Làn Sóng Thứ Ba - Alvin Toffler

Discussion in 'Ebook' started by hontuyetlan, Aug 16, 2014.

  1. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    LỜI NÓI ĐẦU

    Các tên khủng bố chơi trò chơi chết người : con tin, những tin đồn đại về một cuộc chiến tranh thế giới thứ III, các sứ quán bị đốt cháy và những nhóm quân thiện chiến có mặt ở nhiều nơi - thật là ghê rợn khi nhìn vào những dòng đầu tờ báo. Giá vàng - máy dự báo nhạy cảm về sự sợ hãi - phá tất cả các kỷ lục. Các nhà băng run sợ. Lạm phát hoành hành thoát ra khỏi sự kiểm soát. Các chính phủ trên thế giới bị tê liệt hoặc hành động khờ dại.

    Đối diện với tất cả những điều này, một nhóm hợp xướng ở Cassandras gào lên bản nhạc ngày tận thế. Những người hay ví von cách ngôn thì nói thế giới "trở thành điên loạn", còn các chuyên gia lại nói về những khuynh hướng đưa đến thảm họa.
    Cuốn sách này trình bày một quan điểm hoàn toàn khác. Nó cho rằng thế giới không trở thành điên loạn và dưới những biến cố dường như vô nghĩa, đã xuất hiện mô hình đầy hy vọng và rất kỳ lạ.

    "Làn sóng thứ ba" dành cho những người nghĩ về chuyện con người chỉ vừa mới bắt đầu, còn lâu mới kết thúc.
    Một làn sóng mãnh liệt đang dâng lên trong thế giới ngày nay, đang tạo ra một môi trường mới và kỳ lạ để làm việc, chơi, cưới hỏi, nuôi con cái hoặc về hưu. Trong bối cảnh đầy hoang mang này, các nhà kinh doanh chống đỡ những luồng kinh tế bất ổn định ; các nhà chính trị thấy uy tín của họ lên xuống thất thường, các trường đại học, bệnh viện và các cơ quan khác đang chống chọi với lạm phát một cách tuyệt vọng. Các hệ thống giá trị vỡ ra từng mảng và tan rã, trong khi những giá trị về gia đình, nhà thờ và nhà nước hầu như bị đảo lộn.

    Nếu nhìn vào những thay đổi dữ dội này, chúng ta có thể xem chúng như những bằng chứng biệt lập về sự không ổn định, sự tan vỡ và thảm họa. Thế nhưng nếu chúng ta nhìn sâu hơn, một số sự việc trở thành rõ ràng.

    Nhiều sự thay đổi ngày nay không độc lập với nhau, chúng cũng không phải là ngẫu nhiên. Ví dụ, hạt nhân gia đình bị phá vỡ, khủng hoảng năng lượng thế giới, sự phát triển các loại giáo phái và ti vi cáp, sự nổi lên về thời gian nhàn rỗi và về chương trìinh phúc lợi phụ, sự xuất hiện các phong trào ly khai từ Québec đến Corsica, tất cả dường như là những biến cố biệt lập. Thế nhưng chính sự ngược lại mới là đúng. Những việc này cũng như nhiều biến cố và khuynh hướng khác dường như không liên quan với nhau, song lại chính là liên quan với nhau. Thực vậy, chúng là các bộ phận của một hiện tượng lớn hơn nhiều : sự diệt vong của hệ thống công nghiệp qui mô lớn để xuất hiện của một nền văn minh mới.

    Chừng nào mà chúng ta nghĩ về chúng như là những biến cố biệt lập và không nắm được ý nghĩa lớn này thì chúng ta không thể thiết kế được cách đối phó có hiệu quả. Sai lầm đó dẫn đến : đối với cá nhân, những quyết định cá nhân của chúng ta vẫn còn là thiếu mục đích hoặc tự hủy diệt ; đối với Nhà nước, chúng ta sẽ bị rơi vào những cuộc khủng hoảng và mất phương hướng.

    Thiếu những chuẩn mực có hệ thống để có thể hiểu được sự xung đột của các lực lượng trong thế giới ngày nay, chúng ta giống như những thuyền viên trên một con tàu bị kẹt trong một cơn bão và cố gắng lái thuyền giữa những núi đá ngầm nguy hiểm mà không có la bàn hoặc bản đồ. Trong một nền văn hóa chìm trong các số liệu chi tiết và phân tích tinh vi, sự tổng hợp không chỉ là có ích mà còn là cốt yếu.

    Do đó, Làn sóng thứ ba là một cuốn sách về sự tổng hợp quy mô lớn. Nó miêu tả nền văn minh cũ mà chúng ta đã lớn lên và phác họa hình ảnh một nền văn minh mới mà chúng ta sống.

    Nền văn minh mới này rất cách mạng, nó thách đố tất cả những gì chúng ta cho là đúng trong quá khứ, những cách suy nghĩ cũ, những công thức cũ, giáo điều, ý thức hệ, v.v... Thế giới đang nhanh chóng thay đổi từ sự va chạm của những giá trị và công nghiệp mới, những mối quan hệ địa chính trị mới, những lối sống và cách thông tin mới ; đang đòi hỏi những tư tưởng và sự tương tự mới, những cách phân loại và những khái niệm mới. Chúng ta không thể đưa thế giới phôi thai của ngày mai vào thế giới truyền thống của ngày qua.

    Như thế, khi sự miêu tả nền văn minh mới kỳ lạ này mở ra trên các trang sách sắp đến, chúng ta sẽ thấy lý do thách đố sự bi quan đang thắng thế hiện nay. Nỗi thất vọng đã thống trị nền văn hóa trong hơn một thập kỷ. Làn sóng thứ ba kết luận rằng sự thất vọng không chỉ là tội ác mà còn là không có lý do xác đáng.

    Ngày nay không cần thiết phải nói tỉ mỉ về những mối nguy hiểm thật sự đang đe dọa chúng ta, từ sự hủy diệt nguyên tử và tai họa sinh thái đến sự cuồng tín chủng tộc hoặc bạo động khu vực. Chiến tranh, thất bại kinh tế, thảm họa công nghiệp qui mô lớn - tất cả đều có thể làm thay đổi lịch sử một cách thê thảm.

    Tuy nhiên, khi phát hiện nhiều mối quan hệ mới đang nảy sinh, từ việc thay đổi các dạng năng lượng và các hình thức mới về cuộc sống gia đình, đến các phương pháp sản xuất tiên tiến và phong trào tự cứu giúp nhau, chúng ta đột nhiên thấy rằng chính những điều kiện gây ra các mối nguy hiểm to lớn lại đang mở ra những tiềm lực mới kỳ diệu.

    Làn sóng thứ ba chỉ cho chúng ta thấy những tiềm lực mới này. Nó cho rằng chính trong sự tàn phá và suy tàn, chúng ta có thể tìm thấy những bằng chứng rõ ràng về sự hồi sinh và sức sống. Và còn cho thấy với sự thông minh và một ít may mắn thì nền văn minh mới xuất hiện có thể là lành mạnh, hợp lý, hợp với khuôn phép và dân chủ hơn bất kỳ nền văn minh nào mà chúng ta đã biết. Nếu những lý luận của cuốn sách này là chính xác thì có những lý do xác đáng để lạc quan, ngay cả nếu những năm quá độ sắp đến dường như sẽ là đầy giông tố và khủng hoảng.

    Trong những năm vừa qua, khi tôi viết cuốn Làn sóng thứ ba nhiều độc giả hỏi tôi cuốn sách này khác với cuốn trước Cú sốc tương lai những gì ? Tôi có thể trả lời các bạn Làn sóng thứ ba cơ bản khác với Cú sốc tương lai cả về hình thức và trọng tâm. Nó nói về khoảng thời gian rộng hơn cả quá khứ cũng như là tương lai. Nó có cấu trúc khác. Trong khi Cú sốc tương lai đề nghị một số thay đổi phải được thực hiện, và nhấn mạnh cái giá thay đổi về cá nhân và xã hội thì Làn sóng thứ ba nói về những khó khăn về thích nghi và nhấn mạnh đến cái giá phải trả vì đã không nhanh chóng thay đổi.

    Hơn thế nữa, trong cuốn sách trước, khi tôi viết về Sự đến sớm của tương lai, tôi đã không phác họa xã hội mới của ngày mai theo cách có hệ thống hoặc dễ hiểu. Trọng tâm của cuốn sách đó là quá trình thay đổi chứ không phải hướng thay đổi. Trong cuốn sách này, lăng kính bị đảo ngược. Tôi tập trung ít hơn về sự gia tốc, nhưng nhiều hơn về nơi mà thay đổi sẽ đưa chúng ta đến. Do đó, hai cuốn sách này bổ sung cho nhau. Hai cuốn khác nhau nhưng lại làm rõ cho nhau.
    Trong cố gắng tổng hợp qui mô lớn, rất cần thiết phải đơn giản hóa, tổng quát hóa và cô đọng. Do đó cuốn sách này chia văn minh làm 3 phần, Làn sóng thứ nhất với giai đoạn nông nghiệp, Làn sóng thứ hai với giai đoạn công nghiệp, Làn sóng thứ ba vừa mới bắt đầu.

    Văn minh nông nghiệp gồm nhiều nền văn hóa hơi khác nhau, và hệ thống công nghiệp qui mô lớn đi qua nhiều giai đoạn phát triển liên tiếp nhau. Người ta có thể chia quá khứ (và tương lai) thành 12 hoặc 38 hoặc 157 phần. Nhưng nếu làm thế, chúng ta không thể nhìn thấy sự phân chia chủ yếu trong cái nhóm lộn xộn những phân chia thứ yếu. Đôi khi trong cuốn sách tôi nói nền văn minh Làn sóng thứ nhất hoặc Làn sóng thứ hai đã làm này làm nọ. Dĩ nhiên, tôi biết và độc giả biết rằng các nền văn minh không làm gì cả, chính con người làm. Nhưng gán cho văn minh làm này làm nọ sẽ đỡ tốn lời giải thích và thời gian.

    Tương tự như thế, các độc giả thông minh chẳng có ai biết hoặc có thể biết tương lai. Khi tôi nói việc gì đó sẽ xảy ra, tôi giả thiết là độc giả hiểu được điều cần nói. Nếu không thì tôi làm cuốn sách nặng nề thêm vì những lời rào đón. Các nhà dự báo xã hội luôn luôn bị ràng buộc về giá trị và khoa học, dù họ có dùng nhiều số liệu máy tính như thế nào đi nữa. Làn sóng thứ ba không phải là sự dự báo khách quan, và nó không có kỳ vọng được chứng minh bằng khoa học. Tuy nhiên, nói điều này không có nghĩa là những tư tưởng trong cuốn sách này là kỳ quái hoặc không hệ thống. Công việc này được dựa trên nhiều bằng chứng và trên cái có thể được gọi là mô hình bán hệ thống của nền văn minh và mối quan hệ của chúng ta với nó.

    Làn sóng thứ ba miêu tả nền văn minh công nghiệp đang chết theo nghĩa của "lĩnh vực công nghiệp", "lĩnh vực xã hội", "lĩnh vực tin tức" và "lĩnh vực quyền lực", và sau đó được sắp xếp để chỉ cho thấy làm thế nào mỗi phạm vi đó đang chịu sự thay đổi cách mạng trong thế giới ngày nay. Nó cố gắng chỉ cho biết những mối quan hệ giữa những phạm vi trên với nhau, cũng như là với "phạm vi sinh học" và "phạm vi tâm lý", cấu trúc của những mối quan hệ tâm lý và cá nhân, mà thông qua đó những thay đổi trong thế giới bên ngoài ảnh hưởng tới cuộc sống riêng tư nhất của chúng ta.

    Làn sóng thứ ba cho rằng một nền văn minh cũng sử dụng một số qui trình và nguyên tắc nhất định, và nó phát triển khái niệm "siêu ý thức hệ" để giải thích thực tế. Một khi chúng ta hiểu được làm thế nào những phần này, quy trình này và nguyên tắc này có liên quan lẫn nhau, và làm thế nào chúng biến đổi lẫn nhau, phác họa ra những luồng thay đổi mạnh mẽ, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về làn sóng thay đổi khổng lồ đang ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta ngày nay.

    Phép ẩn dụ lớn nhất của cuốn sách này là các làn sóng thay đổi đang va chạm. Hình ảnh này không phải là mới. Do đó, không phải phép ẩn dụ làn sóng là mới mà là sự áp dụng của nó cho việc dịch chuyển văn minh ngày nay. Sự áp dụng này cho thấy rất có ích. Khái niệm làn sóng không chỉ là một công cụ cho việc tổ chức khối tin tức khác nhau khổng lồ, mà nó còn giúp chúng ta thấy được thực chất của sự thay đổi trên bề mặt. Khi chúng ta áp dụng phép ẩn dụ sóng, những gì lẫn lộn mơ hồ trở thành rõ ràng. Một khi tôi bắt đầu nghĩ về các làn sóng thay đổi, va chạm và chồng lên nhau, gây ra xung đột và căng thẳng xung quanh chúng ta, thì điều đó tự nó cũng làm thay đổi nhận thức của tôi về sự thay đổi. Trong bất kỳ lĩnh vực nào, từ giáo dục và sức khỏe đến công nghiệp, từ cuộc sống cá nhân đến chính trị, có thể phân biệt những đổi mới chỉ là hàng mỹ phẩm hoặc sự nới rộng của quá khứ công nghiệp với những đổi mới thật sự cách mạng.

    Tuy nhiên ngay cả phép ẩn dụ mạnh nhất cũng chỉ có thể cho được một phần sự thật. Không có phép ẩn dụ nào có thể nói được toàn bộ các mặt, và do đó chỉ riêng tương lai không thì không nói lên được vấn đề gì nếu không có hiện tại. Khi tôi còn là môn đồ mácxít trước năm 20 tuổi, nghĩa là cách đây chỉ hơn 1/4 thế kỷ, cũng như nhiều thanh niên khác tôi nghĩ rằng tôi có tất cả các câu trả lời. Sau đó tôi nhận thấy ngay rằng những câu trả lời của tôi chỉ là một phần, một mặt và lỗi thời. Hơn thế nữa, tôi đã rất cảm kích về việc biết được rằng câu hỏi đúng là quan trọng hơn câu trả lời đúng cho câu hỏi sai.

    Tôi hy vọng rằng Làn sóng thứ ba cùng một lúc cung cấp những câu trả lời và sẽ hỏi những câu hỏi mới.
    Sự thừa nhận rằng không có nhận thức nào là hoàn hảo cả, không có phép ẩn dụ nào là toàn vẹn cả, tự nó là nhân đạo hóa. Nó chống lại sự cuồng tín. Ngay cả nó thừa nhận đối phương có phần đúng và tự nó có phần sai. Khả năng này đặc biệt hiện diện trong sự tổng hợp qui mô lớn. Dù chúng ta có biết hay không, hầu hết chúng ta ngày nay đã tham gia vào việc chống hoặc tạo ra nền văn minh mới. Tôi hy vọng Làn sóng thứ ba sẽ giúp mỗi người chúng ta chọn lựa.
     
  2. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    SỰ VA CHẠM CỦA CÁC LÀN SÓNG

    Chương 1
    SIÊU ĐẤU TRANH
    Một nền văn minh mới đang nổi lên trong cuộc sống của chúng ta, và những người mù quáng khắp nơi đang cố gắng ngăn cản nó. Nền văn minh mới này mang theo kiểu gia đình mới, những thay đổi trong cách làm việc, yêu thương và sống, một nền kinh tế mới, những xung đột chính trị mới và những nhận thức mới. Một phần của nền văn minh mới, giờ đây đã thể hiện. Hàng triệu người đã điều chỉnh cuộc sống của họ theo những nhịp điệu mới. Một số người thì khiếp sợ tương lai, đã thực hiện chuyến đi vô ích và tuyệt vọng trở lại quá khứ và đang cố gắng tìm lại thế giới đang chết đã sinh ra họ.

    Ánh bình minh của nền văn minh mới là sự kiện bùng nổ có tầm quan trọng nhất. Đó là biến cố trung tâm, là chìa khóa để hiểu được những năm sắp đến. Đó là biến cố sâu sắc như của Làn sóng thứ nhất về thay đổi 10.000 năm trước khi có phát minh về nông nghiệp, hoặc như của Làn sóng thứ hai đang đánh dấu bởi cuộc cách mạng công nghiệp. Chúng ta là con cái của sự biến đổi sắp đến - Làn sóng thứ ba.

    Chúng ta đã cố gắng tìm từ ngữ để diễn tả đầy đủ sức mạnh và tầm vóc của sự thay đổi phi thường này. Một số đã nói về Thời đại vũ trụ, Thời đại tin tức, Kỷ nguyên Điện Tử, Làng toàn cầu, Thời đại công nghiệp điện tử, Xã hội hậu công nghiệp, Cách mạng khoa học công nghiệp. Còn tôi đã viết nhiều về "Xã hội siêu công nghiệp". Thế nhưng tất cả các từ ngữ trên, kể cả của tôi, đều không đủ để diễn tả sự thay đổi.

    Nhân loại đang đứng trước một bước nhảy kỳ diệu, với sự biến đổi xã hội sâu sắc nhất và với sự cấu trúc lại rất sáng tạo của mọi thời đại. Chúng ta đã bận rộn xây dựng một nền văn minh mới từ thấp lên trên mà không biết rõ chúng ta đang làm việc đó. Đấy là ý nghĩa của Làn sóng thứ ba.

    Cho đến bây giờ nhân loại đã trải qua hai làn sóng thay đổi vĩ đại, mỗi làn sóng đã xóa sạch hầu hết các nền văn hóa hoặc văn minh trước đó để thay chúng bằng nền văn minh mới mà những người trước đó không thể nào nhận thức nổi. Làn sóng thứ nhất - cuộc cách mạng nông nghiệp, cần hàng nghìn năm mới hình thành. Làn sóng thứ hai - cuộc Cách mạng công nghiệp, chỉ cần 300 năm. Ngày nay lịch sử còn nhanh hơn, dường như Làn sóng thứ ba sẽ tràn qua lịch sử và diễn ra trong vòng vài thập kỷ. Do đó, trong quãng đời của mình, chúng ta sẽ được chứng kiến tác dụng đầy đủ của Làn sóng thứ ba.

    Xé tan gia đình của chúng ta ra từng mảnh, làm rung chuyển nền kinh tế, làm tê liệt hệ thống chính trị, làm đảo lộn những giá trị - Làn sóng thứ ba ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Nó thách đố mọi quan hệ quyền lực cũ, những ưu tiên và đặc quyền của các nhóm thượng lưu ngày nay, và tạo ra cái nền cho những cuộc đấu tranh quyền lực then chốt của ngày mai. Nền văn minh mới này phủ nhận hầu hết văn minh công nghiệp truyền thống. Đồng thời cùng một lúc, nó vừa là công nghiệp cao, vừa chống lại công nghiệp quy mô lớn.

    Làn sóng thứ ba mang theo một kiểu sống mới dựa trên những nguồn năng lượng tái sinh đa dạng, trên những phương thức sản xuất sẽ làm cho những dây chuyền sản xuất trở thành lỗi thời, trên những gia đình mới không có hạt nhân, trên những thể chế mới có thể gọi là "nhà tranh điện tử", và trên những trường học, công ty bị thay đổi cơ bản của tương lai. Nền văn minh mới đem lại cho chúng ta một bộ luật mới về cách xử thế và đưa chúng ta vượt qua sự tiêu chuẩn hóa, sự đơn hiệu hóa, tập quyền hóa, và vượt qua sự tập trung về năng lượng, tiền bạc và quyền lực. Nền văn minh mới này sẽ gạt bỏ hệ thống quan liêu, hạ bớt vai trò quốc gia - Nhà nước và làm tăng những nền kinh tế bán tự trị trong một thế giới hậu đế quốc. Nó đòi hỏi các chính phủ đơn giản hơn, hiệu quả hơn, dân chủ hơn bất kỳ chính phủ nào chúng ta biết từ trước đến nay. Đó là một nền văn minh với quan điểm thế giới rõ ràng riêng biệt, với những cách riêng, nó đối phó với thời gian, không gian, lôgíc và nguyên nhân. Nền văn minh Làn sóng thứ ba bắt đầu hàn gắn mối bất hòa giữa người sản xuất và người tiêu thụ, làm nổi lên nền kinh tế "sản-tiêu" của ngày mai. Đây có thể là nền văn minh nhân đạo thật sự đầu tiên của lịch sử.

    TIỀN ĐỀ CÁCH MẠNG
    Hai hình ảnh dường như tương phản nhau về tương lai đang thu hút sự chú ý của mọi người. Hầu hết họ cho rằng thế giới mà họ biết sẽ kéo dài vô tận. Họ thấy khó mà tưởng tượng một cách sống khác. Dĩ nhiên họ thừa nhận mọi việc đang thay đổi. Nhưng họ cho rằng những thay đổi ngày nay, bằng cách nào đấy sẽ bỏ qua họ và chẳng có gì lay chuyển nổi nền tảng kinh tế gia đình và cấu trúc chính trị. Họ hy vọng một cách đáng tin cậy rằng, tương lai sẽ tiếp tục theo hiện đại.

    Những biến cố gần đây đã tác động mạnh đến hình ảnh tin cậy này của tương lai, đó là khi những tin về khủng hoảng tiếp theo khủng hoảng xuất hiện trên các dòng đầu tờ báo, khi Mao bị hạ bệ, khi giá dầu tăng vọt và lạm phát hoành hành, khi khủng bố lan tràn và các chính phủ dường như bất lực không thể ngăn chặn được nó, một viễn cảnh ảm đạm trở thành phổ biến ngày càng tăng. Một số lớn người được cung cấp đều đặn những tin tức xấu, phim ảnh thảm họa, các câu chuyện tận thế của kinh thánh và các bối cảnh ác mộng do các nhà tư tưởng có uy tín phát ra, thì họ kết luận rằng xã hội ngày nay không thể tiến vào tương lai vì không có tương lai. Trái đất đang tiến về nạn đại hồng thủy cuối cùng.

    Bề ngoài thì hai viễn cảnh về tương lai này dường như rất khác nhau. Thế nhưng cả hai đều tạo ra những hậu quả tâm lý và chính trị tương tự. Vì cả hai đưa đến sự tê liệt về trí tưởng tượng và ý chí. Cuốn sách này dựa trên cái mà tôi gọi là "tiền đề cách mạng". Nó cho rằng mặc dù những thập kỷ sắp đến đầy biến động, rối loạn, bạo động lan tràn, song chúng ta sẽ không tự hủy diệt mình. Cuốn sách còn cho thấy những thay đổi đang xuất hiện là không lộn xộn hoặc ngẫu nhiên, chúng tạo thành một mô hình có thể được nhận thức rõ ràng. Đồng thời nó giả thiết rằng những thay đổi này là tích lũy, nghĩa là cộng thêm vào sự biến đổi khổng lồ trong cuộc sống, làm việc, chơi, suy nghĩ, và rằng một tương lai lành mạnh mà chúng ta mong muốn là có thể đến. Tóm lại, những gì theo sau tiền đề này là một cách mạng tổng thể, một bước nhảy lượng tử trong lịch sử.

    Nói cách khác, cuốn sách này cho rằng chúng ta là thế hệ cuối cùng của một nền văn minh cũ và là thế hệ đầu tiên của một nền văn minh mới, và rằng hầu hết sự nhầm lẫn, sự khổ não, và sự mất phương hướng cá nhân của chúng ta đều xuất phát từ chính những mâu thuẫn trong bản thân chúng ta và trong thể chế chính trị của chúng ta, giữa văn minh Làn sóng thứ hai đang chết và văn minh Làn sóng thứ ba đang nổi lên.

    ĐẦU NGỌN SÓNG
    Một cách tiếp cận vấn đề mới có thể được gọi là phân tích "mặt sóng" xã hội. Nó nhìn lịch sử như là sự nối tiếp nhau các cuộn sóng của sự thay đổi, và đặt câu hỏi : mỗi ngọn sóng đang mang chúng ta đi đâu ? Nó hướng sự chú ý của chúng ta vào những gián đoạn của lịch sử, những sáng kiến và điểm ngắt nhiều hơn là vào những liên tục của lịch sử ; nó phát hiện những thay đổi then chốt khi chúng xuất hiện, để chúng ta có thể tác động đến chúng.

    Bắt đầu với tư tưởng rất đơn giản rằng sự đi lên của nông nghiệp là bước ngoặt đầu tiên trong phát triển xã hội nhân loại, và rằng cuộc cách mạng công nghiệp là sự chọc thủng vĩ đại thứ hai, nó nhìn mỗi sự việc trên không phải là một biến cố riêng rẽ và một lần, mà là một làn sóng thay đổi di chuyển theo một tốc độ nào đó.

    Trước Làn sóng thứ nhất về thay đổi, hầu hết nhân loại sống trong các nhóm nhỏ du mục và sống bằng câu cá, săn bắn, hoặc chăn giữ súc vật. Vào một thời điểm nào đấy chừng 10.000 năm trước đây, cuộc cách mạng nông nghiệp bắt đầu, và dần dần nó ảnh hưởng cả hành tinh, đi qua làng mạc, nơi định cư, đất canh tác và đem theo một cách sống mới.
    Làn sóng thứ nhất chưa bị kiệt lực vào cuối thế kỷ XVII, khi đó cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ ở châu Âu và mở ra một làn sóng vĩ đại thứ hai về thay đổi của hành tinh. Qui trình mới này - công nghiệp hóa - bắt đầu di chuyển nhanh hơn đi qua các quốc gia và lục địa. Như thế hai quy định thay đổi rõ ràng và riêng biệt đã cuộn qua trái đất cùng một lúc với những tốc độ khác nhau.
    Ngày nay Làn sóng thứ nhất hầu như đã lắng xuống. Chỉ còn một số bộ lạc nhỏ ở Nam Mỹ, Papua Tân Guinea v.v... vẫn còn sống bằng nông nghiệp. Nhưng sức mạnh của Làn sóng thứ nhất về cơ bản đã tiêu tan. Chỉ trong vòng một hai thế kỷ, Làn sóng thứ hai đã cách mạng hóa cuộc sống ở châu Âu, Bắc Mỹ và một số nơi khác trên trái đất. Và hiện nay vẫn đang tiếp tục phát triển ở những nước nông nghiệp có nền công nghiệp lạc hậu. Động lượng của công nghiệp hóa vẫn còn mạnh. Làn sóng thứ hai chưa sử dụng hết năng lượng của nó.

    Nhưng ngay cả qui trình trên đang diễn ra, một qui trình khác quan trọng hơn đã bắt đầu. Vì khi chiều hướng hệ thống công nghiệp qui mô lớn đạt đến đỉnh cao trong những thập kỷ sau Thế chiến II. Làn sóng thứ ba chưa được biết nhiều đã bắt đầu nổi lên và biến đổi mọi thứ nó đụng đến. Do đó, nhiều nước cảm thấy bị cùng tác động bởi 2 hoặc 3 làn sóng thay đổi khác nhau và với sức mạnh đằng sau chúng khác nhau.

    Vì mục đích của cuốn sách này, chúng ta chia kỷ nguyên Làn sóng thứ nhất từ khoảng năm 8.000 trước CN và thống trị không có đối thủ đến năm 1650 - 1750 sau CN. Từ đây Làn sóng thứ nhất mất động lượng khi Làn sóng thứ hai dấy lên. Văn minh công nghiệp, sản phẩm của Làn sóng thứ hai, đã thống trị hành tinh cho đến khi nó đạt đến đỉnh của nó. Bước ngoặt lịch sử sau cùng này xảy ra ở Mỹ trong thập kỷ bắt đầu từ năm 1955, thập kỷ lần đầu tiên số lượng người làm việc văn phòng và người làm dịch vụ vượt hơn số lượng công nhân. Cũng thập kỷ này đã thấy việc đưa vào sử dụng rộng rãi máy tính, máy bay vận tải phản lực, thuốc ngừa thai, và nhiều phát minh có tác động cao. Từ đấy Làn sóng thứ ba đã đến các nước công nghiệp khác như Anh, Pháp, Thụy Điển, Đức, Nhật với thời gian khác nhau.

    LÀN SÓNG CỦA TƯƠNG LAI
    Một làn sóng thay đổi chiếm ưu thế trong bất kỳ xã hội nào, dạng phát triển tương lai là tương đối dễ dàng phát hiện. Các nhà văn, nghệ sĩ, nhà báo và những người khác phát hiện ra "Làn sóng tương lai". Vào thế kỷ XIX, ở châu Âu, nhiều nhà tư tưởng, kinh doanh, chính trị và người dân thường đã nắm bắt được hình ảnh chính xác và rõ ràng về tương lai. Họ ý thức được rằng lịch sử đang tiến về hướng hệ thống công nghiệp qui mô lớn chiến thắng nông nghiệp, và họ thấy trước với độ chính xác cao nhiều thay đổi mà Làn sóng thứ hai sẽ mang đến : công nghiệp cao, thành phố lớn hơn, giao thông nhanh hơn, giáo dục đại chúng v.v...

    Tầm nhìn này đã có ảnh hưởng chính trị trực tiếp. Các đảng phái và các phong trào chính trị cố tạo ra thế đứng vững chắc trong tương lai. Những thế lực quyền lợi nông nghiệp tiền công nghiệp tổ chức hành động chống lại "công nghiệp"; chống lại "đại kinh doanh", chống lại "các công đoàn", chống lại các "thành phố đầy tội lỗi". Các tổ chức công đoàn và quản lý nắm lấy việc kiểm soát những đòn bẩy của xã hội công nghiệp. Các nhóm dân tộc thiểu số xác định quyền của họ trong thế giới công nghiệp, đòi hỏi quyền được có việc làm, quyền được giữ chức vụ trong công ty, quyền được nhà ở thành phố, quyền được hưởng lương cao hơn, quyền được giáo dục đại chúng v.v...

    Tầm nhìn công nghiệp này cũng có những hậu quả tâm lý quan trọng. Người ta có thể chống đối, hoặc có thể tham gia vào các cuộc xung đột. Các thời kỳ suy thoái và thăng tiến có thể phá vỡ cuộc đời của họ. Nói chung, hình ảnh phân chia của một tương lai công nghiệp có khuynh hướng xác định những khả năng lựa chọn khác nhau cho cá nhân, họ không phải chỉ ý thức họ là ai hoặc họ là gì mà còn là họ trở thành gì.

    Trái lại, khi xã hội bị hai hoặc nhiều làn sóng thay đổi khổng lồ tấn công, và không có làn sóng nào thắng thế, thì hình ảnh của tương lai bị rạn nứt. Vô cùng khó khăn chọn lựa ý nghĩa của sự thay đổi và xung đột đang nảy sinh ra. Sự va chạm của các mặt sóng tạo ra một đại dương nổi sóng, đầy những dòng đụng nhau, các cơn gió lốc, và các vùng nước xoáy đang che đậy những xu hướng lịch sử quan trọng hơn và sâu đậm hơn.

    Trong nước Mỹ ngày nay cũng như ở nhiều nước khác, sự va chạm của các Làn sóng thứ hai và thứ ba tạo ra những căng thẳng xã hội, những xung đột nguy hiểm và những mặt sóng chính trị mới kỳ lạ chia cắt sự phân chia về giai cấp, chủng tộc, giới tính và đảng phái. Sự va chạm này sinh ra một mớ hỗn độn về từ ngữ chính trị truyền thống và làm cho khó phân biệt người cấp tiến với người phản động, bạn với thù. Tất cả những phân cực và liên minh cũ bị phá vỡ. Mặc dù có sự khác nhau, các công đoàn và các ông chủ liên kết để chống lại các nhà môi trường học. Những người da đen và Do Thái, đã có một thời liên kết nhau để chống lại sự kỳ thị, nay lại trở thành kẻ thù.

    Trong nhiều nước, giai cấp lao động một thời ủng hộ những chính sách tiến bộ như phân phối lại thu nhập, bây giờ thường nắm giữ những vị trí phản động đối với quyền phụ nữ, bộ luật gia đình, cư trú, chế độ thuế quan. Cánh khuynh tả truyền thống thường là thích tập quyền, chủ nghĩa dân tộc cao và chống lại các nhà môi trường học. Cùng lúc đó chúng ta cũng thấy các nhà chính trị có thái độ bảo thủ đối với kinh tế nhưng lại có thái độ phóng khoáng đối với nghệ thuật, quyền phụ nữ hoặc kiểm soát sinh thái. Không trách mọi người nhầm lẫn và không đoán nổi nhận thức của họ.

    Phương tiện thông tin đại chúng truyền đi vô tận về cải tiến kỹ thuật, sự đảo ngược, biến cố kỳ lạ, ám sát, bắt cóc, phóng tàu vũ trụ, chính phủ sụp đổ, cảm tử quân đột kích, bê bối... tất cả dường như không liên quan với nhau.

    Sự rời rạc rõ ràng của đời sống chính trị được phản ánh trong sự tan rã cá tính. Các nhà chữa bệnh bằng tâm lý và các nhà truyền bá Ấn Độ giáo làm ăn phát đạt ; người ta lang thang vô mục đích trong số phép chữa bệnh đang cạnh tranh nhau. Họ lẻn vào các giáo phái để tự làm tin rằng thực tế là vô lý, không lành mạnh, hoặc không có ý nghĩa.

    Một sự hiểu biết về các xung đột được sinh ra bởi các mặt sóng va chạm nhau này sẽ cho chúng ta không chỉ một hình ảnh rõ ràng hơn về các tương lai khác nhau mà còn về các lực lượng xã hội và chính trị tác động lên chúng ta. Nó cũng giúp chúng ta thấy rõ hơn vai trò của mình trong lịch sử. Những dòng xuyên nhau tạo ra bởi những làn sóng thay đổi này để phản ánh trong công việc của chúng ta, trong cuộc sống gia đình của chúng ta, trong thái độ tình yêu của chúng ta và trong đạo đức cá nhân của chúng ta. Nó xuất hiện trong cách sống của chúng ta.

    NHỮNG CON BỌ VÀNG VÀ KẺ SÁT NHÂN
    Sự xung đột giữa các nhóm Làn sóng thứ hai và thứ ba là sự căng thẳng chính trị trọng tâm đang đi tắt qua xã hội chúng ta ngày nay. Dù các đảng phái chính trị và các nhà chính trị nói gì đi nữa, việc đấu tranh nội bộ không gì khác hơn là sự cãi vã nhau, tranh giành phần hơn của hệ thống công nghiệp đang suy tàn.

    Vấn đề chính trị cơ bản hơn không phải là việc ai kiểm soát những ngày cuối cùng của xã hội công nghiệp mà là việc ai sẽ định hình nền văn minh mới. Trong khi các cuộc giao tranh chính trị nhỏ diễn ra nhanh chóng làm kiệt sức năng lượng và sự chú ý của chúng ta, một trận chiến sâu hơn nhiều đã xảy ra phía dưới bề mặt. Một bên là những người ủng hộ quá khứ công nghiệp ; bên kia là hàng triệu người thừa nhận rằng những vấn đề khẩn cấp nhất của thế giới như thực phẩm, năng lượng, kiểm soát chạy đua vũ trang, dân số, nghèo đói, tài nguyên, sinh thái, khí hậu, vấn đề người già, sự sụp đổ cộng đồng thành phố, tăng lương cho công nhân, tất cả những cái đó từ lâu không còn được giải quyết trong khuôn khổ của trật tự công nghiệp nữa. Sự xung đột này là cuộc "siêu đấu tranh" cho ngày mai.

    Cuộc đối đầu này giữa những người ủng hộ Làn sóng thứ hai và những người của Làn sóng thứ ba đã diễn ra giống như dòng điện chạy qua đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Ngay cả trong những nước không phải là nước công nghiệp, tất cả những đường ranh giới chiến đấu cũ đã bị vẽ lại khi Làn sóng thứ ba đến, cuộc đấu tranh của các quyền lợi nông nghiệp, thường là phong kiến, chống lại việc công nghiệp hóa dù là tư bản hay xã hội chủ nghĩa đều tiến hành theo chiều hướng mới, theo sự lỗi thời sắp đến của hệ thống công nghiệp qui mô lớn. Vì nền văn minh Làn sóng thứ ba đang xuất hiện, sự công nghiệp hóa nhanh ẩn ngầm việc giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân mới và nghèo đói, hoặc nó sẽ đảm bảo sự phụ thuộc thường xuyên ?
    Một khi chúng ta nhận thức được rằng cuộc đấu tranh quyết liệt đang diễn ra giữa những người tìm cách bảo vệ hệ thống công nghiệp qui mô lớn và những người tìm cách thay thế nó, thì chúng ta mới có chìa khóa để hiểu được thế giới. Và quan trọng hơn nữa là chúng ta xác lập được chính sách cho một quốc gia, chiến lược cho một công ty, và mục đích cuộc sống cho chính bản thân mình. Như vậy chúng ta có một công cụ mới cho việc thay đổi thế giới. Để sử dụng công cụ này, chúng ta phải phân biệt rõ ràng những thay đổi nào kéo dài nền văn minh công nghiệp cũ và những thay đổi nào tạo điều kiện cho sự xuất hiện nền văn minh mới. Nói tóm lại, chúng ta phải hiểu cả cái cũ lẫn cái mới, hệ thống công nghiệp Làn sóng thứ hai trong đó chúng ta được sinh ra và nền văn minh Làn sóng thứ ba mà chúng ta và con cái chúng ta sẽ sống.
     
  3. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    LÀN SÓNG THỨ HAI

    Chương 2
    KIẾN TRÚC CỦA VĂN MINH
    Trong thời gian dài của nền văn minh Làn sóng thứ nhất, nhân loại có thể được chia làm hai - nguyên thủy và văn minh. Những người được gọi là nguyên thủy sống thành bộ lạc hoặc thành bầy đàn và sinh sống bằng săn bắn, câu cá, hoặc hái lượm, họ là những người bị cuộc cách mạng nông nghiệp bỏ qua.
    Ngược lại, trong thế giới được gọi là văn minh thì con người sống bám vào đất. Vì bất kỳ nơi nào mà nông nghiệp nảy sinh ra, thì nền văn minh bám rễ. Từ Trung Quốc và Ấn Độ đến Bênin và Mêhicô, ở Hy Lạp và La Mã, các nền văn minh nổi lên và sụp đổ, chiến đấu và hợp nhất lại trong sự hỗn hợp đầy màu sắc và vô tận.

    Tuy nhiên, ở dưới những điểm khác nhau của các nền văn minh đó là sự tương đồng cơ bản. Trong tất cả các nền văn minh đó thì đất đai là cơ sở của kinh tế, đời sống, văn hóa, cấu trúc gia đình và chính trị. Đời sống được tổ chức xung quanh làng mạc. Sự phân chia lao động đơn giản chiếm ưu thế và một số đẳng cấp, giai cấp đã được xác định rõ ràng. Quyền lực độc đoán một cách cứng nhắc. Nền kinh tế bị phân quyền để mỗi cộng đồng tự sản xuất hầu hết những nhu cầu riêng của họ.
    Trong thời gian thống trị của Làn sóng thứ nhất, đôi khi có những dấu hiệu báo về những việc sắp xảy ra. Đã có những nhà máy sản xuất hàng loạt, ở Hy Lạp và La Mã Cổ đại song chưa phát triển. Mỏ dầu được khoan ở các đảo Hy Lạp vào năm 400 (trước CN) và ở Miến Điện vào năm 100 (sau CN). Hệ thống quan liêu rộng lớn phát triển ở Babilôna và ở Ai Cập. Các thành phố rộng lớn mọc lên ở châu Á và Nam Mỹ. Đã có tiền và hối đoái. Các con đường thương mại đi chéo nhau qua sa mạc, đại dương và đồi núi. Các công ty và quốc gia phôi thai đã hiện hữu.

    Thế nhưng chẳng có nơi nào được gọi là văn minh công nghiệp. Những cái nhìn thoáng qua trên về tương lai chỉ là những trường hợp kỳ quặc của lịch sử, bị phân tán ở những nơi khác nhau và vào những thời điểm khác nhau. Chúng chưa bao giờ được tập hợp trong một hệ thống chặt chẽ. Do đó, cho đến năm 1650-1750 chúng ta mới có thể nói về một thế giới Làn sóng thứ hai. Mặc dù có cả thời đại nguyên thủy và dấu hiệu tương lai công nghiệp, văn minh công nghiệp thống trị hành tinh và dường như sẽ kéo dài mãi mãi.

    Đó là thế giới mà trong đó cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, thúc đẩy Làn sóng thứ hai và tạo ra một nền phản văn minh kỳ lạ, dữ dội và đầy sinh lực. Hệ thống công nghiệp qui mô lớn còn nhiều hơn chứ không phải chỉ là các cột ống khói và dây chuyền sản xuất. Nó là một hệ thống xã hội phong phú và nhiều vẻ liên quan đến mỗi lĩnh vực của đời sống con người và công phá mọi điểm đặc trưng của Làn sóng thứ nhất. Nó sản xuất những nhà máy khổng lồ, máy cày trên nông trại, máy đánh chữ trong văn phòng, tủ lạnh trong nhà bếp, báo chí hàng ngày, phim ảnh, tàu điện ngầm, máy bay DC-3. Nó cho chúng ta trường phái lập thể và nhạc 12 âm, đình công ngồi, thuốc Vitamin, tuổi thọ kéo dài. Nó phổ thông hóa đồng hồ đeo tay và thùng phiếu. Quan trọng hơn, nó nối tất cả những việc đó lại với nhau để hình thành một hệ thống xã hội rộng lớn, cố kết và mạnh nhất mà thế giới chưa bao giờ được biết : nền văn minh Làn sóng thứ hai.

    GIẢI PHÁP DỮ DỘI
    Khi Làn sóng thứ hai đi qua các xã hội khác nhau, nó gây ra một cuộc chiến tranh kéo dài đẫm máu giữa những người bảo vệ quá khứ nông nghiệp và những người ủng hộ tương lai công nghiệp. Những lực lượng của Làn sóng thứ nhất và thứ hai va chạm đối đầu, bỏ qua - nhưng thường là sát hại - những người "nguyên thủy" gặp trên đường đi của chúng.
    Ở Mỹ, sự va chạm này bắt đầu với cuộc nội chiến năm 1861. Cuộc nội chiến không phải chỉ đánh nhau về vấn đề đạo đức đối với chế độ nô lệ hoặc về những vấn đề kinh tế. Nó đánh nhau trên một vấn đề lớn hơn nhiều : lục địa mới giàu có này sẽ do các địa chủ hoặc các nhà công nghiệp cai trị ? Do các lực lượng của Làn sóng thứ nhất hoặc thứ hai cai trị ? Xã hội Mỹ tương lai sẽ là cơ bản nông nghiệp hay công nghiệp ? Khi Bắc quân chiến thắng, hột súc sắc đã được ném. Từ lúc đấy trở đi, trong kinh tế, chính trị, đời sống xã hội và văn hóa, nông nghiệp thoái lui, công nghiệp có ưu thế. Làn sóng thứ nhất tàn tạ khi Làn sóng thứ hai ầm ầm đi vào.

    Sự va chạm về các nền văn minh cũng nổ ra khắp nơi. Ở Nhật, chế độ quân chủ Minh trị bắt đầu vào năm 1868 đã đưa nước Nhật vào cuộc đấu tranh giữa quá khứ nông nghiệp và tương lai công nghiệp. Việc hủy bỏ chế độ phong kiến năm 1876, cuộc nội loạn của nhóm Satsuma năm 1877, việc chấp nhận hiến pháp kiểu phương Tây năm 1889 - tất cả phản ánh sự va chạm của các Làn sóng thứ nhất và thứ hai ở Nhật, đó là những bước đi trên con đường dẫn đến nước Nhật trở thành cường quốc công nghiệp hàng đầu.

    Ở nước Nga, sự va chạm giữa các lực lượng Làn sóng thứ nhất và thứ hai cũng nổ ra. Cuộc cách mạng năm 1917 là bản dịch của Nga về cuộc nội chiến Mỹ. Nó được chiến đấu không phải chủ yếu cho chủ nghĩa cộng sản, mà là cho vấn đề công nghiệp. Khi những người Bônsêvích quét sạch những dấu vết cuối cùng của chế độ nông nô và nền quân chủ phong kiến, họ đẩy nông nghiệp ra phía sau và tăng tốc hệ thống công nghiệp qui mô lớn. Họ trở thành Đảng của Làn sóng thứ hai.

    Từ nước này sang nước khác, sự xung đột giữa các quyền lợi của Làn sóng thứ nhất và Làn sóng thứ hai nổ ra khắp nơi, dẫn đến khủng hoảng và biến động chính trị, đình công, nổi loạn, đảo chính và chiến tranh. Tuy nhiên đến giữa thế kỷ XX, các lực lượng của Làn sóng thứ nhất bị bẻ gãy và nền văn minh Làn sóng thứ hai thống tri trên khắp cả trái đất. Ngày nay vòng đai công nghiệp bao quanh địa cầu giữa vĩ tuyến 20 và vĩ tuyến 65 của bán cầu Bắc. Ở Bắc Mỹ, chừng 250 triệu người sống theo cách sống nông nghiệp. Ở Tây Âu, từ các nước Bắc Âu xuống tận Ý, chừng 1/4 tỉ người khác sống dưới hệ thống công nghiệp qui mô lớn. Các nước Đông Âu và một phần phía tây Liên Xô [1] có chừng 1/4 tỉ người khác sống trong xã hội công nghiệp. Sau cùng, chúng ta đến các vùng công nghiệp châu Á gồm Nhật, Hồng Kông, Xingapo, Đài Loan, Ôxtrâylia, Tân Tây Lan, một phần Nam Triều Tiên và Trung Quốc lục địa, nghĩa là chừng 1/4 tỉ người nữa là những người công nghiệp. Tổng cộng, văn minh công nghiệp bao gồm chừng 1 tỉ người, nghĩa là 1/4 dân số thế giới.

    Mặc dù có những khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử và chính trị, song tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai này có chung những nét đặc trưng tương tự.
    [1] Liên XÔ trước đây - (BT)

    ẮC QUY SỐNG
    Điều kiện tiên quyết của bất kỳ nền văn minh nào, cũ hoặc mới, là năng lượng. Các xã hội Làn sóng thứ nhất lấy năng lượng từ các "ắc quy sống" như con người và thú vật, hoặc từ mặt trời, gió và nước. Cho đến cuộc cách mạng Pháp, châu Âu lấy năng lượng từ khoảng chừng 14 triệu con ngựa và 24 triệu con bò. Tất cả xã hội Làn sóng thứ nhất khai thác các nguồn năng lượng có thể được phục hồi lại như rừng, gió, nước. Ngay cả thú vật và con người đã là "những nô lệ năng lượng" có thể được thay thế. Ngược lại, tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai lấy năng lượng từ than đá, khí và dầu, nghĩa là từ các nguồn nhiên liệu không thay thế được ở dưới đất. Sự thay đổi vị trí cách mạng này có nghĩa là lần đầu tiên một nền văn minh ăn vào vốn thiên nhiên chứ không phải chỉ sống nhờ vào lợi ích mà thiên nhiên cung cấp. Việc lấy nguồn tài nguyên năng lượng dự trữ của trái đất làm tăng nhanh sự phát triển kinh tế. Và từ ngày đó cho đến bây giờ, bất kỳ nơi nào mà Làn sóng thứ hai đi qua, các quốc gia xây dựng các cấu trúc kinh tế và công nghiệp trên điều kiện là các nguồn nhiên liệu rẻ dưới đất có sẵn vô tận. Cả trong các xã hội công nghiệp tư bản và cộng sản, từ Đông sang Tây, sự thay thế vị trí này rất rõ ràng - từ năng lượng phân tán sang tập trung, từ năng lượng khôi phục được sang không khôi phục được, từ nhiều nguồn nhiên liệu khác nhau sang một ít nguồn
    nhiên liệu. Các nguồn nhiên liệu dưới đất tạo thành cơ sở năng lượng của tất cả xã hội Làn sóng thứ hai.

