quyền.
    Phân quyền chính trị có thể không đảm bảo dân chủ. Chính trị địa phương thường là bê bối hơn chính trị quốc gia. Hơn thế nữa, nhiều lúc phân quyền chỉ là giả tạo thực chất là vì quyền lợi của những người tập quyền. Tuy nhiên, không thể củng cố ý thức, trật tự và hiệu quả quản lý đối với nhiều chính phủ mà không thực sự ủy thác bớt quyền lực trung ương. Chúng ta cần phân chia gánh nặng quyết định và di chuyển một phần đáng kể quyết định xuống dưới.
    Hơn thế nữa, các thiết chế chính phủ phải tương quan với cấu trúc của kinh tế, của hệ thống tin tức và của những lĩnh vực khác của nền văn minh. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một sự phân quyền cơ bản về sản xuất và hoạt động kinh tế. Thực vậy, có thể về cơ bản không còn là nền kinh tế quốc gia nữa.
    Những gì chúng ta đang thấy là sự nổi lên của các nền kinh tế khu vực trong mỗi nền kinh tế quốc gia. Các chính sách kinh tế giống nhau được nặn ra ở Oasinhtơn, Pari, hoặc Bon có những tác động khác nhau trên những nền kinh tế khu vực này. Cùng một chính sách kinh tế quốc gia có thể giúp vùng hoặc ngành công nghiệp này phát triển, song lại có thể có tác dụng phá hoại đối với vùng hoặc ngành công nghiệp khác. Do đó, một số lớn chính sách kinh tế phải được phi-quốc gia hóa và phân quyền. Điều đó cho thấy dòng thông tin trong xã hội phải được lưu thông và sự phân quyền thông tin là cần thiết.
    Một xã hội phải phân quyền hoạt động kinh tế, thông tin và nhiều lĩnh vực khác, điều đó dẫn đến sớm hay muộn cũng buộc phải phân quyền việc vạch ra quyết định của chính phủ. Tất cả những điều trên đòi hỏí nhiều thay đổi trong các thiết kế chính trị hiện nay. Nó ẩn ngầm các cuộc chìến đấu để kiểm soát ngân sách, thuế má, đất đai, năng lượng và những nguồn tài nguyên khác. Phân cấp quyết định sẽ không đến dễ dàng, nhưng chắc chắn không tránh được trong những nước tập quyền và quá tập quyền.
    NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐANG PHÁT TRIỂN
    Khái niệm "gánh nặng quyết định" là quan trọng đối với bất kỳ sự hiểu biết nào về dân chủ. Tất cả các xã hội đều đòi hỏi phải có các quyết định chính trị phù hợp để có thể hoạt động. Mỗi xã hội có cơ hội quyết định riêng.
    Các quyết định được yêu cầu càng nhiều, thay đổi thường xuyên và phức tạp bao nhiêu để vận hành xã hội, thì "gánh nặng quyết định" chính trị càng nặng thêm bấy nhiêu. Và gánh nặng này được phân chia ra sao, điều đó ảnh hưởng một cách cơ bản đến mức độ dân chủ trong xã hội. Trong các xã hội tiền công nghiệp, với sự phân công lao động thô sơ và nhịp điệu thay đổi chậm chạp, số các quyết định chính trị và hành chính để giữ cho mọi việc hoạt động là ở mức tối thiểu. Gánh nặng quyết định nhỏ. Một nhóm ít các nhà cầm quyền với học vấn trung bình và không có chuyên môn cũng đủ để điều hành công việc mà không cần sự giúp đỡ từ dưới, tự họ gánh hết toàn bộ gánh nặng quyết định.
    Những gì mà bây giờ chúng ta gọi là sự bùng nổ dân chủ chỉ xẩy ra khi gánh nặng quyết định đột ngột vượt qua khả năng của các nhóm lãnh đạo cũ. Làn sóng thứ hai làm cho thương mại phát triển, phân công lao động gia tăng và đạt đến mức độ phức tạp hoàn toàn mới trong xã hội. Nó đã gây ra một sự bùng nổ bên trong cơ chế quyết định. Ngày nay Làn sóng thứ ba cũng đang gây ra điều đó. Do vậy, những khả năng quyết định của các nhóm lãnh đạo cũ bị vượt quá và các nhà lãnh đạo mới phải được tuyển mộ để đối phó với gánh nặng quyết định. Các thiết chế chính trị cách mạng mới phải được thiết kế cho mục đích đó.
    Khi xã hội nông nghiệp phát triển trở thành phức tạp hơn, những người ưu tú của nó - các kỹ thuật viên quyền lực - đến lượt họ bị buộc phải tuyển mộ thêm người mới để giúp họ đảm đương gánh nặng quyết định đang tăng thêm.
    Chính quá trình vô hình này đã đưa giai cấp trung lưu lên vũ đài chính trị. Tuy nhiên, vào bất kỳ thời điểm nào cũng có một giới hạn rõ ràng về số người được nhận vào tầng lớp lãnh đạo. Và giới hạn này được quy định bởi tầm cỡ của gánh nặng quyết định.