    DẠ CON CÔNG NGHỆ
    Bước nhảy đến một hệ thống năng lượng mới đi song hành với sự tiến bộ khổng lồ trong công nghệ. Làn sóng thứ hai đẩy công nghệ đến một mức hoàn toàn mới. Nền văn minh công nghiệp đã cho công nghệ những bộ phận giác quan, tạo ra các máy có thể nghe, nhìn, sờ với độ chính xác cao hơn con người. Nó đã cho công nghệ một cái dạ con, bằng việc tạo ra các máy thiết kế các máy khác, nghĩa là máy công cụ. Quan trọng hơn là nó gộp các máy lại với nhau trong hệ thống liên kết để tạo ra nhà máy và sau cùng là dây chuyền sản xuất trong nhà máy.
    Trên cơ sở công nghệ này, một loạt ngành công nghiệp xuất hiện để cho nền văn minh Làn sóng thứ hai dấu ấn xác nhận của nó. Đầu tiên có than đá, dệt, đường sắt, sau đó là thép, ô tô, nhôm, hóa chất và hàng tiêu dùng. Các thành phố nhà máy khổng lồ cũng mọc lên. Từ những trung tâm công nghiệp này đã đổ ra hàng triệu các sản phẩm giống nhau như áo, giày, xe ô tô, đồng hồ, đồ chơi, xà phòng, kem gội đầu, máy ảnh, súng máy và động cơ điện. Công nghệ mới do hệ thống năng lượng mới cung cấp lực để mở cửa cho việc sản xuất hàng loạt.

    NGÔI CHÙA ĐỎ SON
    Tuy nhiên, sản xuất hàng loạt sẽ vô nghĩa nếu không có những thay đổi trong hệ thống phân phối. Trong các xã hội Làn sóng thứ nhất, hàng hóa thường đã làm bằng phương pháp thủ công. Sản phẩm được tạo ra mỗi lần một chiếc theo yêu cầu của khách hàng. Việc phân phối cũng giống như thế.

    Ở phương Tây, các nhà buôn đã mở các công ty thương mại phức tạp theo những kẽ hở của trật tự phong kiến cũ. Những công ty này đã mở các con đường buôn bán khắp thế giới bằng các đoàn tàu thủy và các đoàn lạc đà. Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm này được bán trong các cửa hàng nhỏ hoặc do người bán hàng rong mang về nông thôn. Các phương tiện thông tin thảm hại và giao thông thô sơ đã giới hạn mạnh mẽ thị trường.

    Làn sóng thứ hai đã thay đổi hệ thống phân phối này một cách cơ bản. Đường sắt, đường cao tốc và các kênh đường thủy đã mở rộng các vùng xa thành thị, và với hệ thống công nghiệp qui mô lớn là các cửa hàng bách hóa đầu tiên. Mạng lưới phức tạp những người bán buôn, bán sỉ, môi giới, đại diện người sản xuất mọc ra khắp nơi, và năm 1871 Gioócgiđ Hântinhtơn Hátfớt, cửa hàng đầu tiên ở New York được sơn màu đỏ son và có chỗ thu tiền hình dạng giống như ngôi chùa Trung Quốc, đã tạo ra hệ thống cửa hàng dây xích khổng lồ đầu tiên của thế giới.

    Sự phân phối cho từng khách hàng nhường chỗ cho sự phân phối và bán buôn đại chúng, và cách phân phối này trở thành thường xuyên và chủ yếu của tất cả các xã hội công nghiệp giống như một cái máy.
    Do đó nếu chúng ta gộp những thay đổi này lại với nhau, thì những gì mà chúng ta thấy là một sự biến đổi của cái có thể để gọi là "môi trường công nghệ". Tất cả các xã hội - nguyên thủy, nông nghiệp, công nghiệp - sử dụng năng lượng ; chúng làm ra đồ vật ; và phân phối đồ vật. Hệ thống năng lượng, hệ thống sản xuất, và hệ thống phân phối là các bộ phận có liên quan với nhau của một hệ thống lớn hơn. Hệ thống này là "môi trường công nghệ", và nó có một dạng đặc trưng vào mỗi giai đoạn phát triển xã hội.

    Khi Làn sóng thứ hai quét qua hành tinh, "môi trường công nghệ" nông nghiệp được "môi trường công nghệ" công nghiệp thay thế : năng lượng không phục hồi được đưa thẳng vào hệ thống sản xuất hàng loạt, và đến lượt hệ thống sản xuất hàng loạt tung hàng hóa vào hệ thống phân phối đại chúng được phát triển cao.

    GIA ĐÌNH ĐƯỢC TỔ CHỨC HỢP LÝ
    "Môi trường công nghệ" Làn sóng thứ hai này cũng cần một "môi trường xã hội" cách mạng tương ứng với nó. Nó cần những hình thức cơ bản mới về tổ chức xã hội.
    Trước cuộc cách mạng công nghiệp, người ta có khuynh hướng sống trong một ngôi nhà lớn với nhiều thế hệ khác nhau. Tất cả đều làm việc trong một đơn vị sản xuất kinh tế. Gia đình là bất động và cắm sâu vào đất đai.

    Khi Làn sóng thứ hai bắt đầu quét qua các xã hội Làn sóng thứ nhất, các gia đình cảm thấy sự căng thẳng về thay đổi. Trong mỗi gia đình, sự va chạm của làn sóng biến thành sự xung đột, tấn công vào quyền lực phụ hệ, thay đổi các mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ, thay đổi những khái niệm mới về sở hữu. Khi sản xuất kinh tế thay đổi vị trí từ cánh đồng đến nhà máy, gia đình không còn là đơn vị sản xuất nữa. Để giải phóng người làm việc cho nhà máy, những nhiệm vụ chính của gia đình được chia ra thành các thiết chế mới chuyên môn hóa. Giáo dục trẻ con được chuyển giao cho trường học. Chăm sóc người già được chuyển giao cho các nhà tế bần, nhà dưỡng lão hoặc các viện lão niên. Xã hội mới yêu cầu sự cơ động, nó cần người công nhân bám sát công việc.

    Cấu trúc gia đình bắt đầu thay đổi dần dần và khó khăn. Dưới tác động của kinh tế, việc di dân đến thành phố ngày càng nhiều, các gia đình bị xé nhỏ ra, nhưng cơ động hơn, và phù hợp hơn với những nhu cầu của môi trường công nghệ mới. Cái được gọi là gia đình mà hạt nhân gồm cha, mẹ và con cái, ngoài ra không có người thân, trở thành mô hình hiện đại, chuẩn mực được xã hội chấp nhận trong tất cả các xã hội công nghiệp, dù là tư bản hay cộng sản.

    CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY CHE ĐẬY
    Nếu chuẩn bị trước thế hệ trẻ cho hệ thống công nghiệp thì điều đó rất thuận lợi cho vấn đề kỹ thuật công nghiệp sau này. Vậy cấu trúc trọng tâm của tất cả xã hội Làn sóng thứ hai là giáo dục đại chúng. Xây dựng trên mô hình nhà máy, giáo dục đại chúng bao gồm dạy đọc, viết và số học cơ bản, một ít về lịch sử và những môn khác. Đây là chương trình giảng dạy công khai. Nhưng còn một chương trình giảng dạy khác vô hình hoặc "chương trình giảng dạy che đậy" cũng rất cơ bản. Nó gồm 3 môn học : một về tính đúng giờ, một về sự tuân lệnh, và một về công việc lặp đi lặp lại. Lao động nhà máy đòi hỏi công nhân làm việc đúng giờ, tuân lệnh cấp lãnh đạo vô điều kiện, và thực hiện những động ác lặp đi lặp lại dù ở bên cỗ máy hoặc ở văn phòng.

    Như thế từ giữa thế kỷ XIX trở đi, trẻ con đi học vào lứa tuổi càng ngày càng trẻ hơn, năm học càng ngày càng dài hơn, và số năm đi học bắt buộc cũng tăng lên. Giáo dục đại chúng rõ ràng là một bước tiến nhân đạo hóa. Tuy nhiên các trường học Làn sóng thứ hai biến các thế hệ thanh niên thành lực lượng lao động tập thể và dễ bảo theo kiểu được nền công nghiệp điện cơ và dây chuyền sản xuất đòi hỏi.

    Gộp cả gia đình hạt nhân và trường học kiểu nhà máy lại với nhau tạo thành một bộ phận của hệ thống hợp nhất để chuẩn bị thanh niên cho những vai trò trong xã hội công nghiệp. Về phương diện này thì các xã hội Làn sóng thứ hai, tư bản hay cộng sản, Bắc hoặc Nam, tất cả đều giống nhau.

    SINH VẬT BẤT TỬ
    Trong tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai, một thể chế thứ ba xuất hiện để mở rộng sự kiểm soát xã hội đối với hai thể chế trên. Đó là sự phát minh ra công ty. Trước đó, các xí nghiệp kinh doanh tiêu biểu đều do một cá nhân, một gia đình hoặc do một hội làm chủ. Các công ty đã xuất hiện nhưng vô cùng hiếm.
    Các công nghệ Làn sóng thứ hai đòi hỏi vốn góp lớn mà một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ không thể nào cung cấp nổi. Người ta không thể mạo hiểm đầu tư toàn bộ tài sản của họ vào kinh doanh. Để khuyến khích họ, khái niệm về nguy cơ giới hạn được giới thiệu. Nếu một công ty bị phá sản, người đầu tư chỉ mất một số tiền đầu tư và không mất gì thêm. Sáng kiến này mở rộng các nguồn đầu tư.

    Hơn thế nữa, công ty được xem như là một "sinh vật bất tử", nghĩa là nó có thể sống lâu hơn những người đầu tư đầu tiên của nó. Điều này có nghĩa là nó có thể làm những kế hoạch dài hạn và thực hiện những đề án lớn hơn.
    Gia đình hạt nhân, trường học kiểu nhà máy, và công ty khổng lồ trở thành các thiết chế xã hội xác định đặc điểm của tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai. Mỗi thiết chế then chốt của Làn sóng thứ hai chế ngự một giai đoạn trong lối sống.

    NHÀ MÁY ÂM NHẠC
    Xung quanh ba thiết chế cốt lõi là một loạt những tổ chức khác. Các bộ của chính phủ, các câu lạc bộ thể thao, nhà thờ, phòng thương mại, công đoàn, tổ chức nghề nghiệp, đảng phái chính trị, thư viện, hiệp hội chủng tộc, các nhóm tiêu khiển, và hàng ngàn tổ chức khác theo liền ngay sau Làn sóng thứ hai, tạo ra một hệ thống sinh thái tổ chức phức tạp với mỗi nhóm phục vụ, phối hợp hoặc đối trọng nhóm khác. Các nhà phát minh xã hội tin tưởng rằng nhà máy là mô hình hiệu quả và tiến bộ nhất cho sản xuất, nên họ cố gắng áp dụng nguyên tắc của nhà máy vào tất cả các tổ chức khác. Trường học, bệnh viện, nhà tù, hệ thống hành chính nhà nước và những tổ chức khác dựa vào các đặc tính của nhà máy - sự phân chia lao động, cấu trúc cấp bậc, và sự thiếu cá tính con người.

    Ngay cả trong nghệ thuật chúng ta cũng thấy một số nguyên tắc nhà máy. Thay vì làm việc cho một ông chủ như trong nền văn minh công nghiệp, các nhạc sĩ, nghệ sĩ, người soạn nhạc và nhà văn bị ném vào thị trường. Càng ngày họ càng trở thành "sản phẩm" cho những người tiêu thụ vô danh. Và khi sự thay đổi vị trí này xảy ra trong mỗi nước Làn sóng thứ hai thì chính cấu trúc về sản xuất nghệ thuật cũng thay đổi.
    Âm nhạc cung cấp một ví dụ rõ ràng. Khi Làn sóng thứ hai đến, các đại sảnh hòa nhạc bắt đầu hiện ra ở Luân Đôn, Viên, Pari... Cùng với chúng là chỗ bán vé và các ông bầu. Càng nhiều vé được bán, các ông bầu càng được nhiều tiền. Do đó ngày càng có nhiều ghế được thêm vào. Đến lượt các đại sảnh lớn cần âm thanh mạnh hơn. Kết quả là sự thay đổi vị trí từ nhạc thính phòng sang nhạc giao hưởng. Càng ngày càng có nhiều âm cụ và nhạc công được đưa thêm vào để sản xuất âm lượng cần thiết. Kết quả là dàn nhạc âm hưởng hiện đại.

    Ngay cả dàn nhạc âm hưởng cũng được tổ chức theo kiểu nhà máy. Các nhạc công được chia thành phòng ban (khu vực đạo cụ), mỗi phòng đóng góp cho đầu ra toàn bộ (âm nhạc), mỗi phòng được phối hợp bởi một người quản lý (nhạc trưởng). Thiết chế bán sản phẩm của nó cho thị trường đại chúng. Nhà máy âm nhạc đã được sinh ra.

    TRẬN BÃO TUYẾT BÁO CHÍ
    Tất cả các nhóm nhân loại, từ thời kỳ nguyên thủy cho đến nay, phụ thuộc vào thông tin mặt-đối-mặt, người-đối-người. Nhưng các hệ thống đều có nhu cầu gửi tin tức qua cả thời gian và không gian. Trong nền văn minh Làn sóng thứ nhất, tất cả các phương tiện thông tin liên lạc thô sơ được dành riêng cho những người giàu và những người có quyền lực. Người dân thường không thể nào có được những phương tiện đó.
    Làn sóng thứ hai đã nghiền nát sự độc quyền thông tin trên. Vì công nghệ và sản xuất hàng loạt của Làn sóng thứ hai đòi hỏi sự di chuyển ào ạt tin tức mà các hệ thống thô sơ cũ không thể nào đáp ứng được nữa. Tin tức cần thiết cho sản xuất kinh tế trong các xã hội nguyên thủy và Làn sóng thứ nhất là tương đối đơn giản. Hầu hết nó theo dạng lời nói hoặc động tác. Ngược lại, các nền kinh tế Làn sóng thứ hai yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ về công việc được thực hiện ở nhiều địa điểm. Không phải chỉ nguyên liệu mà còn là số lượng lớn tin tức phải được sản xuất và phân phối cẩn thận.

    Vì lý do này, khi Làn sóng thứ hai có được trọng lực, các nước chạy đua xây dựng hệ thống bưu điện để cung cấp kênh mở rộng đầu tiên cho thông tin kỷ nguyên công nghiệp. Sự dấy lên trong thông tin bưu điện đi cùng với cách mạng công nghiệp cho thấy khốí lượng tin tức thật sự bắt đầu chảy theo Làn sóng thứ hai. Sau đó điện thoại và điện báo được phát minh để chia xẻ gánh nặng thông tin.
    Tất cả những hệ thống trên chỉ chuyển tin từ một người phát đến một người nhận. Nhưng xã hội đang phát triển sản xuất hàng loạt và tiêu thụ hàng loạt cũng cần những cách phát thông tin đại chúng, nghĩa là thông tin từ một người phát đến nhiều người nhận cùng một lúc. Xã hội Làn sóng thứ hai cần phương tiện mạnh để phát cùng một thông tin đến nhiều người ngay tức thì, rẻ, nhanh và tin cậy được.

    Bưu điện có thể mang cùng một thông tin đến hàng triệu người, nhưng không nhanh. Điện thoại chuyển thông tin nhanh, nhưng không cho hàng triệu người cùng một lúc. Khe hở này do phương tiện thông tin đại chúng lấp chỗ trống.
    Ngày nay, báo và tạp chí lưu hành đại chúng trở thành một bộ phận trong cuộc sống hàng ngày của mỗi quốc gia công nghiệp đến nỗi đó là điều tất nhiên. Trong thông tin đại chúng, từ báo chí và rađiô đến phim ảnh và ti vi, chúng ta lại thấy sự hiện thân của nguyên lý cơ bản của nhà máy. Tất cả đều in những thông tin giống nhau vào hàng triệu bộ óc, giống như nhà máy đóng dấu những sản phẩm giống nhau để dùng trong hàng triệu ngôi nhà. Các "sự kiện" được sản xuất đại chúng như sản phẩm được sản xuất hàng loạt, chảy ra từ một số nhà máy hình ảnh đến hàng triệu người tiêu thụ. Nếu không có hệ thống thông tin hùng mạnh và rộng lớn này thì nền văn minh công nghiệp không thể hình thành hoặc hoạt động có hiệu quả được.
    Như thế trong các xã hội công nghiệp dù là tư bản hay cộng sản, một môi trường khác đã nổi lên, đó là môi trường tin tức nghĩa là các kênh thông tin thông qua đó thông tin cá nhân và đại chúng có thể được phân phối cũng hiệu quả giống như hàng hóa hoặc nguyên liệu. Môi trường tin tức này gắn với phục vụ môi trường công nghệ, môi trường xã hội để giúp hợp nhất sản xuất kinh tế. Mỗi môi trường này thực hiện một nhiệm vụ then chốt trong một hệ thống lớn hơn, và không thể hiện hữu nếu không có những môi trường khác. Môi trường công nghệ sản xuất và phân phối sự thịnh vượng ; môi trường xã hội phân phối vai trò cho cá nhân trong hệ thống. Và môi trường tin tức phân phối tin tức cần thiết để làm cho toàn bộ hệ thống làm việc. Cùng với nhau chúng tạo thành kiến trúc cơ sở của xã hội.

    Chúng ta thấy phác họa ở đây là cấu trúc chung của tất cả các quốc gia Làn sóng thứ hai, dù có sự khác nhau về văn hóa và khí hậu, dù có sự khác nhau về chủng tộc và tôn giáo, dù có sự khác nhau về cái mà họ gọi là tư bản hay cộng sản.
    Ngày nay văn minh công nghiệp đối với chúng ta dường như ít không tưởng hơn - thực vậy, nếu nó xuất hiện là áp bức, ảm đạm, bấp bênh về sinh thái, thiên về chiến tranh, ức chế về tâm lý - chúng ta cần phải hiểu tại sao. Chúng ta sẽ có thể trả lời được câu hỏi này nếu chúng ta xem xét mũi nhọn khổng lồ chia rẽ tâm lý Làn sóng thứ hai thành hai bộ phận đang đánh nhau.
     
  4. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 3

    MŨI NHỌN VÔ HÌNH
    Giống như phản ứng dây chuyền hạt nhân, Làn sóng thứ hai chia đời sống chúng ta làm hai lĩnh vực mà cho đến bây giờ đã là một. Để làm việc đó, nó hướng mũi nhọn vô hình vào nền kinh tế của chúng ta, vào tâm lý của chúng ta, và ngay cả vào thú vui giới tính bản thân của chúng ta. Một mặt, cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một hệ thống xã hội hợp nhất tuyệt diệu với những nền công nghệ đặc biệt của riêng nó, những thể chế xã hội của riêng nó, và những kênh tin tức của riêng nó. Thế nhưng mặt khác, nó xé tan tính đồng nhất cơ bản của xã hội, tạo ra một cách sống đầy căng thẳng kinh tế, xung đột xã hội, và sự khó chịu tâm lý. Chỉ khi nào chúng ta hiểu được làm thế nào mũi nhọn vô hình này đã định hình đời sống của chúng ta qua suốt kỷ nguyên Làn sóng thứ hai, thì chúng ta mới có thể đánh giá được tác động đầy đủ của Làn sóng thứ ba đang bắt đầu định hình lại chúng ta ngày nay.

    Mỗi nửa của đời sống con người mà Làn sóng thứ hai đã chia riêng ra là sản xuất và tiêu thụ. Chúng ta đã quen nghĩ về chúng ta như là người sản xuất hoặc người tiêu thụ. Điều này không phải bao giờ cũng đúng. Trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp, tất cả thực phẩm, hàng hóa và dịch vụ do nhân loại sản xuất đã được chính những người sản xuất, gia đình họ, hoặc nhóm nhỏ lãnh đạo tiêu thụ.

    Trong hầu hết các xã hội nông nghiệp, đại đa số nhân dân là nông dân sống tập trung trong những cộng đồng nhỏ và bán cô lập. Họ sống nhờ thức ăn hàng ngày chỉ đủ để cho họ sống và làm cho các ông chủ của họ vui vẻ. Thiếu những phương tiện chứa và bảo quản thực phẩm lâu dài, đường sá để chuyên chở sản phẩm đến những thị trường xa còn khó khăn, họ biết rằng bất kỳ sự gia tăng đầu ra nào cũng sẽ bị các ông chủ nô lệ hoặc các chúa công phong kiến tịch thu, họ cũng thiếu bất kỳ sự khích lệ nào để cải tiến công nghệ hoặc làm tăng sản xuất.
    Tuy vậy vẫn có một số nhà buôn dũng cảm mang hàng hóa hàng nghìn dặm bằng lạc đà, xe đẩy hoặc tàu thủy. Song, tất cả thương nghiệp này chỉ đại diện một yếu tố nhỏ trong lịch sử, so với qui mô sản xuất để tự dùng ngay bởi những nô lệ hoặc nông nô nông nghiệp.

    Chúng ta sẽ hiểu được Làn sóng thứ ba nếu chúng ta nhận thức về kinh tế Làn sóng thứ nhất gồm hai khu vực trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp. Ở khu vực A, người ta sản xuất cho việc sử dụng riêng của họ. Ở khu vực B, họ sản xuất để buôn bán hoặc trao đổi. Khu vực A rất lớn, khu vực B rất bé. Do đó trong cuộc sống của hầu hết mọi người, sản xuất và tiêu thụ hòa nhập lại với nhau thành một chức năng. Sự hợp nhất này đến mức những người Hy Lạp, La Mã và châu Âu Trung cổ không phân biệt được giữa hai điều trên. Họ không có ngay cả danh từ người tiêu thụ. Trong suốt kỷ nguyên Làn sóng thứ nhất, chỉ một số nhỏ phụ thuộc vào thị trường, hầu hết sống ngoài thị trường.
    Làn sóng thứ hai thay đổi dữ dội tình hình này. Lần đầu tiên trong lịch sử nó tạo ra một tình hình mới với hàng loạt thực phẩm, hàng hóa và dịch vụ được dùng để bán, hoặc trao đổi. Nó hầu như tuồn hết hàng hóa được sản xuất đến người tiêu thụ, và tạo ra một nền văn minh mà trong đó không còn có ai có thể tự cung tự cấp. Mỗi người hầu như hoàn hoàn phụ thuộc vào thực phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ sản xuất bởi người khác. Nói tóm lại, hệ thống công nghiệp qui mô lớn phá vỡ sự hợp nhất của sản xuất và tiêu thụ, chia tách người sản xuất và người tiêu thụ. Nền kinh tế hợp nhất của Làn sóng thứ nhất được biến đổi thành nền kinh tế tách ra của Làn sóng thứ hai.

    Ý NGHĨA CỦA THỊ TRƯỜNG
    Những hậu quả của sự phân đôi này là trọng yếu. Ngay cả bây giờ chúng ta còn hiểu chúng rất ít. Đầu tiên, nơi họp chợ một thời là hiện tượng thứ yếu và ngoại biên, trở thành chính cơn lốc của cuộc sống. Kinh tế trở thành "thị trường hóa". Và điều này xảy ra cho cả các nền kinh tế công nghiệp tư bản và xã hội chủ nghĩa.
    Các nhà kinh tế phương Tây có khuynh hướng nghĩ về thị trường như là một sự việc cuộc sống đơn thuần tư bản và thường sử dụng từ ngữ này giống như nó cùng nghĩa với "kinh tế lợi nhuận". Thế nhưng từ những gì chúng ta biết về lịch sử, sự trao đổi đã xuất hiện sớm hơn, và độc lập với lợi nhuận. Vì thị trường không gì khác hơn là một mạng lưới trao đổi, một tổng đài thông qua đó mà hàng hóa và dịch vụ, giống như tin tức, được truyền đến nơi có nhu cầu. Nó vốn không chỉ thuộc về tư bản, một tổng đài như thế là thiết yếu cho cả xã hội công nghiệp xã hội chủ nghĩa cũng như là cho hệ thống công nghiệp qui mô lớn có động cơ lợi nhuận.

    Nói tóm lại, bất kỳ nơi nào bị Làn sóng thứ hai tấn công và mục đích sản xuất thay đổi vị trí từ sử dụng sang trao đổi, đã có một cơ chế mà thông qua đó trao đổi có thể được tổ chức. Đã có thị trường, nhưng thị trường không phải là thụ động. Hầu hết mọi người bị hút vào hệ thống tiền tệ. Những giá trị thương mại trở thành trung tâm, sự phát triển kinh tế trở thành mục tiêu chủ yếu của các chính phủ dù là tư bản hay xã hội chủ nghĩa. Vì thị trường đã là một thể chế có xu hướng phát triển và tăng cường. Cũng giống như sự phân chia lao động trước đó đã khuyến khích kinh doanh vào vị trí hàng dầu, bây giờ chính sự hiện hữu của thị trường khuyến khích sự phân chia lao động nhiều hơn và dẫn đến sức sản xuất tăng rõ rệt. Một qui trình tự khuyếch đại đã được làm cho chuyển động. Sự phát triển bùng nổ này của thị trường đóng góp vào việc tăng nhanh mức sống mà thế giới chưa bao giờ được biết.

    Tuy nhiên trong lĩnh vực chính trị, các chính phủ Làn sóng thứ hai thấy họ bị dày vò bởi một loại xung đột mới sinh ra từ việc chia tách giữa sản xuất và tiêu thụ. Sự nhấn mạnh mác-xít về đấu tranh giai cấp che khuất một cách có hệ thống sự xung đột lớn hơn và sâu đậm hơn đã nảy sinh giữa những nhu cầu của người sản xuất (cả người lao động và người quản lý) về lương, lợi nhuận và phúc lợi cao hơn, và sự đòi hỏi ngược lại của người tiêu thụ (gồm cả chính những người trên) về giá cả thấp, sự giao động của chính sách kinh tế đu đưa trên điểm tựa này. Không phải chỉ lĩnh vực chính trị mà cả lĩnh vực văn hóa cũng bị định hình bởi sự phân tách này, vì nó cũng được sinh ra trong nền văn minh chỉ coi trọng đồng tiền, tham lam, thương mại hóa và vụ lợi nhất trong lịch sử. Không phải là người mác xít mới đồng ý với lời tố cáo nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng xã hội mới không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài mối lợi lạnh lùng và lối "trả tiền ngay không tình không nghĩa"[1]. Những mối quan hệ cá nhân, những mối ràng buộc gia đình, tình yêu, tình bạn, mối quan hệ láng giềng và cộng đồng, tất cả bị nhuốm màu những quan hệ tiền nong đơn thuần. Mác đúng trong việc nhận ra sự làm mất tính người trong các mối quan hệ giữa cá nhân, tuy nhiên Mác không đúng trong việc gán điều đó cho chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên ông đã viết điều đó vào thời điểm khi xã hội công nghiệp mà ông có thể quan sát là chủ nghĩa tư bản sung sức. Ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ kinh nghiệm với các xã hội công nghiệp dựa trên chủ nghĩa xã hội, hoặc ít nhất là chủ nghĩa xã hội nhà nước, chúng ta biết rằng tính hám lợi, lòng tham lợi nhuận, và việc làm giảm mối quan hệ con người theo nghĩa kinh tế lạnh lùng không còn là độc quyền của hệ thống lợi nhuận.

    [1] C. Mác - Ph.Ănghen : Tuyển tập , tập 1. N.X.B. Sự Thật, Hà Nội, 1980, t.543-544
    Vì sự say mê tiền bạc, hàng hóa, và đồ vật là sự phản chiếu không phải của chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩa xã hội, mà là của hệ thống công nghiệp qui mô lớn. Đó là sự phản chiếu của vai trò trung tâm của thị trường trong tất cả xã hội mà trong đó sản xuất bị tách ra khỏi tiêu thụ, mà trong đó mỗi người phụ thuộc vào thị trường để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống chứ không phải phụ thuộc vào kỹ năng sản xuất của họ.

    Trong một xã hội, dù cơ cấu chính trị như thế nào đi nữa, không phải chỉ có sản phẩm được mua, bán, trao đổi, mà còn có cả lao động, tư tưởng, nghệ thuật và tâm hồn. Người đại lý mua hàng phương Tây bỏ vào túi số tiền hoa hồng bất hợp pháp không khác gì với người chủ bút Liên Xô nhận tiền của các tác giả muốn tác phẩm của mình được in, hoặc người thợ ống nước đòi chai vốtka để làm công việc anh ta đã được trả tiền để làm việc đó. Các nhà nghệ sĩ Pháp, Anh hoặc Mỹ viết hoặc vẽ chỉ vì tiền không khác gì với các nhà văn viết tiểu thuyết, họa sĩ hoặc nhà soạn kịch Ba Lan, Tiệp Khắc hoặc Liên Xô bán sự tự do sáng tạo của họ lấy những món tiền thù lao kinh tế như tiền thưởng, nhà ở nông thôn, xe ô tô mới hoặc hàng hóa hiếm.

    Sự tham nhũng như thế vốn thuộc về việc tách sản xuất ra khỏi tiêu thụ. Chính nhu cầu vì một thị trường để nối liền người tiêu thụ và người sản xuất, để chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu thụ, đặt những người kiểm soát thị trường vào vị trí quyền lực bất thường, dù là tu từ học gì đi nữa họ sử dụng để biện minh cho quyền lực đó.

    Tách sản xuất ra khỏi tiêu thụ trở thành một tính chất xác định đặc điểm của tất cả các xã hội công nghiệp hay nói một cách khác là của Làn sóng thứ hai, đặc điểm này ảnh hưởng đến tâm lý của chúng ta. Sự phân tách giữa 2 nhiệm vụ này - người sản xuất và người tiêu thụ - tạo ra đồng thời cùng một lúc một cá tính hai mặt. Cũng cùng một người mà (ở vị trí người sản xuất) được dạy bởi gia đình, trường học và ông chủ là phải làm theo sự ban thưởng, có kỷ luật, sự kiểm soát, kiềm chế, vâng lời, phải là đồng đội, và đồng thời được dạy bảo (ở vị trí người tiêu thụ) là phải tìm kiếm sự ban thưởng, phải theo chủ nghĩa khoái lạc hơn là tính toán, phải rời bỏ kỷ luật, theo đuổi thú vui cá nhân - nói tóm lại, phải là người hoàn toàn khác. Đặc biệt ở phương Tây, sức mạnh quảng cáo nhằm vào người tiêu thụ, thúc giục họ mượn tiền, mua khi bốc đồng, "mua bây giờ trả sau", và khi làm như thế là thực hiện công việc yêu nước bằng cách giữ cho bánh xe kinh tế quay.

    SỰ CHIA TÁCH GIỚI TÍNH
    Trong xã hội Làn sóng thứ hai, mũi nhọn khổng lồ đã chia tách người sản xuất ra khỏi người tiêu thụ đồng thời cũng chia tách công việc thành hai loại. Điều này đã có một tác động lớn vào cuộc sống gia đình, vai trò giới tính, và vào cuộc sống nội tâm của chúng ta.
    Một trong những công thức giới tính trong xã hội công nghiệp định nghĩa đàn ông như là "khách quan" trong định hướng, và phụ nữ là "chủ quan".
    Trong các xã hội Làn sóng thứ nhất, hầu hết công việc được thực hiện ở ngoài đồng hoặc ở nhà, với toàn bộ gia đình như là một đơn vị kinh tế và với hầu hết sản phẩm làm ra được sử dụng trong làng hoặc ở nông trang. Đời sống công việc và đời sống gia đình hòa với nhau. Và vì mỗi làng hoàn toàn tự cung tự cấp, sự thành công của nông dân ở làng này độc lập với những gì xảy ra ở làng khác. Ngay cả trong một đơn vị sản xuất, hầu hết mọi người làm việc độc lập với nhau, họ có thể thay đổi công việc do thời tiết, bệnh tật hoặc chọn lựa đòi hỏi. Sự phân chia lao động tiền công nghiệp rất đơn giản. Do đó, công việc trong các xã hội nông nghiệp Làn sóng thứ nhất có đặc tính là mức độ phụ thuộc lẫn nhau thấp.

    Làn sóng thứ hai di chuyển công việc từ ngoài đồng và nhà vào nhà máy, và đưa mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao hơn vào đời sống. Công việc bây giờ đòi hỏi sự cố gắng tập thể, sự phân chia lao động, sự phối hợp, sự hợp nhất của nhiều kỹ năng khác nhau. Thành công của nó phụ thuộc vào sự phối hợp có kế hoạch của hàng nghìn người làm việc ở những địa điểm khác nhau, thậm chí nhiều người trong họ không hề biết lẫn nhau. Nhà máy cán thép hoặc nhà máy làm kính giao hàng không đúng hạn cho nhà máy ô tô có thể ảnh hưởng nặng nề đến toàn bộ một công nghệ hoặc kinh tế một vùng.

    Sự va chạm của công việc phụ thuộc lẫn nhau thấp và cao đã sinh ra xung đột nặng nề về nhiệm vụ, trách nhiệm, và thưởng công. Ví dụ các ông chủ nhà máy trước đây thường than phiền rằng công nhân của họ là vô trách nhiệm, như họ không quan tâm đến năng suất nhà máy, khi cần đến thì họ đi câu cá, đi chơi, đua ngựa hoặc say mềm. Thực vậy, hầu hết công nhân công nghiệp trước đây là nông dân đã quen với sự phụ thuộc lẫn nhau thấp, và không hiểu được nhiệm vụ của họ trong toàn bộ qui trình sản xuất hoặc sự thất bại, sự hoạt động không tốt đôi khi xảy ra do việc "thiếu trách nhiệm" của họ. Hơn thế nữa, hầu hết họ được trả lương không đáng kể nên họ không quan tâm gì đến công việc.

    Trong sự xung đột giữa 2 hệ thống làm việc này, dạng làm việc mới dường như đã chiến thắng. Càng ngày sản xuất càng được chuyển vào nhà máy hoặc văn phòng nhiều hơn. Nông thôn bị tước mất dân số. Hàng triệu công nhân trở thành bộ phận của các mạng lưới phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau trong công việc. Làn sóng thứ hai đã che khuất dạng lạc hậu cũ của Làn sóng thứ nhất. Chiến thắng của sự phụ thuộc lẫn nhau đối với sự tự cung tự cấp không bao giờ trọn vẹn đầy đủ. Ở một nơi dạng làm việc cũ vẫn ngoan cố được duy trì. Nơi đấy chính là nhà.

    Mỗi gia đình là một đơn vị phân quyền gắn liền với việc tái sản xuất sinh học, nuôi dạy trẻ con, và truyền bá văn hóa. Nếu một gia đình thất bại một trong các việc trên thì nó không ảnh hưởng gì đến công việc của nhà bên cạnh. Nói một cách khác, công việc trong nhà vẫn là hoạt động phụ thuộc lẫn nhau thấp. Người nội trợ tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ kinh tế quan trọng. Họ "sản xuất". Nhưng họ sản xuất cho khu vực A, nghĩa là chỉ để sử dụng trong gia đình chứ không cho thị trường.
    Khi người chồng đi làm việc kinh tế trực tiếp, người vợ thường ở nhà làm những công việc kinh tế gián tiếp. Người chồng chịu trách nhiệm dạng công việc tiến bộ hơn ; người vợ lo dạng công việc cũ hơn và lạc hậu hơn. Người chồng đi vào tương lai ; người vợ ở lại với quá khứ.

    Sự phân chia này tạo ra sự chia tách trong cá tính và cuộc sống bên trong. Tính chất tập thể của nhà máy và văn phòng, nhu cầu về sự phối hợp và sự hợp nhất đã đưa đến những phân tích khách quan và các mối quan hệ khách quan. Đàn ông được chuẩn bị từ nhỏ cho vai trò của họ trong nhà máy, nơi mà họ sẽ đi vào trong một thế giới của các sự phụ thuộc lẫn nhau, được khuyến khích trở thành "khách quan". Phụ nữ được chuẩn bị ngay từ lúc mới sinh nhiệm vụ sản xuất nòi giống, nuôi con, công việc nhà cửa cực nhọc v.v... Điều đó đã thực hiện đến một mức độ đáng kể trong việc cô lập với xã hội, được dạy bảo là phải "chủ quan", nghĩa là không có khả năng về loại tư tưởng hợp lý và phân tích được giả thiết là đi cùng với sự khách quan.
    Không ngạc nhiên khi thấy phụ nữ rời bỏ sự cô lập để dấn thân vào sản xuất phụ thuộc lẫn nhau thường bị tố cáo là mất tính đàn bà, là trở thành lạnh lùng, cứng rắn và khách quan.

    Sự khác nhau giới tính và công thức hóa vai trò giới tính lại nặng nề thêm bằng việc xác định nhầm lẫn đàn ông với sản xuất và phụ nữ với tiêu thụ, mặc dù đàn ông cũng tiêu thụ và phụ nữ cũng sản xuất. Nói tóm lại, cuộc chiến đấu về giới tính có thể xuất phát từ xung đột giữa hai kiểu làm việc, và trên đó là sự tách biệt giữa tiêu thụ và sản xuất. Kinh tế bị chia tách cũng làm nặng thêm sự chia tách giới tính.

    Những gì chúng ta đã thấy là mũi nhọn vô hình đã chia tách người sản xuất ra khỏi người tiêu thụ, một số thay đổi sâu đậm đi theo việc đó : Một thị trường phải được thành lập hoặc phát triển để nối cả hai lại với nhau ; những xung đột mới về chính trị và xã hội nổi lên ; vai trò giới tính mới được định nghĩa. Tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai phải hoạt động theo một cách tương tự như nhau, chúng phải thỏa mãn một số yêu cầu cơ bản. Dù mục tiêu của sản xuất là lợi nhuận hay không, dù "phương tiện sản xuất" là của tập thể hay của tư nhân, dù thị trường là "tự do" hay "được lập kế hoạch", dù biệt ngữ là tư bản hay xã hội chủ nghĩa, tất cả không có gì khác nhau. Chừng nào mà sản xuất có mục đích để trao đổi, chứ không phải để sử dụng, chừng nào mà sản xuất phải chảy qua thị trường, một số nguyên tắc của Làn sóng thứ hai phải được tuân theo.
     
  5. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 4

    MỞ TUNG LUẬT LỆ
    Mỗi nền văn minh đều có luật lệ riêng, nghĩa là các điều lệ và nguyên tắc áp dụng cho tất cả mọi hoạt động giống như sự thiết kế lặp đi lặp lại. Khi hệ thống công nghiệp quy mô lớn ngự trị trên hành tinh, thì luật lệ riêng của nó bộc lộ rõ ràng. Nó gồm một bộ 6 nguyên tắc liên quan với nhau điều khiển cách xử thế của hàng triệu người. Những nguyên tắc này phát triển từ việc tách riêng sản xuất và tiêu thụ, đã ảnh hưởng tới mỗi lĩnh vực của cuộc sống từ giới tính và thể thao đến công việc và chiến tranh.

    TIÊU CHUẨN HÓA
    Nguyên tắc quen thuộc nhất của Làn sóng thứ hai là sự tiêu chuẩn hóa. Mọi người biết rằng các xã hội công nghiệp sản xuất hàng triệu sản phẩm như nhau. Tuy nhiên ít người để ý rằng một khi thị trường trở thành quan trọng, chúng ta còn làm nhiều hơn chứ không phải chỉ tiêu chuẩn hóa lon nước ngọt Coca Cola, bóng đèn, trục truyền lực xe ô tô. Chúng ta đã áp dụng cùng nguyên tắc cho nhiều việc khác. Trong số những người đầu tiên nắm được tầm quan trọng của tư tưởng này là Thêodo Vail - người thành lập công ty điện thoại và điện báo Mỹ (ATT), và Frêdêzík Tay lo - người sáng lập ra dây chuyền sản xuất nổi tiếng. Trong các xã hội Làn sóng thứ hai, những thủ tục thuê người và công việc được tiêu chuẩn hóa tăng nhiều. Những cách kiểm tra tiêu chuẩn hóa được sử dụng để nhận biết và loại bỏ những người không phù hợp, đặc biệt các công việc của Nhà nước. Thang lương được tiêu chuẩn hóa trong toàn bộ công nghiệp cùng với phúc lợi, giờ ăn trưa, ngày nghỉ và thủ tục ma chay cưới hỏi. Để chuẩn bị cho thanh niên vào thị trường việc làm, các nhà giáo thiết kế những chương trình giảng dạy phổ thông. Chính sách lên lớp, thủ tục nhập học, và các điều lệ tốt nghiệp đều được tiêu chuẩn hóa. Trong lúc đó phương tiện thông tin đại chúng phổ biến hình ảnh tiêu chuẩn hóa, để hàng triệu người đọc cùng mục quảng cáo, cùng tin tức, cùng các truyện ngắn. Việc chính phủ coi thường những ngôn ngữ thiểu số, cùng với ảnh hưởng của thông tin đại chúng, đã đưa đến sự biến mất dần các tiếng địa phương hoặc cả một ngôn ngữ. Tiếng Anh, Mỹ, Pháp, Nga "phổ thông" đã thay thế những ngôn ngữ "không phổ thông". Các vùng khác nhau của một nước trở nên giống nhau, cũng có những trạm bán xăng, những bảng quảng cáo, và những ngôi nhà mọc lên khắp nơi. Nguyên tắc tiêu chuẩn hóa bao trùm mọi lĩnh vực của cuộc sống hàng ngày. Nền văn minh công nghiệp đòi hỏi các số đo được tiêu chuẩn hóa. Các tiêu chuẩn thống nhất được truyền bá trên khắp thế giới bởi Làn sóng thứ hai. Hơn thế nữa, nếu sản xuất hàng loạt đòi hỏi sự tiêu chuẩn hóa về máy móc, sản phẩm và qui trình, thì thị trường luôn luôn phát triển cũng đòi hỏi sự tiêu chuẩn hóa tương ứng về tiền bạc, và ngay cả giá cả. Các quốc gia công nghiệp hóa dần dần hủy bỏ tất cả các loại tiền không thuộc chính phủ và áp đặt một loại tiền tệ tiêu chuẩn độc nhất ở nước họ. Mặc dù có những bất đồng, song các nhà tư tưởng tiến bộ Làn sóng thứ hai nhất trí rằng sự tiêu chuẩn hóa đã có hiệu quả. Do đó ở nhiều lĩnh vực, Làn sóng thứ hai đã san phẳng những sự khác nhau thông qua việc áp dụng liên tục nguyên tắc tiêu chuẩn hóa.

    CHUYÊN MÔN HÓA
    Một nguyên tắc lớn thứ hai đi qua tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai là chuyên môn hóa. Vì Làn sóng thứ hai càng loại bỏ sự đa dạng trong ngôn ngữ, giải trí, và lối sống bao nhiêu, thì nó càng cần sự đa dạng trong môi trường công việc bấy nhiêu. Bằng việc gia tăng sự phân chia lao động, Làn sóng thứ hai thay thế người nông dân đa năng tùy tiện thành một chuyên viên ngành hẹp và người công nhân chỉ làm độc nhất một nhiệm vụ kiểu Taylo. Những người phê bình hệ thống công nghiệp qui mô lớn cho rằng lao động chuyên môn hoá cao lặp đi lặp lại dần dần làm mất tính người của công nhân. Thế nhưng, công việc chuyên môn hơn không đòi hỏi cả con người mà chỉ một phần của con người. Không có bằng chứng sâu sắc nào cho thấy chuyên môn hóa quá cao làm cho trở thành hung ác.

    Sự chuyên môn hóa mà nhiều người gán cho chủ nghĩa tư bản cũng đã trở thành một đặc tính của chủ nghĩa xã hội. Vì sự chuyên môn hóa cao về lao động là chung cho tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai có nguồn gốc trong việc tách sản xuất ra khỏi tiêu thụ. Liên Xô, Ba Lan, Đông Đức hoặc Hungari không thể vận hành nhà máy của họ nếu không có sự chuyên môn hóa tỉ mỉ giống như Nhật hoặc Hoa Kỳ - Bộ Lao động Hoa Kỳ năm 1977 công bố một danh mục về 20.000 công việc khác nhau có thể xác định được. Hơn thế nữa, trong các quốc gia công nghiệp tư bản cũng như xã hội chủ nghĩa, việc chuyên môn hóa làm tăng xu hướng trở thành nhà nghề hóa. Hễ có cơ hội đưa đến cho một nhóm các chuyên gia độc quyền hóa kiến thức bí truyền và không cho những người nhập môn vào lĩnh vực của họ, thì các nghiệp vụ nổi lên. Khi Làn sóng thứ hai tràn tới, thị trường xen vào giữa người nắm kiến thức và khách hàng, chia rõ ràng họ ra thành người sản xuất và người tiêu thụ. Vậy là, y tế trong các xã hội Làn sóng thứ hai được xem như là sản phẩm được cung cấp bởi bác sĩ và hệ thống dịch vụ y tế, chứ không phải là kết quả của sự tự chăm sóc thông minh của bệnh nhân. Giáo dục, được "sản xuất" bởi thày giáo và đưa "tiêu thụ" bởi học sinh.
    Tất cả các loại nghề nghiệp từ nhân viên thư viện đến người bán hàng bắt đầu hò hét đòi quyền được gọi là những nhà nghiệp vụ, và quyền được đặt ra các tiêu chuẩn, giá cả, và điều kiện gia nhập vào chuyên môn của họ. Trong các xã hội Làn sóng thứ hai, ngay cả sự khích động chính trị được nhận thức như là một nghề nghiệp. Lênin cho rằng quần chúng không thể tiến hành cách mạng nếu không có sự giúp đỡ của các nhà cách mạng chuyên nghiệp. Ông khẳng định cần một tổ chức của những người cách mạng chuyên nghiệp mà thành viên là những người mà nghề nghiệp của họ là nghề cách mạng.

    Trong số những người cộng sản, tư bản, quản trị, nhà giáo, thày tu, và chính trị, Làn sóng thứ hai đã tạo ra một tâm tính chung và sự hướng về việc phân chia lao động tinh tế hơn bao giờ hết. Nhà tiêu chuẩn hóa vĩ đại đi song hành với nhà chuyên môn hóa vĩ đại.

    ĐỒNG BỘ HÓA
    Sự phân chia giữa sản xuất và tiêu thụ cũng đưa đến sự thay đổi trong cái cách mà những người Làn sóng thứ hai nhận thức về thời gian. Trong hệ thống phụ thuộc thị trường, dù đó là thị trường tự do hoặc được lập kế hoạch, thời gian là tiền bạc. Máy móc đắt tiền không thể được phép nằm không, và chúng được vận hành theo nhịp điệu riêng của chúng. Điều này sinh ra nguyên tắc thứ ba của văn minh công nghiệp : sự đồng bộ hóa.

    Ngay cả trong những xã hội xưa kia, công việc phải được tổ chức cẩn thận theo thời gian. Các chiến sĩ phải làm việc nhất trí để bẩy nạn nhân của họ. Ngư dân phải phối hợp những cố gắng của họ trong việc chèo thuyền và kéo lưới. Cho đến khi Làn sóng thứ hai đưa máy móc vào, hầu hết sự đồng bộ hóa như thế về cố gắng đã là hữu cơ và tự nhiên. Nó theo nhịp điệu các mùa và theo các qui trình sinh học, theo trái đất quay và theo nhịp đập của quả tim. Ngược lại, các xã hội Làn sóng thứ hai đi theo nhịp đập của máy tính.

    Khi sản xuất nhà máy phát triển, giá thành máy móc cao và sự phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ về lao động đòi hỏi sự đồng bộ hóa tinh vi hơn, nếu một nhóm công nhân trong một nhà máy hoàn thành chậm trễ một nhiệm vụ, thì những nhóm khác trên dây chuyền cũng chậm trễ theo. Như thế, sự đúng giờ, mà không bao giờ quan trọng trong các cộng đồng nông nghiệp, trở thành sự cần thiết của xã hội công nghiệp.

    Trẻ em trong các nền văn hóa công nghiệp được dạy từ nhỏ về cách tính giờ. Học sinh vào lớp khi chuông reo để sau này chúng bắt đầu làm việc ở nhà máy hoặc văn phòng khi có còi hú. Công việc nhiều khi được chính xác đến từng giây. "Từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều" tạo thành một cái khung thời gian cho hàng triệu công nhân. Không phải chỉ có đời sống làm việc mới bị đồng bộ hóa. Trong tất cả xã hội Làn sóng thứ hai, dù làm việc để có lợi nhuận hoặc làm chính trị, cuộc sống xã hội cũng phải tuân theo thời gian và thích nghi với những yêu cầu của máy móc. Một số giờ được xếp đặt cho giải trí. Ngày nghỉ phép, nghỉ lễ, hoặc nghỉ giải lao xen kẽ với thời gian làm việc.

    Trẻ em bắt đầu và kết thúc năm học theo thời gian thống nhất. Bệnh viện đánh thức tất cả bệnh nhân để cùng ăn sáng một lúc. Hệ thống giao thông bố trí chéo nhau trong giờ cao điểm. Chương trình giải trí trên ti vi được sắp xếp trong các khung giờ đặc biệt. Mỗi công việc kinh doanh đều có giờ hoặc mùa cao điểm, được đồng bộ với giờ hoặc mùa của nơi cung cấp và nơi phân phối.

    Những người tham gia công việc Làn sóng thứ hai, hầu hết là đàn ông, họ trở thành phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thời gian. Ngược lại, một số người chống lại hệ thống thời gian công nghiệp. Phụ nữ gắn với công việc nội trợ, không phụ thuộc lẫn nhau, họ làm việc không theo nhịp điệu cơ khí. Cũng cùng lý do như thế mà người thành phố thường xem những người ở nông thôn là chậm và không đáng tin cậy.
    Một khi Làn sóng thứ hai trở thành ưu thế thì cuộc sống thường ngày bị khóa vào hệ thống nhịp điệu công nghiệp. Ở Mỹ, Liên Xô, Xingapo, Thụy Điển, Pháp, Đan Mạch, Đức, Nhật v.v... Các gia đình có cùng thời gian biểu về làm việc và sinh hoạt.

    TẬP TRUNG HÓA
    Thị trường tăng lên đã sinh ra một quy tắc khác của nền văn minh Làn sóng thứ hai - nguyên tắc tập trung hóa.
    Các xã hội Làn sóng thứ nhất sống nhờ vào các nguồn năng lượng phân tán khắp nơi. Các xã hội Làn sóng thứ hai trở thành phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào các mỏ nhiên liệu tập trung. Nó cũng tập trung dân số lấy từ các vùng nông thôn vào các trung tâm thành phố khổng lồ. Nó cũng tập trung công việc. Công việc của các xã hội Làn sóng thứ nhất đã tiến hành khắp nơi trong nhà, trong làng, trên cánh đồng, còn hầu hết công việc của xã hội Làn sóng thứ hai được tập trung ở các nhà máy trong đó hàng ngàn người lao động làm việc dưới cùng một mái nhà.

    Không phải chỉ có năng lượng và công việc bị tập trung. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, người nghèo ở nhà hoặc ở với người thân ; tội phạm bị phạt hoặc bị trục xuất từ nơi định cư này sang nơi định cư khác ; những người có tâm hồn bị giữ ở nhà. Tất cả những nhóm này bị phân tán khắp cả cộng đồng. Hệ thống công nghiệp qui mô lớn cách mạng hóa tình hình. Tội phạm bị tập trung ở nhà tù, người bệnh tâm thần bị tập trung ở nhà thương điên, trẻ con tập trung ở trường học, giống như công nhân tập trung ở nhà máy.

    Sự tập trung hóa cũng xảy ra ở nguồn vốn, các công ty khổng lồ được sinh ra và sau đó là các tờrớt hoặc tư bản độc quyền. Đến giữa năm 1960, ở Mỹ có 3 công ty lớn sản xuất 94% số xe ô tô, ở Đức có 4 công ty sản xuất 91% số xe ô tô, ở Pháp có 4 công ty sản xuất 100% số xe ô tô, ở Ý có 1 công ty sản xuất 90% số xe ô tô...

    Các nhà quản lý xã hội chủ nghĩa cũng tin rằng sự tập trung sản xuất là có hiệu quả. Thực vậy, các nhà tư tưởng mácxít cho rằng sự tập trung cao về công nghiệp trong các quốc gia tư bản là bước cần thiết trước khi tập trung toàn bộ tối hậu về công nghiệp dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Lênin đã nói về việc biến tất cả công dân thành công nhân và người làm việc của một "xí nghiệp" khổng lồ - toàn bộ Nhà nước. Dù là trong năng lượng, dân số, công việc, giáo dục, hoặc trong tổ chức kinh tế, nguyên tắc tập trung của nền văn minh Làn sóng thứ hai khắc sâu sự khác nhau về ý thức hệ giữa Moscow và phương Tây.

    TỐI ĐA HÓA
    Trong tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai, sự tách rời giữa sản xuất và tiêu thụ cũng tạo ra sự say mê quy mô to lớn và phát triển. Nếu việc kéo dài giờ chạy máy trong xí nghiệp làm giảm giá thành sản xuất, thì sự tăng qui mô cũng tạo ra sự tiết kiệm trong những hoạt động khác. "To lớn" trở thành đồng nghĩa với "hiệu quả", và sự tối đa hóa trở thành nguyên tắc then chốt thứ năm.

    Các thành phố và quốc gia lấy làm kiêu hãnh có những tòa nhà chọc trời, các đập nước to lớn... Hơn thế nữa, vì sự to lớn là kết quả của việc phát triển nên hầu hết các chính phủ công nghiệp, các công ty, và những tổ chức khác theo đuổi điên cuồng lý tưởng phát triển.
    Không phải chỉ riêng nước Mỹ là mê say sự to lớn. Ở Pháp năm 1963, 1.400 xí nghiệp chỉ là 0,0025% tổng số các công ty đã thuê 38% lực lượng lao động. Các chính phủ ở Đức, Anh và các nước khác đã khuyến khích sự hòa nhập để tạo các công ty lớn hơn, trong niềm tin là với qui mô lớn sẽ giúp họ cạnh tranh các công ty khổng lồ của Mỹ.

    Sự tối đa hóa qui mô không phải là sự phản ánh tối đa hóa lợi nhuận. Lênin cho rằng các xí nghiệp, tơrớt, xanhđica khổng lồ phải đưa phương pháp sản xuất hàng loạt đến mức cao nhất của sự phát triển. Chỉ lệnh kinh tế đầu tiên của ông sau cách mạng Xô viết là tổ chức nền kinh tế Nga vào trong một số càng ít càng tốt các đơn vị lớn nhất có thể được. Xtalin đẩy mạnh hơn việc tổ chức sản xuất, theo qui mô tối đa và xây dựng những đề án mới rộng lớn - khu công nghiệp liên hợp thép ở Magnitogorsk, một khu khác ở Zaporozhstal, nhà máy nấu chảy đồng ở Balkhash, nhà máy nông cụ ở Kharkov và Xtalingrad. Ông ta hỏi một nhà máy Mỹ lớn như thế nào và ra lệnh xây dựng một nhà máy còn lớn hơn.

    Sự yêu thích "to lớn" còn phản ánh trong việc tập hợp của nhiều loại khác nhau về số liệu vào một công cụ thống kê được biết là tổng sản phẩm thu nhập quốc dân (GNP). GNP đo "qui mô" của một nền kinh tế bằng cách tổng cộng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra. Công cụ này của các nhà kinh tế Làn sóng thứ hai có nhiều nhược điểm. Từ quan điểm của GNP, đầu ra bất kể là gì dù đó là thực phẩm, giáo dục, y tế, hoặc đạn dược. Việc thuê người xây nhà hoặc phá nhà đều được cộng vào GNP. Vì nó chỉ đo hoạt động thị trường hoặc hối đoái, nên GNP loại bỏ toàn bộ lĩnh vực sống còn của nền kinh tế dựa trên sự sản xuất không được trả lương như nuôi dạy trẻ con hoặc nội trợ.

    Bất chấp những nhược điểm này, các chính phủ Làn sóng thứ hai trên thế giới vẫn tiếp tục chạy đua mù quáng để tăng GNP với bất cứ giá nào, tối đa hóa sự "phát triển" ngay cả với cái giá thảm họa về sinh thái và xã hội. Nguyên tắc mê say cái lớn ăn sâu vào tâm tính công nghiệp đến mức dường như chẳng có gì có lý hơn.

    TẬP QUYỀN HÓA
    Sau cùng, tất cả các quốc gia công nghiệp phát triển tập quyền thành một nghệ thuật. Tất cả những xã hội phức tạp đòi hỏi một sự hỗn hợp các hoạt động tập quyền và phân quyền. Nhưng sự thay đổi vị trí từ một nền kinh tế Làn sóng thứ nhất cơ bản là phân quyền, với mỗi địa phương chịu trách nhiệm sản xuất nhu cầu riêng, đến những nền kinh tế quốc gia hợp nhất của Làn sóng thứ hai đưa đến những phương pháp hoàn toàn mới để tập trung quyền lực. Những phương pháp này bắt đầu hoạt động ở cấp công ty, xí nghiệp đến toàn bộ nền kinh tế.

    Ví dụ đường sắt trở thành một mô hình cho các tổ chức lớn và quản lý tập quyền được xem như là một công ty tiên tiến và phức tạp trong tất cả các quốc gia Làn sóng thứ hai.
    Làn sóng thứ hai cũng khuyến khích tập quyền trong chính trị. Ví dụ hiến pháp nước Mỹ cho thấy một chính phủ trung ương mạnh là thiết yếu không chỉ cho các chính sách đối ngoại và quân sự, mà còn cho sự phát triển kinh tế. Sức ép tập trung quyền lực không phải chỉ riêng cho nước Mỹ, các nước Thụy Điển, Nhật, Anh hoặc Pháp đều tập quyền còn mạnh hơn cả Mỹ.
    Sự tập quyền chính trị cũng thấy ở các nước công nghiệp mác xít. Năm 1850, Mác kêu gọi sự tập trung quyền lực quyết định vào tay Nhà nước. Ănghen tấn công liên bang phân quyền như là "một bước lùi khổng lồ". Sau đó những người Xô-viết nóng ruột gia tăng công nghiệp hóa, đã tiến hành xây dựng cấu trúc kinh tế và chính trị tập quyền cao nhất, ngay cả những quyết định sản xuất nhỏ nhất cũng phụ thuộc vào sự kiểm soát của các nhà lập kế hoạch trung ương.

    Sự tập quyền dần dần của một nền kinh tế một thời đã phân quyền là thêm vào một phát minh quan trọng mà tên của nó nói rõ mục đích : Ngân hàng trung ương. Tiền chảy qua mỗi động mạch trong các xã hội Làn sóng thứ hai, cả tư bản chủ nghĩa, cả xã hội chủ nghĩa. Cả hai đều cần, và do đó đã tạo ra, một trạm bơm tiền tập quyền. Ngân hàng trung ương và chính phủ tập quyền song hành với nhau. Tập quyền hóa là một nguyên tắc ưu thế khác của văn minh Làn sóng thứ hai.
     
  6. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 5

    CÁC NHÀ CHUYÊN MÔN CỦA QUYỀN LỰC
    Câu hỏi "Ai điều hành công việc ?" là một câu hỏi tiêu biểu của Làn sóng thứ hai. Vì trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp, chẳng có lý do gì để đặt câu hỏi đó. Dù bị cai trị bởi vua, chúa, lãnh chúa, thiên hoàng hoặc các ông thánh, người dân không quan tâm gì về việc ai nắm quyền lực trên họ. Người nông dân rách rưới nhìn lên từ cánh đồng, thấy tòa lâu đài hoặc chủng viện hiện ra lờ mờ trong cảnh rực rỡ ở chân trời. Họ không cần nhà khoa học, chính trị hoặc nhà bình luận báo chí để giải điều bí ẩn của quyền lực. Tất cả mọi người đều biết ai đang chịu trách nhiệm. Bất kỳ nơi nào Làn sóng thứ hai đi qua, một loại quyền lực mới xuất hiện, khuếch tán và vô hình. Những người đang cầm quyền trở thành đồng nghĩa với "họ". "Họ" là ai ?

    NHỮNG NGƯỜI PHỐI HỢP
    Hệ thống công nghiệp qui mô lớn phân hoá xã hội thành hàng nghìn bộ phận khớp với nhau - nhà máy, nhà thờ, trường học, công đoàn, nhà tù, bệnh viện v.v... Nó đập tan ranh giới mệnh lệnh giữa nhà thờ, Nhà nước và cá nhân. Nó chia kiến thức thành những chuyên ngành khác nhau, chia công việc thành những nghề nghiệp khác nhau và biến gia đình thành những đơn vị nhỏ hơn. Nói tóm lại, nó làm đảo lộn cuộc sống và văn hóa cộng đồng.

    Ai đó phải sắp xếp lại dưới một dạng khác.
    Điều này đã làm nảy sinh ra nhiều loại chuyên gia mới mà công việc cơ bản là hợp nhất. Họ tự gọi là ủy viên ban quản trị, người nắm quyền hành chính - ủy viên nhân dân, người điều phối - tổng thống, phó tổng thống, công chức hoặc người quản lý, họ có mặt trong kinh doanh, trong chính phủ, trong các cấp xã hội. Và họ chứng minh là cần thiết. Họ là những người hợp nhất.
    Họ xác định chức năng và bố trí công việc. Họ quyết định ai được thưởng gì. Họ lập kế hoạch, đặt tiêu chuẩn, và cho hoặc từ chối không cho giấy ủy nhiệm. Họ kết hợp sản xuất, phân phối, chuyên chở và thông tin. Họ đặt điều lệ để các tổ chức tác động lẫn nhau. Nói tóm lại, họ lắp các phần của xã hội lại với nhau. Không có họ thì hệ thống Làn sóng thứ hai không thể hoạt động được.

    Mác cho rằng ai nắm quyền sở hữu công cụ và công nghệ - phương tiện sản xuất - thì người đó kiểm soát xã hội. Ông lý luận rằng, vì công việc phụ thuộc lẫn nhau, công nhân có thể phá vở sản xuất và chiếm lấy phương tiện sản xuất từ các ông chủ của họ. Một khi họ sở hữu phương tiện sản xuất, họ sẽ cai trị xã hội.
    Thế nhưng lịch sử đã diễn ra khác. Vì chính sự phụ thuộc lẫn nhau này đã tạo ra lực đòn bẩy lớn hơn cho một nhóm mới - những người hợp nhất hệ thống. Cuối cùng thì chẳng phải ông chủ cũng chẳng phải công nhân cầm quyền. Trong các quốc gia tư bản cũng như xã hội chủ nghĩa, chính những người hợp nhất nhảy lên chóp bu, không phải sở hữu "phương tiện sản xuất" là có quyền lực. Mà chính việc kiểm soát "phương tiện hợp nhất" là có quyền lực.

    Trong kinh doanh, những người hợp nhất đầu tiên là những người sở hữu nhà máy, những người thầu khoán kinh doanh, những ông chủ máy cán và những người sản xuất gang thép. Ông chủ cùng với một số ít người giúp việc là đủ có thể phối hợp lao động của một số lớn người làm công và hợp nhất nhà máy vào nền kinh tế lớn hơn.
    Trong thời đó, ông chủ và người hợp nhất là một và như nhau, do đó không có gì ngạc nhiên khi Mác đã lẫn lộn người này với người khác và đã nhấn mạnh về sở hữu. Tuy nhiên, khi sản xuất trở nên phức tạp hơn và sự phân chia lao động chuyên môn hóa hơn, nền kinh doanh chứng kiến sự tăng nhanh ghê gớm các ủy viên ban quản trị và các chuyên gia nằm giữa ông chủ và công nhân. Công việc bàn giấy phát triển nhanh. Và sau đó, trong các công ty lớn, không có ai, kể cả ông chủ lẫn người có cổ phần nhiều nhất, có thể hiểu được toàn bộ hoạt động của công ty. Những quyết định của ông chủ được định hình và được kiểm soát bởi các chuyên gia được đưa vào để phối hợp hệ thống. Như thế xuất hiện một loại chuyên gia quản trị mà quyền lực của họ không dựa vào sự kiểm soát qui trình hợp nhất.

    Khi người quản lý tăng thêm quyền lực thì người giữ cổ phần ít quan trọng hơn. Khi các công ty phát triển lớn hơn, các ông chủ bán cho các nhóm cổ đông phân tán lớn hơn, ít người biết rõ về những hoạt động hiện nay của kinh doanh. Do đó các cổ đông phải dựa vào những người quản lý được thuê làm việc không phải chỉ để điều hành công việc hàng ngày của công ty mà còn phải lập những mục tiêu và chiến lược dài hạn. Hội đồng quản trị, theo lý thuyết là đại diện cho các ông chủ, họ trở nên xa cách và không biết gì về những hoạt động mà đáng lẽ họ phải chỉ đạo. Và càng ngày càng có nhiều đầu tư riêng không phải từ cá nhân mà từ các tổ chức như quỹ trợ cấp, quỹ tương trợ, phòng tờ rớt của ngân hàng, "các ông chủ" hiện nay của công nghệ càng không kiểm soát gì được.

    Các chính sách kinh doanh được lập ra bởi các nhà quản lý do công ty thuê hoặc các nhà quản lý tiền tệ đầu tư tiền của người khác, chứ không phải được lập ra bởi các "ông chủ" hoặc bởi công nhân. Các nhà hợp nhất chịu trách nhiệm. Tất cả những điều đó cũng đã xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa.

    GUỒNG MÁY HỢP NHẤT
    Hợp nhất một việc kinh doanh, hoặc một nền công nghệ chỉ là một phần nhỏ của những gì cần phải làm. Xã hội công nghiệp hiện đại làm phát triển một loạt các tổ chức, từ công đoàn lao động và hiệp hội thương mại đến nhà thờ, trường học, trạm xá và các nhóm tiêu khiển, tất cả đều phải làm việc trong khuôn khổ của những điều lệ. Luật pháp được cần đến. Song trước hết, môi trường tin tức, môi trường xã hội, và môi trường công nghệ phải được đưa vào cùng hàng với nhau.
    Từ nhu cầu hợp nhất của văn minh Làn sóng thứ hai đòi hỏi một người phối hợp lớn nhất của tất cả - guồng máy hợp nhất của hệ thống : bộ máy chính phủ đồ sộ. Chính xu hướng mãnh liệt của hệ thống về sự hợp nhất giải thích sự tăng liên tục của guồng máy chính phủ trong mỗi xã hội Làn sóng thứ hai.

    Các nhà mị dân chính trị luôn luôn nói đến một bộ máy chính phủ gọn nhẹ. Thế nhưng một khi cầm quyền, chính các nhà lãnh đạo đó thay vì thu nhỏ bộ máy của chính phủ, họ đã bành trướng bộ máy đó. Sự mâu thuẫn giữa lời nói sáo và cuộc sống thực có thể hiểu được nếu chúng ta thừa nhận rằng mục đích tối cao của các chính phủ Làn sóng thứ hai là phải xây dựng và duy trì văn minh công nghiệp. Tất cả những mâu thuẫn nhỏ hầu như không tồn tại khi đứng trước nhiệm vụ đó. Các đảng phái và các nhà chính trị có thể cãi nhau ầm ĩ về những vấn đề khác, nhưng đối với vấn đề trên thì họ luôn luôn nhất trí ngầm với nhau. Và chính phủ với bộ máy đồ sộ là một phần của chương trình không nói ra của họ, vì các xã hội công nghiệp phụ thuộc vào chính phủ để thực hiện những nhiệm vụ hợp nhất thiết yếu.

    Những nhà chủ trương thị trường tự do lý luận rằng chính phủ can thiệp vào kinh doanh. Nhưng nếu chỉ để riêng cho các xí nghiệp tư thì sự công nghiệp hóa sẽ chậm hơn nhiều, nếu không muốn nói là chẳng bao giờ có công nghiệp hóa cả. Các chính phủ đẩy nhanh sự phát triển đường sắt. Họ xây dựng hải cảng, đường sá, kênh đào và đường cao tốc. Họ vận hành bưu điện và xây dựng hoặc điều chỉnh các hệ thống điện báo, điện thoại và phát thanh. Họ viết các bộ luật thương mại và thị trường. Họ sử dụng áp lực chính sách đối ngoại và hủy bỏ thuế hải quan để giúp công nghiệp. Họ đưa nông dân ra khỏi nông thôn để đưa vào tăng cường lực lượng lao động công nghiệp. Họ trợ cấp năng lượng và công nghệ tiên tiến. Ở hàng ngàn lĩnh vực như thế, các chính phủ chịu trách nhiệm hợp nhất mà những tổ chức khác không thể thực hiện được.

    Chính phủ là người làm tăng tốc độ vĩ đại. Vì quyền lực cưỡng bức và thu nhập về thuế của nó, nó có thể làm những việc mà xí nghiệp tư không thể đảm nhiệm. Các chính phủ có thể đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá bằng cách xóa bỏ những kẽ hở của hệ thống trước khi các công ty tư có thể làm được điều đó. Các chính phủ có thể thực hiện sự "hợp nhất trước kỳ hạn".
    Bằng việc thiết lập những hệ thống giáo dục đại chúng, các chính phủ không chỉ giúp đào tạo thanh niên cho tương lai của họ trong lực lượng lao động công nghiệp (và do đó trợ cấp công nghiệp) mà còn khuyến khích sự phát triển dạng gia đình hạt nhân. Bằng việc cởi bỏ cho các gia đình khỏi nhiệm vụ giáo dục và những nhiệm vụ truyền thống khác, các chính phủ đẩy mạnh sự thích nghi của cấu trúc gia đình theo nhu cầu của hệ thống nhà máy. Do đó, ở những lĩnh vực khác nhau, các chính phủ điều hòa tính phức tạp của nền văn minh Làn sóng thứ hai.

    Không có gì đáng ngạc nhiên khi sự hợp nhất trở thành quan trọng thì cả bản chất và hình thức chính phủ cũng thay đổi. Ví dụ tổng thống và thủ tướng tự họ cho họ là người quản lý chứ không phải là nhà lãnh đạo chính trị và xã hội sáng tạo. Trong cá tính và thái độ, họ giống như những người điều hành công ty lớn hoặc xí nghiệp sản xuất.
    Do đó trong các xã hội công nghiệp tư bản cũng như xã hội chủ nghĩa, cùng một mô hình đã xuất hiện - các công ty lớn hoặc các tổ chức sản xuất lớn và một bộ máy chính phủ khổng lồ. Và thay vì công nhân nắm giữ phương tiện sản xuất như Mác đã tiên đoán, hoặc các nhà tư bản nắm giữ quyền lực, một lực lượng hoàn toàn mới đã nảy sinh ra để thách đố cả hai. Các nhà chuyên môn của quyền lực đã nắm giữ "phương tiện hợp nhất", và với nó họ kiểm soát kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Các nhà hợp nhất cai trị các xã hội Làn sóng thứ hai.

    KIM TỰ THÁP QUYỀN LỰC
    Những nhà chuyên môn của quyền lực tự họ tổ chức bộ máy theo cấp bậc các nhóm ưu tú và nhóm ưu tú cấp dưới. Mỗi nền công nghiệp và các ngành của chính phủ lại đẻ ra các cơ quan riêng của họ.
    Thể thao, tôn giáo, giáo dục... mỗi ngành đều có kim tự tháp quyền lực riêng của họ. Các cơ sở khoa học, các cơ sở quốc phòng, các cơ sở văn hóa được thành lập. Quyền lực trong văn minh Làn sóng thứ hai được chia ra thành hàng trăm, hàng ngàn các nhóm ưu tú được chuyên môn hóa như thế.

    Các nhóm ưu tú được chuyên môn hoá này được hợp nhất vào nhóm ưu tú tổng thể mà thành viên nằm ở tất cả các chuyên ngành. Ví dụ, ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng Cộng sản có các đảng viên trong tất cả các lĩnh vực từ hàng không đến âm nhạc và nhà máy sản xuất thép. Các đảng viên cộng sản phục vụ như là hệ thống thông tin mật quan trọng đưa thông tin từ nhóm này sang nhóm khác. Vì họ có tất cả tin tức nên họ có quyền hành rất lớn để điều hành các nhóm ưu tú cấp dưới. Trong các nước tư bản, các nhà kinh doanh tiên tiến và luật sư phục vụ trong các ủy ban dân sự hoặc hội đồng đã thực hiện những nhiệm vụ tương tự theo một cách ít chính thức hơn. Do đó, những gì chúng ta thấy trong tất cả các quốc gia Làn sóng thứ hai là các nhóm được chuyên môn hoá của các nhà hợp nhất, công chức hoặc ủy viên quản trị, và họ lại hợp nhất bởi các nhà hợp nhất tổng thể.

    NHÓM SIÊU ƯU TÚ
    Ở cấp cao hơn, sự hợp nhất đã được áp đặt bởi nhóm "siêu ưu tú" chịu trách nhiệm phân phối đầu tư. Dù ở trong tài chính hoặc công nghệ, dù ở Lầu Năm Góc hoặc ở bộ máy ủy ban kế hoạch Xô viết, những người phân phối đầu tư trong xã hội công nghiệp đặt ra những giới hạn mà trong đó những người hợp nhất tự do buộc phải thực hiện. Một khi quyết định đầu tư qui mô lớn đã được đưa ra, nó sẽ giới hạn những sự chọn lựa tương lai. Và khi được đặt vào vị trí, vốn chủ yếu này xác định các thông số mà trong đó các nhà quản lý hoặc hợp nhất tương lai bị hạn chế. Những nhóm ra quyết định vô hình này kiểm soát đòn bẩy đầu tư đã thành lập nhóm siêu ưu tú trong các xã hội công nghiệp.

    Do đó trong xã hội Làn sóng thứ hai, một kiến trúc song song của các nhóm ưu tú đã nổi lên. Và hệ thống cấp bậc quyền lực bí mật này lại được sinh ra sau mỗi khủng hoảng hoặc biến động chính trị. Tên, khẩu hiệu, tên đảng, và ứng cử viên có thể thay đổi, cách mạng có thể đến và đi. Những khuôn mặt mới có thể xuất hiện sau các bàn làm việc lớn. Nhưng kiến trúc quyền lực cơ bản vẫn giữ nguyên.

    Nhiều lần trong 300 năm vừa qua, từ nước này sang nước khác, những người nổi loạn và các nhà cải cách đã cố gắng phá vỡ bức tường quyền lực, để xây dựng một xã hội mới dựa trên sự công bằng xã hội và bình đẳng chính trị. Thỉnh thoảng những phong trào như thế đã chiếm được cảm tình của hàng triệu người với những lời hứa hẹn tự do. Các nhà cách mạng đôi khi lật đổ được chế độ.

    Thế nhưng sau mỗi lần như thế, kết quả cuối cùng vẫn giống nhau. Các nhà nổi loạn lại tạo ra dưới lá cờ riêng của họ, một cấu trúc tương tự về các nhóm ưu tú cấp dưới, nhóm ưu tú và nhóm siêu ưu tú. Vì cấu trúc hợp nhất này và các chuyên viên của quyền lực cũng cần thiết cho nền văn minh Làn sóng thứ hai giống như nhà máy, nhiên liệu hoặc gia đình hạt nhân. Hệ thống công nghiệp qui mô lớn và nền dân chủ hoàn toàn mà nó hứa hẹn thực tế là không dung hợp được với nhau.
    Các quốc gia công nghiệp có thể bị bắt buộc đi từ thị trường tự do sang lập kế hoạch trung ương do hành động cách mạng hoặc do gì khác. Họ có thể đi từ tư bản sang xã hội chủ nghĩa hoặc ngược lại. Nhưng giống như tấm da báo, họ không thể thay đổi màu da. Họ không thể hoạt động nếu không có hệ thống cấp bậc các nhà hợp nhất hùng mạnh.

    Ngày nay, khi Làn sóng thứ ba về thay đổi bắt đầu đánh mạnh vào thành trì quyền lực quản lý này, những vết rạn nứt đầu tiên đang xuất hiện trong hệ thống quyền lực.
     
  7. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 6

    BẢN KẾ HOẠCH BÍ MẬT
    Người Pháp không thể hiểu được cách người Mỹ bầu tổng thống. Ngược lại, người Mỹ thấy khó hiểu cách người Pháp chọn lãnh đạo của họ. Họ lại càng hiểu ít hơn những cuộc bầu cử tẻ nhạt của người Anh, cách người Đức quan niệm tự do cho tất cả hai tá đảng phái, hệ thống bầu cử ưu đãi của người Úc, hoặc hệ thống xoay vòng và đàm phán trong số các phe phái của người Nhật. Tất cả những hệ thống chính trị này dường như khác nhau kinh khủng. Ngay cả các cuộc bầu cử một đảng hoặc bầu một cách hình thức khó hiểu hơn ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi thuộc về vấn đề Chính trị, không quốc gia công nghiệp nào lại giống quốc gia công nghiệp nào.

    Thế nhưng khi chúng ta gạt bỏ bức màn che cục bộ, chúng ta sẽ phát hiện ra những sự tương đương nằm dưới bề mặt khác nhau. Thực vậy, chúng giống nhau đến mức như là các hệ thống chính trị của các quốc gia Làn sóng thứ hai được xây dựng từ cùng một bản kế hoạch bí mật. Khi các nhà cách mạng Làn sóng thứ hai đạt được mục đích lật đổ các nhóm ưu tú Làn sóng thứ nhất ở Pháp, Mỹ, Nga, Nhật và các quốc gia khác thì họ đứng trước nhu cầu phải viết hiến pháp, thành lập chính phủ mới, và thiết kế các thể chế chính trị mới từ con số không. Trong niềm phấn khởi, họ tranh luận những tư tưởng mới, những cấu trúc mới. Khắp nơi họ đấu tranh cho tính chất đại diện. Ai sẽ đại diện cho ai ? Nhân dân có cần bảo các đại biểu được bầu phải làm như thế nào không, hay là các đại biểu bầu gì tùy họ ? Các nhiệm kỳ dài hay ngắn ? Đảng phái có vai trò gì ?

    Trong mỗi nước, mỗi cấu trúc chính trị mới được hình thành từ những xung đột và tranh luận này. Tìm hiểu kỹ những cấu trúc này ta sẽ thấy chúng định xây dựng trên sự tổng hợp của những cái được cho là đúng của Làn sóng thứ nhất và những tư tưởng mới hơn do ảnh hưởng của thời đại công nghiệp.

    Sau mấy ngàn năm nông nghiệp, các nhà sáng lập hệ thống chính trị Làn sóng thứ hai khó tưởng tượng một nền kinh tế chỉ dựa vào lao động, vốn, năng lượng và nguyên liệu, chứ không dựa vào đất đai. Đất đai luôn luôn đã là trung tâm của cuộc sống. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên khi địa lý gắn sâu vào các hệ thống bầu cử khác nhau. Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ ở Mỹ, các dân biểu ở Anh và các nước công nghiệp khác được bầu không phải là đại diện của một số giai cấp xã hội hoặc nghề nghiệp, chủng tộc, giới tính, mà là đại diện của số dân cư của một vùng đất. Ngoài ra, vì những người Làn sóng thứ nhất thường sống một nơi suốt cuộc đời nên trong điều lệ bầu cử, ngay cho cả ngày nay, có qui định nơi thường trú của cử tri. Nhịp điệu cuộc sống Làn sóng thứ nhất chậm nên các cơ quan đại biểu "không phải vội vàng", nghĩa là có thời gian để suy nghĩ sâu về các vấn đề. Hầu hết nhân dân Làn sóng thứ nhất là mù chữ và dốt nát, nên các đại biểu, đặc biệt là giai cấp có học thức, được cho là có quyết định thông minh hơn đại bộ phận cử tri.

    Nhưng ngay cả khi họ áp dụng những điều trên của Làn sóng thứ nhất vào thể chế chính trị của chúng ta, các nhà cách mạng Làn sóng thứ hai cũng đưa mắt nhìn về tương lai. Do đó kiến trúc mà họ xây dựng phản ánh một số khái niệm công nghệ mới nhất.

    SAY MÊ CƠ KHÍ
    Các nhà kinh doanh, các nhà trí thức và các nhà chính trị của thời kỳ đầu công nghiệp hầu như bị máy móc thôi miên. Họ bị mê hoặc bởi động cơ hơi nước, đồng hồ, máy dệt, máy bơm và pittông, và họ xây dựng những sự tương tự vô tận dựa trên những công nghệ cơ khí đơn giản đương thời. Những từ ngữ chính trị họ dùng lúc đó phản ánh các bộ phận máy móc cơ khí, như nền kinh tế là một hệ thống mà "hệ thống đó giống như một cái máy", như nhu cầu "mô hình hóa" lại "hệ thống" chính trị, như thay đổi "cấu trúc" của quyền lực chính trị, như chọn công chức thông qua "sự chọn lọc liên tục", như "guồng máy chính phủ", như một chính phủ hoàng gia phải "đảm bảo sự hoạt động đồng bộ của các bộ phận khác nhau của một cái máy". Không phải sự mê say cơ khí này chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, Lê nin đã diễn tả Nhà nước không khác gì là một bộ máy được nhà tư bản sử dụng để đàn áp công nhân v.v...

    Say sưa với những tư tưởng cơ khí, sùng bái sức mạnh và hiệu quả của máy móc, các nhà sáng lập cách mạng của xã hội Làn sóng thứ hai, dù là tư bản hay xã hội chủ nghĩa, đã phát minh ra những thể chế có nhiều đặc tính của các máy móc công nghiệp.

    BỘ LẮP RÁP ĐẠI BIỂU
    Những cấu trúc họ tạo ra dựa trên khái niệm cơ bản về sự đại diện. Trong mỗi nước họ sử dụng một số thành phần tiêu chuẩn, những thành phần này làm thành cái được gọi là bộ lắp ráp đại biểu phổ thông. Các thành phần là :
    1. Cá nhân có quyền bỏ phiếu.
    2. Đảng phái cần lá phiếu.
    3. Ứng cử viên trúng cử được gọi là "đại biểu".
    4. Lập pháp (Nghị viện, Quốc hội, Hội đồng) mà trong đó các đại biểu "sản xuất" luật bằng bỏ phiếu.
    5. Hành pháp (Tổng thống, Thủ tướng, Bí thư Đảng) cung cấp nguyên liệu vào bộ máy làm luật dưới dạng chính sách, và sau đó củng cố luật được ban hành.

    Các phần của bộ lắp ráp này được tổng hợp và vận dụng bằng nhiều cách khác nhau ở những nước khác nhau. Có một số nước chỉ những người trên 21 tuổi mới được quyền đi bỏ phiếu, có nước chỉ đàn ông da trắng mới có quyền bầu cử, có nước toàn bộ qui trình do một nhà độc tài điều khiển, ở một nước khác các viên chức trúng cử có quyền lực đáng kể. Nước này có 2 đảng, nước khác đa đảng, có nước chỉ có một đảng. Tuy nhiên, mô hình lịch sử là rõ ràng. Các phần có thể bị sửa đổi, nhưng cùng bộ lắp ráp cơ bản này được dùng để xây dựng bộ máy chính trị chính thức trong tất cả các quốc gia công nghiệp.
    Mặc dù các nhà cộng sản thường tấn công "dân chủ tư sản" và "chế độ đại nghị" như là sự che đậy các đặc quyền đặc lợi, họ lý luận rằng các cơ chế đó bị thao túng bởi giai cấp tư bản cho đặc lợi của họ, thế nhưng tất cả các quốc gia công nghiệp xã hội chủ nghĩa đã vội vàng thành lập ngay các bộ máy đại biểu tương tự.

    Trong khi hứa hẹn sẽ có "dân chủ trực tiếp" trong kỷ nguyên hậu - đại biểu và điều này vẫn còn xa, họ tiếp tục dựa vào "các thể chế đại biểu xã hội chủ nghĩa".
    Giống như nhà máy là biểu tượng toàn bộ môi trường công nghệ công nghiệp, chính phủ đại nghị trở thành biểu tượng của mỗi quốc gia "tiên tiến". Thực vậy, ngay cả nhiều quốc gia không công nghiệp - dưới áp lực của thực dân hoặc bằng sự bắt chước mù quáng - chạy đua thiết lập cùng những cơ chế chính trị và sử dụng cùng bộ lắp ráp đại biểu phổ thông.

    NHÀ MÁY LUẬT TOÀN CẦU
    Các "bộ máy dân chủ" không phải chỉ giới hạn ở cấp quốc gia, chúng còn được thiết lập ở cấp tiểu bang, tỉnh, huyện, thị trấn và làng. Chỉ trong các nước Làn sóng thứ hai, hiện nay có khoảng chừng hơn 100.000 bộ máy đại diện này đang sản xuất luật, sắc lệnh, qui định và điều lệ.
    Theo lý thuyết, giống như mỗi cá nhân và mỗi lá phiếu là một đơn vị nguyên tử và riêng biệt, mỗi đơn vị chính trị - quốc gia, tỉnh và địa phương cũng được xem như là riêng biệt, là nguyên tử. Mỗi đơn vị có quyền pháp lý riêng, quyền lực riêng, quyền lợi và nhiệm vụ riêng. Các đơn vị nối với nhau bằng hệ thống cấp bậc, từ trên xuống dưới, từ quốc gia xuống địa phương. Nhưng khi hệ thống công nghiệp qui mô lớn đạt đến đỉnh cao của nó, và nền kinh tế càng ngày càng được hợp nhất, những quyết định từ các đơn vị chính trị này đã gây ra hậu quả ngoài quyền pháp lý của nó, do đó làm cho các cơ quan chính trị khác phải phản ứng.

    Một quyết định của Quốc hội Nhật đối với công nghiệp dệt của Nhật có thể ảnh hưởng việc làm ở bang Bắc Carôlaina (Mỹ) và dịch vụ phúc lợi ở thành phố Sicagô. Quốc hội Mỹ bỏ phiếu thêm côta cho nhập xe ô tô nước ngoài có thể tạo thêm việc làm ở Nagôya hoặc Turin. Đến giữa thế kỷ XX, 10.000 cấp thẩm quyền chính trị bề ngoài có vẻ như có chủ quyền hoặc độc lập với nhau, lại đang liên kết với nhau thông qua mạng lưới kinh tế, thông qua du lịch, di dân và thông tin, và do đó các đơn vị đó liên tục tác động lẫn nhau.
    Hàng ngàn đơn vị trên được thiết kế từ bộ lắp ráp đại biểu đã thành lập một siêu guồng máy vô hình : nhà máy luật toàn cầu.

    NGHI LỄ LÀM YÊN TÂM
    Được sinh ra từ những niềm mơ ước của các nhà cách mạng Làn sóng thứ hai, chính phủ đại nghị là một sự tiến bộ tuyệt vời so với những hệ thống quyền hành trước đây, đó là sự chiến thắng công nghiệp bằng cách riêng của nó chứ không phải chỉ là máy hơi nước hoặc máy bay.

    Chính phủ đại nghị tạo ra được sự kế tục theo thứ tự mà không cần đến các triều đại cha truyền con nối. Nó đã mở ra những con đường nối tiếp giữa trên và dưới trong xã hội. Nó cung cấp một phạm vi hoạt động cho các nhóm khác nhau có thể hòa giải một cách hòa bình với nhau. Được trang bị với tư tưởng mỗi người một lá phiếu và luật đa số, nó giúp cho người nghèo và người không có thế lực đòi được quyền lợi từ những nhà chuyên môn của quyền lực là những người đang điều hành guồng máy hợp nhất của xã hội. Vì những lý do này, sự phát triển về chính phủ đại nghị là một sự đột phá của nhân loại trong lịch sử.
    Thế nhưng ngay từ đầu nó đã thất hứa. Dù được xác định ngay từ đầu, nhưng nhân dân không bao giờ có quyền được kiểm soát cả. Cũng không có nơi nào trên thế giới thay đổi được cấu trúc quyền lực trong các quốc gia công nghiệp gồm các nhóm ưu tú cấp dưới, các nhóm ưu tú và các nhóm siêu ưu tú. Thực vậy, thay vì làm yếu đi sự điều khiển của các nhóm ưu tú quản lý, guồng máy đại nghị chính thức trở thành một trong những phương tiện then chốt của sự hợp nhất mà nhờ đó các nhóm ưu tú mới duy trì được quyền lực.

    Bầu cử thực hiện một nhiệm vụ văn hóa cho các nhóm ưu tú, cho dù trong bầu cử ai thắng cũng được. Chính ngay trong khái niệm tất cả mọi người đều được đi bầu, bầu cử đã ấp ủ ảo tưởng về sự công bằng. Bầu cử đã tạo ra nghi lễ làm cho yên tâm, truyền đạt cho mọi người tư tưởng rằng sự chọn lựa đã được thực hiện một cách có hệ thống, với sự đúng mực giống như cái máy, và do đó là hợp lý. Bầu cử làm nhân dân yên tâm rằng họ vẫn có quyền kiểm soát thông qua việc họ có thể bầu hoặc không bầu lãnh đạo. Cả trong các nước tư bản và xã hội chủ nghĩa, những đảm bảo nghi lễ này cho thấy quan trọng hơn kết quả bầu cử.

    Các nhóm ưu tú hợp nhất đã chương trình hóa các bộ máy chính trị khác nhau cho từng nơi, kiểm soát số đảng phái hoặc thao túng kết quả bầu cử. Thế nhưng nghi lễ bầu cử được áp dụng khắp nơi. Việc các cuộc bầu cử ở Liên Xô và Đông Âu sản xuất các con số ảo thuật 99% cho thấy rằng nhu cầu làm yên tâm vẫn cần thiết cho các xã hội xã hội chủ nghĩa giống như trong thế giới tự do. Bầu cử đã hủy bỏ được sự phản đối của người dân.

    Hơn thế nữa, mặc dù có những cố gắng của các nhà cải cách và cấp tiến dân chủ, các nhóm ưu tú hợp nhất hầu như vẫn duy trì sự kiểm soát thường xuyên hệ thống chính phủ đại nghị. Nhiều lý thuyết đã được đưa ra để giải thích tại sao. Nhưng hầu hết các lý thuyết này xem thường tính chất cơ khí của hệ thống.

    Nếu chúng ta nhìn các hệ thống chính trị Làn sóng thứ hai dưới con mắt của một kỹ sư chứ không phải của một nhà khoa học chính trị, chúng ta nhận ra ngay một sự việc then chốt không được chú ý.
    Các kỹ sư công nghiệp thường phân biệt giữa hai loại máy khác nhau : một loại máy chạy gián đoạn được biết dưới cái tên máy "xử lý từng đợt", và một loại máy chạy không dừng được biết dưới cái tên máy "chạy liên tục". Ví dụ loại máy thứ nhất là máy dập dấu, công nhân đưa đến từng đợt các tấm kim loại và cho vào máy để dập dấu từng tấm hoặc vài tấm một lần. Khi hết một đợt, máy dừng lại cho đến khi đợt mới được mang đến. Và ví dụ về loại máy thứ hai là hệ thống lọc dầu, máy một khi đã được khởi động thì chạy không ngừng 24 giờ một ngày.

    Nếu chúng ta nhìn nhà máy luật toàn cầu với các cuộc bầu cử gián đoạn, chúng ta thấy nó giống như máy xử lý cổ điển. Nhân dân được cho phép chọn các ứng cử viên vào thời gian quy định, sau đó "guồng máy dân chủ" ngưng chạy.
    Ngược lại với guồng máy trên là dòng ảnh hưởng liên tục từ các nhóm quyền lợi có tổ chức, nhóm gây áp lực. Nhóm những người vận động ở hành lang của các công ty, các cơ quan chính phủ, các bộ nhằm gây ảnh hưởng đến quá trình quyết định dù là ở Washington hay ở Moscow. Các nhóm ưu tú tạo ra guồng máy chạy liên tục có thế lực làm việc song song với guồng máy dân chủ từng đợt. Chỉ khi nào chúng ta nhìn thấy hai guồng máy này cạnh nhau thì chúng ta mới hiểu được làm thế nào quyền lực Nhà nước tác động trên nhà máy luật toàn cầu.

    Chừng nào mà vẫn còn trò chơi đại nghị, thì nhân dân chỉ có những cơ hội gián đoạn thông qua bầu cử để biểu lộ sự ủng hộ hoặc không ủng hộ chính phủ và những hoạt động của chính phủ. Ngược lại, các nhà chuyên môn của quyền lực ảnh hưởng liên tục đến hoạt động đó.

    Khi công nhân đấu tranh để được quyền tổ chức công đoàn, họ bị khủng bố, bị ngược đãi, bị cảnh sát đánh đập, vì họ là những người ngoài cuộc, không có đại diện trong hệ thống. Một khi công đoàn được thành lập, họ sinh ra một nhóm hợp nhất mới mà những thành viên thay vì đại diện cho công nhân lại đi làm trung gian để điều đình giữa họ và các nhóm ưu tú trong kinh doanh và trong chính phủ. Các nhà lãnh đạo công đoàn ở Liên Xô và các nước Đông Âu chẳng qua là các nhà chuyên môn của quyền lực. Theo lý thuyết, muốn được bầu trở lại thì các đại biểu phải trung thực và phải tiếp tục phát ngôn cho những người họ đại diện. Tuy nhiên không có nơi nào ngăn cản việc thu nạp các đại biểu vào bộ máy quyền lực. Khắp nơi khoảng cách càng ngày càng rộng giữa đại biểu và cử tri. Chính phủ đại nghị mà chúng ta được bảo phải coi là dân chủ, chẳng qua là một nền kỹ thuật công nghiệp đảm bảo cho sự không công bằng. Chính phủ đại nghị là giả đại diện.