    Mặc dù có những nguyện vọng chính đáng của xã hội Làn sóng thứ hai, vẫn có một số nhóm dân cư bị loại trừ do phân biệt chủng tộc, do giới tính và vì các lý do khác tương tự. Khi xã hội đạt đến một mức mới về độ phức tạp và gánh nặng quyết định tăng lên, các nhóm bị loại trừ cảm nhận được những cơ hội mới nên đã đấu tranh quyết liệt, cho quyền bình đẳng của họ, các nhà lãnh đạo buộc phải mở rộng cửa ra một tí, và xã hội được hưởng thêm dân chủ.
    Điều này muốn nói sự mở rộng dân chủ phụ thuộc rất ít vào văn hóa, vào giai cấp mácxit, vào sự can đảm chiến trường, vào tu từ học và vào ý chí chính trị, mà phụ thuộc chủ yếu vào gánh nặng quyết định của bất kỳ xã hội nào. Một gánh nặng quyết định quá lớn sẽ phải chia sẻ thông qua sự tham gia dân chủ rộng lớn hơn. Do đó, chừng nào mà gánh nặng quyết định của hệ thống xã hội phát triển, dân chủ không phải là vấn đề chọn lựa mà là điều tất yếu của tiến hóa. Hệ thống không thể nào hoạt động mà không có dân chủ.
    CUỘC SIÊU - ĐẤU TRANH ĐANG ĐẾN
    Nhu cầu về những thiết chế chính trị mới đi cùng với nhu cầu của chúng ta về các thiết chế gia đình, giáo dục và công ty mới. Nó gắn liền với sự tìm kiếm của chúng ta về một cơ sở năng lượng mới, những công nghệ mới, và những công nghiệp mới. Nó phản ánh sự biến động trong thông tin và nhu cầu cấu trúc lại các mối quan hệ với thế giới không công nghiệp. Nói tóm lại, đó là sự phản ánh chính trị của những thay đổi đang gia tăng trong tất cả các lĩnh vực khác nhau. Nếu không thấy được những sự liên kết này, thì không thể hiểu được những gì xảy ra xung quanh chúng ta. Vì ngày nay cuộc xung đột chính trị quan trọng nhất không còn là giữa giàu và nghèo, giữa các nhóm chủng tộc hoặc giữa tư bản và cộng sản. Cuộc chiến đấu quyết định ngày nay là giữa những người cố gắng bảo vệ phát triển xã hội công nghiệp và những người sẵn sàng vượt qua xã hội công nghiệp. Đây là cuộc siêu - đấu tranh ngày mai.
    Những xung đột truyền thống khác giữa giai cấp, chủng tộc và ý thức hệ sẽ không biến mất. Chúng có thể trở nên dữ dội hơn, đặc biệt là nếu kinh tế bị rối loạn qui mô lớn. Nhưng tất cả những xung đột này sẽ bị hút vào cuộc siêu - đấu tranh khi nó đụng đến mỗi hoạt động con người từ nghệ thuật, giới tính đến kinh doanh và bầu cử.
    Điều này giải thích tại sao chúng ta thấy có hai cuộc đấu tranh chính trị đang đồng thời diễn ra ác liệt xung quanh chúng ta. Một mặt, chúng ta thấy sự xung đột chính trị giữa các nhóm Làn sóng thứ hai đang chống đối lẫn nhau vì lợi ích trước mắt. Mặt khác sâu sắc hơn các nhóm Làn sóng thứ hai truyền thống hợp tác cùng nhau chống lại những lực lượng chính trị mới của Làn sóng thứ ba.
    Nói một cách khác, sự phát triển chính trị quan trọng nhất của thời đại chúng ta là có hai phe cơ bản, một phe gắn với nền văn minh Làn sóng thứ hai, phe kia gắn với Làn sóng thứ ba. Một phe nhằm duy trì các thiết chế cốt lõi của xã hội đại chúng công nghiệp - gia đình hạt nhân, hệ thống giáo dục đại chúng, công ty lớn, công đoàn, nhà nước - quốc gia tập quyền về chính trị, và chính phủ giả đại diện. Phe kia thừa nhận những vấn đề bức thiết nhất hiện nay, từ năng lượng, chiến tranh, nghèo đói đến suy thoái sinh thái và tan vỡ quan hệ gia đình. Họ cho rằng, tất cả những điều đó không thể giải quyết trong khuôn khổ nền văn minh công nghiệp. Những người bảo vệ Làn sóng thứ hai chống lại quyền lực thiểu số, họ chế giễu dân chủ trực tiếp như là "chủ nghĩa dân túy", họ chống lại phân quyền, thuyết khu vực hóa và đa dạng ; họ cản trở những cố gắng phi-đại chúng hóa trường học ; họ chiến đấu để duy trì một hệ thống năng lượng lạc hậu ; họ thần thánh hóa gia đình hạt nhân, xem thường nỗi lo lắng sinh thái, tuyên truyền chủ nghĩa quốc gia kỷ nguyên công nghiệp truyền thống và ngăn cản quá trình tiến về một trật tự kinh tế thế giới đúng mức.