    Nói tóm lại, trong hệ thống này, chính phủ đại nghị là phần chính trị tương đương một nhà máy. Thực vậy, đó đã là nhà máy sản xuất những quyết định hợp nhất tập thể. Cũng giống như các nhà máy, nó được quản lý từ trên. Và cũng giống như hầu hết các nhà máy, nó đang trở thành lỗi thời, một nạn nhân của Làn sóng thứ ba.
     
  8. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 7

    SỰ ĐIÊN CUỒNG CỦA CÁC QUỐC GIA
    Trong một thế giới với phong trào các quốc gia đang chiến đấu giành quyền lực, với chừng 152 quốc gia là thành viên của Liên Hợp Quốc, thì việc cho các hòn đảo với dân số chừng vài nghìn người trở thành độc lập đã buộc chúng ta phải xem lại chính khái niệm về tính chất quốc gia. 6.500 người ở hòn đảo Abaco trong vùng Bahamas mặc dù được các nhà kinh doanh tài trợ, có thể tạo thành một quốc gia không ? Nếu Xingapo với dân số 2,3 triệu người là một quốc gia, thì tại sao thành phố New York với dân số 8 triệu người lại không trở thành một quốc gia ? Nếu quận Brooklin có máy bay ném bom thì nó có trở thành một quốc gia không ? Nghe thì rất vô lý, nhưng những câu hỏi như thế sẽ có ý nghĩa mới khi Làn sóng thứ ba tấn công ngay chính những cơ sở của nền văn minh Làn sóng thứ hai. Vì một trong những cơ sở này đã và đang là quốc gia - Nhà nước.
    THAY NGỰA

    Từ khi Làn sóng thứ hai tràn qua châu Âu, hầu hết các vùng trên thế giới chưa được lập thành quốc gia, nhưng được tổ chức thành một mớ hỗn độn như bộ lạc, thị tộc, công quốc, lãnh địa, vương quốc, và những đơn vị địa phương khác. Biên giới không rõ ràng. Quyền lực của Nhà nước chưa được tiêu chuẩn hóa. Sự kiểm soát chính trị chưa được thống nhất. Một cá nhân có ruộng đất ở một vài nơi có thể phải nộp thuế cho vài lãnh chúa. Vônte tóm tắt tình hình như sau : khi đi khắp châu Âu, ông ta phải thay đổi luật lệ giống như thay ngựa. Sự thay đổi ngựa thường xuyên phản ánh phương tiện giao thông và thông tin thô sơ, từ đó có thể suy ra rằng ở những nơi xa thì vương quốc mạnh nhất cũng không thể áp đặt sự kiểm soát có hiệu quả được. Càng xa thủ đô bao nhiêu thì quyền lực Nhà nước càng yếu bấy nhiêu.

    Nếu không có sự hợp nhất chính trị thì không có sự hợp nhất kinh tế. Các nền công nghệ mới đòi hỏi đầu tư lớn của Làn sóng thứ hai và chỉ có thể được hoàn vốn dần nếu chúng sản xuất hàng hóa cho thị trường lớn hơn thị trường địa phương. Nhưng làm thế nào các nhà kinh doanh có thể mua bán trên một lãnh thổ rộng lớn nếu họ rơi vào trạng thái rối rắm về thuế má, điều lệ lao động, tiền bạc khác nhau ? Muốn cho các nền công nghệ mới có lợi, các nền kinh tế địa phương phải được nhập vào một nền kinh tế quốc gia thống nhất. Điều này có nghĩa là cần có sự phân bố lao động quốc gia và thị trường quốc gia cho hàng hóa và vốn. Đến lượt những điều đó yêu cầu sự củng cố chính trị quốc gia. Nói đơn giản là sự phát triển của kinh tế Làn sóng thứ hai đòi hỏi phải có một chế độ chính trị Làn sóng thứ hai thích ứng.

    Không có gì đáng ngạc nhiên khi các xã hội Làn sóng thứ hai bắt dầu xây dựng nền kinh tế quốc gia. Với công nghệ dựa vào hơi nước, than đá và điện, người sản xuất có thể làm quần áo ở nơi này, đồng hồ ở nơi kia, hoặc hàng vải ở nơi khác để sản xuất số lượng nhiều hơn khả năng tiêu thụ của thị trường địa phương. Họ cũng cần nguyên liệu từ xa. Người công nhân nhà máy cũng bị ảnh hưởng bởi các biến cố tài chính xảy ra cách đấy hàng nghìn dặm, công việc phụ thuộc vào thị trường xa cách.
    Do đó dần dần những chân trời tâm lý cũng phát triển. Phương tiện thông tin đại chúng mới đã tăng số lượng tin tức và hình ảnh từ những nơi rất xa. Dưới tác động của những thay đổi này, chủ nghĩa địa phương bị mờ dần. Ý thức quốc gia trỗi dậy. Mở đầu là các cuộc cách mạng Mỹ và Pháp, tiếp đó đến cuối thế kỷ XIX, Làn sóng của chủ nghĩa quốc gia đã tràn qua các nước đang công nghiệp hóa của thế giới như Đức, Ý, Tây Ban Nha, Hungari. Các nhà thơ ca ngợi tinh thần quốc gia, các nhà lịch sử phát hiện các anh hùng. Các nhà soạn nhạc viết các bài ca ngợi tính chất quốc gia mà văn học dân gian chưa từng biết đến. Tất cả đều xảy ra đúng vào lúc sự công nghiệp hóa đang cần điều đó.

    Một khi chúng ta hiểu được nhu cầu hợp nhất, thì ý nghĩa Nhà nước quốc gia trở thành rõ ràng. Những gì mà chúng ta gọi là một quốc gia hiện đại là một hiện tượng của Làn sóng thứ hai - một quyền lực chính trị hợp nhất trộn với một nền kinh tế hợp nhất. Nghĩa là một hệ thống chính trị thống nhất cùng với một nền kinh tế thống nhất đã tạo ra quốc gia hiện đại.
    Những cuộc nổi dậy dân tộc chủ nghĩa được cuộc cách mạng công nghiệp khơi động ở Mỹ, Pháp, Đức... có thể được xem như là những cố gắng nhằm đưa sự hợp nhất chính trị lên ngang tầm với sự hợp nhất kinh tế theo sau Làn sóng thứ hai. Và chính những cố gắng này đã dẫn đến việc phân chia thế giới thành nhiều đơn vị quốc gia riêng biệt.

    ĐINH ĐÓNG ĐƯỜNG RAY BẰNG VÀNG
    Khi mỗi chính phủ tìm cách mở rộng thị trường và quyền lực chính trị của họ, họ đã gặp phải những hạn chế về ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, địa lý và chiến lược. Phương tiện giao thông, thông tin, nguồn năng lượng, và sự sản xuất của nền công nghệ, tất cả đều giới hạn khu vực mà một cấu trúc chính trị có thể cai trị được. Sự phức tạp của các thủ tục thanh toán, kiểm soát ngân sách và phương pháp quản lý cũng xác định sự hợp nhất chính trị có thể vươn xa đến đâu.

    Mặc dù có những giới hạn này, song các nhóm ưu tú hợp nhất, công ty và chính phủ vẫn tìm cách bành trướng. Lãnh thổ do họ kiểm soát càng rộng bao nhiêu, và thị trường kinh tế càng lớn bao nhiêu thì sự giàu có và quyền lực của họ càng nhiều bấy nhiêu. Khi mỗi quốc gia mở rộng biên giới chính trị và kinh tế của nó đến mức tối đa, không phải nó chỉ va vào những giới hạn đó mà còn va phải các quốc gia cạnh tranh. Để phá vỡ những biên giới này, các nhóm ưu tú hợp nhất đã sử dụng nền công nghệ tiên tiến. Ví dụ họ lao vào cuộc chạy đua của thế kỷ XIX là xây dựng hệ thống đường sắt. Chỉ trong vòng 3 thập kỷ kể từ năm 1825, đường sắt đã nối tất cả các nơi trong từng nước như ở Anh, Pháp, Bỉ... Ở Mỹ, khi đinh đóng đường ray bằng vàng được đóng xuống để nối toàn bộ hệ thống đường sắt, thì nó đã mở rộng sự kiểm soát của chính phủ liên bang khắp cả nước Mỹ.

    Do đó những gì mà người ta thấy là sự trỗi dậy của một thực thể mới đầy quyền lực : quốc gia. Từ đó bản đồ thế giới bị chia thành những mảnh rõ ràng, không chồng lên nhau với các màu đỏ, hồng, da cam, vàng, xanh, và hệ thống Nhà nước - quốc gia là một trong những cấu trúc then chốt của nền văn minh Làn sóng thứ hai.
    Nằm phía dưới tổ chức quốc gia là mệnh lệnh quen thuộc của hệ thống công nghiệp qui mô lớn : Cuộc chạy đua cho sự hợp nhất. Nhưng cuộc chạy đua cho sự hợp nhất này không chấm dứt ở biên giới của mỗi Nhà nước - quốc gia. Vì tất cả sức mạnh của nó, nền văn minh công nghiệp không thể được nuôi dưỡng từ khoảng hư vô. Nó không thể nào tồn tại trừ phi nó hợp nhất toàn bộ thế giới vào một hệ thống tiền tệ và kiểm soát hệ thống đó vì quyền lực riêng của nó.
     
  9. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 8

    CUỘC CHẠY ĐUA ĐẾ QUỐC
    Không có nền văn minh nào được lan truyền mà không có xung đột. Nền văn minh Làn sóng thứ hai tấn công ào ạt thế giới Làn sóng thứ nhất, đã chiến thắng và áp đặt ý chí của nó lên hàng triệu, sau cùng là hàng tỉ con người.
    Trước Làn sóng thứ hai, từ thế kỷ XVI, các nhà cai trị châu Âu đã bắt đầu xây dựng đế quốc thực dân rộng rãi. Các nhà linh mục, những người Tây Ban Nha đi chinh phục, các nhà thám hiểm người Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Ý, Pháp tỏa đi khắp nơi trên trái đất, bắt thổ dân làm nô lệ hoặc tiêu diệt cả một dân tộc, kiểm soát những vùng đất bao la, và gửi chiến lợi phẩm về cho đế chế của họ.

    Tuy nhiên so với những gì tiếp sau đây thì tất cả những việc đó không có ý nghĩa.
    Vì châu báu mà những người thám hiểm và những người đi chinh phục gửi về nhà là những thứ ăn cướp. Châu báu này tài trợ chiến tranh và sự giàu có cá nhân, nhưng nó không giúp gì cho nền kinh tế cơ bản tự cung tự cấp của nước thực dân. Kết quả của việc đi xâm chiếm nước ngoài chỉ làm giàu giai cấp thống trị và thành phố chứ không giúp gì cho đại bộ phận người dân bình thường như là nông dân. Trong nghĩa này, chủ nghĩa đế quốc Làn sóng thứ nhất vẫn là tầm thường, chưa hợp nhất vào kinh tế.

    Làn sóng thứ hai biến đổi trò ăn cắp vặt qui mô nhỏ này thành kinh doanh lớn. Nó biến đổi chủ nghĩa đế quốc tầm thường thành chủ nghĩa đế quốc lớn.
    Chủ nghĩa đế quốc mới không phải mang về vài hòm vàng bạc châu báu mà nó đưa về đoàn tàu này đến đoàn tàu khác đầy ắp khoáng sản. Nó lấy nguyên liệu từ các nước thuộc địa, xử lý chế biến và đưa trở lại nước thuộc địa dưới dạng hàng hoá thành phẩm để thu được lợi nhuận khổng lồ. Nói tóm lại, đây là chủ nghĩa đế quốc hợp nhất vào cấu trúc kinh tế cơ bản của quốc gia công nghiệp mà hàng triệu công nhân phụ thuộc vào nó.

    Không chỉ có làm việc. Ngoài nguyên liệu ra, châu Âu cũng cần số lượng thực phẩm ngày càng tăng. Khi các quốc gia Làn sóng thứ hai chuyển sang sản xuất, và khi chuyển lao động nông nghiệp vào trong nhà máy, họ bắt buộc phải nhập khẩu nhiều loại thực phẩm từ nước ngoài - bò, cừu, lúa mì, cà phê, trà, đường, từ Ấn Độ, Trung Quốc, châu Phi và Trung Mỹ, Nam Mỹ.
    Và khi sản xuất hàng loạt được đẩy mạnh, các nhà công nghiệp mới cần thị trường lớn hơn và những nơi mới để đầu tư. Việc đó còn nhằm giải quyết tư tưởng cho các nhà lãnh đạo châu Âu bị ám ảnh bởi sự sợ hãi là nếu sự phát triển thuộc địa dừng lại, nạn thất nghiệp có thể đưa đến cuộc cách mạng vũ trang ở các nước châu Âu.

    Tuy nhiên, thực chất của chủ nghĩa đế quốc lớn còn nhiều vấn đề khác chứ không phải chỉ riêng vấn đề kinh tế. Chiến lược, tôn giáo, lý tưởng và mạo hiểm đều có phần của riêng nó, sự phân biệt chủng tộc cũng có phần của nó với tư tưởng về sự ưu việt của dân da trắng hoặc dân châu Âu. Nhiều người nhìn thấy sự chinh phục đế quốc như là một trách nhiệm thần thánh. Câu nói của Kiplingơ "gánh nặng của người da trắng" đã tổng kết sự nhiệt tình của các nhà truyền giáo châu Âu truyền bá đạo công giáo và "sự văn minh", dĩ nhiên là văn minh Làn sóng thứ hai. Vì các nhà thực dân đã xem các nền văn minh Làn sóng thứ nhất như là lạc hậu và kém phát triển. Những người nông dân, đặc biệt là dân da màu, bị xem như là trẻ con, họ là lừa đảo và bất lương, họ là thụ động, họ không làm cuộc sống có giá trị.

    Những thái độ như thế giúp cho các lực lượng Làn sóng thứ hai biện minh cho sự hủy diệt của họ đối với những ai dám đứng trên đường đi của họ. Đằng sau những thái độ kỳ thị chủng tộc là những lời bào chữa tôn giáo khi người Anh, Pháp, Đức, Hà Lan và những người khác gieo rắc đau khổ khắp thế giới, đó là một thực tế không thể chối cãi được. Nền văn minh Làn sóng thứ hai không thể hiện diện độc lập. Nó rất cần những nguồn tài nguyên bên ngoài. Và cái nó cần nhất là một thị trường thế giới hợp nhất mà thông qua đó nó hút những nguồn tài nguyên đó.

    MÁY BƠM XĂNG DẦU TRONG KHU VƯỜN
    Việc xúc tiến một thị trường thế giới hợp nhất dựa trên tư tưởng rằng sự phân chia lao động cũng phải áp dụng cho quốc gia giống như đã áp dụng cho công nhân nhà máy. Như thế việc "phân chia lao động quốc tế" chỉ định những nhiệm vụ đặc biệt cho các quốc gia khác nhau sẽ làm giàu tất cả các nước.

    Lòng tin này biến thành giáo điều cho các thế hệ tiếp theo và vẫn còn được áp dụng cho đến ngày nay. Giống như sự phân chia lao động trong bất kỳ nền kinh tế nào đã tạo ra nhu cầu hợp nhất và do đó đã sinh ra nhóm ưu tú hợp nhất, sự phân chia lao động quốc tế cũng đòi hỏi sự hợp nhất trên qui mô toàn cầu và cũng sinh ra nhóm ưu tú toàn cầu, nghĩa là một nhóm nhỏ các quốc gia Làn sóng thứ hai thống trị toàn thế giới. Thành công của sự tiến triển tạo ra một thị trường thế giới hợp nhất có thể được thấy trong sự phát triển vô cùng to lớn về thương mại thế giới một khi Làn sóng thứ hai tràn qua châu Âu. Từ năm 1750 đến năm 1914, trị giá thương mại thế giới tăng gấp 50 lần, từ 700 triệu đôla lên đến 40 tỉ đôla. Những mối lợi của thương mại toàn cầu này đã ít nhiều đổ đều nhau cho tất cả các nước châu Âu. Thực vậy, niềm tin rằng chuyên môn hóa làm lợi cho tất cả mọi người được dựa trên khả năng tưởng tượng về sự cạnh tranh hợp lý. Nó giả định việc sử dụng hoàn toàn hiệu quả về lao động và tài nguyên, giả định những giao dịch không bị các lực lượng chính trị và quân sự hăm dọa và những giao dịch mở rộng ít hay nhiều phù hợp với những người trao đổi. Nói tóm lại, lý thuyết không xem thường điều gì cả trừ thực tế.

    Trong thực tế, các cuộc đàm phán giữa những người buôn bán thuộc Làn sóng thứ hai và những người thuộc Làn sóng thứ nhất về đường, đồng, ca cao hoặc những tài nguyên khác thường là hoàn toàn không cân xứng. Phía bên này bàn đàm phán là những người kinh doanh Mỹ hoặc châu Âu rất giỏi về hệ thống tiền tệ, được sự ủng hộ của các công ty khổng lồ, của hệ thống ngân hàng rộng lớn, của công nghệ tiên tiến, và của các chính phủ quốc gia mạnh. Phía bên kia bàn đàm phán là lãnh chúa địa phương hoặc tù trưởng bộ lạc thường không hiểu biết gì về hệ thống tiền tệ, và nền kinh tế dựa trên nền nông nghiệp qui mô nhỏ hoặc tiểu thủ công nghiệp làng mạc. Ở một phía là đại diện của một nền văn minh cơ khí tiên tiến, xa lạ, hiếu chiến, tin tưởng vào sự "ưu việt" riêng của họ và sẵn sàng sử dụng lưỡi lê hoặc súng máy để chứng minh điều đó. Phía bên kia là đại diện của các bộ lạc nhỏ tiền quốc gia được trang bị với cung tên và giáo mác.

    Thường thì các vị cai trị địa phương bị người phương Tây mua đứt bằng hối lộ để đổi lấy lực lượng lao động địa phương, không có sự chống cự hoặc viết lại luật địa phương có lợi cho khách. Một khi đã chiếm xong thuộc địa, cường quốc đế quốc áp đặt giá cả nguyên liệu có lợi cho các nhà kinh doanh của họ và dựng những chướng ngại nhằm ngăn cản các nhà thương mại của các nước cạnh tranh làm tăng giá lên. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên khi thế giới công nghiệp có thể có được nguyên liệu hoặc các nguồn năng lượng với giá thị trường rất thấp.

    Ngoài ra, giá cả thường được áp đặt có lợi cho người mua theo cái có thể được gọi là "Luật của giá đầu tiên". Các nước Làn sóng thứ hai cần những loại nguyên liệu có thể chẳng có giá trị gì đối với các nước Làn sóng thứ nhất có chúng. Người nông dân châu Phi chẳng có nhu cầu gì về crôm. Các lãnh chúa Ả rập chẳng dùng gì về vàng đen nằm dưới đất sa mạc của họ.
    Nơi nào mà một loại hàng hóa chưa hề được trao đổi buôn bán bao giờ thì giá đặt ra trong lần giao dịch đầu tiên rất quan trọng. Giá này thường được đặt theo sức mạnh quân sự hoặc chính trị chứ không theo các nhân tố kinh tế như giá thành, lợi nhuận hoặc cạnh tranh. Và giá đầu tiên này một khi đã được thiết lập ở mức thấp sẽ kéo những giá khác thấp theo. Ngay sau khi nguyên liệu này được chở về các quốc gia công nghiệp và được chế biến thành sản phẩm, giá đầu tiên thấp được hạn định tại chỗ. Do đó, dù có biện bạch thế nào chăng nữa, có những lời ba hoa giọng đế quốc về những đặc tính tốt đẹp của thương mại và công ty tự do, thì cũng không che giấu được sự thật là các nước Làn sóng thứ hai được lợi rất nhiều nhờ cái gọi là "sự cạnh tranh không hoàn toàn".

    ĐỒN ĐIỀN MACGARIN
    Để luồng chảy khoáng sản và nguyên liệu từ thế giới Làn sóng thứ nhất vào thế giới Làn sóng thứ hai dễ dàng hơn, các cường quốc công nghiệp đã cố gắng phát triển và hợp nhất thị trường thế giới. Khi thương mại vượt qua các biên giới quốc gia, mỗi thị trường quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường lục địa lớn hơn và là một bộ phận của hệ thống hối đoái thống nhất được dự kiến bởi các nhóm ưu tú hợp nhất đang điều hành nền văn minh Làn sóng thứ hai. Một hệ thống tiền tệ độc nhất sẽ được sử dụng khắp thế giới.

    Thế giới Làn sóng thứ hai xem phần còn lại của thế giới như là nguồn bơm dầu xăng, vườn hoa, mỏ, đá quí và thị trường lao động rẻ, họ đã đưa những thay đổi sâu đậm vào cuộc sống xã hội của dân cư thế giới không công nghiệp. Các nền văn hóa đã tồn tại hơn hàng nghìn năm theo cách tự cung tự cấp, sản xuất nguồn thực phẩm cho riêng họ, đã bị thu hút vào hệ thống thương mại thế giới dù muốn hay không và bị bắt buộc phải buôn bán hoặc bị tiêu diệt. Lập tức mức sống ở Bôlivia hoặc ở Malaiya bị gắn với nhu cầu kinh tế công nghiệp của đất nước cách xa mình nửa vòng trái đất chỉ vì những mỏ thiếc và đồn điền cao su ở đó là nguồn cung cấp thực ăn cho cái mồm công nghiệp phàm ăn.

    Thực phẩm dùng trong nhà máy lá macgarin là một ví dụ điển hình. Macgarin đầu tiên được chế tạo ở châu Âu bằng những vật liệu tại địa phương. Tuy nhiên do việc sử dụng macgarin quá nhiều nên những vật liệu đó cũng không đủ. Năm 1907, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng macgarin có thể được chế tạo từ dừa và dầu hạt cọ. Kết quả của sự phát kiện này là sự biến động cách sống ở Tây châu Phi. Việc sản xuất qui mô lớn dầu cọ để chế tạo macgarin dùng làm thực phẩm cho các công dân công nghiệp châu Âu và Mỹ đã phá hủy hệ thống xã hội phức tạp của những người châu Phi không công nghiệp. Những đồn điền khổng lồ được thiết lập ở Côngô, Nigêria, Camơrun, và ở bờ biển Ngà. Phương Tây có được macgarin. Và người châu Phi trở thành bán nô lệ trên các đồn điền rộng lớn. Cao su là một ví dụ khác.

    Một khi bị tách ra khỏi sự tự cung tự cấp và bị buộc phải sản xuất cho tiền bạc và trao đổi, một khi được khuyến khích hoặc bị ép phải tổ chức lại cấu trúc xã hội chung quanh việc khai thác mỏ hoặc trồng trọt ở các đồn điền, dân cư Làn sóng thứ nhất bị đặt vào sự phụ thuộc kinh tế của một thị trường mà họ không có tí ảnh hưởng nào. Những kẻ thống trị họ bị mua chuộc, văn hóa của họ bị làm trò cười, ngôn ngữ thì bị tàn lụi. Hơn thế nữa, các đế quốc thực dân tạo ra một cách sâu đậm mặc cảm tự ti ở nhân dân các nước thuộc địa, tâm lý này cho đến nay vẫn là một trở ngại cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Chủ nghĩa đế quốc lớn đã thưởng công rất hậu hĩ cho các nước trong thế giới Làn sóng thứ hai. Chính nhờ sự khai thác các thuộc địa và nền thương mại phát triển đã làm cho các gia đình châu Âu giàu có đến mức chưa từng thấy. Có gốc rễ trong chính cấu trúc của nền kinh tế Làn sóng thứ hai và được nuôi dưỡng bằng nhu cầu tìm tài nguyên, chủ nghĩa đế quốc đi khắp cả hành tinh. Năm 1492 khi Colombo đặt chân lên châu Mỹ, người châu Âu chỉ kiểm soát 9% trái đất. Năm 1801 họ cai trị 1/3 trái đất. Năm 1880 họ cai trị 2/3 trái đất. Và năm 1935 người châu Âu kiểm soát về chính trị 85% mặt đất và 70% dân số thế giới. Giống như xã hội Làn sóng thứ hai, thế giới bị chia thành người hợp nhất và người bị hợp nhất.

    HỢP NHẤT THEO KIỂU MỸ
    Không phải tất cả những quốc gia hợp nhất đều bằng nhau. Các quốc gia Làn sóng thứ hai tiến hành một cuộc chiến đấu ngày càng đẫm máu để giành quyền kiểm soát hệ thống kinh tế thế giới. Sự thống trị của Anh và Pháp bị sức mạnh công nghệ Đức thách đố trong Thế chiến I, sự tàn phá của chiến tranh, chu kỳ lạm phát và suy thoái theo sau đó, cuộc cách mạng Nga, tất cả đều gây chấn động cho thị trường thế giới công nghiệp.

    Những biến động này đã làm chậm lại tốc độ phát triển thương mại thế giới, và khối lượng hàng hóa buôn bán bị giảm xuống khắp thế giới mặc dù có thêm nhiều nước gia nhập vào hệ thống thương mại. Thế chiến II làm chậm thêm sự phát triển thị trường thế giới hợp nhất. Cuối Thế chiến II, Tây Âu nằm trong đống tro tàn. Nước Đức bị biến thành đất mặt trăng. Liên Xô bị thiệt hại khủng khiếp về người và của. Nền công nghiệp Nhật bị tan nát. Trong các cường quốc công nghiệp thì chỉ còn Mỹ không bị thiệt hại về kinh tế. Trong các năm 1946-1950, nền kinh tế thế giới bị rối loạn đến mức ngoại thương xuống đáy thấp nhất kể từ năm 1913.

    Hơn thế nữa, chính sự suy yếu của các cường quốc châu Âu bị chiến tranh tàn phá đã khuyến khích các thuộc địa đòi độc lập chính trị. Gandi, Hồ Chí Minh, Jomo Kenyatta và những người chống thực dân khác đã tiến hành chiến dịch để hất cẳng thực dân.

    Nhưng trước khi chiến tranh chấm dứt, dường như toàn bộ nền kinh tế công nghiệp thế giới phải được tổ chức lại, trên một cơ sở mới sau chiến tranh. Hai quốc gia lãnh trách nhiệm tổ chức lại và hợp nhất lại hệ thống Làn sóng thứ hai là Mỹ và Liên Xô.
    Cho đến lúc đấy, nước Mỹ chỉ giữ một vai trò giới hạn trong chiến dịch đế quốc lớn. Trong việc mở rộng biên giới, nó đã hủy diệt dân da đỏ và đưa họ vào các vùng dành riêng cho người da đỏ. Ở Mêhicô, Cuba, Pueto Rico và Philipin, người Mỹ đã bắt chước các chiến thuật đế quốc của người Anh, Pháp hoặc người Đức. Ở Nam Mỹ cho đến đầu thế kỷ này, chính sách ngoại giao đôla của Mỹ đã giúp cho Công ty Hoa quả Liên hợp (United Fruit) và những công ty khác đảm bảo được giá thấp về đường, chuối, cà phê, đồng và hàng hóa khác. Tuy nhiên, so với châu Âu, nước Mỹ còn là non trẻ trong cuộc thập tự chinh đế quốc lớn.

    Ngược lại, sau Thế chiến II, nước Mỹ trở thành quốc gia chủ nợ chính trên thế giới. Nó có nền công nghệ tiên tiến nhất, cấu trúc chính trị ổn định nhất, và một cơ hội quí giá tiến vào các chỗ trống do các đấu thủ kiệt lực buộc phải rút bỏ khỏi các thuộc địa.

    Ngay từ đầu năm 1941, các nhà chiến lược tài chính Mỹ đã bắt đầu lập kế hoạch cho sự hợp nhất hậu chiến của nền kinh tế thế giới theo đường lối có lợi cho Mỹ. Tại hội nghị Bờrétton Vút (Bretton Woods) năm 1944 dưới sự chỉ đạo của Mỹ, 44 nước đồng ý thành lập lại cấu trúc hợp nhất then chốt - Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Ngân hàng thế giới. IMF bắt buộc các quốc gia thành viên ổn định tiền tệ của họ theo đôla Mỹ hoặc theo vàng (năm 1948, Mỹ sở hữu 72% toàn bộ số vàng dự trữ của thế giới). Như thế IMF đã ấn định các mối quan hệ cơ bản của các loại tiền tệ chính trên thế giới.

    Trong khi đó, Ngân hàng thế giới đầu tiên được thành lập để cung cấp quỹ tái xây dựng hậu chiến cho các nước châu Âu, và dần dần bắt đầu cũng cho các nước không công nghiệp vay vốn. Những món tiền cho vay này có mục dịch giúp xây dựng đường sá, hải cảng và các loại "cấu trúc hạ tầng" khác nhằm làm dễ dàng việc di chuyển nguyên liệu và xuất khẩu nông nghiệp đến các nước Làn sóng thứ hai.
    Ngay sau đó một tổ chức thứ ba được đưa vào hệ thống : Hiệp định chung về thuế quan và buôn bán (GATT). Hiệp định này do Mỹ đề xướng, nhằm mục đích tự do hóa thương mại, đã gây khó khăn cho các nước nghèo, trình độ công nghiệp thấp không thể bảo vệ các nền công nghiệp non nớt bé nhỏ của mình.

    Ba cơ quan này gắn chặt với nhau bằng điều luật cấm Ngân hàng thế giới cho bất kỳ nước nào không chịu gia nhập vào IMF hoặc không chịu tuân theo GATT vay tiền. Hệ thống này gây khó khăn cho con nợ của Mỹ muốn giảm nghĩa vụ của họ bằng sự hoạt động tiền tệ và hải quan. Nó tăng cường sự cạnh tranh của công nghiệp Mỹ trong các thị trường thế giới. Và nó cho các cường quốc công nghiệp, đặc biệt là Mỹ, một ảnh hưởng mạnh về việc lập kế hoạch kinh tế trong nhiều nước Làn sóng thứ nhất, ngay cả sau khi họ đã giành được độc lập. Ba cơ quan này hình thành một cấu trúc hợp nhất cho thương mại thế giới. Và từ năm 1944 đến đầu năm 1970, Mỹ cơ bản thống trị hệ thống này. Trong số các quốc gia, nó hợp nhất những nước hợp nhất.

    SỰ HỢP NHẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
    Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Mỹ trong thế giới Làn sóng thứ hai ngày càng bị thách thức do sự hùng mạnh của Liên Xô. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đóng vai như là đồng minh chống đế quốc của nhân dân thuộc địa trên thế giới. Năm 1916, một năm trước khi cầm quyền, Lênin đã viết một bài tấn công dữ dội các quốc gia tư bản vì các chính sách thực dân của họ. Cuốn sách Chủ nghĩa đế quốc của ông đã trở thành một trong những cuốn sách có ảnh hưởng nhất của thế kỷ và vẫn còn định hình tư tưởng của hàng trăm triệu người trên thế giới.

    Nhưng Lênin thấy chủ nghĩa đế quốc như là một hiện tượng đơn thuần tư bản chủ nghĩa. Ông nhấn mạnh, các quốc gia tư bản đàn áp và thực dân hóa các quốc gia khác không vì sự chọn lựa mà vì sự cần thiết. Mác đã đưa ra một quy luật cơ hồ không thay đổi được, cho rằng lợi nhuận trong các nền kinh tế tư bản cho thấy một khuynh hướng chung không cưỡng lại được là sẽ suy thoái theo thời gian. Lênin cho rằng vì điều này nên các nước tư bản ở giai đoạn cuối cùng sẽ bị bắt buộc tìm kiếm "siêu lợi nhuận" ở nước ngoài để cân bằng lợi nhuận mất đi trong nước. Ông lý luận rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải phóng nhân dân thuộc địa khỏi áp bức và khốn khổ, vì chủ nghĩa xã hội không có động lực gắn liền với sự bóc lột kinh tế.

    Những gì Lênin đã xem thường và áp đặt cho các quốc gia công nghiệp tư bản thì đến bây giờ cũng đã hoạt động trong các nước công nghiệp xã hội chủ nghĩa. Họ cũng đã là một bộ phận của hệ thống tiền tệ thế giới. Họ cũng đã đặt nền kinh tế của họ trên sự phân tách sản xuất ra khỏi tiêu thụ. Họ cũng đã cần một thị trường để nối người sản xuất với người tiêu thụ. Họ cũng đã cần nguyên liệu ở nước ngoài để nuôi guồng máy công nghiệp của họ. Và vì những lý do này, họ cũng cần một hệ thống kinh tế thế giới hợp nhất mà thông qua đó để có được những thứ cần dùng và bán sản phẩm của họ ra nước ngoài.
    Chính vào lúc tấn công chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã nói về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không phải chỉ đưa các quốc gia lại gần nhau hơn mà còn hợp nhất họ. Năm 1920, Lênin đã xem việc kéo các quốc gia lại với nhau như là quá trình khách quan mà cuối cùng sẽ đưa đến việc tạo ra một nền kinh tế thế giới độc nhất, do một kế hoạch chung điều hòa. Có lẽ điều này là viễn cảnh công nghiệp tối hậu.

    Các nước công nghiệp xã hội chủ nghĩa cũng cần những tài nguyên giống như các nước tư bản. Họ cũng cần bông, cà phê, niken, đường, lúa mì, và những hàng hóa khác để nuôi các nhà máy đang tăng nhanh và dân cư trong các thành phố của họ. Liên Xô đã và đang có những nguồn dự trữ lớn về tài nguyên thiên nhiên. Nhưng Mỹ cũng có như thế, và điều đó không ngăn cản cả hai nước tìm cách mua từ các nước khác với giá rẻ nhất có thể.

    Ngay từ đầu, Liên Xô là một bộ phận của hệ thống tiền tệ thế giới. Bất kỳ quốc gia nào gia nhập hệ thống này đều bị cột chặt ngay vào những định nghĩa truyền thống về hiệu suất và sức sản xuất. Nó bị buộc phải chấp nhận những khái niệm kinh tế truyền thống, những quy định, phương pháp thanh toán và đơn vị tiền tệ.
    Các nhà quản lý về kinh tế xã hội chủ nghĩa, cũng giống như đồng nghiệp tư bản của họ, đã tính giá thành sản xuất nguyên liệu so với giá thành mua nguyên liệu. Họ đối diện trực tiếp với quyết định "làm hoặc mua" mà các công ty tư bản phải đối phó hàng ngày. Và hầu như ngay lập tức rõ ràng là mua một số nguyên liệu trên thị trường thế giới sẽ rẻ hơn là sản xuất trong nước.

    Một khi đã có quyết định, các nhân viên mua hàng Liên Xô tỏa ra khắp thế giới và mua với giá đã được những người buôn bán đế quốc định ra từ trước. Liên Xô mua cao su ở Mã Lai với giá do các nhà buôn Anh định ra từ trước. Liên Xô trả cho Guinea 6 đôla 1 tấn bôxit trong khi Mỹ trả 23 đôla. Iran và Apganistan được Liên Xô trả giá thấp cho khí đốt. Như thế Liên Xô, giống như đối thủ tư bản của nó, đã được lợi với giá không lợi cho các thuộc địa. Nếu làm khác đi sẽ làm chậm lại qui trình công nghiệp hóa của nó.

    Liên Xô cũng áp dụng những chính sách tạo sự cân bằng về chiến lược. Đối đầu với sức mạnh quân sự phát xít Đức, Liên Xô đã biến các nước Bantích thành thuộc địa và gây chiến ở Phần Lan. Sau Thế chiến II, với các đội quân và sự đe dọa quân sự, họ giúp thành lập hoặc duy trì các chế độ "đồng minh" ở Đông Âu.
    Trong khi người Mỹ thành lập cấu trúc IMF-GATT - Ngân hàng thế giới, người Liên Xô hướng theo mơ ước của Lênin về một hệ thống kinh tế thế giới hợp nhất bằng việc thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (COMECON) và buộc các nước Đông Âu gia nhập. Moscow buộc các nước COMECON phải buôn bán với nhau và với Liên Xô, phải trình các kế hoạch phát triển kinh tế của họ để Moscow duyệt. Bằng việc nhấn mạnh chuyên môn hóa giống như các cường quốc đế quốc đã làm đối với các nền kinh tế châu Phi, châu Á và châu Mỹ La tinh, Moscow đã chỉ định các nhiệm vụ cho mỗi nền kinh tế Đông Âu. Chỉ Rumani đã công khai và kiên trì chống lại.

    Dù Moscow cố gắng biến Rumani thành "trạm bơm xăng dầu và khu vườn" của Liên Xô, song Rumani vẫn thực hiện cái gọi là phát triển đa phương. Họ đã chống lại "sự hợp nhất xã hội chủ nghĩa" mặc cho áp lực của Liên Xô. Nói tóm lại, vào chính lúc Mỹ lãnh trách nhiệm lãnh đạo các nước công nghiệp tư bản và xây dựng cơ chế riêng của họ để hợp nhất hệ thống kinh tế thế giới sau Thế chiến II, thì Liên Xô cũng đã xây dựng tổ chức tương ứng của hệ thống này trong phần thế giới họ thống trị.
     
  10. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 9

    THỰC TẾ CÔNG NGHIỆP
    Va chạm với nền văn minh Làn sóng thứ nhất, Làn sóng thứ hai đã tạo ra không phải chỉ một thực tế mới cho hàng triệu người mà còn là một cách suy nghĩ mới về thực tế. Va chạm với những giá trị, những khái niệm, những huyền thoại và đạo đức của xã hội nông nghiệp, Làn sóng thứ hai đã định nghĩa lại về Thượng Đế, về công lý, về tình yêu, về quyền lực, về vẻ đẹp. Nó đã khuấy động những tư tưởng mới, những thái độ mới v.v... Nó phá vỡ và thay thế những nhận thức cũ về thời gian, không gian, lý do và nguyên nhân. Một quan điểm thế giới chặt chẽ không phải chỉ giải thích mà còn biện hộ cho thực tế Làn sóng thứ hai. Quan điểm thế giới này của xã hội công nghiệp chưa có tên. Có thể gọi là "thực tế công nghiệp".

    Thực tế công nghiệp là một bộ các tư tưởng và nhận thức mà trẻ em của hệ thống công nghiệp qui mô lớn được dạy để hiểu thế giới của chúng. Nó gồm một số tiền đề được sử dụng bởi nền văn minh Làn sóng thứ hai, bởi các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo kinh doanh, các nhà chính khách, các nhà triết học và các nhà tuyên truyền.

    Dường như có hai luồng ý thức hệ đang xung đột. Đến giữa thế kỷ XIV, mỗi quốc gia đang công nghiệp hóa đã xác định rõ ràng cánh tả và cánh hữu, chủ nghĩa cá nhân và xí nghiệp tự do với chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa xã hội. Cuộc chiến đấu về ý thức hệ này, đầu tiên giới hạn trong các quốc gia đang công nghiệp hóa, sau đó lan tràn khắp cả thế giới. Với cuộc cách mạng Nga năm 1917, và với bộ máy tuyên truyền khắp thế giới, cuộc đấu tranh ý thức hệ càng ngày càng mãnh liệt hơn. Vào cuối Thế chiến II, Mỹ và Liên Xô đã cố gắng hợp nhất thị trường thế giới theo ý đồ riêng của họ, mỗi bên đã tiêu những khoản tiền lớn để truyền bá học thuyết của họ hướng về dân cư không công nghiệp của thế giới. Một bên là các chế độ chuyên chế, bên kia là các chế độ được gọi là dân chủ tự do. Súng đạn và bom sẵn sàng tiếp tục công việc khi các cuộc tranh luận lôgíc chấm dứt. Từ sau cuộc xung đột lớn giữa Thiên chúa giáo và Tin lành trong thời kỳ Phục Hưng, ít có học thuyết nào được vạch ra rõ ràng giữa hai phe thần học như thế.

    Trong sự cuồng nhiệt của cuộc chiến tranh ý thức hệ này, điều ít được chú ý là trong khi mỗi bên khuếch trương một "ý thức hệ" khác nhau, cả hai đều tuyên truyền cùng một "siêu ý thức hệ". Những kết luận của họ, chương trình kinh tế của họ và giáo điều chính trị của họ - cơ bản khác biệt, nhưng nhiều nhận thức khởi điểm là giống nhau. Giống như Tin lành và Công giáo giải thích kinh phúc âm khác nhau, thế nhưng cả hai đều giảng đạo chúa cứu thế, mácxít và chống mácxít cũng thế, tư bản và chống tư bản cũng thế, người Mỹ và người Nga tiến về châu Phi, châu Á, và châu Mỹ La tinh - tức là các vùng không công nghiệp của thế giới - cả hai đều mang cùng một bộ tiền đề cơ bản. Cả hai đều truyền bá tính ưu việt của hệ thống công nghiệp qui mô lớn cho tất cả những nền văn minh khác. Cả hai đều là các môn đồ nồng nhiệt của thực tế công nghiệp.

    NGUYÊN TẮC TIẾN BỘ
    Quan điểm thế giới họ phổ biến dựa trên ba đức tin sâu đậm về "thực tế công nghiệp", ba luồng tư tưởng đã gắn các quốc gia Làn sóng thứ hai lại với nhau và làm chúng khác biệt với những nước còn lại của thế giới.
    Đức tin đầu tiên có liên quan đến thiên nhiên. Trong khi các nhà xã hội chủ nghĩa và tư bản có thể không đồng ý với nhau về nhiều việc khác, song cả hai có cùng cách nhìn về thiên nhiên. Vì đối với cả hai, thiên nhiên là một đối tượng đang chờ được khai thác.

    Các nhà công nghiệp tư bản Làn sóng thứ hai đục khoét tài nguyên thiên nhiên với một qui mô lớn, bơm một khối lượng khổng lồ thuốc độc vào không khí, phá rừng cả một vùng vì lợi nhuận, mà không nghĩ gì về hiệu ứng phụ hoặc hậu quả lâu dài. Tư tưởng cho rằng thiên nhiên cần được khai thác đã hợp lý hóa những hành động thiển cận và ích kỷ của họ. Không phải chỉ riêng các nhà công nghiệp tư bản hành động như vậy. Mặc dù cho rằng lợi nhuận là nguồn gốc của tất cả tội ác, song các nhà công nghiệp hóa mácxít cũng vẫn hành động một cách tương tự ở bất kỳ nơi nào họ cầm quyền. Thực vậy, họ đề xướng xung đột với thiên nhiên ngay trong kinh thánh của họ. Các nhà mácxít vẽ cảnh người nguyên thủy không phải sống chung hài hòa với thiên nhiên mà là tiến hành chiến đấu sống còn chống lại thiên nhiên. Với xã hội giai cấp, cuộc chiến đấu của "con người chống lại thiên nhiên" bị biến đổi thành cuộc chiến đấu của "con người chống lại con người". Mục tiêu của xã hội không giai cấp của cộng sản sẽ giúp con người trở lại cuộc chiến đấu của "con người chống lại thiên nhiên".

    Cả hai phía ý thức hệ, có thể thấy cùng hình ảnh nhân loại đối đầu với thiên nhiên và đang chế ngự nó. Hình ảnh này là thành phần then chốt của thực tế công nghiệp, siêu ý thức hệ mà cả người mácxít và chống mácxít đều có cùng nhận thức.
    Đức tin thứ hai có quan hệ qua lại với đức tin trên đã đưa lý luận một bước xa hơn. Nhân loại không phải chỉ gắn với thiên nhiên, họ còn là đỉnh cao nhất của một quá trình tiến hóa dài. Những lý thuyết tiến hóa trước đấy đã có, nhưng chính Đácuyn (Darwin) vào giữa thế kỷ XIX đã cung cấp nền tảng khoa học cho quan điểm này. Ông ta nói về sự chọn lọc tự nhiên của thiên nhiên loại bỏ những dạng sống yếu và không có khả năng. Những loài tồn tại là những loài thích ứng nhất.

    Đácuyn chủ yếu chỉ quan tâm đến tiến hóa sinh học, nhưng tư tưởng của ông ta có ngụ ý chính trị và xã hội rõ ràng nên những người khác nhanh chóng nhận thấy điều đó. Những người theo học thuyết Đácuyn xã hội lý luận rằng nguyên tắc chọn lọc tự nhiên cũng áp dụng cho xã hội, và như thế những người giàu nhất và mạnh nhất là những người phù hợp nhất và xứng đáng nhất. Từ đó cũng có thể suy ra là cả xã hội cũng tiến hóa theo quy luật chọn lọc. Theo lý luận này, hệ thống công nghiệp qui mô lớn là giai đoạn tiến hóa cao hơn các nền văn hóa không công nghiệp bao quanh. Nền văn minh Làn sóng thứ hai là cao hơn tất cả.

    Theo học thuyết Đácuyn thì chủ nghĩa tư bản được xã hội hợp lý hóa và tính kiêu ngạo văn hóa này cũng hợp lý hóa chủ nghĩa đế quốc. Trật tự công nghiệp phát triển cần sự an toàn cho nguồn tài nguyên rẻ, và nó tạo ra một sự biện hộ đạo đức về việc đã lấy tài nguyên với giá rẻ mạt. Tư tưởng về tiến hóa xã hội đã cung cấp luận chứng và lý do đạo đức cho việc đối xử với các dân cư không công nghiệp như là thấp kém, và do đó họ không thích hợp để sống sót.

    Trong khi Mác phê phán kịch liệt chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, ông đã đồng tình với quan điểm rằng hệ thống công nghiệp qui mô lớn là dạng tiên tiến nhất của xã hội, đó là giai đoạn mà tất cả các xã hội khác lần lượt phải tiến đến.
    Đức tin thứ ba về thực tế công nghiệp đã liên kết thiên nhiên với tiến hóa lại với nhau, đó là nguyên tắc tiến bộ, tức là tư tưởng cho rằng lịch sử phải đi về hướng một cuộc sống tốt hơn cho nhân loại. Lainis, Tơgot, Côngđocxê, Kăng, Létsing, Giôn Stuác Mui, Hêghen, Mác, Đácuyn (Leibniz, Turgot, Condorcet, Kant, Lessing, John Stuart Mill, Hegel, Marx, Darwin) và vô số những nhà tư tưởng khác đã tranh luận về vấn đề tiến bộ thật sự có tránh được không hoặc tiến bộ cần bàn tay giúp đỡ của nhân loại, về những gì sẽ tạo thành một cuộc sống tốt hơn, về tiến bộ sẽ hoặc có thể tiếp tục đến vô tận hay không. Thế nhưng tất cả đều nhất trí rằng xã hội sẽ ngày càng tiến bộ.

    Các nhà vô thần và các nhà tín ngưỡng, sinh viên và giáo sư, nhà chính trị và nhà khoa học thuyết giáo niềm tin mới. Nhà kinh doanh và ủy viên nhân dân báo trước rằng mỗi nhà máy mới, mỗi sản phẩm mới, mỗi căn nhà mới, mỗi đường cao tốc mới, hoặc mỗi con đê mới là bằng chứng của sự tiến bộ không gì cản được đi từ xấu đến tốt hoặc từ tốt đến tốt hơn. Nhà thơ, nhà soạn kịch và nhà họa sĩ cho tiến bộ là điều tất nhiên. Sự tiến bộ biện minh cho việc làm thiên nhiên xuống cấp và việc chinh phục các nền văn minh "ít tiến bộ hơn". Đối với Mác, những mục tiêu tư hữu của tiến bộ chỉ tạo ra chủ nghĩa tư bản và mầm mống sự hủy diệt của nó. Nhưng biến cố này tự nó là một phần của lịch sử lâu dài đưa nhân loại tiến về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, và một chủ nghĩa khác còn tốt hơn.