    Ngược lại, những người bảo vệ Làn sóng thứ ba ủng hộ nền dân chủ của quyền lực thiểu số phân tán ; họ chuẩn bị thực hiện nền dân chủ trực tiếp nhiều hơn ; họ ủng hộ thuyết đa quốc gia và sự ủy thác cơ bản về quyền lực ; họ kêu gọi phá vỡ quan liêu nặng nề ; họ yêu cầu một hệ thống năng lượng có thể phục hồi và ít tập trung hơn, họ muốn hợp pháp hóa những khả năng thay thế cho gia đình hạt nhân ; họ chiến đấu để bớt tiêu chuẩn hóa, mà chủ trương cá nhân hóa nhiều hơn trong trường học ; họ ưu tiên cho các vấn đề môi trường ; họ thừa nhận sự cần thiết phải cấu trúc lại kinh tế thế giới trên một cơ sở cân bằng hơn.
    Đây mới là một phần quan điểm và sự khác nhau giữa hai phe, còn rất nhiều vấn đề khác biệt giữa hai phe đã nói ở các chương trước. Nói tóm lại, cuộc siêu đấu tranh giữa các lực lượng Làn sóng thứ hai và thứ ba giống như cắt một đường ngang qua giai cấp và đảng, ngang qua tuổi tác và chủng tộc, giới tính và văn hóa. Nó tổ chức và sắp xếp lại đời sống chính trị của chúng ta. Thay vì một xã hội tương lai không ý thức sẽ không xung đột ; không giai cấp và hài hòa, nó hướng về những xung đột ngày càng tăng, tình trạng bất ổn định trong tương lai rất gần. Cuộc siêu - đấu tranh này sẽ ảnh hưởng đến chính trị ngày mai và đến chính hình thức của nền văn minh mới.
    SỐ PHẬN LÀ TẠO RA
    Một số thế hệ sinh ra để sáng tạo, một số khác duy trì văn minh. Các thế hệ đã phát động Làn sóng thứ hai bị buộc trở thành những người sáng tạo. Họ phát minh những hình thức chính trị mà chúng ta vẫn còn xem như là hiển nhiên. Bị kẹt giữa hai nền văn minh, số phận của họ là sáng tạo. Ngày nay trong mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong gia đình của chúng ta, trường học của chúng ta, công việc của chúng ta, trong hệ thống năng lượng và thông tin của chúng ta, chúng ta đang đại diện với nhu cầu tạo ra các dạng mới của Làn sóng thứ ba, và hàng triệu người trong nhiều nước đã bắt đầu làm như thế. Tuy nhiên, không nơi nào mà sự lỗi thời lại quá rõ và quá nguy hiểm hơn đời sống chính trị ở Mỹ.
    Sự hình thành các cấu trúc chính trị mới cho nền văn minh Làn sóng thứ ba sẽ không đến bằng một cuộc biến động độc nhất, mà bằng hàng loạt hàng loạt sáng kiến và xung đột ở nhiều cấp và tại nhiều nơi khác nhau trong một khoảng thời gian vài thập kỷ. Điều này không loại bỏ khả năng bạo động trên con đường tiến về ngày mai. Sự chuyển tiếp từ nền văn minh Làn sóng thứ nhất sang Làn sóng thứ hai là một bi kịch dài đẫm máu của chiến tranh, nổi loạn, đói kém, di dân cưỡng bức, đảo chính và thảm họa. Ngày nay các bi kịch dữ dội hơn, thời gian ngắn hơn, gia tốc nhanh hơn, nguy hiểm nhiều hơn.
    Tất cả phụ thuộc vào tính linh hoạt và trí thông minh của các nhà lãnh đạo ngày nay. Nếu các nhà lãnh đạo không có tầm nhìn chiến lược, không có trí tưởng tượng và không có tính quyết đoán, thì họ sẽ chống lại Làn sóng thứ ba và do đó sẽ làm tăng các mối nguy cơ về bạo động và sự hủy diệt chính họ. Ngược lại, nếu họ đi theo Làn sóng thứ ba, nếu họ thừa nhận nhu cầu về một nền dân chủ rộng lớn hơn, thì họ có thể tham gia quá trình tạo ra nền văn minh Làn sóng thứ ba, giống như những nhà ưu tú thông minh nhất Làn sóng thứ nhất đã đi trước xã hội công nghiệp và tham gia vào việc tạo ra nó.
    Chúng ta càng bắt đầu sớm bao nhiêu để thiết kế các thiết chế chính trị dựa trên ba nguyên tắc đã trình bày ở trên - quyền lực thiểu số, dân chủ bán trực tiếp và phân cấp quyết định - chúng ta càng có khả năng chuyển tiếp hòa bình nhiều hơn. Chính sự cố gắng ngăn chặn những thay đổi như thế sẽ làm tăng mức độ nguy hiểm. Chính sự cố gắng mù quáng bảo vệ sự lỗi thời tạo ra mối nguy hiểm đổ máu.
    Do đó, trách nhiệm thay đổi thuộc về chúng ta. Giống như thế hệ cách mạng đã chết, chúng ta có số phận sáng tạo.
    HẾT
     
  10. cnminer67

    cnminer67 New Member

  11. banhtieu137

    banhtieu137 New Member

    Ủa ko phải file down bản ebook hả bạn? Viết cả nùi như vậy khó đọc quá à >__< Nếu được bạn có thể viết xuống dòng 2 lần để khoảng cách xa ra đỡ bị rối hơn hok? :)
     
  12. admin

    admin Administrator Staff Member

    cám ơn bạn đã góp ý, BQT sẽ cố gắng cải thiện ở những bài viết sau.
    Mình sẽ edit bài này phần nào có thể giúp bạn đọc dễ dàng hơn. :handshake
     
  13. dautuhot333

    dautuhot333 New Member

    BITKINGDOM –> VƯƠNG QUỐC BITCOIN
    1/ Kết quả của dự án BitKingDom
    Lợi nhuận 1% – ngày ~ 30% – Tháng / Tổng số tiền mình PH ( Provide Help – Giúp đỡ cộng đồng BK )
    Sau 3 tháng PH + lãi kép , thì nhận về Lãi suất ~ 100% ( 1 BTC )
    Sau 3 năm PH + lãi kép, thì nhận về lãi suất ~ 10.000 BTC
    Định nghĩa : 1 BTC ~ 10 Triệu VNĐ
    PH = Provide Help ( Giúp đỡ cộng đồng BK )
    GH = Get Help ( Nhận sự giúp đỡ từ cộng đồng BK )

    2/ Yêu cầu khi tham gia dự án BitKingDom
    >> Vốn khởi điểm bắt đầu PH từ 1.0 BTC*** Mỗi người chỉ được tham gia duy nhất 1 tài khoản ***Emailduy nhất > xác nhận tài khoản qua email !
    CMNDduy nhất > Xác thực thông qua CMND, Passport và ảnh người tham gia !
    SĐTduy nhất > dùng để nhắn tin về khi đổi thông tin và rút tiền
    >> Mỗi người chỉ được PH tối đa 20 BTC / 1 Tài khoản.


    3/ Lịch sử của ngành
    Lĩnh vực KINH DOANH TRUYỀN THỐNG
    Marketing trả trước ( phát tờ rơi hoặc chạy quảng cáo, banner ) >>>> Chi phí & Rủi ro ?

    Lĩnh vực NETWORK MAKERTING Marketing trả sau, khi NPP bán được hàng thì công ty mới trả chi phí marketing xuống cho hệ thống. Tuy nhiên không tuyển dụng thì không có thu nhập. >> Chỉ một số người phù hợp mới tham gia.


    Lĩnh vực đầu tư / MMO / HYIPĐể nhận được lợi nhuận lớn, người tham gia cần đầu tư với số tiền lớn. Công ty là người giữ tiền. >> Rủi ro xảy ra khi công ty mất khả năng thanh khoản ( nội bộ gặp vấn đề, pháp lý nhà nước, một số các yếu tố khác tác động bên ngoài hoặc bên trong … )


    Next Step ? Mô hình BitKingdom ra đời ! > Khắc phục các rủi ro trên !

    4/ Lịch sử của công ty
    Bitkingdom ra đời trong hoàn cảnh nào ?
    BitKingdom là gì ?
    BitKingdom là một kiểu ngân hàng cộng đồng, sử dụng hệ thống bitcoin để giao dịch trong cộng đồng.
    Bitkingdom không phải là một mô hình kim tự tháp hay một mô hình ponzi, chúng tôi trao quyền cho cộng đồng để cộng đồng tự kiểm soát dòng tiền của chính mình và tăng trưởng sự giàu có trong chính cộng đồng đó.


    BitKingdom hoạt động như thế nào?Hiện nay các ngân hàng được xem là một nơi mà hầu hết chúng ta đều gởi tiền tiết kiệm. Nhưng nếu chúng ta không có một khoản thu nhập lớn hoặc một uy tín lớn, thì ngân hàng sẽ không bao giờ cho chúng ta vay tiền.
    BitKingdom là một trang web nơi mà các thành viên tham gia có thể trao đổi và hỗ trợ tài chính cùng với nhau.
    BitKingdom là một cộng đồng được tạo ra để được hỗ trợ tài chính có sử dụng đồng tiền của Bitcoin để cộng đồng sử dụng giúp đỡ lẫn nhau !


    Ý tưởng là “Hôm nay bạn giúp đỡ một ai đó, và ngày mai sẽ có người giúp bạn”.
    Trong hệ thống ngân hàng thông thường, một người chỉ có thể rút số tiền trong tài khoản ngân hàng của họ.
    John nói có $ 500 trong ngân hàng. Ông không thể rút $ 650 từ ngân hàng, mặc dù các ngân hàng đã có của Lucy $ 3,000 đến $ 5,000 của Brandon mà sẽ bao gồm số tiền rút của John.

    Tuy nhiên, John có thể vay ngân hàng. Các ngân hàng có thể cho John vay ra lên đến mười lần tất cả các khoản tiền gửi cho họ, và ngân hàng quan tâm đến lợi nhuận trên số tiền vay đó.

    Nếu trong ngân hàng có Lucy, Brandon, và thêm nhiều khách hàng khác gởi tiền vào ngân hàng. Và ngân hàng đưa cho John là một khoản vay.

    >> Đơn giản hơn là John hỏi Lucy hoặc Brandon hỗ trợ tài chính cho mình?

    Có, John có thể hỏi … nhưng Lucy và Brandon có thể sẽ nói không, ngay cả khi họ biết anh ta là ai. Và John có lẽ không biết ai có thêm tiền mà có thể đáp ứng nhu cầu của anh ta.