    Do đó thông qua nền văn minh Làn sóng thứ hai, ba khái niệm then chốt - cuộc chiến tranh với thiên nhiên, sự quan trọng về tiến hóa, và nguyên tắc tiến bộ đã cung cấp cơ sở cho những người của hệ thống công nghiệp qui mô lớn giải thích và biện hộ nó trước thế giới.

    PHẦN MỀM CỦA THỜI GIAN
    Ở một chương trước đã nói về sự phát triển của xã hội công nghiệp phụ thuộc vào sự đồng bộ của hoạt động con người với nhịp điệu máy móc. Đồng bộ hóa là một trong những nguyên tắc chỉ đạo của nền văn minh Làn sóng thứ hai. Tuy nhiên để dẫn đến sự nhận thức thời gian nhằm thực hiện sự đồng bộ, những nhận thức cơ bản của con người về thời gian phải được biến đổi. Phải cần đến khái niệm một "phần mềm thời gian".

    Dân cư nông nghiệp cần biết khi nào gieo cấy và khi nào gặt hái, đã phát triển phép đo thời gian dài rất chính xác. Nhưng bởi vì họ không cần sự đồng bộ chặt chẽ về lao động con người nên nông dân ít phát triển những đơn vị đo chính xác về khoảng thời gian ngắn. Tương tự như thế, bởi vì ít có sự trao đổi giữa các cộng đồng hoặc làng xã với nhau, và vì công việc không yêu cầu chuyện đó, nên đơn vị thời gian thay đổi từ địa phương này sang địa phương khác, từ mùa này sang mùa khác.
    Ngược lại, các xã hội công nghiệp cần đơn vị thời gian cực kỳ chính xác như giờ, phút, giây. Và những đơn vị này phải được tiêu chuẩn hóa, trao đổi với nhau được giữa các mùa và các cộng đồng xã hội. Ngày nay toàn bộ thế giới được chia thành vùng múi giờ. Hơn thế nữa, nền văn minh Làn sóng thứ hai đã làm thời gian thành tuyến tính. Việc nhận thức thời gian là tuyến tính ăn sâu vào tư tưởng của chúng ta đến mức không thể hiểu khác được. Thế nhưng nhiều xã hội tiền công nghiệp, và một số xã hội Làn sóng thứ nhất ngày nay, xem thời gian như là vòng tròn chứ không phải là đường thẳng.

    Khi Làn sóng thứ hai chiếm lĩnh thế giới thì thời gian tuyến tính chiến thắng. Thời gian tuyến tính trở thành quan điểm ưu thế trong mỗi xã hội công nghiệp, dù Đông hay Tây. Thời gian được xem như là một con đường cao tốc trải ra từ quá khứ xa xôi đến ngày nay và đi về tương lai, và sự nhận thức về thời gian này, mặc dù xa lạ đối với hàng tỉ người sống vào thời đại trước nền văn minh công nghiệp, đã trở thành cơ sở cho việc lập kế hoạch kinh tế, khoa học, và chính trị.

    KẾT HỢP KHÔNG GIAN THÀNH ĐƠN VỊ
    Những người tiền sử sống cuộc đời du mục nên họ cần khoảng không gian rộng rãi. Ngược lại nền văn minh Làn sóng thứ nhất định cư con người tại một nơi, nên nông nghiệp đã tạo ra một nền văn minh không gian giới hạn. Cơn bão công nghiệp lại tạo ra một nền văn hóa không gian rộng rãi, nhưng lần này trên qui mô cả hành tinh. Hàng hóa, con người và tư tưởng được di chuyển hàng nghìn dặm và một số lớn dân cư phải chuyển đi nơi khác tìm việc làm. Sản xuất thay vì phân tán trên các cánh đồng thì bây giờ tập trung ở thành phố.

    Sự biến đổi đó đòi hỏi một sự phối hợp phức tạp giữa thành phố và nông thôn. Như thế thực phẩm, năng lượng, con người và nguyên liệu chảy vào thành phố, trong khi hàng hóa, thời trang, tư tưởng và những quyết định tài chính từ thành phố chảy ra. Cả hai luồng chảy được hợp nhất và phối hợp cẩn thận theo thời gian và không gian. Do sự phân chia lao động tỉ mỉ nên nền văn minh Làn sóng thứ hai đòi hỏi nhiều loại không gian đặc trưng hơn.

    Các kiến trúc sư phải tạo ra văn phòng, nhà ngân hàng, đồn cảnh sát, nhà máy, nhà ga, cửa hàng bách hóa, nhà tù, rạp hát... Những loại không gian khác nhau này phải được phối hợp với nhau theo chức năng hết sức lôgíc. Sự phối hợp các khoảng không gian đặc trưng, cần thiết để đưa đúng người đến đúng chỗ vào đúng thời điểm, là sự tương đương không gian của sự đồng bộ hóa thời gian. Thực vậy, đó là sự đồng bộ hóa không gian. Cả thời gian và không gian đều phải được cấu trúc cẩn thận nếu xã hội công nghiệp muốn hoạt động.

    Từ đó, sự đo lường không gian cũng được chính xác hóa như đo lường thời gian. Bản đồ đủ loại, đủ kiểu phải chính xác hơn, chi tiết hơn, và được tiêu chuẩn hóa. Nhận thức của chúng ta và kinh nghiệm của chúng ta về không gian cũng đi qua qui trình tuyến tính hóa song hành với sự tuyến tính hóa thời gian. Trong tất cả các xã hội công nghiệp, tư bản hoặc xã hội chủ nghĩa, Đông hoặc Tây, sự chuyên môn hóa về khoảng không gian kiến trúc, bản đồ chi tiết, các đơn vị đo lường chính xác và trên tất cả là con đường thẳng, đã trở thành một hằng số văn hóa, một hằng số rất cơ bản cho thực tế công nghiệp mới.

    CHUYỆN VỚ VẨN CỦA THỰC TẾ
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai không phải chỉ xây dựng những hình ảnh mới về thời gian và không gian, sử dụng chúng để định hình cách sống hàng ngày, nó còn xây dựng câu trả lời riêng cho câu hỏi muôn thuở : vũ trụ từ đâu ra ? Mỗi nền văn hóa đều phát minh những huyền thoại riêng để cố gắng trả lời câu hỏi đó. Đối với một số nền văn hóa, vũ trụ được tưởng tượng như là một thể thống nhất đang cuộn xoáy dữ dội. Đối với một số nền văn hóa khác, vũ trụ là sự phân chia thành phân tử. Chỉ cho đến khi có nền văn minh Làn sóng thứ hai thì thuyết nguyên tử trở thành tư tưởng thống trị các dòng tư tưởng giao nhau để cách mạng hóa khái niệm của chúng ta về vật chất. Từ đấy, thuyết nguyên tử triết học cùng tiến bước với thuyết nguyên tử vật lý. Mỗi nền văn minh mới đều lấy tư tưởng của quá khứ và định hình lại trong cái cách mà nó giúp hiểu được mối quan hệ với thế giới. Đối với xã hội công nghiệp cũng thế, một xã hội đang tiến về sự sản xuất hàng loạt của các thành phẩm máy móc được lắp ráp với nhau bằng nhiều thành phần riêng biệt, nên tư tưởng một vũ trụ tập hợp gồm nhiều thành phần riêng biệt là cần thiết cho nền văn minh Làn sóng thứ hai.

    Đã có những lý do chính trị và xã hội cho sự chấp nhận về mô hình nguyên tử của thực tế. Chủ nghĩa tư bản công nghiệp cần cơ sở hợp lý cho chủ nghĩa cá nhân. Việc xuất hiện của giai cấp thương mại đòi hỏi sự tự do buôn bán và phát triển thị trường của họ, đã làm xuất hiện một khái niệm mới về cá nhân - con người như là nguyên tử, không giảm được, không phá vỡ được, phân tử cơ bản của xã hội.

    Lý thuyết nguyên tử cũng xuất phát trong chính trị với lá phiếu bầu cử trở thành phân tử cơ bản. Nó lại xuất hiện trong khái niệm về quan hệ quốc tế gồm các đơn vị độc lập, không thâm nhập được, không phụ thuộc được gọi là quốc gia. Thuyết nguyên tử đi qua tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống.
     
  11. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 10

    ĐOẠN ĐUÔI : CƠN LŨ ĐỘT NGỘT
    Một bí mật vẫn giữ nguyên. Hệ thống công nghiệp qui mô lớn là một cơn lũ đột ngột trong lịch sử, ba thế kỷ ngắn ngủi trong một khoảng thời gian vô tận. Cái gì đã gây ra cuộc cách mạng công nghiệp ? Cái gì đã đưa Làn sóng thứ hai lan tràn khắp trái đất ?
    Việc tìm lý do cho cuộc cách mạng công nghiệp không thực hiện được. Vì không có lý do nào là độc nhất hoặc có ưu thế cả. Tự công nghệ không phải là lực kéo trong lịch sử. Cũng không phải là tư tưởng hoặc giá trị. Mà cũng chẳng phải là đấu tranh giai cấp. Và cũng chẳng phải là những thay đổi sinh thái, khuynh hướng nhân khẩu học, hoặc phát minh thông tin. Tự nền kinh tế cũng không giải thích được biến cố lịch sử này hoặc biến cố khác. Không có "biến cố độc lập" để các biến số khác phụ thuộc vào. Chỉ có những biến số có liên quan qua lại với độ phức tạp bao la.
    Đối diện với những biến số đó và việc không thể hiểu được tất cả những hành động qua lại của chúng, cách tốt nhất chúng ta có thể làm là phát hiện những cái có liên quan đến mục đích của chúng ta và nhận biết những lệch lạc nằm trong sự chọn lựa đó. Trong tinh thần này, rõ ràng có nhiều dòng chảy tạo thành nền văn minh Làn sóng thứ hai, song một số có hậu quả rõ ràng hơn như sự phân chia giữa người sản xuất và người tiêu thụ, và sự phát triển kỳ lạ của thị trường dù là tư bản hay xã hội chủ nghĩa.
    Sự phân chia giữa người sản xuất và người tiêu thụ theo thời gian, theo không gian, theo khoảng cách xã hội và tâm lý càng lớn thì thị trường với độ phức tạp của nó, với những giá trị của nó, với những nhận thức ẩn ngầm của nó, thống trị thực tế xã hội càng nhiều. Mũi nhọn vô hình này đã tạo ra toàn bộ hệ thống tiền tệ hiện đại với các cơ sở ngân hàng trung ương, với thị trường chứng khoán, với thương nghiệp thế giới, với các nhà kế hoạch quan liêu, với tinh thần chỉ quan tâm về lượng và tính toán, với sự thiên về vật chất, với những biện pháp thành công hạn hẹp, với hệ thống tiền thưởng cứng nhắc, và với bộ máy kế toán mạnh - tất cả những điều đó được đánh giá thấp về ý nghĩa văn hóa. Từ sự phân chia giữa sản xuất và tiêu thụ đã tạo ra những áp lực trên về tiêu chuẩn hóa, chuyên môn hóa, đồng bộ hóa và tập quyền hóa. Cũng từ sự phân chia đó đã sinh ra những khác nhau về vai trò giới tính và tính khí.
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai không chỉ thay đổi công nghệ, thiên nhiên và văn hóa, nó còn thay đổi cả cá tính, giúp tạo ra một đặc tính xã hội mới. Con người công nghiệp khác với tổ tiên của họ. Họ là ông chủ của "nô lệ năng lượng". Họ sống hầu hết cuộc đời của họ trong môi trường kiểu nhà máy, tiếp xúc với máy móc và tổ chức đã làm cá nhân trở thành nhỏ bé. Họ biết sự tồn tại của họ phụ thuộc vào tiền bạc. Họ được nuôi dưỡng trong một gia đình hạt nhân và đi học ở trường kiểu nhà máy. Họ nắm được những hình ảnh cơ bản về thế giới nhờ các phương tiện thông tin đại chúng. Họ làm việc trong các công ty lớn hoặc cơ quan Nhà nước. Họ xác định họ thuộc về quốc gia và không thuộc về làng mạc hoặc thành phố. Họ thấy họ đứng đối diện với thiên nhiên bằng việc khai thác thiên nhiên trong công việc hàng ngày của họ. Họ biết họ là một bộ phận của những hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội rộng lớn và phụ thuộc lẫn nhau mà các đường ranh giới của chúng chìm trong độ phức tạp vượt quá sự hiểu biết của họ.
    Đối diện với thực tế này, họ chống đối nhưng không có kết quả. Họ chiến đấu để kiếm sống. Họ học chơi những trò chơi do xã hội yêu cầu, phù hợp với những vai trò được chỉ định của họ, thường thì họ ghét chúng và cảm thấy họ là nạn nhân của chính hệ thống đã cải thiện mức sống của họ. Họ cảm thấy thời gian tuyến tính đã tàn nhẫn đưa họ tiến về tương lai với ngôi mộ đang chờ họ. Và khi họ tiến về cái chết thì họ biết rằng trái đất và mỗi cá nhân chỉ là một bộ phận của một guồng máy vũ trụ khổng lồ mà sự chuyển động là đều đặn và không dừng.
    Con người công nghiệp sống trong môi trường mà tổ tiên xa xưa của họ không hề biết đến. Tiếng còi nhà máy thay cho tiếng gáy của con gà trống. Ánh sáng đèn điện thay cho mặt trăng. Hình ảnh trái đất nhìn từ vũ trụ, hình ảnh núi non xuất hiện trên màn ảnh, dạng các vi sinh vật được nhìn thấy nhờ các kính hiển vi cực mạnh. Cơ thể con người thay đổi, thái độ con người đối với cơ thể cũng thay đổi v.v...
    Đứng trước những thay đổi cả về tâm lý, kinh tế, chính trị và xã hội - thật là khó đánh giá. Chúng ta đánh giá toàn bộ nền văn minh bằng tiêu chuẩn nào ? Nó cung cấp cho dân cư sống trong nền văn minh bằng mức sống như thế nào ? Những người sống ngoài nền văn minh sống như thế nào ? Sự tác động của nó lên môi trường sinh học như thế nào ? Nghệ thuật của nó hay, đẹp như thế nào ? Tuổi thọ dân cư của nó được kéo dài bao lâu ?…
    Trong giới hạn của nó, mặc dù có những cuộc suy thoái kinh tế và sự phí phạm đáng kinh tởm về mạng sống con người, nền văn minh Làn sóng thứ hai rõ ràng cải thiện mức sống vật chất của mỗi con người bình thường. Và tất cả những câu hỏi trên đều có thể được trả lời cùng một cách. Nền văn minh Làn sóng thứ hai rõ ràng đã cải thiện tất cả. Tuy nhiên mặt trái của vấn đề cũng hiện diện. Trong khi nền văn minh Làn sóng thứ hai đã cải thiện mức sống con người, nó cũng gây ra những hậu quả dữ dội cho môi trường sinh học của trái đất như ô nhiễm sinh thái, sử dụng cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm nhiễm độc Đại Dương, v.v... Mặt trái khác của nền văn minh là chủ nghĩa đế quốc và hậu quả của nó đã nói ở các chương trước.
    Khi chọn lựa sự đánh giá hiện tại chưa rõ ràng, cần phải hiểu rằng trò chơi công nghiệp đã chấm dứt, sức mạnh của Làn sóng thứ hai đang suy yếu khắp nơi khi Làn sóng thay đổi tiếp theo bắt đầu. Hai sự thay đổi làm cho việc tiếp tục bình thường của nền văn minh công nghiệp không còn có thể nữa.
    Đầu tiên, chúng ta đã đạt đến điểm ngoặt trong cuộc chiến tranh chống lại thiên nhiên. Môi trường sinh học không thể còn tha thứ cho cuộc tấn công công nghiệp. Thứ hai, chúng ta không thể dựa mãi vào nguồn năng lượng không tái sinh được, mà bây giờ đó là nguồn cung cấp chính cho sự phát triển công nghiệp.
    Những sự việc này không có nghĩa là sự chấm dứt xã hội công nghiệp, hoặc năng lượng bị hết. Nhưng nó có nghĩa là tất cả những tiến bộ mới sẽ phải được định hình bởi những giới hạn môi trường mới. Nó cũng có nghĩa là cho đến khi những nguồn năng lượng mới được thay thế, các quốc gia công nghiệp phải chịu sự rút bỏ dần các nguồn năng lượng cũ, và sự tìm kiếm các nguồn năng lượng mới tự nó đang làm gia tăng sự biến đổi chính trị và xã hội. Một điều rõ ràng là : chúng ta đang ở thời kỳ cuối của năng lượng rẻ. Nền văn minh Làn sóng thứ hai đã và đang mất một trong những nguồn trợ cấp cơ bản nhất của nó.
    Từ đó một nguồn trợ cấp khác cũng bị rút bỏ : nguyên liệu rẻ. Với sự chấm dứt của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc mới, các quốc gia công nghệ cao hoặc phải tìm nguồn thay thế mới hoặc năng lượng mới trong nước, mua lẫn nhau và dần dần nới lỏng mối quan hệ kinh tế với các quốc gia không công nghiệp, hoặc họ sẽ tiếp tục mua từ các quốc gia không công nghiệp nhưng dưới những điều khoản thương mại mới. Trong cả hai trường hợp thì giá cả sẽ tăng lên đáng kể, và toàn bộ cơ sở của nền văn minh sẽ bị biến đổi theo cơ sở năng lượng của nó.
    Những áp lực bên ngoài này vào xã hội công nghiệp được hỗ trợ bằng những áp lực phân hóa bên trong hệ thống. Con người và hệ thống bị căng thẳng đến tột đỉnh. Các hệ thống của Làn sóng thứ hai đang bị khủng hoảng. Khủng hoảng trong hệ thống phúc lợi, trong hệ thống bưu điện, trong hệ thống trường học, trong hệ thống y tế, trong hệ thống đô thị, trong hệ thống tài chính quốc tế, trong hệ thống Nhà nước - quốc gia, và cả trong hệ thống giá trị Làn sóng thứ hai.
    Ngay cả hệ thống vai trò mà nền văn minh công nghiệp đã xác lập cũng bị khủng hoảng. Điều này chúng ta thấy trong cuộc đấu tranh đòi định nghĩa lại vai trò giới tính. Trong phong trào phụ nữ, trong những đòi hỏi quyền hợp pháp về đồng tính luyến ái, trong sự phát triển mốt, chúng ta thấy sự mờ nhạt về giới tính truyền thống. Những ranh giới vai trò nghề nghiệp cũng đang mờ nhạt. Y tá và bệnh nhân đang xác định lại vai trò của họ đối với bác sĩ. Cảnh sát và thầy giáo đang phá vỡ vai trò được chỉ định của họ và đang tiến hành đình công bất hợp pháp. Công nhân ngày càng đòi hỏi quyền được tham gia quản lý. Và sự phá sản về cấu trúc vai trò này mà xã hội công nghiệp đã dựa vào là vô cùng cách mạng, hơn cả những cuộc biểu tình chính trị công khai.
    Sau cùng, sự tụ hội của những áp lực - việc mất những nguồn trợ cấp then chốt, hoạt động kém của những hệ thống phục vụ đời sống của xã hội, sự phá vỡ cấu trúc vai trò - tất cả đều sinh ra khủng hoảng cho cấu trúc cơ bản và mong manh nhất : cá tính. Sự sụp đổ của nền văn minh Làn sóng thứ hai đã và đang tạo ra bệnh dịch về khủng hoảng cá tính.
    Ngày nay chúng ta thấy hàng triệu người đang tìm một cách tuyệt vọng về chính cái bóng của họ, đang ngấu nghiến phim ảnh, kịch, tiểu thuyết… là những thứ hứa hẹn sẽ giúp họ xác định được cá tính bị mất của họ. Nạn nhân của khủng hoảng cá tính lao vào việc chữa bệnh tập thể huyền bí. Họ muốn nhanh chóng rời khỏi cuộc sống của họ hiện nay và nhảy vào cuộc sống mới để trở thành cái mà họ không thể trở thành. Họ muốn thay đổi công việc, bạn trăm năm, vai trò và trách nhiệm.
    Tất cả những điều đó có thể hiểu được nếu chúng ta nắm được sự kiện thiết yếu là xã hội công nghiệp đang chết, và chúng ta có thể bắt đầu tìm các dấu hiệu thay đổi cho những gì thực sự là mới, những gì không phải là công nghiệp nữa. Chúng ta có thể nhận ra đó là Làn sóng thứ ba.
     
  12. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    LÀN SÓNG THỨ BA

    Chương 11
    SỰ TỔNG HỢP MỚI
    Nhà máy. Hoan hô nhà máy ! Ngày nay, ngay cả khi những nhà máy mới đang được xây, nền văn minh biến nhà máy thành nhà thờ đang chết. Và nơi nào đó ngày nay, một số thanh niên đang vượt qua đêm tối để tiến vào tâm nền văn minh Làn sóng thứ ba. Từ nay trở đi, nhiệm vụ của chúng ta là đi cùng với họ để tìm kiếm cho ngày mai. Nếu chúng ta đuổi kịp họ ở nơi đến, chúng ta sẽ đến đâu ? Ở bệ phóng đưa con người vào vũ trụ ? Ở phòng thí nghiệm đại dương học ? Ở các gia đình trong cộng đồng ? Ở những nơi đang làm việc về trí tuệ nhân đạo ? Ở các giáo phái ? Có phải họ đang sống trong sự đơn giản tự nguyện ? Có phải họ đang leo lên thang của công ty ? Có phải họ đang kiếm súng để trở thành những tên khủng bố ? Tương lai được rèn luyện ở đâu ? Nếu chúng ta lập kế hoạch một cuộc viễn chinh tương tự vào tương lai, chúng ta chuẩn bị bản đồ của chúng ta như thế nào ? Rất dễ nói tương lai bắt đầu từ hiện tại. Nhưng hiện tại nào ? Hiện tại của chúng ta đầy nghịch lý.
    Trẻ em của chúng ta quá thạo về ma túy, giới tính hoặc phóng tàu vũ trụ; một số biết rõ về máy tính còn hơn cha mẹ chúng. Thế nhưng điểm kiểm tra giáo dục rất thấp. Tỉ lệ li dị tiếp tục tăng và tỉ lệ tái hôn nhân cũng tăng. Phong trào chống lại phụ nữ nổi lên đúng lúc quyền phụ nữ được công nhận. Đồng tính luyến ái đòi hỏi quyền của họ.
    Căn bệnh lạm phát khó chữa bám chặt tất cả các quốc gia Làn sóng thứ hai, thất nghiệp tiếp tục tăng lên, những điều đó mâu thuẫn với lý thuyết cổ điển của chúng ta. Nhưng cũng chính vào cùng thời kỳ đó bất chấp lôgic cung và cầu, hàng triệu người đang đòi hỏi không phải chỉ việc làm mà còn phải là việc làm sáng tạo, tâm lý thoải mái hoặc có trách nhiệm với xã hội. Những mâu thuẫn kinh tế đang tăng theo cấp số nhân.
    Trong chính trị, các đảng phái ngày càng làm mất lòng tin của đảng viên đối với họ đúng vào lúc các vấn đề then chốt đang trở thành chính trị hóa hơn bao giờ hết. Trong khi đó trên khắp thế giới, các phong trào dân tộc chủ nghĩa đang chiếm ưu thế vào đúng lúc Nhà nước - quốc gia đang bị tấn công dữ dội vì quyền lợi của học thuyết toàn cầu.
    Đứng trước những mâu thuẫn như thế, chúng ta thấy khuynh hướng phát triển và khuynh hướng ngược lại như thế nào ? Không ai có câu trả lời hoàn toàn đúng đối với câu hỏi đó. Mặc dù với tất cả các kết quả của máy tính, sơ đồ, mô hình toán học của các nhà nghiên cứu tương lai học, những cố gắng của chúng ta nhìn vào tương lai vẫn nguyên là một nghệ thuật hơn là một khoa học. Việc nghiên cứu có hệ thống có thể dạy chúng ta được nhiều. Nhưng cuối cùng chúng ta phải nắm lấy chứ không phải gạt bỏ sự nghịch lý và sự mâu thuẫn, sự linh cảm, sự tưởng tượng và sự tổng hợp táo bạo.
    Nhiều người, gồm cả các nhà tương lai học, nhận thức về ngày mai như là sự kéo dài của ngày nay; họ quên rằng những khuynh hướng không phải chỉ tiếp tục theo một đường thẳng. Chúng đạt đến những điểm đỉnh và tại đấy chúng nổ bùng thành những hiện tượng mới. Chúng đảo ngược hướng. Chúng dừng lại và bắt đầu. Bởi vì những gì đang xảy ra bây giờ, hoặc đã và đang xảy ra từ 300 năm nay, không có gì đảm bảo là chúng sẽ tiếp tục theo đường thẳng. Tiếp tục xem xét những mâu thuẫn, những xung đột, những chuyển hướng và những bước ngoặc đó chúng ta sẽ thấy tương lai là sự ngạc nhiên liên tục.
    Quan trọng hơn, chúng ta sẽ tìm ra những sự liên kết ẩn ngầm trong số các biến cố mà trên bề mặt chúng dường như không liên quan với nhau. Chẳng đúng tí nào khi dự báo tương lai của bán dẫn hoặc năng lượng, hoặc tương lai của gia đình nếu dự báo dựa trên tiền đề là những việc khác không thay đổi. Vì không có gì là không thay đổi cả. Tương lai luôn thay đổi chứ không cứng nhắc. Nó được xây dựng từ những quyết định hay thay đổi hàng ngày của chúng ta, và mỗi biến cố đều ảnh hưởng tới tất cả những biến cố khác.
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai đào tạo chúng ta khả năng phân tích vấn đề chứ không phải tổng hợp vấn đề. Đây là một trong những lý do tại sao hình ảnh của chúng ta về tương lai rất rời rạc ngẫu nhiên và sai lầm. Công việc của chúng ta ở đây sẽ là suy nghĩ như một nhà tổng quát hóa chứ không phải như một nhà chuyên môn. Ngày nay, tôi tin rằng chúng ta đang đứng cạnh thời đại tổng hợp mới. Trong tất cả những lĩnh vực trí thức, từ khoa học ứng dụng đến xã hội học, tâm lý học và kinh tế học chính trị - đặc biệt là kinh tế học chính trị - chúng ta dường như thấy sự quay lại của tư tưởng qui mô lớn, của lý thuyết tổng quát. Vì nếu tiếp tục phân tích không có bối cảnh, đo lường tinh vi hơn các vấn đề sẽ làm chúng ta biết càng ít đi.
    Do đó chúng ta phải nhìn các dòng thay đổi đang lay động cuộc sống của chúng ta, phải phát hiện các mối liên kết bí mật đang nối chúng lại với nhau, vì tất cả những cái đó đang chảy dồn về một cái vô cùng lớn : Làn sóng thứ ba.
     
  13. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 12

    NHỮNG ĐỈNH CAO ĐIỀU KHIỂN
    Ngày 6-8-1960, Trưởng ban quản trị Công ty Dầu Exxon ra một quyết định mà các nhà sử học tương lai có thể chọn là biểu tượng cho sự chấm dứt kỷ nguyên Làn sóng thứ hai. Ông ta đã quyết định cắt bớt thuế mà Exxon phải trả cho các nước sản xuất dầu. Quyết định của ông ta mặc dù báo chí phương Tây không được biết, đã tác động như một cú sét đánh vào các chính phủ của các nước sản xuất dầu, vì hầu như tất cả thu nhập của họ phụ thuộc vào việc các công ty dầu trả cho họ.
    Trong vài ngày, những công ty dầu khác đều theo gương của Exxon. Một tháng sau đó vào ngày 9-9, các nước bán dầu họp tại Baghdad và thành lập tổ chức OPEC. Trong 13 năm tiếp theo, không ai nói gì đến tổ chức đó, cho đến năm 1973, khi cuộc chiến tranh Yom Kippur nổ ra, và OPEC bước ra khỏi bóng tối, bịt nguồn cung cấp dầu thô cho thế giới, OPEC đã làm cho toàn bộ nền kinh tế Làn sóng thứ hai lâm vào khủng hoảng.
    MẶT TRỜI VÀ NHỮNG NGUỒN NĂNG LƯỢNG KHÁC
    Theo sau cuộc khủng hoảng năng lượng là hàng đống đề án, đề nghị, tranh luận và phản biện làm cho các chính phủ cũng như người dân thường nhầm lẫn cả. Một cách để hiểu vấn đề là nhìn xa hơn những công nghệ, chính sách và nguyên tắc mà những thứ trên dựa vào. Qua đó chúng ta thấy một số đề nghị được thiết kế để duy trì hoặc mở rộng cơ sở năng lượng Làn sóng thứ hai, trong khi những đề nghị khác dựa trên những nguyên tắc mới.
    Cơ sở năng lượng Làn sóng thứ hai dựa trên tiền đề về sự không khôi phục được, nó lấy từ các mỏ có thể cạn và tập trung cao, nó dựa vào các nền công nghệ đắt, và nó không đa dạng, phụ thuộc vào một số ít phương pháp và nguồn tài nguyên. Đấy là những đặc tính chính của cơ sở năng lượng của tất cả các quốc gia Làn sóng thứ hai trong suốt kỷ nguyên công nghiệp.
    Câu hỏi lớn là bất kỳ cơ sở năng lượng nào được thiết kế cho xã hội công nghiệp và dựa trên tiền đề những cơ sở Làn sóng thứ hai có thể tồn tại không. Trong suốt nửa thế kỷ qua, hai phần ba nguồn cung cấp năng lượng cho toàn thế giới là dầu và khí. Tất cả mọi người đều đồng ý rằng sự phụ thuộc này vào nguồn nhiên liệu mỏ không thể tiếp tục đến vô tận dù có thêm những mỏ dầu mới được phát hiện. Một điều vô cùng rõ ràng : không ai có thể bơm khí và dầu trở lại vào trái đất để làm đầy lại các nguồn mỏ. Điều đó có nghĩa là kỷ nguyên dầu khí đang chấm dứt.
    Trong khi đó than đá đã và đang cung cấp một phần ba năng lượng còn lại của thế giới, đến lúc nào đó cũng sẽ hết. Việc sử dụng ào ạt than đá sẽ gây ra ô nhiễm không khí, ảnh hưởng đến khí hậu. Than đá không thể thay thế cho những nguồn nhiên liệu mà máy móc đang dùng dầu và khí hiện nay. Kế hoạch làm thành khí hóa và chất lỏng hóa than đá cho thấy không thực dụng và quá tốn kém.
    Năng lượng nguyên tử đã tạo ra những vấn đề to lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay. Các lò hạt nhân dựa vào uranium, chất này cũng là nhiên liệu kiệt cạn và đặt ra những sự nguy hiểm về an toàn rất đắt giá, ví dụ rác nguyên tử giải quyết như thế nào ? Chưa kể đến chất uranium rất đắt, nguy hiểm, mức độ nguy hiểm càng tăng khi có chiến tranh nguyên tử xảy ra hoặc các nhóm khủng bố chiếm nhà máy điện nguyên tử.
    Tất cả điều đó không có nghĩa là chúng ta phải quay lại thời kỳ Trung cổ, hoặc sự tiến bộ kinh tế không thực hiện được. Nhưng nó có nghĩa là chúng ta đã đạt đến ranh giới phát triển mới và phải bắt đầu đường khác. Điều đó có nghĩa là cơ sở năng lượng Làn sóng thứ hai là không thể biện hộ được.
    Có những nguồn năng lượng mới đã và đang trong thời kỳ nghiên cứu và áp dụng như năng lượng mặt trời, năng lượng nhiệt địa, năng lượng sóng v.v...
    Trong khi hầu hết những nền công nghệ này vẫn còn ở trong giai đoạn đầu phát triển, nhiều cái sẽ không thực hiện được, một số mới bắt đầu áp dụng trong thương mại, một số khác sẽ đưa vào sử dụng trong vài thập kỷ sắp đến. Quan trọng nhất là một khi chúng ta bắt đầu kết hợp những nền công nghệ mới này với nhau, chúng ta sẽ làm gia tăng đáng kể việc xây dựng cơ sở năng lượng Làn sóng thứ ba.
    Cơ sở mới này sẽ có nhiều đặc tính khác biệt rõ ràng với những đặc tính của giai đoạn Làn sóng thứ hai. Vì các nguồn của nó khôi phục lại được, chứ không phải cạn kiệt. Thay vì phụ thuộc vào các nguồn tập trung, nó lấy từ các nguồn phân tán. Thay vì phụ thuộc nặng nề vào các công nghệ tập trung, nó sẽ tổng hợp sản xuất năng lượng tập trung và phân tán. Thay vì phụ thuộc vào một số ít nguồn nguy hiểm, nó sẽ lấy từ các nguồn đa dạng khác nhau. Chính sự đa dạng này sẽ làm ít phí phạm hơn bằng cách cho phép chúng ta phối hợp loại và chất lượng của năng lượng được sản xuất cho các nhu cầu thay đổi ngày càng tăng.
    Nói tóm lại, chúng ta có thể thấy những nét chính của cơ sở năng lượng dựa trên những nguyên tắc đối nghịch với những nguyên tắc đã có trong ba trăm năm qua. Cũng rõ ràng là cơ sở năng lượng Làn sóng thứ ba này sẽ không phải thành hiện thực ngay, nó sẽ trải qua đấu tranh dữ dội. Đã có nhiều tranh luận về các vấn đề đó, thế nhưng vấn đề không phải là cơ sở năng lượng Làn sóng thứ hai có bị vứt bỏ không, mà là nó sẽ bị thay thế sớm nhất vào lúc nào.
    NHỮNG CÔNG CỤ CỦA NGÀY MAI
    Than đá, đường sắt, dệt, thép, ô tô, cao su, máy công cụ là những nền công nghiệp cổ điển của Làn sóng thứ hai. Dựa trên những nguyên tắc cơ điện đơn giản, chúng sử dụng năng lượng cao, gây ra sự phí phạm và ô nhiễm lớn, và chúng có đặc tính là giờ chạy máy dài, yêu cầu kỹ năng thấp, công việc lặp đi lặp lại, hàng hoá sản xuất hàng loạt, và kiểm soát được tập trung nặng nề.
    Từ giữa những năm 1950, rõ ràng các nền công nghiệp này đang bước lùi và suy yếu trong các quốc gia công nghiêp. Khi những nền công nghiệp cổ truyền này bắt đầu được chuyển giao cho các quốc gia được gọi là "đang phát triển", nơi mà lao động rẻ hơn và công nghệ ít tiên tiến hơn, ảnh hưởng xã hội của chúng cũng bắt đầu giảm đi và các nền công nghiệp mới đang chiếm lấy chỗ của chúng.
    Những nền công nghiệp mới này khác biệt rõ ràng với các nền công nghiệp trước đó ở nhiều điểm : chúng không phải là loại điện cơ và không còn dựa trên khoa học cổ điển của kỷ nguyên Làn sóng thứ hai. Chúng là sự tổng hợp của các ngành khoa học khác nhau vừa mới xuất hiện trong vòng 25 năm trở lại đây : điện tử lượng tử, tin học, sinh học phân tử, đại dương học, kỹ thuật hạt nhân, sinh thái học, và khoa học vũ trụ. Từ những khoa học mới này và từ những khả năng phát triển của chúng ta mà những nền công nghiệp mới xuất hiện : máy tính và xử lý số liệu, kỹ thuật không gian, hóa dầu phức tạp, bán dẫn, thông tin cao cấp v.v...
    Vào cuối Thế chiến II, chính phủ Công đảng của Anh nói về việc phải nắm giữ "những đỉnh cao điều khiển" công nghiệp và đã làm như thế. Nhưng những đỉnh cao điều khiển mà họ quốc hữu hóa chẳng qua là than đá, đường sắt và thép, chính là những nền công nghiệp bị cuộc cách mạng công nghệ bỏ qua : đó là những đỉnh cao điều khiển của ngày hôm qua. Các vùng đất hoặc các lĩnh vực kinh tế dựa trên các nền công nghiệp Làn sóng thứ ba đang phát triển mạnh ; những nơi nào hoặc lĩnh vực kinh tế nào dựa vào công nghiệp Làn sóng thứ hai thì suy tàn. Nhưng sự chuyển giao bắt đầu một cách khó khăn. Ngày nay nhiều chính phủ đang tìm cách đẩy nhanh sự thay đổi vị trí cấu trúc này trong khi làm giảm bớt những đau khổ của sự chuyển tiếp.
    Hiện nay có 4 ngành công nghiệp mới đang phát triển mạnh và có thể trở thành các ngành công nghiệp xương sống của kỷ nguyên Làn sóng thứ ba, và từ sự phát triển của chúng tạo thành những thay đổi vị trí trong kinh tế, chính trị và xã hội. Đó là các ngành điện tử, máy tính, cáp thông tin quang học và ngành vật lý chất rắn. Đặc tính này của cuộc cách mạng điện tử cho thấy rằng một trong những chiến lược bảo tồn mạnh nhất cho các nền kinh tế công nghệ cao với năng lượng hiếm chỉ có thể là sự thay thế các nền công nghiệp Làn sóng thứ hai với năng lượng phung phí bằng các nền công nghiệp Làn sóng thứ ba năng lượng thấp.
    MÁY MÓC TRONG VŨ TRỤ
    Công nghiệp vũ trụ là nhóm thứ hai của môi trường công nghệ đang nổi lên. Việc phóng tàu con thoi có tác động rất lớn mà hiện nay chưa thể đánh giá hết những hiệu quả của nó : Những ngành sau đây có thể đi theo tàu con thoi vào vũ trụ như luyện kim, trạm vũ trụ, bán dẫn, thuốc men, lade, dây quang dẫn, thành phố vũ trụ... Tất cả những điều đó không còn là khoa học viễn tưởng nữa mà đã trở thành sự thật.
    Sự tổng hợp của ngành điện tử tiên tiến và chương trình vũ trụ đã đưa những khả năng sản xuất ở trái đất ra ngoài vũ trụ và điều đó đẩy môi trường công nghệ đến một giai đoạn mới không còn bị giới hạn bởi những vấn đề Làn sóng thứ hai nữa.
    ĐI VÀO ĐẠI DƯƠNG
    Đại dương học là nhóm thứ ba của môi trường công nghệ. Đại dương cung cấp nguồn thực phẩm rất lớn về các loại thực vật và sinh vật dưới biển. Ngoài nguồn dầu mỏ dưới biển, đại dương còn chứa một loạt khoáng sản mỏ như đồng, kẽm, thiếc, bạc, vàng, platin, phốt phát... Ngoài ra có thể chế tạo các loại thuốc dưới đáy đại dương như thuốc chống nấm, thuốc giảm đau, thuốc cầm máu… đến việc xây dựng các thành phố nổi ngoài biển.
    CÔNG NGHIỆP GEN
    Công nghiệp gen là nhóm thứ tư của môi trường công nghệ. Vấn đề dùng kỹ thuật gen để thay đổi nòi giống đang còn là vấn đề tranh cãi. Nhưng việc áp dụng sinh học hiện đại để làm giảm hoặc bỏ hẳn dầu mỏ trong việc sản xuất pláttíc, phân bón, quần áo, sơn, chất diệt côn trùng và hàng nghìn sản phẩm khác đã và đang được thực hiện. Ngoài ra có thể sử dụng vi khuẩn để biến đổi ánh nắng mặt trời thành năng lượng điện hóa, hay còn được biết dưới cái tên là "tế bào mặt trời sinh học".
    Giống như Làn sóng thứ hai kết hợp than đá, điện, và đường sắt để sản xuất ô tô và hàng ngàn sản phẩm biến đổi cuộc sống khác, tác động thực của những thay đổi mới sẽ không được cảm thấy cho đến khi chúng ta đạt đến giai đoạn kết hợp những nền công nghệ mới - máy tính, điện tử, vật liệu mới từ không gian, đại dương học, gen và tất cả những cái đó sẽ tạo ra một cơ sở năng lượng mới. Kết hợp những thành phần này lại với nhau sẽ đưa đến vô số cải tiến chưa được thấy trong lịch sử nhân loại. Chúng ta đang xây dựng một môi trường công nghệ mới cho văn minh Làn sóng thứ ba.
    NHỮNG NGƯỜI CHỐNG ĐỐI CÔNG NGHỆ
    Câu hỏi cơ bản đối với các nền công nghiệp mới trong 300 năm vừa qua ở cả các quốc gia tư bản và xã hội chủ nghĩa là rất đơn giản : chúng đóng góp cho lợi ích kinh tế hay cho sức mạnh quân sự ? Tiêu chuẩn này từ lâu không còn đầy đủ nữa. Những nền công nghiệp mới phải vượt qua những cuộc kiểm tra về sinh thái, xã hội, kinh tế và chiến lược.
    Những thảm họa công nghệ xảy ra trong những năm gần đây đều gắn với công nghệ Làn sóng thứ hai, chứ không phải với công nghệ Làn sóng thứ ba. Lý do là rất rõ ràng : công nghệ Làn sóng thứ ba chưa được triển khai trên qui mô lớn. Nhiều công nghệ vẫn còn đang ở thời kỳ phôi thai. Tuy nhiên, chúng ta đã có thể thoáng thấy những mối nguy hiểm về khói điện tử, rối loạn tin tức, chiến tranh vũ trụ, rò rỉ gen, thay đổi khí hậu, và cái có thể được gọi là "cuộc chiến tranh sinh thái học". Ví dụ như gây ra động đất điều khiển từ xa. Và những mối nguy hiểm khác gắn liền với sự phát triển về cơ sở công nghệ mới.
    Trong những trường hợp như thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy có sự chống đối công khai ồ ạt đối với nền công nghiệp mới những năm vừa qua. Thời kỳ đầu của Làn sóng thứ hai cũng đã chịu cảnh công nghệ mới bị ngăn cản. Những người làm việc mù chữ, nghèo đói và tuyệt vọng đã thấy máy móc hăm dọa sự sống còn của cá nhân họ.
    Sự chống đối ngày nay đối với nền công nghệ mới thì khác. Nó liên quan đến một số đông người không nghèo khổ cũng không mù chữ, họ cũng không chống công nghệ, cũng không chống lại sự phát triển kinh tế, nhưng họ thấy trong sức đẩy công nghệ không kiểm soát được một mối thảm họa cho họ và cho sự sống còn của toàn cầu. Họ gồm hàng ngàn người được đào tạo bằng khoa học như kỹ sư hạt nhân, nhà hóa sinh, nhà vật lý, bác sĩ, nhà gen học, cũng như hàng triệu người dân thường khác. Họ được tổ chức chặt chẽ, ra báo riêng của họ. Họ kiện cáo, biểu tình và tuần hành.
    Họ thừa nhận rằng chúng ta có quá nhiều khả năng công nghệ mà chúng ta không thể nàocấp vốn, phát triển hoặc áp dụng tất cả chúng. Do đó họ lý luận rằng cần phải chọn lọc cẩn thận các công nghệ để phục vụ các mục tiêu xã hội và sinh thái dài hạn, chứ không để công nghệ định hình các mục tiêu của chúng ta. Họ đòi hỏi các nền công nghệ mới phải được thiết kế để cung cấp công việc cho con người, không gây ô nhiễm, bảo vệ sinh thái môi trường, và sản xuất để cho cá nhân hoặc địa phương sử dụng chứ không phải cho cả nước hoặc cả thế giới.
    Họ thấy khó chịu trước vấn đề không cân bằng chủng tộc quá rõ ràng của khoa học và công nghệ trên thế giới : chỉ 3% số các nhà khoa học trên thế giới là từ các nước chiếm 75% số dân thế giới. Họ ủng hộ việc cần chú ý công nghệ cho các nước nghèo và cần phải chia xẻ các nguồn tài nguyên về không gian và vũ trụ cho các nước nghèo. Họ đề nghị di chuyển từng bước từ hệ thống sản xuất gây ra ô nhiễm và phí phạm tài nguyên của kỷ nguyên Làn sóng thứ hai đến một hệ thống trao đổi chất sẽ loại bỏ sự phung phí và ô nhiễm ; nghĩa là đầu ra của một công nghệ trở thành đầu vào của một công nghệ khác.
    Những người chống đối công nghệ, dù họ có thừa nhận hay không, thì họ cũng là những người hoạt động cho Làn sóng thứ ba. Họ sẽ không biến mất mà tăng theo cấp số nhân trong những năm sắp đến. Vì họ là một bộ phận trên con đường tiến đến giai đoạn mới của nền văn minh sắp đến giống như việc phóng tàu con thoi, máy tính kỳ diệu, phát minh sinh học, hoặc khai thác đáy đại dương.
    Tóm lại, những công nghệ mới cùng cơ sở năng lượng mới sẽ nâng lên một mức mới toàn bộ nền văn minh của chúng ta, và chúng sẽ tạo thành "những đỉnh cao điều khiển" của ngày mai.
     