    Thậm chí nếu Lucy có $ 3,000 rằng cô sẽ không sử dụng cho tới vài tháng, cô bé dường như không đưa nó cho John, vì John không thể đảm bảo rằng ông sẽ trả tiền lại khi Lucy cần nó.

    BitKingdom có thể làm tốt cho tình huống trên !

    Với BitKingdom, nếu Lucy giúp John với 150 $ và John không phải hứa sẽ trả tiền Lucy lại.

    Bởi vì trên BitKingdom, bất cứ khi nào bạn cung cấp để giúp đỡ một người nào đó hôm nay bạn sẽ có tự tin rằng CỘNG ĐỒNG BITKINGDOM để bạn có thể dựa vào chúng bất cứ khi nào bạn cần sự giúp đỡ tài chính trong tương lai.

    Vì vậy, bất cứ lúc nào Lucy cần sự giúp đỡ về tài chính sau khi cô đã giúp John, cô có thể yêu cầu nó và hệ thống sẽ chỉ định một hoặc nhiều người trợ giúp tài chính cho Lucy.

    Nó có thể là John, hoặc Brandon, hoặc bất kỳ ai trong hàng triệu thành viên cộng đồng BitKingdom.

    BitKingdom không phải là một ngân hàng hay một công ty nhận tiền gửi. BitKingdom chỉ đơn giản là một nền tảng mà người tham gia có thể trao đổi trực tiếp giúp đỡ tài chính.

    Vì vậy, nếu bạn giúp đỡ cho người khác, bất cứ khi nào bạn cần sự giúp đỡ tài chính của hàng triệu thành viên cộng đồng BitKingdom sẽ cung cấp cho bạn sự giúp đỡ bạn cần, mà không yêu cầu bạn phải trả tiền cho nó trở lại.

    Bitkingdom ra đời vào tháng 10/2015

    Bitkingdom có mặt tại VN vào 11/2015

    Hiện nay Bitkingdom có mặt trên 5 quốc gia : Malaysia, Vietnam, Thailand, Indonesia, China

    Tầm nhìn của dự án :

    5 Năm nữa : BitKingdom có mặt trên 100 quốc gia và trên 100 triệu người tham gia

    5/ Chính sách của dự án :
    Thu nhập từ PH : 1% mỗi ngày cho đến ngày GH ( từ 15 đến 30 ngày kể từ ngày PH )

    Thu nhập từ F1 PH : 10% trên mỗi lần F1 PH

    Thu nhập từ hệ thống PH : 0%-3%-5%-7%-10% trên doanh số nhánh yếu PH

    6/ Nguyên tắc hoạt động của hệ thống BitKingdom
    Vẽ ra 2 hình tròn và giải thích về việc cho và nhận

    Khi A tham gia, A cần có 1 bitcoin trong ví để bắt đầu PH

    A cần mua token từ công ty để thực hiện lệnh PH của mình

    Sau khi PH, A được xếp vào hàng đợi nhận sự giúp đỡ từ cộng đồng BitKingdom( GH )

    Sau 15 ngày A vào menu GH để bắt đầu nhận sự giúp đỡ từ cộng đồng , lợi nhuận 15% + số BTC đã PH,

    Sau đó A tiếp tục vòng lặp PH – GH mới, nếu không thực hiện, trong vòng 3 ngày, tài khoản của A sẽ bị vô hiệu hóa vĩnh

    viễn, A không nhận được bất kỳ quyền lợi nào khác từ cộng đồng BK.

    Mỗi lượt cho đi cần ít nhất 1 token ( 0.025 BTC ~ 15$ )

    6/ Chiến lược PH – GH
    PH với số vốn trong khả năng tài chính và nhanh chóng thu hồi vốn

    Thu hồi vốn Sau 3 tháng PH ( 30% / Tháng ) hoặc lợi nhuận từ hệ thống

    Sau 3 tháng đầu tư lãi kép để nhận về kết quả lớn hơn rất nhiều ! ( 1 BTC sau 3 năm nhận về 10.000 BTC )

    ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN BITKINGDOM

    YAHOO: phanphong1122@yahoo.com
     
  14. hungbc80

    hungbc80 New Member

    >>> Làm bằng đại học không cần đặt cọc
    >>> Làm bằng đại học có hồ sơ gốc hà nội
    >>> Làm bằng đại học có hồ sơ gốc
     
  15. nhithienbinhphong57

    nhithienbinhphong57 New Member

    Tại Sao Nên Cá Độ Online ?

    Giới thiệu và hướng dẫn đăng ký tài khoản v9b - v9bet nhà cái Việt Nam ! cá cượ bóng đá , casino , sòng bài trực tuyến chỉ với 20k VND - Tỷ lệ hoàn trả rất hấp dẫn


    [​IMG]



    Cá độ online - Online betting

    Bằng một chiếc máy tính internet có kết nối internet. Cá độ online có thể giải quyết tất cả các nhược điểm của hình thức cá độ offline bằng các ưu điểm của mình như:

    - Rất nhiều sự lựa chọn: có hàng nghìn nhà cái trên khắp thế giới luôn sẵn sàng phục vụ nhu cầu của bạn.

    - Nội dung cực kì phong phú: không chỉ có cá độ trong bóng đá, bạn còn được dịp thỏa sức với hàng trăm sự kiện diễn ra hàng ngày của các môn thể thao yêu thích khác như: Bóng chuyền (Volleyball), Tennis, bóng rổ (Basketball), Bóng bầu dục (Rugby), Golf, Đua ngựa (Horse racing), Đua xe công thức 1 (Formula 1), Đua mô tô (Moto GP), Bóng chày (Baseball), Khúc côn cầu trên băng (Ice hockey),v.v..

    - Có thể cá độ bất cứ lúc nào: sáng sớm hay giữa trưa, tờ mờ tối hay nửa đêm, hàng nghìn nhà cái luôn sẵn sàng phục vụ bất cứ nhu cầu cá độ nào của bạn.

    - Có thể cá độ ở bất cứ đâu: dù bạn đang ở nhà, ở cơ quan, đi công tác xa hay thậm chí đi nước ngoài cũng chẳng có gì ảnh hưởng.

    - Chủ động quản lý chi tiêu: chỉ được phép cá độ bằng số tiền mình có do vậy bạn sẽ không bị lâm vào tình trạng bội chi. Bạn luôn kiểm soát được tình hình tài chính của mình.- Sự đảm bảo chắc chắn về khả năng thanh toán của nhà cái: với tiềm lực tài chính khổng lồ của các nhà cái uy tín như: M88,Sbobet, 188bet, Bet365, Ladbrokers, Centrebet, Betwin, v.v.. bạn luôn được đảm bảo chắc chắn về khả năng thanh toán.

    Với sự phổ biến của máy tính và internet băng thông rộng, các hình thức thanh toán trực tuyến, và đặc biệt là điện thoại có khả năng kết nối internet qua GPRS hay 3G như hiện nay, việc cá độ online là hết sức đơn giản, tiện lợi và hoàn toàn khả thi.

    ---------------- > Giới Thiệu Nhà Cái W88

    [​IMG]

    - W88 là trang cá cược thể thao và casino của công ty cung cấp dịch vụ trò chơi giải trí trực tuyến có trụ sở ở Philippines và được đảm bảo bởi các tổ chức First Cagayan Leisure & Resort Corporation (CEZA) uy tín. Kể từ năm 2000 W88 đã phục vụ cho thị trường Trung Quốc cũng như châu Á Thái Bình Dương, có tiềm năng và dự tính trở thành nhà cái hàng đầu ở châu Á. Trong thời gian ngắn W88 đã xây dựng được website với giao diện bắt mắt và hỗ trợ hướng dẫn đầy đủ bằng tiếng Việt chứng tỏ sự quan tâm rất lớn của họ đến thị trường Việt Nam.


    W88 đầu tư cho hệ thống chăm sóc khách hàng rất chu đáo, luôn luôn có nhân viên trực 24/24 sẵn sàng làm nhiệm vụ hướng dẫn cho người chơi. Nhưng phải nói là họ đã làm trên mức cần thiết vì theo mình thì W88 là trang cá cược có những thủ tục đăng kí cũng như cách thức giao dịch gửi/rút tiền vào loại nhanh chóng, dễ dàng và tiện lợi nhất trong các nhà cái ở Việt Nam mà một người mới lần đầu chơi cá cược trực tuyến cũng có thể dễ dàng tự thao tác mà không cần hướng dẫn.

    HIỆN NAY, W88 CUNG CẤP CÁC SẢN PHẨM SAU:

    + CƯỢC THỂ THAO: W88 CUNG CẤP TRỰC TUYẾN VÀ MIỄN PHÍ HƠN 4000 TRẬN ĐẤU TRÊN KHẮP THẾ GIỚI.

    + CƯỢC CASINO: VỚI CÁC CÔ GÁI CHIA BÀI ĐẾN TỪ CHÂU ÂU VÀ CHÂU Á, SẼ PHỤC VỤ KHÁCH HÀNG CHU ĐÁO KHI CƯỢC TÀI/XỈU - BÀI 3 CÀO - VÒNG QUAY ROULETTE THẾ GIỚI- BÀI XÌ ZÁCH

    + CƯỢC XỔ SỐ: CƯỢC NHỮNG CON SÔ CỦA BẠN VÀ TRÚNG NGAY TỈ LỆ LỚN - CHỈ VỚI 3 PHÚT CHO 1 LẦN XỔ - NHANH GỌN/ LẸ

    + POKER: NƠI QUY TỤ NHỮNG TAY CHƠI BÀI POKER HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI. W88 ĐỒNG THỜI CÓ THỂ HỖ TRỢ 10,000 NGƯỜI CHƠI TRONG CÙNG 1 THỜI ĐIỂM. CHÚNG TÔI CẢM KẾT: ĐƯỜNG TRUYỀN ỔN ĐỊNH, SERVICE NHANH NHẤT KHI CƯỢC TẠI POKER.

    + CƯỢC TÀI CHÍNH: NẾU QUÝ KHÁCH LÀ NHÀ ĐẦU TƯ GIỎI! SAO KHÔNG THỬ SỨC CÙNG W88? CHÚNG TÔI CUNG CẤP SÀN VÀNG/TIỀN TỆ/TIÊU DÙNG TRÊN THĨ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI. HÃY THAM GIA VÀ CẢM NHẬN.