  14. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 13

    PHI-ĐẠI CHÚNG HÓA THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG
    Điệp viên là một trong những phép ẩn dụ mạnh nhất của thời đại chúng ta. Không có hình ảnh nào khác gây được sự tưởng tượng thành công như thế. Hàng trăm phim ca ngợi điệp viên 007 và những đồng nghiệp tương tự. Tivi và sách bỏ túi tạo ra những hình ảnh điệp viên táo bạo, lãng mạn, phi luân lý và vĩ đại hơn cuộc sống. Trong khi đó các chính phủ tiêu hàng tỉ đôla cho hoạt động gián điệp. Điệp viên của KGB, CIA và của các cơ quan tình báo khác qua lại từ nước này sang nước khác. Ở Moscow, các nhà báo phương Tây bị tố cáo là hoạt động tình báo. Ở Bonn, các thủ tướng đổ vì gián điệp thâm nhập vào các bộ của họ. Ở Washington, các nhà điều tra của quốc hội đồng thời đưa ra những hành động xấu của các điệp viên Mỹ và Triều Tiên, trong khi đó trên bầu trời đầy các vệ tinh do thám chụp ảnh từng mét đất.
    Điệp viên không phải là mới trong lịch sử. Thế nhưng tại sao vào đúng thời điểm này thì chủ đề do thám lại chiếm lĩnh trí tưởng tượng của mọi người, thay thế hình ảnh thám tử tư, cảnh sát và cao bồi. Chúng ta có thể nhận thấy ngay sự khác nhau quan trọng giữa gián điệp và các anh hùng phiêu lưu khác : Trong khi cảnh sát và cao bồi tưởng tượng dựa vào khẩu súng lục, thì điệp viên tưởng tượng được trang bị với công nghệ mới nhất và kỳ lạ như máy nghe trộm điện tử, ngân hàng máy tính, máy quay phim hồng ngoại, xe ô tô biết bay hoặc biết bơi, máy bay trực thăng, tàu ngầm một người, tia sáng chết người…
    Có một lý do sâu sắc hơn đối với sự nổi tiếng của điệp viên. Cao bồi, cảnh sát, thám tử tư phiêu lưu và mạo hiểm chỉ theo đuổi những mục tiêu như đồng cỏ cho trâu bò, tiền bạc, bắt kẻ gian. Còn công việc của điệp viên là tin tức, và tin tức có thể là công việc quan trọng nhất và phát triển nhanh nhất của thế giới. Điệp viên là biểu tượng sống của cuộc cách mạng đang quét qua môi trường tin tức.
    NHÀ KHO HÌNH ẢNH
    Trong khi thay đổi vị trí của môi trường tin tức Làn sóng thứ hai sang Làn sóng thứ ba, chúng ta đang biến đổi tâm lý của chính mình. Mỗi người chúng ta đang tạo ra trong bộ não một mô hình tinh thần của thực tế, một nhà kho hình ảnh. Một số hình ảnh này là thị giác, thính giác hoặc xúc giác ; một số là "tri giác" ; một số khác là "liên hợp" mà nó xác định mối quan hệ, giống như hai chữ "mẹ" và con" ; một số là đơn giản, số khác là phức tạp. Và nhận thức, giống như ý kiến "lạm phát do việc tăng lương gây ra". Tất cả những hình ảnh như thế thêm vào hình ảnh của chúng ta về thế giới, nghĩa là đặt chúng ta theo thời gian, không gian và các mối quan hệ xung quanh chúng ta.
    Những hình ảnh này không phải đến từ hư vô. Chúng được tạo thành từ những tín hiệu hoặc tin tức từ môi trường vào đến chúng ta. Và khi môi trường của chúng ta thay đổi, tin tức xung quanh chúng ta cũng thay đổi.
    Trước khi có thông tin đại chúng, một đứa trẻ ở Làn sóng thứ nhất lớn lên trong một làng thay đổi chậm đã xây dựng một mô hình thực tế từ những hình ảnh nhận được ở một số ít nguồn như thầy giáo, linh mục, xã trưởng và gia đình. Điều này có nghĩa những hình ảnh thế giới của một đứa trẻ làng quê là vô cùng hẹp. Tin tức mà nó nhận được rất dư thừa ít nhất theo hai nguồn : chúng đến dưới dạng nói mồm đầy sự ngắt quãng và lặp đi lặp lại, hoặc từ dạng các dãy tư tưởng nối liền nhau được củng cố bằng những người đưa tin khác nhau. Sự nhất trí với cộng đồng, và áp lực mạnh phải tuân theo tác động lên đứa trẻ ngay từ lúc mới sinh lại còn làm hẹp hơn khoảng cách chấp nhận hình ảnh và thái độ.
    Làn sóng thứ hai làm tăng số nguồn mà cá nhân có thể nhận được hình ảnh về thực tế. Đứa trẻ không phải chỉ nhận tin tức từ thiên nhiên hoặc con người, mà còn nhận tin tức từ báo chí, tạp chí, rađiô, tivi... nhà thờ, Nhà nước, gia đình và trường học tiếp tục nói giống nhau để củng cố lẫn nhau. Thông tin đại chúng trở thành một cái loa khổng lồ. Và sức mạnh của chúng được sử dụng vượt qua những ranh giới đất nước, chủng tộc, ngôn ngữ để tiêu chuẩn hóa hình ảnh đang chảy vào dòng tinh thần của xã hội.
    Một số hình ảnh thị giác được phổ biến rộng rãi và ăn sâu vào bộ nhớ của hàng triệu người đến nỗi chúng được biến đổi thành hình tượng. Hình ảnh sản xuất từ trung tâm này, được thông tin đại chúng bơm vào "bộ não đại chúng", đã giúp việc tiêu chuẩn hóa cách sống được đòi hỏi bởi hệ thống sản xuất công nghiệp.
    Ngày nay Làn sóng thứ ba đang thay đổi quyết liệt tất cả những điều đó. Khi thay đổi tăng tốc trong xã hội thì nó áp đặt một sự tăng tốc song hành trong chúng ta. Tin tức mới đến với chúng ta và chúng ta bị buộc phải xem xét lại liên tục hồ sơ hình ảnh của chúng ta với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Những hình ảnh cũ dựa trên thực tế quá khứ phải được thay thế vì hành động của chúng ta bị chia tách ra khỏi thực tế và chúng ta cảm thấy không đủ khả năng thích ứng.
    Việc xử lý hình ảnh gia tăng trong chúng ta có nghĩa là những hình ảnh trở thành ngày càng tạm thời hơn. Tư tưởng, lòng tin và thái độ được bắn vào nhận thức, bị thách đố, nhanh chóng bị phai mờ và đi vào hư vô. Lý thuyết khoa học và tâm lý học bị vứt bỏ và được thay thế hàng ngày. Các ý thức hệ bị đổ gẫy. Những khẩu hiệu đạo đức và chính trị mâu thuẫn tấn công chúng ta.
    Làn sóng thứ ba không phải chỉ gia tăng dòng tin tức, nó còn biến đổi cấu trúc tin tức mà những hành động hàng ngày của chúng ta phụ thuộc vào nó.
    THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG BỊ PHI-ĐẠI CHÚNG HÓA
    Thông tin đại chúng ngày càng phát triển mạnh trong suốt kỷ nguyên Làn sóng thứ hai. Ngày nay một thay đổi kỳ lạ đang xảy ra. Khi Làn sóng thứ ba xuất hiện, thông tin đại chúng thay vì phát triển ảnh hưởng lại bị suy yếu đi. Chúng bị đẩy lùi trên nhiều mặt cùng một lúc bởi cái mà tôi gọi là "thông tin đại chúng bị phi đại chúng hóa".
    Báo chí cung cấp ví dụ thứ nhất : Ở Mỹ, số độc giả giảm từ 69% năm 1972 xuống 62% năm 1977. Ở Anh, từ năm 1965 đến năm 1975, số độc giả giảm 8%. Ví dụ thứ hai : Từ năm 1970 đến năm 1977, mặc dù dân số Mỹ tăng 14 triệu người, nhưng số độc giả của 25 tờ tạp chí giảm đi 4 triệu người. Tất cả báo chí và tạp chí đó không phải do tivi cạnh tranh, các tờ báo lá cải và tạp chí chuyên ngành chỉ nhằm một số ít độc giả lại nổi lên như nấm và đang chiếm lĩnh thị trường.
    Nhưng tác động của Làn sóng. thứ ba trên thông tin không phải chỉ nhằm vào báo chí và tạp chí. Số thính giả đài phát thanh sóng trung và sóng FM cũng bị giảm hẳn đi. Trong khi đó các đài mới với đối tượng là một nhóm nhỏ thính giả lại nổi lên nhiều như đài nhạc rốc, đài cho người da đen, đài nhạc cổ điển, đài dành riêng cho người nước ngoài, đài sóng CB. Hệ thống tivi cũng bị ảnh hưởng với số người xem giảm đi 50% vào cuối năm 1980 ở Mỹ. Thế nhưng tivi dây cáp lại tăng. Khi dây quang dẫn được đưa vào sử dụng rộng rãi thì tivi dây cáp có thể chiếm lĩnh trận địa.
    Những hệ thống khác đã làm các hệ thống tivi lớn hoặc của Nhà nước bị mất chỗ đứng là trò chơi điện tử, dịch vụ tin học, đầu video, hệ thống vệ tinh kết hợp với tivi dây cáp.
    Những gì đang xảy ra trên bề mặt là các biến cố độc lập nhau, song chúng kết hợp lại thành một làn sóng những thay đổi có liên quan mật thiết với nhau đang quét qua các vị trí thông tin đại chúng từ báo chí và rađiô đến tạp chí và tivi. Thông tin đại chúng đang bị tấn công. Thông tin mới phi-đại chúng hóa đang tăng nhanh, đang thách thức, đang thay thế thông tin đại chúng mà một thời đã thống trị trong tất cả các xã hội Làn sóng thứ hai.
    Như thế, Làn sóng thứ ba bắt đầu một kỷ nguyên mới, thời đại của thông tin phi-đại chúng hóa. Một môi trường tin tức mới đang xuất hiện cùng với môi trường công nghệ. Và điều này sẽ có tác động mạnh vào môi trường quan trọng nhất là môi trường tâm lý. Gộp chung lại với nhau, những thay đổi này cách mạng hóa hình ảnh của chúng ta về thế giới và khả năng của chúng ta nhận thức nó.
    VĂN HÓA ĐIỂM SÁNG
    Việc phi đại chúng hóa thông tin đại chúng cũng làm phi đại chúng hóa tinh thần của chúng ta. Trong kỷ nguyên Làn sóng thứ hai, sự tấn công liên tục của các hình ảnh được tiêu chuẩn hóa do thông tin đại chúng phổ biến đã tạo ra cái mà các nhà phê bình gọi là "tinh thần đại chúng". Ngày nay, thay vì đại chúng tất cả đều nhận cùng tin tức, thì các nhóm nhỏ thu phát số lượng lớn về hình ảnh riêng của họ cho nhau. Khi toàn bộ xã hội dịch chuyển về sự đa dạng Làn sóng thứ ba, một phương tiện thông tin mới làm gia tăng qui trình.
    Điều này giải thích tại sao những ý kiến về mọi việc từ nhạc dân gian đến chính trị đang trở thành ít thống nhất hơn. Sự nhất trí đã bị tan vỡ. Về phương diện cá nhân, chúng ta bị bao vây và bị tấn công bởi những đoạn hình ảnh trái ngược hoặc không liên quan với nhau, chúng làm lay động những tư tưởng cũ của chúng ta và bắn vào chúng ta dưới dạng các điểm sáng. Thực vậy, chúng ta đang sống trong nền "văn hóa điểm sáng". Trong loại văn hóa mới này, với những hình ảnh chuyển tiếp và từng mảng, chúng ta có thể phân biệt sự khác nhau lớn giữa những người sử dụng thông tin đại chúng Làn sóng thứ hai và những người sử dụng thông tin Làn sóng thứ ba.
    Những người Làn sóng thứ hai khát khao sự vững bền ý thức hệ và đạo đức của quá khứ, họ đã bị các tin tức làm cho khó chịu và mất định hướng tấn công dữ dội. Họ nuối tiếc những chương trình phát thanh của những năm 1930 hoặc phim ảnh của những năm 1940. Họ cảm thấy xa lạ với môi trường thông tin đại chúng mới, không phải những gì họ nghe là đe dọa họ, nhưng chính cái cách tin tức đến với họ là lạ lùng đối với họ. Thay vì nhận được một dãy tin tức dài, có liên quan với nhau, được tổ chức hoặc tổng hợp, thì chúng ta càng ngày càng phải nghe các mẫu tin tức ngắn và môđun - quảng cáo, lý thuyết, tin ngắn, tin lặt vặt mà chúng không thể nào nhét vào hồ sơ tinh thần đã có sẵn của chúng ta. Hình ảnh mới chống lại sự phân loại, một phần vì nó nằm ngoài các loại nhận thức cũ của chúng ta, nhưng cũng còn vì nó đến thành từng nhóm được định hình một cách lệch lạc, nhất thời và không có liên quan với nhau. Bị tấn công bởi những thông tin hỗn loạn và ào ạt của văn hóa đốm sáng, người Làn sóng thứ hai cảm thấy phải kìm lại cơn thịnh nộ đối với thông tin đại chúng.
    Ngược lại những người Làn sóng thứ ba cảm thấy dễ chịu với loại thông tin đốm này, 90 giây tin tức xen với 30 giây quảng cáo, một đoạn nhạc và thơ, một đầu đề... Thay vì sắp xếp số liệu môđun mới theo cách của Làn sóng thứ hai, họ học cách tự thành lập những dãy số liệu riêng cho họ từ những vật liệu từng mảnh mà thông tin đại chúng mới bắn cho họ.
    Thay vì chỉ thu nhận về thực tế, chúng ta bị buộc phải sáng tạo và liên tục tái sáng tạo. Điều này đặt một gánh nặng lên trên chúng ta. Nhưng nó cũng đưa đến tính cá nhân lớn hơn, một sự phi đại chúng hóa về cá tính và về văn hóa. Một số người bị gãy dưới áp lực mới hoặc rút vào sự thờ ơ hoặc tức giận. Những người khác tiếp tục phát triển thành những cá nhân có đủ khả năng hoạt động ở mức cao hơn. Sự phi đại chúng hóa của nền văn minh tạo thành một bước nhảy trong lượng tin tức mà chúng ta trao đổi với nhau. Và chính điều này giải thích tại sao chúng ta đang trở thành một "xã hội tin tức".
    Nền văn minh càng đa dạng bao nhiêu, nghĩa là công nghệ, năng lượng và con người càng khác biệt bao nhiêu, thì tin tức chảy giữa các thành phần của nó càng phải nhiều bấy nhiêu, như vậy trạng thái toàn vẹn mới được bảo tồn, đặc biệt là dưới áp lực thay đổi nhiều. Một tổ chức phải dự đoán được nhiều hay ít những tổ chức khác phản ứng như thế nào đối với kế hoạch của họ. Con người cũng thế. Chúng ta càng đơn điệu thì chúng ta không cần biết nhiều về những người khác để có thể đoán trước được cách xử sự của họ. Khi những người xung quanh ta trở thành cá nhân hóa nhiều hơn hoặc phi đại chúng hóa nhiều hơn, chúng ta cần nhiều tin tức để dự đoán họ sẽ đối xử với ta như thế nào. Không dự đoán được như thế, chúng ta không thể sống hoặc làm việc với nhau được.
     
  15. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 14

    MÔI TRƯỜNG THÔNG MINH
    Ngày nay, khi chúng ta xây dựng một môi trường tin tức mới cho nền văn minh Làn sóng thứ ba, chúng ta đang truyền cho môi trường "chết" xung quanh chúng ta không phải cuộc sống mà là sự thông minh. Chìa khóa cho sự tiến bộ này là máy tính. Máy tính ngày nay hiện diện khắp nơi, từ cơ quan, văn phòng, trường học đến nhà ở. Đến lúc nào đấy, ngay cả trong từng gia đình cũng có máy vi tính.
    NÂNG CAO BỘ NÃO
    Trong khi thay đổi môi trường tin tức, chúng ta cũng biến đổi chính tinh thần của chúng ta, đó là cách mà chúng ta suy nghĩ, cách chúng ta tổng hợp tin tức và cách dự đoán những hậu quả của chính những hành động của mình. Chúng ta dường như sẽ thay đổi vai trò biết đọc biết viết trong cuộc sống của chúng ta. Ngay cả chúng ta có thể biến đổi hóa chất trong bộ não của chúng ta.
    Ngày nay hàng triệu người bị đào thải ra khỏi thị trường công việc vì họ mù chữ. Ngay cả những công việc đơn giản nhất cũng đòi hỏi khả năng biết đọc như bấm nút tắt mở, kiểm tra đơn giản, hướng dẫn công việc v.v… Trong thế giới Làn sóng thứ hai, khả năng biết đọc là yêu cầu cơ bản nhất nếu muốn có việc làm. Thế nhưng mù chữ không đồng nghĩa với ngu dốt. Chúng ta biết rằng những người mù chữ trên thế giới có khả năng làm chủ những kỹ năng phức tạp cao trong những hoạt động khác nhau như nông nghiệp, xây dựng, săn bắn và âm nhạc. Nhiều người mù chữ có trí nhớ phi thường và có thể nói một vài ngoại ngữ. Tuy nhiên trong xã hội Làn sóng thứ hai, những người mù chữ bị kết án nghèo khổ.
    Biết đọc đó là cánh cửa mở ra thế giới kỳ lạ và đầy thú vị. Thế nhưng trong môi trường thông minh, khi máy móc, đồ dùng được chương trình hóa để nói, thì việc biết đọc có thể không dính dáng gì đến việc làm như trong 300 năm vừa qua. Nhân viên nhận đăng ký vé máy bay, thủ kho, người vận hành máy, và thợ sửa chữa có thể làm việc bằng nghe hơn là đọc, như một tiếng nói từ máy bảo họ từng bước phải làm gì.
    Máy tính không phải là siêu nhân. Chúng cũng bị hỏng. Chúng phạm sai lầm, đôi khi là những sai lầm nguy hiểm. Chẳng có phép lạ gì về chúng cả, và chắc chắn chúng không phải là "linh hồn" hay "tinh thần" trong môi trường của chúng ta. Thế nhưng với tất cả những đặc tính của chúng, chúng là một trong những thành tựu kỳ diệu nhất của con người, vì chúng nâng cao sức mạnh trí óc như công nghệ Làn sóng thứ hai đã làm tăng sức mạnh cơ bắp của chúng ta, và chúng ta không biết trí óc của chúng ta sẽ đưa chúng ta đi đến đâu. Khi chúng ta quen thuộc hơn với môi trường thông minh, và học cách đối thoại với nó, chúng ta sẽ bắt đầu sử dụng máy tính dễ dàng hơn. Và máy tính sẽ giúp chúng ta suy nghĩ sâu hơn về chúng ta và về thế giới.
    Ngày nay, khi có một vấn đề nổi lên thì ngay lập tức chúng ta tìm cách phát hiện ra nguyên nhân của nó. Ngay cả những nhà tư tưởng sâu sắc nhất cũng thường cố gắng giải thích sự việc theo các lực nguyên nhân. Vì với trí óc tốt nhất của con người cũng không thể thao tác nhiều biến số cùng một lúc. Do đó, khi đứng trước những vấn đề thực sự phức tạp, như tại sao trẻ con lại phạm tội, tại sao lạm phát tàn phá kinh tế, làm thế nào đô thị hóa ảnh hưởng sinh thái của con sông gần đó ? Chúng ta có khuynh hướng tập trung trên hai hoặc ba nhân tố và quên những nhân tố khác có thể quan trọng hơn. Tệ hơn nữa là một nhóm chuyên gia chỉ nhấn mạnh về tầm quan trọng về lý do của nhóm họ và cho rằng lý do của nhóm khác không quan trọng. Đối diện với tình trạng suy tàn của đô thị, nhóm Chuyên gia Nhà ở cho rằng đó là do dân cư đông đúc và thiếu nhà dự trữ; nhóm chuyên gia Giao thông cho rằng đó là do việc thiếu phương tiện giao thông công cộng; nhóm Chuyên gia Phúc lợi cho rằng đó là do việc không đủ ngân sách cho các trung tâm chăm sóc xã hội; nhóm Chuyên gia Kinh tế cho rằng thuế cao làm giảm việc đầu tư; và cứ như thế mọi người đều đồng ý rằng tất cả những vấn đề đó liên quan với nhau. Nhưng không ai có thể nắm được tất cả những phức tạp trong khi cố gắng suy nghĩ sâu về giải pháp cho vấn đề. Đối với những vấn đề như thế không thể chỉ giải quyết bằng phân tích nguyên nhân và hậu quả mà còn phải phân tích cả sự phụ thuộc tương hỗ.
    Có thể nhớ và tự tương quan một số lớn lực nguyên nhân, máy tính có thể giúp chúng ta đối phó với một số vấn đề. Nó có thể truy tìm số lượng lớn dữ liệu để phát hiện ra mô hình thích hợp. Nó có thể giúp tổng hợp các dạng rời rạc thành một tổng thể lớn có ý nghĩa hơn. Khi được cho biết các quyết định hoặc các mô hình, nó có thể phát hiện ra những hậu quả của các quyết định đó, và nó làm việc đó một cách có hệ thống và hoàn toàn hơn bất kỳ cá nhân nào có thể làm. Nó có thể đề nghị những giải pháp tưởng tượng cho một số vấn đề bằng cách nhận biết những mối quan hệ không được chú ý đến trong con người và tài nguyên.
    Trong những thập kỷ sắp đến, trí thông minh, sự tưởng tượng và trực giác của con người sẽ tiếp tục quan trọng hơn máy móc. Tuy nhiên, máy tính có thể đào sâu hơn toàn bộ quan điểm văn hóa về nguyên nhân, nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về sự tương quan của sự việc, và giúp chúng ta tổng hợp "tổng thể" có ý nghĩa từ những số liệu rời rạc đang quay cuồng xung quanh chúng ta. Máy tính là một vị thuốc cho nền văn hóa đốm sáng.
    Môi trường thông minh có thể bắt đầu thay đổi không phải chỉ cái cách mà chúng ta phân tích vấn đề và hợp nhất tin tức mà còn là hóa chất trong não chúng ta. Thí nghiệm cho thấy trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường đần độn thì chúng rất thụ động, không biết nắm lấy cơ hội, chúng cẩn thận, bảo thủ và ít phải động não. Trong khi trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường thông minh thì tỏ ra có ý thức làm chủ sự việc, ít phụ thuộc vào cha mẹ hơn, chúng sáng tạo hơn, có óc tưởng tượng nhiều hơn và có cách giải quyết tốt hơn các vấn đề của cuộc sống. Một môi trường thông minh hơn có thể tạo ra những con người thông minh hơn.
    BỘ NHỚ XÃ HỘI
    Bộ nhớ có thể được chia thành hai loại : bộ nhớ của cá nhân và bộ nhớ của xã hội. Bộ nhớ cá nhân chết cùng với cá nhân. Bộ nhớ xã hội tồn tại mãi. Khả năng đáng kể của chúng ta về lưu trữ và lấy ra những bộ nhớ xã hội là bí mật của sự thành công tiến hóa của loài người. Và bất kỳ cái gì làm thay đổi cái cách mà chúng ta xây dựng, chứa, hoặc sử dụng bộ nhớ xã hội sẽ đụng đến chính vận mệnh xã hội. Trong lịch sử nhân loại đã có hai lần cách mạng hóa bộ nhớ xã hội. Ngày nay, trong khi xây dựng một môi trường tin tức mới, chúng ta đang chứng kiến một sự biến đổi khác. Trong kỷ nguyên tiền sử và Làn sóng thứ nhất, con người chứa bộ nhớ xã hội cùng với bộ nhớ cá nhân. Những người già, những người thông thái và những người khác đã mang bộ nhớ xã hội dưới dạng lịch sử, huyền thoại, truyền thuyết, và họ đã truyền chúng cho con cháu họ dưới dạng kể chuyện, bài hát, bài ca và sự nêu gương. Như thế độ lớn của bộ nhớ xã hội rất giới hạn. Dù trí nhớ của người già tốt bao nhiêu, dù bài hát hay truyện kể nhiều bao nhiêu, thì vẫn có những khoảng trống trong bộ não của bất kỳ cư dân nào.
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai phá tan hàng rào bộ nhớ. Nó mở rộng sự xóa bỏ nạn mù chữ đại chúng. Nó lưu trữ hồ sơ kinh doanh có hệ thống. Nó xây hàng ngàn thư viện và bảo tàng. Nó phát minh ra đủ tư liệu. Nói tóm lại, nó di chuyển bộ nhớ xã hội ra ngoài hộp sọ, tìm những cách mới để chứa, và như thế vượt qua những giới hạn chật hẹp. Bằng việc làm tăng sự chứa kiến thức tích lũy, nó gia tăng tất cả qui trình đổi mới và thay đổi xã hội, làm cho nền văn minh Làn sóng thứ hai có một nền văn hóa phát triển và thay đổi nhanh mà thế giới chưa từng được biết.
    Ngày nay chúng ta đang tiến đến một giai đoạn mới về bộ nhớ xã hội. Sự phi đại chúng hóa của thông tin đại chúng, sự phát minh một phương tiện thông tin đại chúng mới, việc vệ tinh vẽ bản đồ trái đất, việc theo dõi bệnh nhân bằng các bộ cảm ứng điện tử, việc máy tính hóa hồ sơ công ty - tất cả có nghĩa là chúng ta đang ghi lại những hoạt động của nền văn minh bằng những chi tiết tinh vi hơn. Nền văn minh Làn sóng thứ ba sẽ có tin tức sẵn sàng, tin tức được tổ chức tinh vi hơn.
    Khi bộ nhớ xã hội được chứa trong bộ não con người, nó luôn bị xói mòn, bị thay đổi, bị khuấy động, bị tổng hợp đi tổng hợp lại bằng nhiều cách mới. Nó là năng động, nói một cách khác nó là sống động.
    Khi nền văn minh công nghiệp di chuyển bộ nhớ ra khỏi hộp sọ con người, bộ nhớ đó được khách quan hóa, nằm trong các chế tác, sách, báo chí, hình ảnh và phim. Nhưng một khi biểu tượng nằm trong trang báo, trên hình ảnh của âm bản... thì biểu tượng đó hoàn toàn thụ động. Chỉ khi nào những biểu tượng đó được đưa trở lại bộ óc con người thì chúng mới sống lại, được thao tác hoặc được tổng hợp lại theo những cách mới. Trong khi nền văn minh Làn sóng thứ hai phát triển một cách cơ bản bộ nhớ xã hội, nó cũng làm tê cứng bộ nhớ xã hội.
    Trong nền văn minh Làn sóng thứ ba, với việc xử lý số liệu đã được chứa, máy tính đã tạo ra một tình hình chưa bao giờ có trong lịch sử : nó làm cho bộ nhớ xã hội vừa bao quát vừa sống động. Và sự tổng hợp này là một lực đẩy.
    Làm hoạt động bộ nhớ vừa mới phát triển này sẽ giải phóng những năng lượng văn hóa mới. Vì máy tính không những giúp chúng ta tổ chức và tổng hợp các nền văn hóa đốm thành một mô hình tương quan của thực tế, nó còn mở rộng các giới hạn hiểu biết. Không có thư viện hoặc hồ sơ tư liệu nào có thể suy nghĩ. Ngược lại, máy tính có thể được chúng ta hỏi về những điều không thể tưởng tượng được. Nó sẽ tạo ra những lý thuyết, tư tưởng, ý thức hệ, nghệ thuật, tiến bộ kỹ thuật, kinh tế và chính trị mới mà cho đến bây giờ chưa nghĩ được hoặc chưa tưởng tượng được. Trong cách này, nó sẽ làm tăng sự thay đổi lịch sử và đẩy đến sự đa dạng hóa xã hội Làn sóng thứ ba.
    Trong tất cả những xã hội trước, môi trường tin tức đã cung cấp phương tiện thông tin giữa con người với con người. Làn sóng thứ ba làm tăng những phương tiện này và lần đầu tiên trong lịch sử, nó cung cấp phương tiện thông tin giữa máy và máy, hoặc giữa máy và con người, nghĩa là giữa con người và môi trường thông minh xung quanh con người.
     
  16. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 15

    VƯỢT QUA SẢN XUẤT HÀNG LOẠT
    SỮA CHUỘT VÀ ÁO NGẮN TAY
    Hiện nay số phần trăm công nhân làm việc ở các ngành sản xuất trong các quốc gia tiên tiến đã và đang giảm trong 20 năm qua. Và khi sự co lại này về sản xuất gia tăng trong thế giới công nghiệp, thì ngày càng có nhiều công nghiệp sản xuất cũ được chuyển giao cho các nước được gọi là "đang phát triển", từ Angiêri đến Mêhicô và Thái Lan. Giống như xe ô tô cũ bị rỉ, hầu hết công nghiệp lạc hậu Làn sóng thứ hai được xuất khẩu từ các nước giàu đến các nước nghèo.
    Vì những lý do chiến lược cũng như là kinh tế, các quốc gia giàu không thể bỏ ngành sản xuất hàng loạt cùng một lúc, và họ không thể trở thành các ví dụ đơn thuần về "xã hội dịch vụ" hoặc "nền kinh tế tin tức". Hình ảnh các quốc gia giầu có sống ngoài sản xuất phi vật chất trong khi các quốc gia khác gắn với việc sản xuất hàng hóa vật chất là quá đơn giản hóa. Thay vào đó, chúng ta thấy các quốc gia giàu có tiếp tục sản xuất các hàng hóa then chốt, nhưng cần ít công nhân hơn để làm việc đó. Vì chúng ta đang biến đổi chính cái cách mà hàng hóa được sản xuất.
    Tính chất của sự sản xuất Làn sóng thứ hai là hàng triệu sản phẩm tiêu chuẩn hóa tương tự. Ngược lại, tính chất của sự sản xuất Làn sóng thứ ba là sản phẩm vì khách hàng từng phần hoặc hoàn toàn với giờ chạy máy ngắn.
    Người ta vẫn còn có khuynh hướng nghĩ về sự sản xuất theo nghĩa sản xuất hàng loạt, và dĩ nhiên chúng ta tiếp tục sản xuất hàng triệu điếu thuốc lá, hàng triệu mét vải, hàng triệu bóng đèn, bao diêm, gạch hoặc bugi. Chắc chắn chúng ta sẽ tiếp tục làm như thế trong một khoảng thời gian nữa. Thế nhưng đây là sản phẩm của những nền công nghiệp lạc hậu hơn là những nền công nghiệp tiên tiến, và ngày nay chúng chỉ chiếm chừng 5% số hàng hóa được sản xuất.
    Ở Nhật, Đức, Mỹ và ngay cả ở Liên Xô, trong những ngành như sản xuất đồ điện, hóa chất, kỹ thuật không gian, điện tử, xe ô tô chuyên dụng, thông tin v.v... chúng ta thấy khuynh hướng tiến về phi đại chúng hóa được phát triển. Tại các công ty Western Electric, Hewlett Packard, IBM, Polaroid, Mc Donnell Douglas, Westinghouse, General Electric ở Mỹ, công ty Plessey và ITT ở Anh, công ty Siemens ở Đức, công ty Ericsson ở Thụy Điển, người ta thấy rõ có sự dịch chuyển về sản xuất số lượng ít và sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Ở Na Uy, nhóm Aker đã chế tạo 45% số tàu cho cả nước, chuyển sang chế tạo thiết bị khai thác dầu mỏ ngoài khơi. Tức là chuyển từ "sản xuất hàng loạt" tàu bè sang sản xuất sản phẩm dùng ngoài khơi từng cái một.
    Trong ngành hóa chất, công ty Exxon đang sản xuất số lượng ít các sản phẩm plastic về ống dẫn, panô, lớp ván ngoài dàn khung v.v... Một số lượng rất nhỏ sản phẩm về paramin giống như sản xuất sữa cho chuột. Trong công nghiệp quốc phòng, hầu hết mọi người vẫn nghĩ là sản xuất hàng loạt, nhưng thực tế là "không hàng loạt". Chúng ta thấy hàng triệu bộ quân phục, mũ sắt, súng giống nhau. Thế nhưng những nhu cầu quân sự hiện đại lại không phải sản xuất hàng loạt. Máy bay phản lực chiến đấu có thể được sản xuất từ mười đến năm mươi chiếc cùng một lúc. Mỗi chiếc có thể khác nhau một ít tùy theo mục đích và quân binh chủng. Và với những đơn đặt hàng nhỏ như thế, nhiều linh kiện trong máy bay cũng được sản xuất với số lượng nhỏ.
    Ngay cả trong những ngành mà các thành phần vẫn còn được sản xuất hàng loạt với số lượng rất lớn, các thành phần được chế tạo dưới nhiều dạng khác nhau, và như thế các thành phần này được chế tạo với số lượng nhỏ. Các nhà sản xuất ô tô ở châu Âu, Mỹ và Nhật đang sản xuất hàng loạt các thành phần và các bộ phận phụ, sau đó lắp ráp chúng lại với nhau bằng hàng nghìn cách. Một thí dụ khác là áo phông ngắn tay. Áo này được sản xuất hàng loạt, nhưng kỹ thuật in chữ trên áo lại làm cho có thể in vài chục cái áo bằng một hình ảnh này, in vài chục cái áo khác bằng dòng chữ kia v.v... Ô tô, áo phông ngắn tay và các loại sản phẩm khác biểu thị giai đoạn quá độ giữa sản xuất hàng loạt và sản xuất không hàng loạt. Dĩ nhiên bước tiếp theo là hoàn toàn vì khách hàng, nghĩa là sản xuất mỗi loại đơn chiếc. Và đấy là hướng mà chúng ta đang tiến về : sản phẩm sản xuất riêng cho mỗi người dùng. Sự dịch chuyển về phục vụ khách hàng được chứng minh rõ ràng nhất trong ngành may mặc với việc đưa máy cắt lade điều khiển bằng máy tính điện tử.
    Những gì chúng ta đang nhìn thấy là sản xuất theo yêu cầu khách hàng trên cơ sở công nghệ cao chứ không phải như thời đại tiền công nghiệp. Đó chính là sự tái lắp đặt hệ thống sản xuất thịnh hành trước cuộc cách mạng công nghiệp, nhưng bây giờ được xây dựng trên cơ sở nền công nghệ tiên tiến nhất và phức tạp nhất. Giống như chúng ta đang phi đại chúng hóa thông tin đại chúng, chúng ta đang phi sản xuất hàng loạt sự sản xuất.
    HIỆU ỨNG NHỊP RẤT NHANH
    Khi một số công nghiệp chuyển từ sản xuất hàng loạt sang sản xuất từng đợt nhỏ, một số công nghệ khác đã vượt qua khỏi điều đó tiến về cách sản xuất theo yêu cầu khách hàng hoàn toàn trên cơ sở thường xuyên. Thay vì bắt đầu sản xuất và ngừng sản xuất vào lúc bắt đầu và kết thúc của mỗi lần chạy máy ngắn, các nền công nghiệp đang tiến đến giai đoạn mà máy móc tự khởi động lại ngay từ đầu, do đó một sản phẩm đầu ra đều khác nhau tiếp tục xuất ra không ngừng. Tóm lại, chúng ta đang tiến về việc khách hàng hóa máy móc trên cơ sở liên tục 24 giờ một ngày. Một sự thay đổi có ý nghĩa khác đưa khách hàng trực tiếp vào qui trình sản xuất. Trong một số ngành công nghiệp, công ty, khách hàng cung cấp chỉ tiêu trực tiếp vào máy tính của công ty sản xuất để kiểm soát đường dây sản xuất. Khi qui trình này trở thành phổ biến, khách hàng sẽ gia nhập qui trình sản xuất đến nỗi rất khó nói ai là người tiêu thụ ai là người sản xuất.
    Sau cùng, trong khi sản xuất của Làn sóng thứ hai là thuộc về Đềcáctơ theo nghĩa các sản phẩm được chia ra thành từng bộ phận, sau đó được lắp ráp cẩn thận, sản xuất của Làn sóng thứ ba là hậu Đềcáctơ hoặc theo khối. Ví dụ trước đây đồng hồ đeo tay gồm hàng trăm bộ phận, bây giờ đồng hồ điện tử chỉ gồm một khối độc nhất chạy chính xác hơn. Tương tự như thế với máy tivi, máy đánh chữ, máy chụp ảnh tự-động… Bằng việc can thiệp vào mức phân tử, bằng việc sử dụng máy tính để thiết kế hoặc bằng những công cụ sản xuất tiên tiến khác, chúng ta hợp nhất ngày càng nhiều chức năng vào các phần ngày càng ít đi, thay thế khối cho nhiều linh kiện rời. Những gì đang xảy ra có thể được so sánh với sự xuất hiện của nhiếp ảnh trong nghệ thuật hình ảnh. Thay vì tạo ra bức tranh bằng cách bôi các màu sơn lên vải vẽ, nhà nhiếp ảnh tạo ra toàn bộ hình ảnh bằng cách bấm một cái nút. Chúng ta đang chứng kiến "hiệu ứng nhịp rất nhanh" này trong sản xuất.
    Do đó, dạng mô hình rất rõ ràng. Những thay đổi rộng lớn trong môi trường công nghiệp và môi trường tin tức đã hội tụ để thay đổi cái cách mà chúng ta làm ra hàng hóa. Chúng ta đang nhanh chóng vượt qua sản xuất hàng loạt truyền thống đến sự trộn lẫn phức tạp của các sản phẩm sản xuất hàng loạt và sản xuất đơn chiếc. Mục tiêu cuối cùng của cố gắng này là rõ ràng : hàng hóa hoàn toàn theo yêu cầu của khách hàng, được thực hiện theo qui trình liên tục và theo khối toàn thể, dưới sự kiểm soát trực tiếp của người tiêu dùng.
    CÁI CHẾT CỦA NGHỀ THƯ KÝ
    Trong các quốc gia giàu có, khi lực lượng công nhân trực tiếp sản xuất giảm đi thì càng có nhiều người được cần đến để sản xuất tư tưởng, công thức toán học, kế hoạch tổ chức, hồ sơ, tư liệu, nghiên cứu thị trường, chào hàng, thư từ, sơ đồ, chỉ tiêu kỹ thuật, chương trình máy tính v.v... Việc gia tăng này trong hoạt động bàn giấy, kỹ thuật và hành chính trở thành phổ biến rộng rãi ở nhiều nước nên không cần những thống kê để làm rõ vấn đề. Một số nhà xã hội học đã nắm bắt quan điểm trừu tượng này về sản xuất như là bằng chứng về việc xã hội đã tiến vào giai đoạn "hậu công nghiệp".
    Sự việc thật ra phức tạp hơn nhiều. Vì sự phát triển lực lượng viên chức có thể được hiểu như là sự mở rộng chủ nghĩa công nghiệp chứ không phải là một bước nhảy đến hệ thống mới. Trong khi đúng là công việc trở nên trừu tượng hơn và ít cụ thể hơn, những văn phòng hiện nay mà trong đó công việc đang được thực hiện là những mô hình của nhà máy Làn sóng thứ hai với những đặc tính như công việc được chia nhỏ, lặp đi lặp lại, buồn chán và không có tính con người. Ngay cả ngày nay, việc tổ chức lại các văn phòng chỉ là sự cố gắng làm văn phòng giống nhà máy hơn.
    Trong "biểu tượng - nhà máy" này, nền văn minh Làn sóng thứ hai cũng đã tạo ra một hệ thống đẳng cấp giống nhà máy. Lực lượng lao động nhà máy được chia thành công nhân và viên chức. Văn phòng cũng chia thành loại "trừu tượng cao" và "trừu tượng thấp". Ở mức trừu tượng cao, chúng ta thấy có các nhà khoa học, kỹ sư, quản lý mà hầu hết thời gian là họp hành, hội thảo hoặc thảo văn bản, gọi điện thoại, ghi nhanh những điều cần phải làm và trao đổi tin tức. Một thăm dò gần đây cho thấy 80% thời gian của các nhà máy quản lý là thực hiện khoảng 150 đến 300 lượt "giao dịch tin tức" hàng ngày.
    Ở mức trừu tượng thấp, chúng ta thấy có loại "vô sản viên chức", giống như công nhân nhà máy, họ phải thực hiện những công việc đơn giản và thường xuyên hàng ngày. Hầu hết họ là phụ nữ và không gia nhập công đoàn. Họ là lực lượng lao động công nghiệp trong văn phòng.
    Ngày nay văn phòng cũng vượt qua mô hình Làn sóng thứ hai để tiến vào Làn sóng thứ ba. Và hệ thống đẳng cấp công nghiệp này đang bị thách thức. Toàn bộ đẳng cấp và cấu trúc của văn phòng sẽ bị đảo lộn.
    Cuộc cách mạng Làn sóng thứ ba trong văn phòng là kết quả của một số lực lượng va chạm với nhau. Nhu cầu tin tức đã bùng nổ đến mức không có lực lượng thư ký, đánh máy Làn sóng thứ hai nào có thể thích nghi nổi. Thêm vào đó, giá thành công việc giấy tờ tăng quá cao nên cần phải có phương pháp để kiểm soát nó. Năng suất làm việc văn phòng chỉ tăng 4% trong thập kỷ qua.
    Trong khi đó giá máy tính giảm đi rất nhanh nếu so với chức năng máy tính thực hiện. Trong 15 năm qua, đầu ra máy tính tăng 10.000 lần và giá thành chức năng giảm 100.000 lần. Một mặt, do giá thành tăng và năng suất công việc văn phòng dừng lại, mặt khác sự phát triển máy tính đã tạo ra một kết quả giống như "cuộc động đất về chữ". Biểu tượng chính của sự biến động này là một loại thiết bị điện tử được gọi là "máy xử lý chữ", nó còn được gọi là "máy đánh chữ thông minh" hoặc "máy soạn thảo văn bản". Máy này là một trong những nền công nghệ mới, nó sẽ tràn ngập thế giới văn phòng.
    Lấy một ví dụ về việc liên lạc thư từ trong một văn phòng Làn sóng thứ hai, khi một người quản lý muốn gửi một bức thư, thư ký được gọi vào để viết theo ý của lãnh đạo. Sau đó bức thư được sửa chữa để loại bỏ sai lầm và có thể được đánh máy đi đánh máy lại. Sau khi bản cuối cùng được duyệt thì bản chính được sao chụp để lưu trữ và bản chính được gửi đi. Nếu không tính đến bước đầu tiên là ghi ý lãnh đạo, thì cần 5 bước rõ ràng để gửi đi một bức thư và bản sao được lưu trữ. Ngày nay, máy móc thực hiện 5 bước đó đồng thời cùng một lúc.
    Hiện nay song song với việc tự động hóa văn phòng là hệ thống bưu chính điện tử dựa trên máy têlêtíp, máy FAX, máy xử lý chữ và máy tính. Và nhờ sự phát triển hệ thống vệ tinh mà mỗi công ty có thể có hệ thống bưu chính riêng của họ, không cần thông qua hệ thống bưu chính Nhà nước. Khi hệ thống nhận dạng tiếng nói được hoàn chỉnh thì công việc đánh máy cũng không cần đến nữa.
    Khi hệ thống văn phòng của Làn sóng thứ ba va chạm với hệ thống văn phòng của Làn sóng thứ hai, nó sẽ sinh ra sự lo lắng và xung đột, đòi hỏi phải tổ chức lại và cấu trúc lại, những nghề mới và cơ hội mới sẽ xuất hiện. Những hệ thống mới này sẽ thách đố đẳng cấp quản trị cũ, hệ thống cấp bậc, vai trò giới tính và ranh giới giữa các phòng của quá khứ. Nó cũng gây nên nhiều lo lắng như hàng triệu việc làm sẽ biến mất, và các nhà quản trị không thể tự ra quyết định nữa mà phải chia sẻ cho máy móc trách nhiệm ra quyết định. Điều đó có nghĩa là có viên chức cao cấp nhờ máy móc mà đi lên song cũng có người bị loại bởi máy móc.
    Vậy thì việc gì đã xảy ra với những người này và với nền kinh tế nói chung ? Cuối những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ XX, khi tự động hóa bắt đầu phát triển, các nhà kinh tế và các nhà công đoàn đã dự báo rằng sẽ có sự thất nghiệp ào ạt. Song, tình hình diễn ra trái hẳn dự báo, việc làm trong các nước công nghiệp cao phát triển mạnh. Vì mặc dù khu vực sản xuất lại bị suy tàn nhưng khu vực viên chức và dịch vụ lại phát triển. Thế nhưng việc gì sẽ xảy ra nếu cả khu vực sản xuất và khu vực văn phòng đều sa sút cả hai, công việc của ngày mai sẽ đến từ đâu ? Không ai biết được điều đó. Những dự báo và những bằng chứng thường mâu thuẫn với nhau. Những cố gắng để liên hệ việc đầu tư trong cơ khí hóa và tự động hóa với mức độ việc làm trong ngành sản xuất cho thấy hầu như chẳng có sự tương quan. Từ năm 1963 đến 1973, nước Nhật đã đầu tư cao vào nền công nghệ mới, và nó cũng có mức phát triển cao nhất trong việc làm. Nước Anh đầu tư thấp nhất trong nền công nghệ mới cho thấy việc làm bị mất nhiều nhất. Nước Mỹ có cùng kinh nghiệm như Nhật, nghĩa là cả công nghệ và việc làm mới đều tăng.
    Rõ ràng là mức độ việc làm không phải là sự phản ánh của phát triển công nghệ. Nó không phải là vấn đề tăng hay giảm việc làm do tự động hóa hoặc không tự động hóa. Việc làm là kết quả rõ ràng của nhiều chính sách hội tụ. Những áp lực về thị trường lao động có thể tăng đáng kể trong những năm sắp đến. Nhưng sẽ rất ngây thơ nghĩ rằng máy tính là nguồn gốc của hiện tượng đó.
    Những gì chắc chắn khiến cho cả văn phòng lẫn nhà máy sẽ bị cách mạng hóa trong những thập kỷ sắp đến ? Hai cuộc cách mạng trong khu vực hành chính và khu vực sản xuất sẽ tạo ra phương thức sản xuất mới cho xã hội, nghĩa là một bước khổng lồ cho nhân loại. Nó sẽ tạo ra những sự phức tạp không thể diễn tả được. Nó sẽ ảnh hưởng không chỉ đến những mặt như mức độ việc làm và cấu trúc công nghiệp, mà còn đến cả sự phân bố quyền lực kinh tế và chính trị, độ lớn của các đơn vị làm việc, sự phân công lao động quốc tế, vai trò của phụ nữ trong kinh tế, tính chất công việc, và sự chia tách giữa người sản xuất và người tiêu thụ. Nó sẽ thay đổi một sự việc dường như rất đơn giản là công việc được làm "ở đâu".
     