    ĐẶC BIỆT- QUÝ KHÁCH CÓ THỂ THAM GIA CHƠI THỬ MIỄN PHÍ, TRÃI NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ W88 - HÃY CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC LÀ 1 PHẦN SÂN CHƠI CỦA QUÝ KHÁCH !



    Nhà Cái FB88 Khuyến Mãi 100% Hoàn Trả 1%








    HÃY ĐĂNG KÝ TÀI KHOẢN W88 NGAY VÀ NHẬN KHUYẾN MÃI LÊN ĐẾN 4.000.000 VND !
     
  16. nhithienbinhphong57

    nhithienbinhphong57 New Member

    Tại Sao Nên Cá Độ Online ?

    Giới thiệu và hướng dẫn đăng ký tài khoản v9b - v9bet nhà cái Việt Nam ! cá cượ bóng đá , casino , sòng bài trực tuyến chỉ với 20k VND - Tỷ lệ hoàn trả rất hấp dẫn


    [​IMG]



    Cá độ online - Online betting

    Bằng một chiếc máy tính internet có kết nối internet. Cá độ online có thể giải quyết tất cả các nhược điểm của hình thức cá độ offline bằng các ưu điểm của mình như:

    - Rất nhiều sự lựa chọn: có hàng nghìn nhà cái trên khắp thế giới luôn sẵn sàng phục vụ nhu cầu của bạn.

    - Nội dung cực kì phong phú: không chỉ có cá độ trong bóng đá, bạn còn được dịp thỏa sức với hàng trăm sự kiện diễn ra hàng ngày của các môn thể thao yêu thích khác như: Bóng chuyền (Volleyball), Tennis, bóng rổ (Basketball), Bóng bầu dục (Rugby), Golf, Đua ngựa (Horse racing), Đua xe công thức 1 (Formula 1), Đua mô tô (Moto GP), Bóng chày (Baseball), Khúc côn cầu trên băng (Ice hockey),v.v..

    - Có thể cá độ bất cứ lúc nào: sáng sớm hay giữa trưa, tờ mờ tối hay nửa đêm, hàng nghìn nhà cái luôn sẵn sàng phục vụ bất cứ nhu cầu cá độ nào của bạn.

    - Có thể cá độ ở bất cứ đâu: dù bạn đang ở nhà, ở cơ quan, đi công tác xa hay thậm chí đi nước ngoài cũng chẳng có gì ảnh hưởng.

    - Chủ động quản lý chi tiêu: chỉ được phép cá độ bằng số tiền mình có do vậy bạn sẽ không bị lâm vào tình trạng bội chi. Bạn luôn kiểm soát được tình hình tài chính của mình.- Sự đảm bảo chắc chắn về khả năng thanh toán của nhà cái: với tiềm lực tài chính khổng lồ của các nhà cái uy tín như: M88,Sbobet, 188bet, Bet365, Ladbrokers, Centrebet, Betwin, v.v.. bạn luôn được đảm bảo chắc chắn về khả năng thanh toán.

    Với sự phổ biến của máy tính và internet băng thông rộng, các hình thức thanh toán trực tuyến, và đặc biệt là điện thoại có khả năng kết nối internet qua GPRS hay 3G như hiện nay, việc cá độ online là hết sức đơn giản, tiện lợi và hoàn toàn khả thi.

    ---------------- > Giới Thiệu Nhà Cái W88

    [​IMG]

    - W88 là trang cá cược thể thao và casino của công ty cung cấp dịch vụ trò chơi giải trí trực tuyến có trụ sở ở Philippines và được đảm bảo bởi các tổ chức First Cagayan Leisure & Resort Corporation (CEZA) uy tín. Kể từ năm 2000 W88 đã phục vụ cho thị trường Trung Quốc cũng như châu Á Thái Bình Dương, có tiềm năng và dự tính trở thành nhà cái hàng đầu ở châu Á. Trong thời gian ngắn W88 đã xây dựng được website với giao diện bắt mắt và hỗ trợ hướng dẫn đầy đủ bằng tiếng Việt chứng tỏ sự quan tâm rất lớn của họ đến thị trường Việt Nam.


    W88 đầu tư cho hệ thống chăm sóc khách hàng rất chu đáo, luôn luôn có nhân viên trực 24/24 sẵn sàng làm nhiệm vụ hướng dẫn cho người chơi. Nhưng phải nói là họ đã làm trên mức cần thiết vì theo mình thì W88 là trang cá cược có những thủ tục đăng kí cũng như cách thức giao dịch gửi/rút tiền vào loại nhanh chóng, dễ dàng và tiện lợi nhất trong các nhà cái ở Việt Nam mà một người mới lần đầu chơi cá cược trực tuyến cũng có thể dễ dàng tự thao tác mà không cần hướng dẫn.

    HIỆN NAY, W88 CUNG CẤP CÁC SẢN PHẨM SAU:

    + CƯỢC THỂ THAO: W88 CUNG CẤP TRỰC TUYẾN VÀ MIỄN PHÍ HƠN 4000 TRẬN ĐẤU TRÊN KHẮP THẾ GIỚI.