  17. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 16

    NGÔI NHÀ ĐIỆN TỬ
    Ngoài việc khuyến khích các đơn vị làm việc nhỏ hơn, ngoài việc phân quyền và phi đô thị hóa sản xuất, ngoài việc thay đổi tính chất hiện nay của công việc, hệ thống sản xuất mới có thể chuyển hàng triệu công việc ra khỏi nhà máy và văn phòng để đưa chúng về lại chỗ bắt đầu : ngôi nhà ở. Nếu việc này xảy ra, mỗi thiết chế mà chúng ta biết từ gia đình đến trường học và công ty sẽ bị biến đổi.
    Nhìn cảnh người nông dân cày cấy trên cánh đồng 300 năm trước đây, chỉ người điên mới mơ đến chuyện cánh đồng bớt người làm việc, người ta chen chúc nhau trong các nhà máy đô thị để kiếm sống. Và chỉ người điên mới là đúng. Ngày nay sẽ rất can đảm để đề nghị rằng những nhà máy và văn phòng lớn nhất của chúng ta có thể bị trống rỗng bớt đi một nửa, được biến thành nhà kho hoặc nhà ở. Thế nhưng chính xác đó là điều mà phương thức sản xuất mới sẽ tạo ra : việc quay trở lại công nghiệp gia đình trên cơ sở điện tử, cao hơn và hiện tại cùng với điều đó là sự nhấn mạnh về ngôi nhà như là trung tâm xã hội.
    Việc hàng triệu người chúng ta sẽ làm việc ở nhà chớ không phải ở văn phòng hoặc nhà máy sẽ gây ra ngay lập tức sự phản đối dữ dội. Và có nhiều lý do để nghi ngờ. Như "người ta không muốn làm việc ở nhà ngay cả khi họ có thể. Hãy nhìn phụ nữ đấu tranh để ra khỏi nhà và đi làm", "làm thế nào làm việc được khi trẻ con chạy xung quanh ?", "người ta sẽ không tích cực nếu không có thủ trưởng giám sát họ", "người ta cần tiếp xúc trực tiếp với người khác để phát triển sự tin cậy để làm việc với nhau" v.v... Ngay cả Các Mác cũng không đồng ý. Ông tin rằng làm việc ở nhà là một phương thức sản xuất phản động bởi vì "sự tích tụ lại trong một nhà máy là một điều kiện cần thiết cho sự phân công lao động trong xã hội". Nói tóm lại, đã có và đang có nhiều lý do xem việc đó là ngớ ngẩn.
    LÀM VIỆC Ở NHÀ
    Thế nhưng cũng có lý do chính đáng để tin 300 năm trước đây người ta không bao giờ nghĩ tới việc rời khỏi nhà và cánh đồng để làm việc trong nhà máy. Họ đã làm việc trong nhà riêng của họ và trên cánh đồng hơn 10.000 năm chứ không phải chỉ 300 năm. Toàn bộ cấu trúc cuộc sống gia đình, qui trình nuôi dạy con và sự hình thành cá tính, toàn bộ hệ thống sở hữu và quyền lực, văn hóa, chiến đấu hàng ngày để tồn tại, tất cả đều gắn với gia đình và đất đai bằng hàng ngàn sợi dây vô hình. Thế nhưng những sợi dây này đã bị phá tan trong một thời gian ngắn khi phương thức sản xuất mới xuất hiện.
    Ngày nay lại xảy ra việc đó lần nữa, và toàn bộ các lực lượng xã hội và kinh tế đang tụ hội để chuyển địa điểm làm việc.
    Cách sản xuất tiên tiến hơn của Làn sóng thứ ba làm giảm số công nhân sản xuất hàng hóa. Điều này có nghĩa là ngay cả trong khu vực sản xuất, số lượng việc làm gia tăng có thể được thực hiện bất kỳ nơi nào, ngay cả trong phòng khách của nhà riêng. Đây không phải là khoa học viễn tưởng. Ở Mỹ, các công ty Western Electric, Hewslett-Pakard, Ortho Pharmaceutical đã cho phép 35% đến 50% nhân công của họ làm việc tại nhà. Cách sản xuất của Làn sóng thứ ba không yêu cầu 100% lực lượng lao động phải tập trung ở nhà máy.
    Nếu một số lượng đáng kể công nhân trong khu vực sản xuất có thể làm việc ở nhà thì dám nói chắc rằng số người đáng kể của khu vực hành chính cũng có thể làm việc tại nhà. Thực vậy, một số lượng lớn công việc được làm ở nhà bởi những người như người chào hàng làm việc bằng cách gọi điện thoại hoặc viếng thăm khách hàng, thỉnh thoảng họ mới đến văn phòng ; như các nhà kiến trúc và nhà thiết kế ; các nhà cố vấn cho các công ty ; các bác sĩ nội khoa hoặc tâm lý ; các thầy giáo dạy nhạc và ngoại ngữ ; các nhà buôn nghệ thuật, cố vấn đầu tư, nhân viên bảo hiểm, luật sư, nhà khoa học, và những người làm nghiệp vụ, kỹ thuật...
    Hơn thế nữa, khả năng làm việc ở nhà được mở rộng một cách đáng kể nếu lắp đặt những thiết bị công nghệ mới cho "trạm làm việc" ở nhà như máy xử lý chữ, máy đánh chữ thông minh, máy FAX, máy tính và máy hội nghị viễn thông. Nếu được cung cấp những thiết bị như thế, ai sẽ là những người đầu tiên chuyển việc làm từ cơ quan về "ngôi nhà điện tử" ? Sẽ rất sai lầm nếu đánh giá thấp nhu cầu tiếp xúc trực tiếp trong kinh doanh, kể cả những thông tin tiềm thức mà không bằng lời nói đi cùng với sự tiếp xúc đó, thế nhưng cũng đúng là một số công việc không hề đòi hỏi một sự tiếp xúc nào với bên ngoài.
    Như thế những người làm việc văn phòng "trừu tượng thấp" thường thực hiện những nhiệm vụ như cho số liệu vào máy tính, đánh máy, lấy số liệu ra, xếp các cột hoặc hình ảnh, chuẩn bị hóa đơn... thì họ cần rất ít sự tiếp xúc trực tiếp. Họ có thể được chuyển về làm trong ngôi nhà điện tử của họ. Những người làm việc "trừu tượng cao" như các nhà nghiên cứu, nhà kinh tế, nhà thảo chính sách, nhà thiết kế tổ chức, cần cả thời gian tiếp xúc với người thường và đồng nghiệp cũng như là thời gian làm việc một mình.
    Nói tóm lại, khi Làn sóng thứ ba quét qua xã hội, càng ngày càng có nhiều công ty với nhiều người túm tụm xung quanh máy tính. Đặt máy tính vào nhà của họ thì họ không cần phải túm tụm nữa. Những người làm công việc hành chính Làn sóng thứ ba giống như nền sản xuất Làn sóng thứ ba không yêu cầu 100% lực lượng lao động tập trung ở nơi làm việc.
    Cũng không nên đánh giá thấp những khó khăn đi theo việc chuyển nơi làm việc của Làn sóng thứ hai là ở nhà máy và văn phòng về nơi làm việc của Làn sóng thứ ba là ở nhà. Những vấn đề động cơ thúc đẩy, quản lý, tổ chức công ty và xã hội sẽ làm sự dịch chuyển kéo dài và có thể rất đau khổ. Thông tin cũng không thay thế được hết mọi công việc. Một số công việc, đặc biệt đối với những công việc liên quan đến sự trao đổi sáng tạo với mỗi quyết định hoàn toàn đột xuất, thì việc tiếp xúc trực tiếp rất cần thiết.
    NHỮNG NGƯỜI LÀM VIỆC VIỄN THÔNG
    Những lực lượng hùng hậu đang hội tụ để đẩy mạnh mô hình ngôi nhà điện tử. Kết quả kinh tế rõ ràng nhất đối với làm việc ở nhà có liên quan đến giao thông và viễn thông. Hầu hết các quốc gia công nghiệp tiên tiến đang chịu sự khủng hoảng giao thông, với hệ thống giao thông công cộng làm việc căng thẳng, đường sá và đường cao tốc luôn bị tắc, chỗ đổ xe thiếu, ô nhiễm là vấn đề nghiêm trọng, đình công và bãi công trở thành cơm bữa, giá cả tăng vọt.
    Người làm việc phải chịu sự tăng giá của việc đi lại hàng ngày. Nhưng giá tăng này được công ty bù chênh lệch bằng lương và đến lượt người tiêu dùng phải trả cho sự chênh lệch giá này. Một số công ty đã tính giá thành và năng lượng tiêu thụ cho nhân viên của họ đi làm hàng ngày. Với số người là 2.048 thì các công ty phải bù chênh lệch là 2.730.000 đôla cho tiền đi làm hàng ngày. Cũng cùng thống kê cho thấy một nhân viên đi làm hàng ngày tiêu thụ trung bình 64,6 KW năng lượng về dầu xăng. Trong khi đó một máy tính tiêu thụ chừng 100 đến 125 W khi sử dụng, một máy điện thoại tiêu thụ chừng 1 W. Thống kê cho thấy tỉ số năng lượng tiêu thụ dùng để đi lại so với năng lượng tiêu thụ dùng hệ thống viễn thông là 29:1 nếu dùng ô tô riêng, 11:1 nếu cơ quan tổ chức chuyên chở và 2:1 nếu sử dụng hệ thống chuyên chở công cộng. Sử dụng thống kê trên để tính toán thì chỉ cần từ 12% đến 14% số người làm việc ở nhà sử dụng hệ thống viễn thông thì nước Mỹ có thể tiết kiệm 75 triệu thùng dầu năm 1975.
    So với giá xăng dầu và giá năng lượng nói chung tăng trong những thập kỷ sắp đến, thì giá thành và giá năng lượng để vận hành máy xử lý chữ, máy FAX, máy điện thoại có hình ảnh, máy Computơ sẽ rất rẻ, và như thế tỉ số năng lượng tiêu thụ dùng để đi lại so với năng lượng tiêu thụ để dùng hệ thống viễn thông càng tăng lên, ít nhất trong một lĩnh vực sản xuất đang bị Làn sóng thứ hai thống trị.
    Các công ty và nhà nước nhận thấy rằng cho làm việc ở nhà có thể làm giảm nhiều số tiền chi phí về bất động sản. Nơi sản xuất và văn phòng càng nhỏ bao nhiêu thì tiền bất động sản càng ít bấy nhiêu, và chi phí về làm nóng, làm mát, thắp sáng, bảo quản và bảo hiểm cũng càng ít bấy nhiêu.
    Việc chuyển sang làm việc tại nhà và giảm đi lại hàng ngày cũng sẽ làm giảm ô nhiễm và do đó làm bớt chi phí cho việc làm trong sạch môi trường. Các nhà môi trường học càng thành công trong việc phạt các công ty làm ô nhiễm môi trường thì các công ty càng có lý do chuyển đổi sang những hoạt động ít ô nhiễm, và do đó họ có thể phân tán chỗ làm việc lớn và tập trung thành những nơi làm việc nhỏ hơn.
    Những nhân tố xã hội cũng giúp cho sự làm việc ở nhà. Nếu làm việc 8 giờ ở cơ quan thì người ta sẵn sàng ngồi xe một giờ để đi làm, nhưng nếu giờ làm việc giảm bớt đi thì ít có người chịu ngồi xe một giờ để đến cơ quan như thế. Vì như thế qui trình đi lại là quá vô lý và gây ra sự khó chịu. Người làm việc sẵn sàng chấp nhận lương ít hơn nhưng đỡ đi lại hơn là lương cao hơn nhưng thời gian đi đến cơ quan dài với nhiều bất tiện trên đường đi làm gây ra. Một lần nữa có lý do chính đáng để ủng hộ cho sự làm việc ở nhà.
    Sau cùng, những thay đổi giá trị sâu đậm đang đi về cùng hướng, chúng ta đang chứng kiến sự di chuyển cơ bản trong thái độ đối với đơn vị gia đình. Gia đình hạt nhân là kiểu gia đình Làn sóng thứ hai đang bị khủng hoảng. Đang có khuynh hướng gắn chặt gia đình lại với nhau để cùng chia xẻ cùng một việc làm. Có những dấu hiệu cho thấy vợ chồng làm việc chung với nhau thì tỉ lệ li dị thấp hơn. Ngôi nhà điện tử có thể làm tăng khả năng chồng, vợ và có thể cả con cái làm việc chung với nhau như là một đơn vị cơ sở. Trong tương lai, người làm việc có thể đấu tranh để được quyền làm việc ở nhà.
    XÃ HỘI VỚI NHÀ LÀ TRUNG TÂM
    Nếu ngôi nhà điện tử được phát triển, một loạt các hậu quả quan trọng sẽ ảnh hưởng đến xã hội.
    Ảnh hưởng đến cộng đồng : Làm việc ở nhà liên quan đến bất kỳ số lượng dân cư nào sẽ giúp cho sự ổn định cộng đồng nhiều hơn. Nếu những người làm việc có thể thực hiện một số hoặc tất cả nhiệm vụ của họ ở nhà, họ không cần phải đi lại nhiều trong giờ làm việc, như hiện nay. Điều này có nghĩa là sự cơ động bắt buộc ít hơn, ít stress cho cá nhân hơn, ít mối quan hệ tạm thời hơn, và sự tham gia vào cộng đồng nhiều hơn.
    Ảnh hưởng môi trường : Thay vì tập trung năng lượng cho các văn phòng hoặc nhà máy lớn, nghĩa là phải tạo ra nguồn năng lượng tập trung cao, hệ thống ngôi nhà điện tử sẽ phân tán nhu cầu năng lượng và do đó dễ dùng sử dụng mặt trời, gió và các công nghệ năng lượng khác. Các thiết bị tạo ra năng lượng qui mô nhỏ cho mỗi nhà có thể thay thế cho các năng lượng tập trung lớn hiện nay. Điều này có nghĩa là ô nhiễm bị giảm đi, vì việc chuyển sang các nguồn năng lượng phục hồi được trên cơ sở qui mô nhỏ làm giảm nhu cầu nhiên liệu ô nhiễm cao, và làm giảm chất gây ô nhiễm môi trường ở một vài nơi.
    Ảnh hưởng kinh tế : Trong một hệ thống như thế, một số ngành kinh doanh sẽ bị suy giảm và một số ngành khác lại phát triển. Rõ ràng, ngành điện tử, máy computơ và ngành viễn thông sẽ phát triển mạnh. Ngược lại, các công ty dầu mỏ, công nghệ ô tô, ngành bất động sản sẽ bị ảnh hưởng nặng. Ngành máy vi tính và tin học sẽ tăng nhanh, trong khi đó ngành bưu điện sẽ bị suy thoái.
    Ở mức độ cao hơn, nếu cá nhân sở hữu các thiết bị điện tử của riêng họ, có thể họ trở thành những người làm việc độc lập chứ không phải là nhân viên theo kiểu truyền thống, điều này có nghĩa là họ sở hữu "phương tiện sản xuất". Chúng ta có thể thấy các nhóm những người làm việc ở nhà tự họ tổ chức thành các công ty nhỏ. Tất cả các loại hình thức quan hệ là tổ chức mới đều có thể.
    Ảnh hưởng tâm lý : Hình ảnh của một thế giới việc làm phụ thuộc vào biểu tượng trừu tượng gợi lên một môi trường việc làm trí óc xa lạ với chúng ta, và ở một mức độ nào đó là khách quan hơn bây giờ. Nhưng ở mức độ khác, làm việc ở nhà cho thấy sự tăng lên về các mối quan hệ trực tiếp và tình cảm cả ở trong nhà và láng giềng.
    Nhiều người sẽ làm việc ở nhà một thời gian và sau đó làm việc ở ngoài một thời gian. Các trung tâm làm việc phân tán chắc chắn sẽ nảy nở khắp nơi. Dạng lãnh đạo và quản lý phải thay đổi. Các công ty nhỏ sẽ phát triển để ký hợp đồng những nhiệm vụ hành chính với các công ty lớn và chịu trách nhiệm về tổ chức, đào tạo, quản lý đội ngũ những người làm việc ở nhà. Chắc chắn không phải tất cả mọi người đều có thể hoặc sẽ làm việc ở nhà. Cũng chắc chắn còn có một số vấn đề chúng ta cần phải giải quyết như : Việc gì sẽ xảy ra cho xã hội khi mối quan hệ trong công việc làm tạm thời và mối quan hệ tình cảm là thật khi ở nhà ? Các thành phố sẽ ra sao ? Việc gì sẽ xảy ra cho những con số thất nghiệp ? Trong một hệ thống như thế, thì từ "có việc làm" và "thất nghiệp" có ý nghĩa gì ? Sẽ rất ngây thơ nếu loại bỏ những câu hỏi và vấn đề như thế.
    Ngày nay chúng ta không thể biết rằng làm việc ở nhà có sẽ trở thành tiêu chuẩn trong tương lai hay không. Tuy nhiên, nếu dám thực hiện 10 đến 20% lực lượng lao động làm việc ở nhà trong các thập kỷ sắp đến, toàn bộ nền kinh tế của chúng ta, thành phố của chúng ta, sinh thái của chúng ta, cấu trúc gia đình của chúng ta, các giá trị của chúng ta và ngay cả chính trị của chúng ta sẽ bị thay đổi vượt quá sự hiểu biết của chúng ta.
     
  18. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 17

    GIA ĐÌNH CỦA TƯƠNG LAI
    Trong thời gian đại khủng hoảng năm 1930, hàng triệu người bị mất việc làm. Thất nghiệp không phải là kết quả của sự lười biếng cá nhân hoặc sự thất bại đạo đức mà là kết quả của những lực lượng khổng lồ ngoài sự kiểm soát của cá nhân. Sự phân phối giàu có không công bằng, đầu tư thiển cận, đầu cơ, chính sách kinh doanh ngu xuẩn, chính phủ không có khả năng, tất cả những điều đó gây ra thất nghiệp chứ không phải do nhược điểm của người bị sa thải. Trong hầu hết mọi trường hợp, cảm thấy tội lỗi là không thích hợp một cách ngây thơ.
    Ngày nay, một lần nữa cái tôi bị đập vỡ giống như vỏ trứng. Tuy nhiên, lần này tội lỗi do từ sự rạn nứt của gia đình chứ không phải từ kinh tế. Khi hàng triệu người chịu sự đổ vỡ của hôn nhân, họ cảm thấy đau khổ. Và một lần nữa, hầu hết tội lỗi quy không đúng chỗ. Đối với một số người có liên quan, sự đổ vỡ của gia đình họ có thể phản ánh những thất bại cá nhân. Nhưng khi li dị, li thân, và những dạng khác về tai họa gia đình xảy ra cho hàng triệu người cùng một lúc ở nhiều nước, thì rất vô lý nghĩ rằng đó là lý do đơn thuần cá nhân.
    Sự đổ vỡ của gia đình ngày nay là một phần của cuộc khủng hoảng chung của chủ nghĩa công nghiệp, sự sụp đổ của tất cả các thiết chế do Làn sóng thứ hai sinh ra. Đó là một bộ phận dọn đường cho môi trường xã hội Làn sóng thứ ba. Và đây là một quá trình tác động đến cuộc sống cá nhân của chúng ta, nó gây đau khổ cho mọi người và thay đổi hệ thống gia đình đến mức kỳ lạ. Ngày nay chúng ta thường nghe thấy rằng "gia đình" đang bị tan rã hoặc rằng "gia đình" là vấn đề số một. Các nhà truyền giáo, các thủ tướng, báo chí... đều nói như nhau. Tuy nhiên, khi họ nói về "gia đình", họ không muốn nói tất cả các dạng gia đình mà là một kiểu gia đình đặc biệt : gia đình Làn sóng thứ hai. Họ cho rằng người chồng là người kiếm sống, người vợ là người nội trợ, và một vài đứa con. Trong khi có nhiều loại gia đình khác hiện hữu, đây là dạng gia đình đặc biệt - gia đình hạt nhân - mà nền văn minh Làn sóng thứ hai đã lý tưởng hóa. Làm cho trở thành ưu việt và phổ biến khắp cả thế giới. Loại gia đình này đã trở thành mô hình tiêu chuẩn đã được thế giới chấp nhận vì cấu trúc của nó hoàn toàn phù hợp với những nhu cầu xã hội sản xuất hàng loạt, với những giá trị và cách sống đã được phân phối rộng rãi, với quyền lực đẳng cấp và quan liêu, và với sự phân chia rõ ràng giữa cuộc sống gia đình với cuộc sống làm việc.
    CHIẾN DỊCH ỦNG HỘ GIA ĐÌNH HẠT NHÂN
    Nếu chúng ta thật sự muốn lập lại gia đình hạt nhân theo cách thống trị cũ của nó, thì chúng ta cần phải làm một số việc sau đây :
    1) Duy trì tất cả công nghệ trong giai đoạn Làn sóng thứ hai cho một xã hội sản xuất hàng loạt và dựa trên mô hình nhà máy. Phá hủy máy computơ, vì máy computơ là một mối đe dọa lớn cho gia đình Làn sóng thứ hai. Gia đình hạt nhân cần hệ thống sản xuất hàng loạt để duy trì sự thống trị của nó, và máy computơ đang đưa chúng ta vượt qua kiểu sản xuất hàng loạt đó.
    2) Trợ cấp sản xuất và phong tỏa sự gia tăng khu vực dịch vụ trong kinh tế. Những người làm việc kỹ thuật, nghiệp vụ và hành chính dễ thích nghi với cái mới hơn, ít có thời gian quan tâm đến gia đình, năng động về trí thức và tâm lý hơn công nhân. Tỉ lệ ly dị tăng cùng với sự tăng các nghề dịch vụ.
    3) Giải quyết khủng hoảng năng lượng bằng việc sử dụng hạt nhân và những qui trình năng lượng tập trung cao khác. Gia đình hạt nhân phù hợp với xã hội tập trung hơn là xã hội phân tán, và hệ thống năng lượng ảnh hưởng mạnh mức độ tập trung xã hội và chính trị.
    4) Cấm tất cả các loại thông tin phi-đại chúng hoá, bên cạnh hệ thống tivi cáp và cassette, chúng ta không nên xem thường các tạp chí địa phương và khu vực. Các gia đình hạt nhân chỉ hoạt động tốt ở nơi nào có sự đồng tâm nhất trí quốc gia về thông tin và giá trị, chứ không ở xã hội dựa trên sự đa dạng cao.
    5) Bắt buộc phụ nữ quay về với bếp núc. Giảm lương của phụ nữ đến mức tối thiểu và làm cho phụ nữ luôn luôn bị bất lợi trong lực lượng lao động. Gia đình hạt nhân sẽ không có nhân khi không có người lớn ở nhà.
    6) Cắt bớt lương của thanh niên để làm họ phụ thuộc vào gia đình lâu dài hơn, và như thế là làm cho họ ít độc lập về tâm lý hơn. Gia đình hạt nhân bị phá vỡ khi thanh niên thoát khỏi sự kiểm soát của gia đình để đi làm việc.
    7) Cấm việc ngừa thai và cấm nghiên cứu sinh học sinh sản. Vì những điều đó làm cho phụ nữ độc lập với sự ràng buộc của gia đình hạt nhân.
    8) Giảm mức sống của toàn bộ xã hội xuống mức trước năm 1955, vì sự thịnh vượng sẽ giúp cho người độc thân, người ly dị, phụ nữ làm việc và những cá nhân không bị ràng buộc có thể tự kiếm sống. Gia đình hạt nhân cần sự nghèo khổ để giữ cho nó tồn tại.
    9) Sau cùng chống lại tất cả những thay đổi trong chính trị, nghệ thuật, giáo dục, kinh doanh v.v... dẫn đến sự đa dạng, tự do tư tưởng, tự do cá nhân. Gia đình hạt nhân chỉ thống trị trong xã hội đại chúng.
    LỐI SỐNG CỦA GIA ĐÌNH KHÔNG HẠT NHÂN
    Làn sóng thứ ba xuất hiện không có nghĩa là chấm dứt gia đình hạt nhân, cũng giống như sự xuất hiện của Làn sóng thứ hai đã không có nghĩa là sự chấm dứt của gia đình mở rộng. Nó có nghĩa là gia đình hạt nhân không còn là mô hình phù hợp cho xã hội.
    Nếu chúng ta định nghĩa gia đình hạt nhân gồm một người chồng làm việc, một người vợ trông nhà và 2 đứa con, thì hiện nay ở Mỹ bao nhiêu người đang sống theo kiểu gia đình như thế này ? Câu trả lời rất đáng ngạc nhiên : 7% của toàn bộ dân số nước Mỹ, còn lại 93% dân số nước Mỹ không còn phù hợp với mô hình gia đình Làn sóng thứ hai nữa. Ngay cả nếu gia đình hạt nhân gồm cả hai vợ chồng đều đi làm, và số con ít hoặc nhiều hơn hai thì 3/4 dân số Mỹ sống ngoài mô hình gia đình hạt nhân đó. Hơn thế nữa, nhiều bằng chứng cho thấy kiểu gia đình hạt nhân đang suy tàn trong khi các dạng gia đình khác đang tăng lên nhanh chóng. Chúng ta đang chứng kiến sự bùng nổ của những người sống độc thân. Ngày nay 1/5 số gia đình ở Mỹ là các hộ độc thân. Không phải tất cả những người này bị bắt buộc phải sống một mình, nhiều người trong số họ chọn cách sống như thế trong một khoảng thời gian nào đó. Đối với những người già sống độc thân thì đa số đã có một thời lấy vợ lấy chồng, nhưng bây giờ họ thích sống một mình. Sự phát triển của các nhóm như thế đã tạo ra các dịch vụ hoặc sản phẩm chỉ để phục vụ những cá nhân độc lập.
    Một nhóm khác đang phát triển mạnh là nhóm đàn ông và đàn bà sống chung với nhau mà không cần cưới hỏi gì cả. Các nhóm này đang tạo ra các vấn đề pháp lý về tài sản khi họ "ly dị". Đã có những dịch vụ tư vấn về các loại "hôn nhân" kiểu này.
    GIA ĐÌNH KHÔNG CON
    Một sự thay đổi có ý nghĩa khác đó là sự phát triển của các gia đình không con. Đã có nhiều tổ chức khuyến khích cuộc sống không con, và sự miễn cưỡng có con đang phổ biến ở nhiều quốc gia công nghiệp. Năm 1960 chỉ 20% phụ nữ có chồng dưới 30 tuổi là không có con. Nhưng đến năm 1975 con số đó tăng lên 32%, tức là tăng 60% trong 15 năm.
    Đối với những gia đình có trẻ con, sự phá vỡ gia đình hạt nhân càng được thấy rõ với sự gia tăng của các gia đình chỉ có một người làm cha mẹ. Những năm gần đây tình trạng ly dị, ly thân, chia lìa trong các gia đình hạt nhân càng tăng lên ! Ở Mỹ cứ 7 đứa trẻ thì có 1 đứa trẻ phải sống trong gia đình chỉ có một người làm cha mẹ, và tỉ lệ đó ở thành phố lại cao hơn đó là 1 trên 4. Sự phát triển các kiểu gia đình như thế đã mang đến sự thừa nhận rằng mặc dù có những vấn đề nghiêm trọng, loại gia đình chỉ có một bố hoặc mẹ là tốt cho trẻ con hơn là kiểu gia đình hạt nhân. Một loại gia đình khác đang trở thành phổ biến là loại gia đình mà các đôi vợ chồng đã ly dị rồi sau đó họ lập lại gia đình với các con riêng, con chung. Các quốc gia công nghệ tiên tiến còn chứng kiến các loại gia đình khác như gia đình đồng tính luyến ái, gia đình cộng đồng, gia đình những người già tụ tập với nhau để chia sẻ chi phí, gia đình ký hợp đồng, hôn nhân nối tiếp nhau v.v...
    Câu hỏi thường được đặt ra là : "Tương lai của gia đình là gì ?" và "khi gia đình hạt nhân Làn sóng thứ hai không còn thống trị thì dạng gia đình nào sẽ thay thế nó ?". Dường như trong nền văn minh Làn sóng thứ ba sẽ không có dạng gia đình nào sẽ thống trị được lâu. Thay vào đó chúng ta sẽ thấy sự đa dạng cao về cấu trúc gia đình. Điều này không có nghĩa là sự loại bỏ hoàn toàn gia đình hạt nhân, nó chỉ có nghĩa là kể từ nay trở đi, gia đình hạt nhân chỉ là một trong những dạng gia đình mà xã hội chấp nhận. Khi Làn sóng thứ ba tràn qua xã hội, hệ thống gia đình trở thành phi-đại chúng hóa cùng với hệ thống sản xuất và hệ thống tin tức trong xã hội.
    NHỮNG QUAN HỆ NÓNG
    Dạng gia đình nào sẽ biến mất và dạng nào sẽ phát triển. Điều đó phụ thuộc vào những quyết định của chúng ta đối với công nghệ và việc làm. Bên cạnh những lực lượng ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình như hệ thống thông tin, giá trị, thay đổi dân số, tôn giáo, thay đổi sinh thái, thì mối liên quan giữa dạng gia đình và cách sắp xếp việc làm đặc biệt quan trọng. Như thế, giống như gia đình hạt nhân đã được công việc nhà máy và văn phòng đẩy mạnh, thì bất kỳ sự dịch chuyển nào ra khỏi nhà máy và văn phòng cũng ảnh hưởng lớn đến gia đình. Một trong những sự dịch chuyển đó là làm việc ở nhà đã nói ở chương trước.
    Trong những ngôi nhà điện tử như thế, dù cả vợ chồng đều làm một hoặc nhiều việc khác nhau, mỗi người cần thiết phải học hỏi lẫn nhau, cùng nhau giải quyết các vấn đề, tất cả những điều đó giúp làm sâu đậm thêm sự thân mật. Những đơn vị gia đình mở rộng của kỷ nguyên Làn sóng thứ nhất mà cũng là các đơn vị sản xuất kinh tế, đã là những mô hình về mối quan hệ giữa con người và sự hỗ trợ tâm lý lẫn nhau. Những gia đình như thế đã có những vấn đề và sự căng thẳng riêng của họ, nhưng không có nhiều mối quan hệ ràng buộc, đó là các mối quan hệ "lạnh". Làm việc với nhau sẽ đảm bảo các mối quan hệ cá nhân "nóng", "phức tạp", đó là mối quan hệ mà nhiều người ngày nay mong muốn.
    Nói tóm lại, sự phát triển của làm việc tại nhà trên qui mô lớn không những chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình mà còn biến đổi các mối quan hệ trong gia đình. Nó dịch chuyển mối quan hệ trong gia đình từ "lạnh" sang "nóng".
    TÌNH YÊU HƠN NỮA
    Khi Làn sóng thứ hai tiến triển, đơn vị gia đình đã chuyển giao nhiều nhiệm vụ cho các thiết chế khác, giáo dục cho trường học, chăm sóc bệnh nhân cho bệnh viện v.v... Việc chuyển giao dần những nhiệm vụ của gia đình đã được đi cùng với sự xuất hiện của tình yêu lãng mạn.
    Một người Làn sóng thứ nhất tìm bạn đời đã có thể hỏi "người bạn đời của tôi có là một người làm việc tốt không ? Một người chữa bệnh tốt không ? Một thầy giáo tốt cho trẻ con ? Chúng tôi có thể làm việc chung với nhau không ? Người bạn đời của tôi là người có trách nhiệm hay là người vô trách nhiệm ?".
    Khi các nhiệm vụ của gia đình được phân chia ra trong kỷ nguyên Làn sóng thứ hai, những câu hỏi đó đã thay đổi. Gia đình không còn là sự tổng hợp của đội sản xuất, trường học, bệnh viện, nhà an dưỡng. Thay vào đó là các chức năng tâm lý trở thành quan trọng hơn. Hôn nhân được giả thiết cung cấp bạn đồng hành, tình cảm ấm áp, sự hỗ trợ về sinh lý. Sự dịch chuyển trong nhiệm vụ gia đình này được phản ánh trong những tiêu chuẩn mới để chọn bạn đời. Chúng được đúc kết trong một chữ độc nhất là "tình yêu". Dĩ nhiên, cuộc sống thực tế ít khi được sống với sự tưởng tượng lãng mạn. Giai cấp, tình trạng xã hội, và thu nhập tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong sự chọn lựa bạn đời. Nhưng tất cả những yếu tố đó chỉ là phụ cho Tình yêu với chữ hoa T.
    Ngôi nhà điện tử ngày mai có thể xóa bỏ lôgic đơn giản này. Những người làm việc ở nhà với bạn đời không chỉ thỏa mãn tâm lý và sinh lý mà còn đòi hỏi bộ óc, nghĩa là tình yêu cộng thêm sự nhận thức, trách nhiệm, kỷ luật, hoặc những đức hạnh liên quan đến công việc.
    CHIẾN DỊCH CHO SỰ LAO ĐỘNG CỦA TRẺ EM
    Trẻ em ở Làn sóng thứ nhất khi bắt đầu nhận thức được đã nhìn thấy cha mẹ chúng làm việc. Ngược lại, trẻ em ở Làn sóng thứ hai được tách riêng ra để đưa vào trường học và xa cách với cuộc sống làm việc thực tế. Hầu hết trẻ em ngày nay chỉ có khái niệm mơ hồ những gì cha mẹ chúng làm việc hoặc cha mẹ chúng sống như thế nào khi làm việc. Sự việc là trẻ em ngày nay hoàn toàn cách li với một trong những chiều quan trọng nhất của cuộc sống cha mẹ chúng.
    Trong ngôi nhà điện tử, trẻ em không chỉ quan sát việc làm, mà ở độ tuổi nào đó chúng có thể gắn bó với công việc của cha mẹ chúng. Những giới hạn của làn sóng thứ hai đối với lao động trẻ em, lúc đầu có ý định tốt và cần thiết, nhưng bây giờ trở thành lỗi thời, đã ngăn cản thanh niên đi vào thị trường việc làm, nên rất khó khăn đưa vào sự sắp xếp gia đình. Một số dạng việc làm có thể được thiết kế cho thanh niên và ngay cả hợp nhất với giáo dục đối với họ.
    Những hành động kỳ lạ của thanh niên hiện nay phần lớn là xuất phát từ việc áp đặt họ chấp nhận vai trò phi sản xuất trong xã hội trong một khoảng thời gian dài. Ngôi nhà điện tử sẽ trung hòa tình hình này. Thực vậy, hợp nhất thanh niên vào việc làm trong ngôi nhà điện tử có thể là giải pháp thực tế cho vấn đề thất nghiệp của thanh niên, vấn đề phạm tội của thanh thiếu niên và tình trạng bạo động mà nền kinh tế Làn sóng thứ hai không thể giải quyết được ngoài các biện pháp độc tài như gọi đi nghĩa vụ quân sự. Ngôi nhà điện tử mở ra một cách khác để đưa thanh niên trở lại với vai trò sản xuất kinh tế và xã hội.
    GIA ĐÌNH ĐIỆN TỬ MỞ RỘNG
    Như thế có thể tưởng tượng một dạng gia đình làm việc ở nhà trở thành một cái gì đấy khác biệt cơ bản : "gia đình điện tử mở rộng". Cũng có thể tưởng tượng gia đình làm việc ở nhà ngày mai có thể mời một hay hai người ngoài tham gia vào, hoặc đó là khách hàng đến liên hệ những công việc có liên quan, hoặc đó là một đứa trẻ láng giềng muốn học nghề v.v... Cũng có thể tưởng tượng một công ty hợp pháp của một gia đình như thế làm công việc kinh doanh nhỏ dưới các bộ luật đặc biệt thiết kế cho công ty cộng đồng hợp tác xã. Như thế đối với nhiều gia đình thì đó là dạng gia đình điện tử mở rộng.
    Những gia đình điện tử mở rộng như thế không phải được thiết kế để áp đặt lối sống cho người khác hoặc để cho mục đích quảng cáo, mà là một bộ phận hợp nhất của hệ thống kinh tế, và do đó cơ hội cho sự tồn tại của họ sẽ được cải thiện rõ ràng. Thực vậy, các gia đình mở rộng như thế liên kết với nhau tạo thành một mạng lưới. Những mạng lưới như thế có thể cung cấp một số kinh doanh cần thiết hoặc dịch vụ xã hội, họ thiết lập các hiệp hội kinh doanh để đại diện cho họ trong quan hệ giao dịch với thị trường.
    LÀM THANH THẢN ĐI VÀO TƯƠNG LAI
    Việc phi-đại chúng hóa gia đình sẽ mở ra nhiều khả năng chọn lựa cá nhân mới. Nền văn minh Làn sóng thứ ba sẽ không bắt mỗi người chấp nhận một dạng gia đình độc nhất. Vì lý do đó, hệ thống gia đình sẽ giải phóng chúng ta tự tìm lấy tổ ấm riêng, tự chọn lựa hoặc tự tạo ra một kiểu gia đình phù hợp với nhu cầu cá nhân.
    Nhưng để có những điều đó thì phải đối phó với những đau khổ chuyển tiếp, bị kẹt giữa cái cũ đang tan rã và cái mới chưa hình thành, hàng triệu người thấy bối rối trước sự đa dạng của cái mới. Thay vì được giải phóng, họ bị dằn vặt vì sự chọn lựa quá nhiều, họ chìm đắm trong day dứt và cô đơn, và điều đó càng tăng thêm cùng với chính sự gia tăng của chọn lựa.
    Để làm cho sự đa dạng mới trở nên phù hợp và có tác dụng tích cực, chúng ta cần phải thay đổi nhiều mặt ngay lập tức, từ đạo đức đến việc làm. Trong lĩnh vực giá trị, chúng ta cần dứt bỏ quan điểm cho rằng phạm tội đi cùng với việc phá bỏ và cấu trúc lại gia đình. Thông tin đại chúng, tòa án, hệ thống chính trị phải cố gắng làm giảm bớt mức độ phạm pháp.
    Các kiểu gia đình ngoài kiểu gia đình hạt nhân cần phải được thừa nhận. Những giá trị thay đổi chậm hơn thực tế xã hội. Như thế chúng ta chưa phát triển "tính rộng lượng" cho sự đa dạng mà một xã hội phi đại chúng hóa sẽ đòi hỏi và sinh ra. Được lớn lên trong những điều kiện Làn sóng thứ hai, được giáo dục là chỉ có một loại gia đình là "bình thường" và những loại khác là đáng nghi ngờ, đại đa số chúng ta không có thiện cảm với sự đa dạng mới về các kiểu gia đình. Chỉ khi nào mặc cảm này được thay đổi thì sự đau khổ về chuyển tiếp mới được xóa đi.
    Không thể có các kiểu gia đình khác khi mà luật lệ, thuế má, phúc lợi, trường học, nhà cửa v.v... tất cả đều thiên về kiểu gia đình Làn sóng thứ hai. Những kiểu gia đình Làn sóng thứ ba đã nói ở các phần trên sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho con đường của chúng ta đi vào ngày mai, làm nhẹ bớt nỗi đau khổ về chuyển tiếp của hàng triệu người. Nhưng dù có đau khổ đến đâu chăng nữa thì một hệ thống gia đình mới vẫn đang hình thành để thay thế hệ thống gia đình Làn sóng thứ hai. Hệ thống gia đình mới này sẽ là thể chế cốt lõi trong môi trường xã hội mới đang định hình cùng với môi trường công nghệ mới và môi trường tin tức mới.
     