    + CƯỢC CASINO: VỚI CÁC CÔ GÁI CHIA BÀI ĐẾN TỪ CHÂU ÂU VÀ CHÂU Á, SẼ PHỤC VỤ KHÁCH HÀNG CHU ĐÁO KHI CƯỢC TÀI/XỈU - BÀI 3 CÀO - VÒNG QUAY ROULETTE THẾ GIỚI- BÀI XÌ ZÁCH

    + CƯỢC XỔ SỐ: CƯỢC NHỮNG CON SÔ CỦA BẠN VÀ TRÚNG NGAY TỈ LỆ LỚN - CHỈ VỚI 3 PHÚT CHO 1 LẦN XỔ - NHANH GỌN/ LẸ

    + POKER: NƠI QUY TỤ NHỮNG TAY CHƠI BÀI POKER HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI. W88 ĐỒNG THỜI CÓ THỂ HỖ TRỢ 10,000 NGƯỜI CHƠI TRONG CÙNG 1 THỜI ĐIỂM. CHÚNG TÔI CẢM KẾT: ĐƯỜNG TRUYỀN ỔN ĐỊNH, SERVICE NHANH NHẤT KHI CƯỢC TẠI POKER.

    + CƯỢC TÀI CHÍNH: NẾU QUÝ KHÁCH LÀ NHÀ ĐẦU TƯ GIỎI! SAO KHÔNG THỬ SỨC CÙNG W88? CHÚNG TÔI CUNG CẤP SÀN VÀNG/TIỀN TỆ/TIÊU DÙNG TRÊN THĨ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI. HÃY THAM GIA VÀ CẢM NHẬN.

    ĐẶC BIỆT- QUÝ KHÁCH CÓ THỂ THAM GIA CHƠI THỬ MIỄN PHÍ, TRÃI NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ W88 - HÃY CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC LÀ 1 PHẦN SÂN CHƠI CỦA QUÝ KHÁCH !



    Nhà Cái FB88 Khuyến Mãi 100% Hoàn Trả 1%








    HÃY ĐĂNG KÝ TÀI KHOẢN W88 NGAY VÀ NHẬN KHUYẾN MÃI LÊN ĐẾN 4.000.000 VND !
     
  17. sanhop

    sanhop Member

    Kính gửi: Quý Khách Hàng

    Công ty TNHH Tư Vấn Giải Pháp Xây Dựng Nevo Đà Nẵng xin trân trọng gửi đến Quý Khách báo giá cung cấp giải pháp sàn phẳng lõi rỗng, cách âm, cách nhiệt và bảo vệ môi trường với đơn giá như sau:
    [​IMG]
    Ghi chú:
    • Đơn giá trên chưa bao gồm vận chuyển đến chân công trình.
    • Thanh toán 100% giá trị trước khi nhận hàng.
    • Giá vận chuyển tùy vị trí xây dựng công trình. Đơn giá vận chuyển không bao gồm chi phí xuống hàng.
    • Cấp hàng theo tiến độ của Chủ đầu tư. Tiến độ tạm ứng, thanh toán theo điến độ cấp hàng
    • Số lượng đặt hàng tối thiểu cho 1 đơn hàng là 500 hộp.
    • Thời gian cung cấp:
      • Từ 7 - 20 ngày kể từ ngày đặt hàng và nhận tiền đợt 1
    • Đơn giá trên chưa bao gồm VAT 10%
    *Báo giá này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2019 đến khi có thông báo mới
    Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ theo các số điện thoại bên dưới để được tư vấn trực tiếp
    Hotline: 0915.531.442 - 05.22.11.00.81 - 0903.950.189
    Hình Ảnh Sản Phẩm​
    [​IMG]
    [​IMG]
     
  18. sanhop

    sanhop Member

    Kính gửi: Quý Khách Hàng

    Công ty TNHH Tư Vấn Giải Pháp Xây Dựng Nevo Đà Nẵng xin trân trọng gửi đến Quý Khách báo giá cung cấp giải pháp sàn phẳng lõi rỗng, cách âm, cách nhiệt và bảo vệ môi trường với đơn giá như sau:
    [​IMG]
    Ghi chú:
    • Đơn giá trên chưa bao gồm vận chuyển đến chân công trình.
    • Thanh toán 100% giá trị trước khi nhận hàng.
    • Giá vận chuyển tùy vị trí xây dựng công trình. Đơn giá vận chuyển không bao gồm chi phí xuống hàng.
    • Cấp hàng theo tiến độ của Chủ đầu tư. Tiến độ tạm ứng, thanh toán theo điến độ cấp hàng
    • Số lượng đặt hàng tối thiểu cho 1 đơn hàng là 500 hộp.
    • Thời gian cung cấp:
      • Từ 7 - 20 ngày kể từ ngày đặt hàng và nhận tiền đợt 1
    • Đơn giá trên chưa bao gồm VAT 10%
    *Báo giá này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2019 đến khi có thông báo mới
    Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ theo các số điện thoại bên dưới để được tư vấn trực tiếp
    Hotline: 0915.531.442 - 05.22.11.00.81 - 0903.950.189
    Hình Ảnh Sản Phẩm​
    [​IMG]
    [​IMG]
     

Share This Page