  19. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 18

    KHỦNG HOẢNG TÍNH ĐỒNG NHẤT CỦA CÔNG TY
    Công ty lớn là tổ chức kinh doanh đặc trưng của kỷ nguyên công nghiệp. Ngày nay trên khắp thế giới có chừng vài ngàn "con vật" khổng lồ như thế của cả nhà nước lẫn tư nhân, đang sản xuất một tỉ lệ lớn hàng hóa và dịch vụ. Nhìn từ bên ngoài, chúng có vẻ đang điều khiển, vì chúng đang kiểm soát những nguồn tài nguyên rộng lớn, thuê hàng triệu người làm việc, và làm ảnh hưởng sâu đậm không chỉ đến kinh tế mà còn ảnh hưởng đến cả chính trị của thế giới. Máy Computơ và máy bay phản lực, khả năng lập kế hoạch, đầu tư, và thực hiện các đề án trên qui mô lớn - tất cả làm cho chúng dường như có thế lực hùng mạnh và vĩnh cửu. Vào lúc mà chúng ta cảm thấy bất lực, chúng dường như thống trị số phận của chúng ta.
    Thế nhưng những người đang điều hành các tổ chức ấy không nhìn thấy được điều đó. Thực vậy, nhiều nhà quản lý cao cấp ngày nay cũng cảm thấy thất vọng và bất lực như chúng ta. Vì giống như gia đình hạt nhân, trường học, thông tin đại chúng, và những thiết chế then chốt khác của thời đại công nghiệp, công ty cũng bị tác động, bị lung lay và bị biến đổi do sự thay đổi của Làn sóng thứ ba.
    TIỀN TỆ KABUKI
    Thay đổi làm ảnh hưởng rõ nhất đến các công ty là cuộc khủng hoảng trong kinh tế thế giới. Nền văn minh Làn sóng thứ hai đã tạo ra một thị trường toàn cầu hợp nhất, mặc dù đôi khi những cố gắng đó bị chững lại do chiến tranh, khủng hoảng và những thiên tai khác. Nhưng sau mỗi lần như thế, nền kinh tế thế giới lại hồi phục, trở nên lớn hơn và hợp nhất hơn trước.
    Ngày nay một cuộc khủng hoảng mới đang xảy ra, nhưng cuộc khủng hoảng này khác, không giống như tất cả những cuộc khủng hoảng trước trong kỷ nguyên công nghiệp, nó liên quan không phải chỉ đến tiền mà còn đến toàn bộ cơ sở năng lượng của xã hội, nó gây ra lạm phát và thất nghiệp đồng thời cùng một lúc chứ không phải là nối tiếp nhau, nó liên kết trực tiếp với các vấn đề sinh thái cơ bản, với toàn bộ công nghệ mới và với hệ thống thông tin mới dùng trong sản xuất. Sau cùng, đấy không phải chỉ là cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản mà cũng còn là của các quốc gia công nghiệp xã hội chủ nghĩa. Nói tóm lại, đó là cuộc tổng khủng hoảng của nền văn minh công nghiệp.
    Sự biến động trong kinh tế thế giới đe dọa sự tồn tại của các công ty như chúng ta đã biết, nó đưa các nhà quản lý vào trong một môi trường hoàn toàn mới lạ. Từ cuối Thế chiến II đến đầu những năm 70, các công ty hoạt động trong một môi trường tương đối yên tĩnh. Sự phát triển là then chốt. Đôla là vua. Tiền tệ ổn định trong thời gian dài. Cấu trúc tài chính hậu chiến được thành lập bởi các cường quốc công nghiệp tư bản, và hệ thống COMECON được thành lập bởi Liên Xô dường như rất vững chắc. Bức thang dẫn đến sự thịnh vượng vẫn tiếp tục đi lên, và các nhà kinh tế tự tin về khả năng của họ tiên đoán và kiểm soát bộ máy kinh tế. Ngày nay đứng trong sự đổ nát lộn xộn của lý thuyết kinh tế và đống gạch vụn của hạ tầng cấu trúc kinh tế hậu chiến, các nhà lãnh đạo các công ty đang đối diện với sự không chắc chắn ngày càng tăng. Tỉ lệ lãi đi lòng vòng. Tiền tệ xoay vòng. Tiền đôla và tiền yên thực hiện cuộc khiêu vũ Kabuki, người châu Âu xúc tiến đồng tiền mới riêng của họ. Giá vàng phá vỡ tất cả các kỷ lục.
    Trong khi tất cả những điều đó xảy ra, công nghệ và thông tin đang cấu trúc lại thị trường thế giới, làm cho sự sản xuất xuyên quốc gia vừa có thể vừa cần thiết. Và để làm dễ dàng những hoạt động như thế, hệ thống tiền tệ thời đại máy bay phản lực đang hình thành. Mạng lưới ngân hàng điện tử toàn cầu - không thể có được trước khi có computơ và vệ tinh - lập các đường liên lạc ngay tức thì giữa Hồng Kông, Manila, hoặc Singapo với Bahames, New York... Hệ thống ngân hàng này tạo ra một quả bóng "tiền tệ phi quốc gia", nghĩa là tiền tệ và tín dụng nằm ngoài sự kiểm soát của bất kỳ chính phủ nào, đang đe dọa nổ tung.
    Khối lượng lớn của hệ thống tiền tệ phi quốc gia này có cốt lõi là đồng đôla châu Âu. Chạy tán loạn từ nơi này sang nơi khác vượt qua cả biên giới quốc gia, nơi này đồng đôla châu Âu đóng góp vào sự lạm phát, nơi kia nó dịch chuyển cán cân thanh toán, nơi nọ nó phá hoại hệ thống tiền tệ. Năm 1978, tờ Tuần báo kinh doanh báo cáo về tình trạng không thể tưởng tượng nổi của hệ thống tài chính quốc tế và 180 tỉ phát triển thành thị giá 400 tỉ đôla của đôla châu Âu, mác châu Âu, franc châu Âu, yên châu Âu. Các ngân hàng đối phó với đồng tiền ngoài quốc gia, được tự do ban hành tín dụng không giới hạn và có thể cho vay với tỉ lệ gốc thỏa thuận. Ước tính ngày nay tiền châu Âu lên đến 3.000 tỉ đôla.
    Trong hệ thống kinh tế Làn sóng thứ hai các công ty phát triển dựa trên thị trường quốc gia, tiền tệ quốc gia, và chính phủ quốc gia. Tuy nhiên hạ tầng cơ sở dựa trên quốc gia này không thể điều chỉnh hoặc chứa nổi quả bong bóng châu Âu điện tử và xuyên quốc gia mới này. Các cấu trúc được thiết kế cho thế giới Làn sóng thứ hai không còn thích ứng nữa. Thực vậy, toàn bộ cơ sở điều hành các mối quan hệ buôn bán thế giới cho các công ty khổng lồ đang có nguy cơ bị phá vỡ. Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Hiệp định chung về thuế quan và buôn bán (GATT) đang bị tấn công dữ dội. Người châu Âu muốn tạo ra một cấu trúc mới do họ kiểm soát. Các nước "kém phát triển" và các nước Ả Rập với những đồng đôla dầu đang phản đối ầm ĩ để đòi có ảnh hưởng trong hệ thống tài chính tương lai và muốn thành lập IMF riêng của họ. Đồng đôla bị hạ bệ, những cú giật và cú co thắt đang chạy qua nền kinh tế thế giới. Tất cả những điều đó được tăng cường thêm bằng sự thiếu hụt năng lượng và tài nguyên, bằng sự thay đổi nhanh trong thái độ của người tiêu dùng, công nhân và người quản lý, bằng sự dịch chuyển nhanh chóng về việc mất cân bằng buôn bán, và trên tất cả là bằng tính chiến đấu đang gia tăng của các quốc gia không công nghiệp.
    Chính trong môi trường hỗn độn và hay thay đổi này, các công ty ngày nay đang chiến đấu để vận hành. Các nhà quản lý đang điều hành chúng không muốn từ bỏ quyền lực của các công ty. Họ tiếp tục chiến đấu vì lợi nhuận, sản xuất và sự thăng tiến cá nhân. Nhưng đối diện với những gì không tiên đoán được, với sự đấu tranh ngày càng tăng và những áp lực chính trị thù địch, các nhà quản lý thông minh nhất của chúng ta đang tự hỏi về mục tiêu, cấu trúc, trách nhiệm, và chính lý do tồn tại của các tổ chức của họ. Nhiều công ty lớn nhất đang chịu sự khủng hoảng về tính đồng nhất khi họ nhìn thấy cơ sở Làn sóng thứ hai một thời ổn định nay đang tan rã xung quanh họ.
    NỀN KINH TẾ GIA TỐC
    Sự khủng hoảng tính đồng nhất của các công ty được tăng thêm bằng tốc độ của các biến cố đang di chuyển. Vì chính tốc độ thay đổi đưa thêm một yếu tố mới vào quản lý, bắt buộc các nhà quản lý vốn đã bị căng thẳng trong một môi trường không quen thuộc phải quyết định nhiều hơn với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Thời gian phản ứng bị giảm đến mức tối thiểu. Ở lĩnh vực tài chính, tốc độ trao đổi đang gia tăng khi ngân hàng và các thể chế tài chính khác được computơ hóa. Một số ngân hàng phải di chuyển địa điểm nhằm có ưu thế về múi giờ khác nhau. Múi giờ được sử dụng như là một công cụ cạnh tranh.
    Trong môi trường đang nóng dần lên này, các công ty lớn dù muốn hay không cũng buộc phải đầu tư và vay mượn các loại tiền tệ khác nhau không phải trên cơ sở hàng năm, 3 tháng, hàng tuần mà trên cơ sở từng đêm hoặc từng phút. Trong makéttting, một sự gia tăng tương tự cũng giống như thế. Các nhà makétting phải phản ứng nhanh để đảm bảo sự tồn tại ngày mai. Trong kỹ thuật, trong sản xuất, trong nghiên cứu, trong chào hàng, trong đào tạo, trong tổ chức, trong mỗi phòng hoặc chi nhánh của công ty tất cả đều cần phải có những quyết định nhanh chóng và kịp thời.
    Và một lần nữa chúng ta thấy qui trình song song, mặc dù ít tiến bộ hơn, trong các quốc gia công nghiệp xã hội chủ nghĩa. Cứ mỗi kế hoạch 5 năm COMECON thường xem lại giá cả một lần, đã bị buộc phải xem lại giá cả hàng năm trong cố gắng theo kịp nhịp điệu nhanh hơn. Sau đấy giảm xuống còn 6 tháng, rồi thì có thể ít hơn.
    Sự tăng tốc này đã ảnh hưởng lớn đối với các công ty : chu kỳ tuổi thọ sản phẩm ngắn hơn, vay và mượn nhiều hơn, mua bán nhiều hơn, dạng tiêu thụ tạm thời nhiều hơn, thời gian đào tạo người làm việc lâu hơn, những thay đổi trong hợp đồng nhiều hơn, đàm phán và công việc luật pháp nhiều hơn, chuyển giao công việc nhiều hơn, phụ thuộc vào số liệu nhiều hơn, các tổ chức tạm thời nhiều hơn - tất cả những cái đó bị lạm phát làm trầm trọng thêm.
    Dưới những áp lực gia tăng này, rất dễ nhận thấy tại sao nhiều nhà kinh doanh, nhiều ngân hàng, và các nhà quản trị công ty thắc mắc họ đang làm gì và tại sao. Được lớn lên trong sự ổn định của Làn sóng thứ hai, họ thấy thế giới mà họ biết đang bị phá vỡ dưới tác động của một làn sóng thay đổi đang gia tăng.
    XÃ HỘI PHI-ĐẠI CHÚNG HÓA
    Các nhà quản lý Làn sóng thứ hai hiểu rằng sản xuất hàng loạt là phương thức sản xuất tiên tiến và hiệu quả nhất, rằng thị trường đại chúng muốn hàng hóa tiêu chuẩn hóa, rằng sự phân phối hàng loạt là thiết yếu, rằng khối công nhân đồng đều cơ bản giống nhau và có thể được thúc đẩy bằng các động cơ giống nhau. Người quản lý có khả năng biết rằng sự đồng bộ, sự tập trung, sự tối ưu và sự tập quyền là cần thiết để thực hiện mục tiêu của ông ta. Và trong môi trường Làn sóng thứ hai, những giả thiết đó cơ bản là chính xác.
    Ngày nay với sự xuất hiện của Làn sóng thứ ba, người quản lý công ty thấy tất cả những giả thiết cũ bị thách đố. Tự xã hội đại chúng mà công ty được thiết kế, đang bắt đầu phi đại chúng hóa. Không phải chỉ tin tức, sản xuất, cuộc sống gia đình mà còn có thị trường và thị trường lao động đang bắt đầu chia thành từng mảnh nhỏ hơn. Thị trường hàng loạt bị chia thành các thị trường nhỏ với sự chọn lựa, mô đen, loại, kích cở, màu và khách, hàng hóa ngày càng mở rộng.
    Sự đa dạng hàng hóa và dịch vụ trong các quốc gia công nghiệp cao thường được giải thích như là các công ty thao túng người tiêu dùng, tạo ra những nhu cầu giả, và tạo thêm lợi nhuận bằng cách đưa ra nhiều sự chọn lựa tầm thường. Chắc chắn có sự thật trong những lời buộc tội đó, thế nhưng có gì đó sâu đậm hơn đang hoạt động, vì sự khác biệt ngày càng gia tăng về hàng hóa và dịch vụ phản ánh sự đa dạng của nhu cầu, giá trị và lối sống hiện nay trong xã hội Làn sóng thứ ba phi đại chúng hóa. Sự đa dạng xã hội càng được tăng cường bằng những phân chia trong thị trường lao động, như được phản ánh trong những nghề nghiệp mới, đặc biệt trong khu vực hành chính và dịch vụ.
    Khi công việc của chúng ta trở thành ít có khả năng thay thế, thì con người cũng vậy. Không chịu bị đối xử như là có thể thay thế được, họ đến nơi làm việc với sự nhận thức rõ ràng những khác nhau về chủng tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới tính, và cá nhân. Các nhóm trong kỷ nguyên Làn sóng thứ hai đấu tranh để "hợp nhất" hoặc để được "hòa nhập" vào xã hội đại chúng, thì bây giờ họ từ chối bị đánh mất sự khác biệt của họ. Thay vào đó họ nhấn mạnh đặc tính độc đáo của họ. Và các công ty Làn sóng thứ hai, vẫn còn được tổ chức để hoạt động trong xã hội đại chúng, đang mơ hồ về việc đối phó với sự đa dạng trong nhân viên và khách hàng của họ. Những lực lượng đã tạo ra xã hội đại chúng bất ngờ bị đẩy ngược lại. Chủ nghĩa quốc gia trong bối cảnh công nghiệp cao trở thành chủ nghĩa địa phương. Các áp lực hỗn hợp nhiều nền văn hóa và chủng tộc khác nhau được thay thế bởi tính dân tộc mới. Thay vì tạo ra một nền văn hóa đại chúng, thông tin đại chúng lại phi đại chúng hóa. Đến lượt sự phát triển, nó tạo ra sự đa dạng về các dạng năng lượng và sự vượt qua sản xuất hàng loạt.
    Tất cả những thay đổi có liên quan với nhau này tạo ra một bộ khung hoàn toàn mới mà trong đó các tổ chức sản xuất của xã hội, dù được gọi là công ty hoặc xí nghiệp xã hội chủ nghĩa, sẽ hoạt động. Các nhà quản trị tiếp tục nghĩ theo cách xã hội đại chúng sẽ bị nhầm lẫn bởi một thế giới mà họ không còn nhận ra nữa.
    ĐỊNH NGHĨA LẠI CÔNG TY
    Làm nặng nề thêm cuộc khủng hoảng tính đồng nhất của công ty là sự nổi lên của một phong trào toàn thế giới đòi hỏi không phải chỉ những thay đổi khiêm tốn trong chính sách công ty này hoặc công ty kia mà là một sự định nghĩa lại mục đích của công ty.
    Trong suốt kỷ nguyên Làn sóng thứ hai, các công ty được xem như là các đơn vị kinh tế, và sự tấn công vào công ty tập trung chủ yếu vào các vấn đề kinh tế. Những lời phê bình tấn công chúng về việc trả lương thấp cho công nhân, bắt khách hàng trả giá cao, thành lập các cađen để ấn định giá, làm hàng hóa xấu, và hàng ngàn sự vi phạm kinh tế khác. Nhưng dù dữ hội như thế nào, hầu hết những lời phê bình này chấp nhận sự tự định nghĩa của công ty : họ chia sẻ quan điểm của công ty như là một thiết chế kinh tế.
    Những lời tấn công các công ty ngày nay bắt đầu từ một tiền đề hoàn toàn khác. Họ tấn công sự chia tách nhân tạo kinh tế ra khỏi chính trị, đạo đức và những mặt khác của cuộc sống. Họ đổ cho các công ty chịu trách nhiệm từ hiệu suất kinh tế, hậu quả phụ đến ô nhiễm không khí và sự căng thẳng quản trị. Các công ty bị tấn công về việc gây ra nhiễm độc amiăng, về sử dụng người nghèo như là vật thí nghiệm để thử thuốc, về việc bóp méo sự phát triển của thế giới không công nghiệp, về kỳ thị chủng tộc và kỳ thị giới tính, về bí mật và lừa đảo. Họ bị bêu riếu về việc ủng hộ các chế độ ghê tởm hoặc đảng phái chính trị, từ các ông tướng phát xít ở Chi Lê và những người kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi đến Đảng Cộng sản ở Ý.
    Vấn đề ở đây là không phải những lời buộc tội đó có được lý giải hay không, điều quan trọng hơn là khái niệm về công ty mà những lời buộc tội đó muốn ám ảnh. Vì Làn sóng thứ ba mang cùng với nó một yêu cầu cho một loại thiết chế mới - công ty không phải chỉ làm lãi hoặc sản xuất hàng hóa mà còn phải đóng góp giải quyết các vấn đề phức tạp về sinh thái, luân lý, chính trị, chủng tộc, giới tính và xã hội.
    NĂM MŨI ÁP LỰC
    Định nghĩa lại không phải là vấn đề chọn lựa mà là câu trả lời cần thiết cho 5 thay đổi cách mạng trong những điều kiện sản xuất hiện nay. Những thay đổi trong môi trường vật lý, trong đội ngũ lực lượng xã hội, trong vai trò tin tức, trong tổ chức chính phủ, và trong đạo đức đang biến công ty thành dạng mới, nhiều mặt và vạn năng. Cái đầu tiên của những áp lực mới này đến từ môi trường sinh học.
    Giữa những năm 50 của thế kỷ XX, khi Làn sóng thứ hai đạt đến giai đoạn trưởng thành ở Mỹ, dân số thế giới là 2,75 tỉ người. Ngày nay con số lên đến 4 tỉ người. Và cũng những năm đó, dân cư thế giới dùng 87 nghìn triệu triệu BTU năng lượng mỗi năm. Ngày nay chúng ta sử dụng trên 260 nghìn triệu triệu. Những năm đó mức tiêu thụ của chúng ta về nguyên liệu then chốt như kẽm là 2,7 triệu tấn hàng năm. Ngày nay con số đó là 5,6 triệu.
    Nhu cầu của chúng ta trên hành tinh đang tăng dữ dội. Kết quả là môi trường sinh học đang gửi cho chúng ta một tín hiệu báo động ô nhiễm, sa mạc hóa, nhiễm độc trong đại dương, khí hậu bị dịch chuyển - mà chúng ta quên mối nguy cơ thảm họa. Những lời cảnh cáo này nói với chúng ta rằng chúng ta không thể tổ chức sản xuất như chúng ta đã làm trong quá khứ Làn sóng thứ hai.
    Vì công ty là người tổ chức chính về sản xuất kinh tế, nó cũng là "người sản xuất" chủ yếu về tác động môi trường, nên chúng ta muốn tiếp tục sự phát triển kinh tế - thực ra là nếu chúng ta muốn tồn tại - các nhà quản lý ngày mai sẽ phải chịu trách nhiệm biến đổi tác động môi trường của công ty từ tiêu cực sang tích cực. Họ phải tự nguyện có trách nhiệm hoặc họ sẽ bị bắt buộc làm như thế, vì những điều kiện thay đổi của môi trường sinh học làm cho điều đó trở thành cần thiết. Công ty đang bị biến đổi thành một thiết chế môi trường và kinh tế, không phải bởi những người có thiện tâm, những người cấp tiến, các nhà sinh thái học hoặc các viên chức quan liêu chính phủ, mà bởi sự thay đổi chất trong mối quan hệ sản xuất với môi trường sinh học.
    Áp lực thứ hai đến từ sự thay đổi ít được để ý, đó là môi trường xã hội của công ty. Môi trường đó được tổ chức tốt hơn trước đây. Có một thời các công ty hoạt động trong một xã hội có thể nói là tổ chức kém. Ngày nay môi trường xã hội đã nhảy đến một cấp mới về tổ chức. Nó nằm trong một khối tác động qua lại được tổ chức tốt, được trợ cấp nhiều như hiệp hội, cơ quan, công đoàn v.v... Trong môi trường xã hội đông đúc này, mỗi hoạt động của công ty có tác động dội lại không phải chỉ lên cá nhân mà còn lên các nhóm có tổ chức, nhiều nhóm có nhân sự chuyên nghiệp, có báo riêng, có quan hệ với hệ thống chính trị, và có tài chính để thuê chuyên gia, luật sư, và những người giúp việc khác. Trong môi trường xã hội căng thẳng này, các quyết định công ty được nghiên cứu cẩn thận. "Ô nhiễm xã hội" do công ty sản xuất ra dưới dạng thất nghiệp, sự phá vỡ cộng đồng, tính cơ động bắt buộc v.v... được phát hiện ngay lập tức, từ đó có những tác động lên công ty để công ty có trách nhiệm hơn so với trước đây đối với những "sản phẩm" xã hội và kinh tế của họ.
    Áp lực thứ ba phản ánh trong môi trường tin tức thay đổi. Sự phi đại chúng hóa xã hội có nghĩa rằng nhiều tin tức hơn phải được trao đổi giữa các thể chế xã hội - gồm cả công ty - để duy trì các mối quan hệ cân bằng giữa chúng. Các phương pháp sản xuất Làn sóng thứ ba làm tăng thêm sự thèm khát của công ty về tin tức và nguyên liệu. Như thế công ty hút số liệu như máy hút bụi khổng lồ, xử lý số liệu, và phổ biến số liệu trong những cách phức tạp ngày càng tăng. Khi tin tức trở thành trung tâm đối với nền sản xuất, khi "các nhà quản lý tin tức" tăng nhanh trong công nghiệp, thì công ty tác động lên môi trường tin tức giống như nó tác động lên môi trường vật lý và xã hội. Sự quan trọng của tin tức dẫn đến xung đột về sự kiểm soát số liệu của các công ty - những cuộc đấu tranh về việc đưa tin tức ra công khai, yêu cầu công khai hóa kế toán (ví dụ về sản xuất công ty dầu và lợi nhuận), áp lực về quảng cáo chính xác hơn. Vì trong kỷ nguyên mới, "tác động tin tức" trở thành một vấn đề nghiêm trọng như tác động môi trường và xã hội, và công ty được xem như là một người sản xuất tin tức cũng như là người sản xuất kinh tế.
    Áp lực thứ tư đến từ chính trị và môi trường quyền lực. Sự đa dạng hóa nhanh xã hội và sự gia tăng thay đổi phản ánh khắp nơi trong sự phức tạp hóa về chính phủ. Sự phân biệt xã hội được phản ánh trong sự phân biệt chính phủ, và các công ty phải tác động lẫn nhau và với các đơn vị chính phủ ngày càng chuyên môn hóa hơn. Những đơn vị này phối hợp với nhau rất kém và mỗi đơn vị đều có quyền lực riêng, hiện nay chúng luôn nằm trong sự rối loạn về tổ chức lại. Như thế các công ty đều bị phụ thuộc vào chính trị địa phương, khu vực, quốc gia hoặc xuyên quốc gia. Ngược lại, mỗi quyết định quan trọng của công ty đều tạo ra những hậu quả chính trị gián tiếp, và nó phải có trách nhiệm về những hậu quả đó.
    Sau cùng, áp lực thứ 5 là áp lực đạo đức đang ảnh hưởng tới tất cả các thiết chế. Những hành động một thời được chấp nhận là bình thường thì nay bị xem là tham nhũng, vô đạo đức hoặc xấu xa. Như thế hối lộ của Lockheed lật nhào chính phủ ở Nhật, công ty Olin bị buộc tội chở vũ khí đến Nam Phi v.v… Quan điểm đạo đức của công ty ngày càng được xem như là có tác động trực tiếp đến hệ thống giá trị của xã hội, giống như tác động của công ty trên môi trường vật lý hoặc hệ thống xã hội. Công ty ngày càng được xem như là người sản xuất các hậu quả đạo đức.
    Dưới những điều kiện mới, công ty không thể còn hoạt động như một cái máy cho việc tối đa hóa một số nhiệm vụ kinh tế, dù là cho sản xuất hoặc cho lợi nhuận. Chính định nghĩa về "sản xuất" đã được mở rộng gồm cả những hậu quả phụ cũng như hậu quả trung tâm, những hậu quả dài hạn cũng như những hậu quả tức thời của các hoạt động công ty. Nói một cách đơn giản, mỗi công ty có nhiều "sản phẩm" hơn về môi trường, xã hội, tin tức, chính trị và đạo đức chứ không phải đơn thuần về sản phẩm kinh tế.
    CÔNG TY VẠN NĂNG
    Chúng ta lớn lên trong nền văn minh Làn sóng thứ hai có cách suy nghĩ rất khó khăn về những thể chế như sau : Chúng ta khó tưởng tượng một bệnh viện vừa có nhiệm vụ y tế lại vừa có nhiệm vụ kinh tế, một trường học vừa có nhiệm vụ giáo dục vừa có nhiệm vụ chính trị hoặc một công ty vừa có nhiệm vụ xuyên kinh tế lại vừa có nhiệm vụ phi kinh tế. Nhưng trong khi những người bảo vệ Làn sóng thứ hai chống đối sự định nghĩa lại về tổ chức sản xuất, nhiều công ty đang biến đổi cả những lời phát biểu và chính sách của họ. Nhận thức lại về cấu trúc, mục tiêu và trách nhiệm của công ty đang xảy ra để đáp ứng với những áp lực mới do Làn sóng thứ ba mang đến. Các dấu hiệu của sự thay đổi này rất nhiều.
    Các công ty đưa ra những chính sách đối với vị trí của nhà máy, thay thế sự đánh giá kinh tế thông thường bằng sự khai thác chi tiết những hậu quả xã hội. Họ xem xét nhiều nhân tố như tác động lên môi trường vật lý, tác động lên các phương tiện công cộng, và tác động lên các điều kiện việc làm ở địa phương, đặc biệt đối với những nhóm thiểu số. Như thế, các nhà máy có vị trí khác nhau có cùng ý nghĩa kinh tế nhưng khác ý nghĩa về tác động xã hội, những nhân xã hội này có thể là quan trọng hơn. Trong nhiều công ty lớn hiện nay, chúng ta có thể thấy sự nâng cấp rõ ràng về vị trí và ảnh hưởng của các nhà quản trị liên quan đến các hậu quả môi trường của công ty. Một số công ty báo cáo trực tiếp với giám đốc. Những công ty khác thành lập ban đặc biệt nằm trong hội đồng quản trị để khẳng định những trách nhiệm mới của công ty.
    Sự đáp ứng xã hội này của công ty không phải tất cả là thực chất. Một số chỉ làm theo như kiểu quan hệ giao thiệp, một số như kiểu tự phục vụ. Nhưng hầu hết đều phản ánh sự nhận thức thay đổi về nhiệm vụ công ty. Do đó, các nhà quản lý đang bắt đầu chấp nhận những điều kiện mới về sản xuất và những quan điểm cho rằng công ty phải là vạn năng.
    NHIỀU QUY TẮC CƠ BẢN
    Công ty vạn năng đòi hỏi những nhà quản trị thông minh hơn. Nó ẩn ngầm sự quản lý có khả năng xác định nhiều mục tiêu, cân nhắc chúng, tác động qua lại giữa chúng, và tìm những chính sách để hoàn thành nhiều mục tiêu cùng một lúc. Nó yêu cầu những chính sách tối ưu hóa nhiều biến số cùng một lúc.
    Một khi nhu cầu nhiều mục tiêu được chấp nhận, chúng ta bị buộc phải phát minh những phép đo mới về sự hoàn thành. Thay vì một "quy tắc cơ bản" độc nhất mà hầu hết các nhà quản trị đã được dạy cho biết, công ty Làn sóng thứ ba yêu cầu chú ý nhiều quy tắc cơ bản - những quy tắc cơ bản về xã hội, môi trường, tin tức, chính trị, và đạo đức - tất cả chúng đều quan hệ mật thiết với nhau.
    Đối diện với sự phức tạp mới này, nhiều nhà quản lý ngày nay hết sức ngạc nhiên. Họ thiếu những trí thức cần thiết cho sự quản lý Làn sóng thứ ba. Chúng ta biết làm thế nào đo được lợi nhuận của một công ty, và cũng làm thế nào đo hoặc đánh giá sự hoàn thành những mục tiêu phi kinh tế ?
    Người ta đã thiết kế một bộ các tiêu chuẩn nhiều chiều nhằm giám sát cách xử sự của công ty. Bộ này gồm 32 tiêu chuẩn khác nhau mà nhờ đó công ty có thể đo được tính hiệu quả của nó. Những tiêu chuẩn này gồm từ các mối quan hệ của công ty với người tiêu thụ, cổ đông, và công đoàn đến các tổ chức sinh thái và sự quản lý riêng của công ty. Nhưng trong 32 tiêu chuẩn này, có rất ít thông số mà công ty tương lai có thể dùng được để tự kiểm tra những hoạt động của công ty.
    Với hạ tầng cơ sở kinh tế Làn sóng thứ hai đang ở trong tình trạng hỗn độn, và sự thay đổi gia tăng khi phi đại chúng hóa lan truyền, với môi trường sinh học phát đi tín hiệu nguy hiểm, với cấp tổ chức trong xã hội đang tăng lên, và những điều kiện tin tức, chính trị, đạo đức về sản xuất đang thay đổi thì các công ty Làn sóng thứ hai trở thành lỗi thời. Do đó, những gì xảy ra là sự nhận thức lại về ý nghĩa của sản xuất và về thiết chế, đó là những nhận thức đang có trách nhiệm tổ chức lại công ty. Kết quả là một sự dịch chuyển phức tạp đến một công ty kiểu mới của ngày mai. Thiết chế mới này sẽ tổng hợp những mục tiêu kinh tế và xuyên kinh tế. Nó sẽ có nhiều quy tắc cơ bản mới.
     
  20. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    Chương 19

    GIẢI NHỮNG LUẬT LỆ MỚI
    Chúng ta đã thấy Làn sóng thứ hai áp đặt những luật lệ chi phối cách xử thế hàng ngày. Những nguyên tắc như đồng bộ hóa, tiêu chuẩn hóa, hoặc tối đa hóa được áp dụng trong kinh doanh, trong chính phủ, và trong cuộc sống hàng ngày bị ám ảnh với tính đúng giờ và biểu thời gian. Ngày nay những luật lệ mới trái ngược đang xuất hiện, đó là những luật lệ mới cơ bản cho cuộc sống mới mà chúng ta đang xây dựng trên nền kinh tế phi-đại chúng hóa, trên thông tin đại chúng phi đại chúng hóa, trên cấu trúc gia đình và công ty mới. Những bất đồng dường như vô nghĩa giữa trẻ và già, cũng như những xung khắc trong lớp học, trong phòng học, trong hậu trường chính trị thực tế là những va chạm do những luật lệ gây ra.
    Những luật lệ mới tấn công trực tiếp vào những nguyên tắc cơ bản của Làn sóng thứ hai, từ sự quan trọng của tính đúng giờ và đồng bộ hóa đến nhu cầu phải tuân theo về tiêu chuẩn hóa. Chúng thách thức tính hiệu quả của việc tập trung hóa và chuyên môn hoá. Chúng buộc chúng ta phải xem xét lại lòng tin của chúng ta rằng to hơn là tốt hơn và xem xét lại khái niệm của chúng ta về "tập trung".
    CHẤM DỨT GIỜ LÀM VIỆC TỪ 9 GIỜ ĐẾN 17 GIỜ
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai đồng bộ hóa cuộc sống hàng ngày, ràng buộc nhịp điệu ngủ và thức, làm việc và chơi theo nhịp điệu của máy móc. Lớn lên trong nền văn minh này, người ta xem như là hiển nhiên rằng công việc phải được đồng bộ hóa, rằng mỗi người phải đến và làm việc cùng một lúc, rằng giao thông cao điểm là không tránh được, rằng giờ ăn phải được xác định, và rằng trẻ con ngay từ nhỏ đã phải có ý thức về thời gian và tính đúng giờ. Người lớn không hiểu được tại sao con cái họ lại cẩu thả trong việc giữ lời hứa, và tại sao con cái họ không thể chấp nhận được giờ làm việc từ 9 giờ đến 17 giờ mà họ thấy tốt trong quá khứ.
    Lý do là Làn sóng thứ ba đang tạo ra một ý thức hoàn toàn khác về thời gian. Nếu Làn sóng thứ hai gắn cuộc sống với nhịp điệu của máy, Làn sóng thứ ba thách thức sự đồng bộ hóa máy móc này, thay đổi nhịp điệu xã hội cơ bản nhất của chúng ta, và trong khi làm như thế nó giải phóng chúng ta khỏi máy móc.
    Một khi chúng ta hiểu được điều này, thì không có gì ngạc nhiên khi thấy một trong những cải tiến phát triển nhanh nhất trong công nghiệp là "thời gian linh hoạt" - một sự sắp xếp cho phép người làm việc chọn giờ làm việc của họ trong những giới hạn đã được định trước. Thay vì yêu cầu mọi người đến nhà máy hoặc văn phòng vào cùng một lúc, công ty hoạt động theo giờ linh hoạt ấn định một số giờ mọi người phải có mặt và những giờ khác là giờ linh hoạt. Mỗi nhân viên có thể chọn thời gian làm việc một cách linh hoạt.
    Điều này có nghĩa là một "người ban ngày" - một người mà nhịp điệu sinh học mạnh nhất vào buổi sáng sớm - có thể chọn giờ làm việc bắt đầu từ 8 giờ sáng, trong khi một "người ban đêm" có thể chọn giờ làm việc bắt đầu lúc 10 giờ hoặc 10 giờ 30 phút sáng. Điều này có nghĩa là một nhân viên có thể có giờ làm việc nhà, hoặc đi sắm hàng, hoặc đưa trẻ con đi khám bệnh. Một nhóm những người làm việc có thể đặt thời gian biểu đi chơi thể thao với nhau vào sáng sớm hoặc vào buổi chiều. Nói tóm lại, thời gian tự nó đang bị phi đại chúng hóa.
    NỮ THẦN TÓC RẮN KHÔNG NGỦ
    Nhưng thời gian linh hoạt chỉ là một phần nhỏ của việc cấu trúc lại về thời gian mà Làn sóng thứ ba mang theo với nó. Chúng ta cũng đang thấy một sự dịch chuyển mạnh mẽ hướng về làm đêm. Điều này không phải xảy ra cho những nhà máy sản xuất có truyền thống làm ca đêm, mà là trong những công nghiệp dịch vụ và công nghiệp dựa trên máy tính tiên tiến.
    Thành phố hiện đại là một nữ thần tóc rắn không bao giờ ngủ và trong thành phố có tỉ lệ đang tăng những người làm việc theo nhịp điệu ban đêm. Theo thống kê của các quốc gia công nghiệp, con số người làm đêm chiếm từ 15 đến 25% lực lượng lao động. Việc làm không trọn ngày công cũng đang phát triển mạnh. Thống kê cho thấy hiện nay ở Mỹ cứ năm người làm việc thì có một người làm việc không trọn ngày công, và việc làm không trọn ngày công tăng 2 lần, nhanh hơn việc làm trọn ngày công kể từ năm 1954. Việc làm không trọn ngày công được phụ nữ, người già, người về hưu, thanh niên rất hoan nghênh, họ muốn có thời gian để có thể theo đuổi những tiêu khiển, thể thao, nghệ thuật hoặc chính trị của riêng họ.
    Do đó, những gì chúng ta thấy là sự cắt đứt cơ bản với tính đồng bộ trong Làn sóng thứ hai. Sự tổng hợp của thời gian cơ động, việc làm không trọn ngày công, và làm đêm có nghĩa là càng ngày càng có thêm người làm việc ngoài hệ thống từ 9 giờ đến 17 giờ, và toàn bộ xã hội đang dịch chuyển đến những hoạt động suốt ngày đêm.
    Điều này có nghĩa là chúng ta đang chứng kiến cái cách mà xã hội chúng ta nhận thức về thời gian, đó là sự dịch chuyển rất tế nhị nhưng rất mạnh mẽ ra khỏi nhịp điệu Làn sóng thứ hai và hướng về một cấu trúc thời gian mới trong cuộc sống. Đấy chính là sự phi đại chúng hoá thời gian song song với sự phi-đại chúng hóa những tính chất khác của cuộc sống xã hội khi Làn sóng thứ ba tràn qua.
    LẬP THỜI GIAN GẶP BẠN
    Trong khi sự cá nhân hóa ngày càng tăng về thời gian biểu chắc chắn khiến cho công việc ít khó nhọc hơn, nó cũng làm tăng sự cô đơn và sự cách ly xã hội. Nếu bạn bè, người thân và gia đình đều làm việc vào các giờ khác nhau, và những dịch vụ mới chưa có để giúp họ phối hợp thời gian biểu cá nhân, thì rất khó khăn cho họ sắp xếp tiếp xúc với xã hội. Các trung tâm xã hội cũ đang mất ý nghĩa truyền thống của chúng. Do đó, các thiết chế của Làn sóng thứ ba phải được phát minh để phù hợp với cuộc sống xã hội.
    Việc phi-đại chúng hóa thời gian cũng có những hậu quả khác. Chúng ta đã bắt đầu thấy hậu quả của nó trong giao thông. Sự cứng nhắc đưa Làn sóng thứ hai về thời gian biểu làm việc đại chúng đã tạo ra sự chen chúc đặc trưng vào giờ cao điểm. Sự phi-đại chúng hóa thời gian đã phân phối lại các luồng giao thông trong cả không gian và thời gian. Thực vậy, một cách đơn giản để đánh giá Làn sóng thứ ba đã tiến xa đến đâu trong bất kỳ cộng đồng nào là xem các luồng giao thông. Nếu giờ cao điểm giao thông vẫn còn cao, nếu giao thông đi theo một chiều vào buổi sáng và ngược lại vào buổi chiều, thì sự đồng bộ của Làn sóng thứ hai vẫn chiếm ưu thế. Nếu các luồng giao thông rải đều trong ngày, di chuyển khắp mọi hướng, thì có thể nói chắc rằng các công nghiệp Làn sóng thứ ba đã có cơ sở, người lao động dịch vụ đông hơn công nhân sản xuất, thời giờ linh hoạt đã bắt đầu phổ biến, việc làm không hết ngày công và việc làm đêm đang chiếm ưu thế và dịch vụ suốt đêm sẽ không còn xa nữa. Sự dịch chuyển về hướng thời gian biểu linh hoạt và cá nhân hóa hơn cũng làm giảm giá thành năng lượng và ô nhiễm bằng việc loại bỏ được giờ cao điểm.
    Dạng thời gian biểu mới sẽ ảnh hưởng đến nhịp điệu sống của chúng ta. Nó sẽ ảnh hưởng đến nghệ thuật của chúng ta. Nó sẽ ảnh hưởng đến đời sống sinh học của chúng ta. Vì khi đụng đến thời gian, chúng ta đụng đến toàn bộ kinh nghiệm nhân loại.
    COMPUTƠ VÀ CẦN SA
    Những nhịp điệu Làn sóng thứ ba này nổi lên từ những lực tâm lý, kinh tế và kỹ thuật. Ở một mức độ nào đó chúng xuất hiện từ tính chất thay đổi của con người. Con người ngày nay giàu có và được giáo dục hơn cha mẹ của họ, họ đối diện với nhiều khả năng chọn lựa trong cuộc sống hơn nên đơn giản họ từ chối bị đại chúng hóa. Càng nhiều người khác nhau theo nghĩa công việc họ làm hoặc sản phẩm họ tiêu dùng, thì họ càng đòi hỏi phải được đối xử như cá nhân, và họ càng chống lại thời gian biểu xã hội áp đặt cho họ.
    Nhưng ở một cấp độ khác, những nhịp điệu mới và cá nhân hóa hơn của Làn sóng thứ ba đến từ những công nghệ mới đang đi vào cuộc sống của chúng ta. Ví dụ đầu video cho phép người xem ghi lại bất kỳ chương trình nào của tivi và xem lại bất kỳ lúc nào họ muốn. Máy computơ cũng bắt đầu phân lại thời gian biểu của chúng ta và ngay cả nhận thức của chúng ta về thời gian. Thực vậy chính computơ giúp các tổ chức lớn thực hiện thời gian linh hoạt bằng cách sắp xếp hàng ngàn con người vào những thời gian biểu linh hoạt và cá nhân hóa hơn. Nhưng computơ cũng thay đổi dạng thông tin của chúng ta theo thời gian, cho phép chúng ta sử dụng và trao đổi số liệu theo cả "đồng bộ" và "không đồng bộ".
    Ngoài computơ ra chúng ta còn thấy những công nghệ khác hoặc sản phẩm đi theo hướng phi-đại chúng hóa thời gian. Các loại thuốc ảnh hưởng đến tâm tính (không nói về cần sa) thay đổi cả nhận thức về thời gian trong chúng ta.
    Trong nền văn minh Làn sóng thứ hai, máy móc được đồng bộ với nhau, và người làm việc trên dây chuyền sản xuất được đồng bộ hóa với máy móc, điều đó đã gây ra nhiều hậu quả xã hội. Ngày nay, sự đồng bộ hóa máy móc đã đạt đến mức vô cùng tinh vi, đến nỗi tốc độ nhanh nhất của con người cũng không thể nào so sánh được, nên ưu điểm của công nghệ không phải từ việc gắn người làm việc với máy móc mà là tách con người khỏi máy móc. Nói một cách khác, trong nền văn minh Làn sóng thứ hai, sự đồng bộ hóa máy móc chế ngự con người theo khả năng của máy móc và định hình tất cả cuộc sống xã hội theo một khuôn khổ chung. Nó đã làm như thế cả trong xã hội tư bản và xã hội chủ nghĩa. Ngày nay khi sự đồng bộ hóa máy móc trở nên chính xác hơn, nhân loại thay vì bị trói buộc lại đang được giải phóng dần dần.
    Một trong những hậu quả tâm lý của điều này là sự thay đổi ngay chính ý nghĩa về tính đúng giờ trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta đang chuyển từ tính đúng giờ bấm máy sang tính đúng giờ có chọn lọc hoặc theo tình hình. Sự đúng giờ không còn đúng nghĩa như đã từng có. Tính đúng giờ không phải là vô cùng quan trọng trong nền văn minh Làn sóng thứ nhất bởi vì nông nghiệp không phụ thuộc lẫn nhau mấy. Trong Làn sóng thứ hai, sự chậm trễ của một công nhân ảnh hưởng ngay tức khắc công việc của nhiều người khác trong nhà máy hoặc văn phòng. Do đó đã có áp !ực văn hóa lớn để đảm bảo tính đúng giờ.
    Ngày nay, vì Làn sóng thứ ba mang cùng với nó thời gian biểu cá nhân hóa chứ không phải thời gian biểu đại chúng hóa, những hậu quả do đi làm muộn ít rõ ràng hơn. Sự trễ muộn có thể gây khó chịu cho bạn bè hoặc đồng nghiệp, nhưng hậu quả tai hại của nó đối với sản xuất càng ngày càng ít rõ ràng. Rất khó nói khi nào tính đúng giờ là quan trọng, khi nào nó chỉ là thói quen, phép lịch sự hoặc nghi thức. Tính đúng giờ vẫn còn quan trọng trong một số trường hợp, nhưng khi máy tính phát triển và người làm việc suốt ngày đêm thì hiệu quả của người làm việc phụ thuộc vào tính đúng giờ giảm đi nhiều.
    TINH THẦN HẬU - TIÊU CHUẨN HÓA
    Làn sóng thứ ba tấn công một đặc tính cơ bản khác của cuộc sống công nghiệp : Sự tiêu chuẩn hóa. Xã hội Làn sóng thứ hai khuyến khích tiêu chuẩn hóa nhiều thứ, từ giá trị, trọng lượng, khoảng cách, kích thước, thời gian, tiền bạc đến sản phẩm và giá cả. Người kinh doanh ngày nay biết cách sản xuất sản phẩm vì khách hàng với giá thống nhất, và tìm những cách áp dụng công nghệ mới nhất để cá nhân hóa sản phẩm và dịch vụ. Trong việc làm, số công nhân làm việc giống nhau ngày càng ít đi khi sự đa dạng nghề nghiệp tăng lên. Lương và phúc lợi thay đổi theo từng người làm việc. Bản thân người làm việc cũng khác lẫn nhau, và vì họ cũng là người tiêu thụ, nên sự khác nhau tác động ngay đến thị trường.
    Việc giảm sản xuất hàng loạt truyền thống đang tạo ra sự phi-đại chúng hóa và marketing, sản xuất hàng hóa, và tiêu thụ. Người tiêu thụ bắt đầu chọn lựa không phải chỉ vì sản phẩm đáp ứng được nhu cầu cụ thể hoặc chức năng tâm lý, mà cũng bởi vì các cách mà sản phẩm thích ứng trong một tổng thể lớn hơn về sản phẩm và dịch vụ mà người tiêu dùng đang đòi hỏi. Những hình thể cá nhân hóa cao này là nhất thời, cũng giống như những cách sống mà các hình thể đang giúp xác định. Tiêu thụ, giống như sản xuất, trở thành có hình thể. Sản xuất hậu-tiêu chuẩn hóa mang cùng với nó sự tiêu thụ hậu-tiêu chuẩn hóa.
    Ngay cả giá cả bắt đầu trở thành ít tiêu chuẩn hơn, vì sản phẩm theo khách hàng yêu cầu thì sự định giá cũng theo khách hàng. Giá một chiếc ô tô phụ thuộc vào những bộ phận lắp thêm vào theo sự chọn lựa của khách hàng, giá máy bay, dàn khoan ngoài biển, tàu thủy, computơ, và những hàng công nghệ cao thay đổi theo từng chiếc một.
    Trong chính trị chúng ta cũng thấy những khuynh hướng tương tự. Các quan điểm của chúng ta ngày càng ít đồng nhất hơn khi sự đồng tâm nhất trí tan vỡ từ quốc gia này sang quốc gia khác và hàng ngàn "các nhóm vấn đề" nổi lên, mỗi nhóm đang đấu tranh cho các mục tiêu hạn hẹp và tạm thời của họ. Do đó, nền văn hóa tự nó đang bị phi-tiêu chuẩn hóa ngày càng tăng. Sự phi-đại chúng hóa về thông tin đại chúng đang phá tan hình ảnh được tiêu chuẩn hóa của thế giới do các công nghệ thông tin Làn sóng thứ hai truyền bá, và đang cung cấp vào xã hội sự đa dạng về hình ảnh, tư tưởng, biểu tượng, giá trị. Không phải chúng ta chỉ đang sử dụng sản phẩm được khách hàng hóa, mà chúng ta còn đang sử dụng những biểu tượng khác nhau để khách hàng hóa quan điểm của chúng ta thế giới.
    Chúng ta đang thấy sự xuất hiện của "tinh thần hậu-tiêu chuẩn hóa" và "con người hậu-tiêu chuẩn hóa". Điều này sẽ đưa đến những vấn đề xã hội, tâm lý và triết học, một số vấn đề đó đã ảnh hưởng chúng ta như sự cô độc và cách ly xã hội xung quanh, nhưng những vấn đề này cơ bản khác với các vấn đề về sự phục tùng tập thể đã tác động lên chúng ta trong kỷ nguyên công nghiệp.
    MA TRẬN MỚI
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai thiên nhiều về sự tập quyền hóa. Sự tiêu chuẩn hóa và sự tập quyền hóa đã giúp xây dựng nền công nghiệp qui mô lớn của nền văn minh Làn sóng thứ hai. Ngày nay, sự dịch chuyển theo hướng ngược lại là rõ ràng. Các đảng phái chính trị mới, các phương pháp quản lý mới, và các triết lý mới đang tấn công công khai các dinh lũy trung ương của Làn sóng thứ hai. Phân quyền đã và đang trở thành một vấn đề chính trị nóng bỏng.
    Triết lý phân quyền đang được truyền bá trong trường kiến trúc và kế hoạch, nơi mà các sinh viên đang khai thác những công nghệ mới cho việc kiểm soát môi trường, sưởi bằng năng lượng mặt trời, hoặc nông nghiệp hóa đô thị với mục đích giúp cho các cộng đồng tự cung tự cấp một phần trong tương lai. Tác động của những người lập kế hoạch và kiến trúc trẻ này sẽ được thấy rõ trong những năm sắp đến khi họ ở những vị trí có trách nhiệm.
    Sự phân quyền cũng được áp dụng trong quản lý, và các công ty đang chia nhỏ các phòng ban ra thành những "trung tâm lợi nhuận" nhỏ hơn và có quyền tự trị hơn. Hàng ngàn công ty đang trong qui trình tổ chức lại và phân quyền liên tục với mục đích làm giảm sự kiểm soát của trung tâm trong những hoạt động hàng ngày.
    Ở một mức độ sâu hơn, các tổ chức lớn đang thay đổi các dạng quyền hành từng làm nền tảng cho chế độ trung ương. Công ty hoặc cơ quan chính phủ tiêu biểu của Làn sóng thứ hai được tổ chức theo nguyên tắc "một thủ trưởng". Một người quản lý có thể có nhiều người dưới quyền, nhưng họ chỉ báo cáo cho một thủ trưởng cấp trên. Nguyên tắc này có nghĩa là các kênh mệnh lệnh đều tập trung về trung tâm.
    Ngày nay hệ thống đó bị phá vỡ dưới sức nặng của chính nó trong các nền công nghiệp tiên tiến, trong các dịch vụ, trong các nghề nghiệp vụ và trong nhiều cơ quan Nhà nước. Sự việc là ngày nay chúng ta có nhiều thủ trưởng hơn.
    Các tổ chức lớn đang tăng cường các đơn vị tạm thời như đặc nhiệm, ủy ban liên ngành và tổ đề án để tạo ra một cấu trúc chính thức mới gọi là "tổ chức ma trận". Thay vì kiểm soát được tập trung, tổ chức ma trận sử dụng phương pháp "hệ thống đa điều khiển". Trong hệ thống này, mỗi nhân viên được chỉ định ở một phòng và báo cáo cấp trên theo cách bình thường. Nhưng họ cũng được chỉ định cho một hay nhiều tổ mà công việc không thể chỉ do một phòng đảm nhiệm được. Như thế một tổ đề án tiêu biểu có thể có người từ phòng sản xuất, nghiên cứu, chào hàng, kỹ thuật, tài chính v.v... Các thành viên của tổ này tất cả đều báo cáo cho thủ trưởng đề án và các thủ tướng trực tiếp của từng người. Hệ thống này giúp nhân viên chú ý nhiều nhiệm vụ cùng một lúc. Nó giúp đẩy nhanh luồng tin tức và giúp tránh cách nhìn vấn đề chỉ hạn hẹp trong lăng kính của một phòng. Nó giúp tổ chức đáp ứng những trường hợp khác nhau và thay đổi nhanh. Nhưng đồng thời nó cũng tích cực phá vỡ sự kiểm soát tập quyền.
    Quan trọng hơn là kinh tế cũng bị phân quyền. Làn sóng thứ hai đã làm xuất hiện các thị trường quốc gia đầu tiên và chính khái niệm kinh tế quốc gia. Cùng với những việc đó là sự phát triển các công cụ quốc gia để quản lý kinh tế, như Ủy ban kế hoạch Nhà nước trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa, các ngân hàng trung ương, tiền tệ quốc gia và các chính sách tài chính trong các nước tư bản.
    Ngày nay các nền kinh tế quốc gia đang bị chia thành các nền kinh tế vùng và khu vực với những vấn đề khác biệt, rõ ràng riêng của họ. Các khu vực bắt đầu khác lẫn nhau về nhu cầu năng lượng, tài nguyên, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, và các nhân tố then chốt khác. Hơn thế nữa, nhiều nền kinh tế khu vực này đang đạt đến qui mô kinh tế quốc gia chỉ cách đây một thế hệ.
    Nếu không nhận biết những thực tế trên thì tất cả mọi cố gắng của chính phủ nhằm ổn định kinh tế, chống lạm phát và thất nghiệp, chỉ có thể gặp thất bại hoặc làm trầm trọng hơn tình hình. Tất cả những khuynh hướng chống tập quyền trong chính trị, trong công ty hoặc tổ chức Nhà nước, trong kinh tế với sự phát triển thông tin đại chúng, trong sự phân phối tiềm năng máy computơ, trong hệ thống năng lượng, và trong nhiều lĩnh vực khác, đang tạo ra một xã hội hoàn toàn mới và làm cho các luật lệ của ngày hôm qua trở thành lỗi thời.
    CÁI NHỎ TRONG CÁI LỚN LÀ RẤT ĐẸP
    Quy tắc tối đa hóa của Làn sóng thứ hai cũng đang bị tấn công. Chủ trương "lớn hơn là tốt hơn" đang bị tấn công dồn dập bởi "nhỏ là đẹp". Các công ty lớn đang tích cực tìm cách thu nhỏ các đơn vị của họ. Các nền công nghệ mới và sự dịch chuyển về dịch vụ làm giảm rõ rệt qui mô vận hành. Các nhà máy hoặc văn phòng theo kiểu Làn sóng thứ hai với hàng ngàn người làm việc tại một chỗ sẽ trở thành điều hiếm có trong các quốc gia công nghệ cao.
    Ngày nay, chúng ta đang bắt đầu nhận thức rằng cả to lớn lẫn nhỏ bé đều không đẹp, mà đẹp nhất là qui mô thích hợp và sự phối hợp thông minh của cả to lớn và nhỏ bé. Chúng ta đang thí nghiệm những hình thức tổ chức mới tổng hợp ưu điểm của cả hai nhằm phối hợp các tổ chức qui mô lớn và qui mô nhỏ.
    Sự tối đa hóa ở Làn sóng thứ hai đang ra đi. Qui mô phù hợp đang đến thay thế.
    Xã hội cũng đang xem xét lại quy tắc "chuyên môn hóa" của Làn sóng thứ hai. Ngày nay, trong tất cả mọi lĩnh vực, kể cả chính trị, chúng ta thấy sự thay đổi cơ bản trong thái độ đối với chuyên gia. Một thời được xem như là nguồn đáng tin cậy về sự thông minh, các chuyên gia đang bị công chúng khinh rẻ. Họ bị phê phán liên tục về tệ theo đuổi tư lợi và về tầm nhìn hạn hẹp. Càng ngày càng có nhiều cố gắng giới hạn quyền lực của các chuyên gia bằng cách đưa thêm vào những người không có chuyên môn trong các cơ quan làm quyết định.
    Nền văn minh Làn sóng thứ hai cũng khuyến khích một nguyên tắc khác : sự tập trung. Nó tập trung tiền bạc, năng lượng, tài nguyên và con người ; nó đẩy dân cư tập trung ở thành phố. Ngày nay qui trình này đã bắt đầu đi ngược, chúng ta đang thấy sự phân tán địa lý ngày càng tăng. Về mặt năng lượng, chúng ta đang tách xa dần các nguồn nguyên liệu mỏ tập trung và đang dựa vào các hình thức phân tán năng lượng rộng hơn.
    TỔ CHỨC CỦA TƯƠNG LAI
    Khi tất cả những nguyên tắc Làn sóng thứ hai được kết hợp lại với nhau trong một tổ chức độc nhất, kết quả là chế độ quan liêu công nghiệp cổ truyền : một tổ chức khổng lồ, cấp bậc, thường trực, từ trên xuống và máy móc, được thiết kế để sản xuất những sản phẩm giống nhau hoặc ra các quyết định lặp đi lặp lại trong một môi trường công nghiệp tương đối ổn định.
    Chúng ta đang áp dụng những nguyên tắc mới và chúng ta cần có những loại tổ chức mới cho tương lai. Những tổ chức Làn sóng thứ ba này có hệ thống cấp bậc theo chiều ngang, ít nặng nề như kiểu theo chiều dọc từ trên xuống dưới. Chúng gồm các thành phần nhỏ liên kết với nhau theo những hình thể tạm thời. Mỗi thành phần này có mối quan hệ riêng của nó với thế giới bên ngoài, nó có chính sách đối ngoại riêng để tự quản mà không cần phải đi qua trung tâm. Các tổ chức này vận hành hầu như suốt ngày đêm.
    Các tổ chức này cũng khác với tổ chức quan liêu ở một điểm cơ bản là chúng có thể đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau khi điều kiện cho phép. Chưa có từ ngữ để diễn tả tổ chức mới này của tương lai. Các từ "ma trận" hoặc "lâm thời" không diễn tả đầy đủ tổ chức mới. Nhưng dù chúng ta dùng từ nào chăng nữa, thì một điều gì đấy rất cách mạng vẫn đang xảy ra. Chúng ta đang tham dự không phải chỉ việc xuất hiện các dạng tổ chức mới, mà còn là sự xuất hiện của một nền văn minh mới. Những nguyên tắc mới Làn sóng thứ ba đang hình thành với những quy tắc cơ bản cho sự sống còn của xã hội.
     

Share This Page