Đọc Sách Như Một Nghệ Thuật - MORTIMER J.ADLER

Discussion in 'Ebook' started by hontuyetlan, Jul 25, 2014.

  1. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    19, Cách đọc sách khoa học xã hội

    Khái niệm và thuật ngữ khoa học xã hội bao trùm gần như tất cả những gì chúng ta đọc ngày nay. Ví dụ như báo chí hiện đại không chỉ giới hạn ở việc tường thuật lại những sự kiện, những tin tức kiểu như “ai, cái gì, tại sao, khi nào, ở đâu”. Các nhà báo thường đưa những thông tin có thật kèm theo những diễn giải, bình luận và phân tích. Cách diễn giải và bình luận thông tin kiểu này đều dựa vào những khái niệm và thuật ngữ của các ngành khoa học xã hội.
    Những khái niệm và thuật ngữ này cũng xuất hiện nhiều trong sách báo đương đại mà ta có thể gộp chúng vào cùng một nhóm liên quan đến bình phẩm xã hội. Mỗi ngày có vô số sách báo viết về các chủ đề như sắc tộc, tội phạm, thực thi pháp luật, nghèo đói, giáo dục, phúc lợi xã hội, chiến tranh và hoà bình… Phần lớn các tác phẩm này đều mượn tư tưởng và ngôn ngữ từ các ngành khoa học xã hội.
    Các tác phẩm khoa học xã hội không giới hạn ở người thuật việc thật. Có nhiều bài viết đương đại là các tác phẩm khoa học xã hội hư cấu với mục đích tạo ra một mô hình xã hội nhân tạo, cho phép chúng ta có thể tìm ra những hậu quả về mặt xã hội từ sự đổi mới công nghệ và những vấn đề khác. Tiểu thuyết, kịch, truyện… đều sử dụng những yếu tố của các môn khoa học xã hội.
    Ngoài ra, hầu như không có vấn đề xã hội, kinh tế hay chính trị nào lại chưa từng được các chuyên gia khoa học xã hội lưu tâm đến. Hoặc họ chủ động tìm tòi hoặc do những người phải trực tiếp đối mặt với những vấn đề đó mời họ nghiên cứu, họ sẽ phân loại vấn đề, xác định công thức của các vấn đề và giúp giải quyết vấn đề.
    Sự đơn giản của việc đọc sách khoa học xã hội
    Có nhiều bài viết thuộc lĩnh vực khoa học xã hội là những tài liệu rất dễ đọc, với nội dung thông tin và số liệu thường được đút rút từ kinh nghiệm quen thuộc với độc giả, phong cách miêu tả thường là tường thuật vốn đã quen thuộc với độc giả qua các tác phẩm hư cấu và lịch sử.
    Từ “xã hội” là một từ có nhiều sắc thái ý nghĩa và có thể đi liền với rất nhiều tính từ. Trong tất cả các trường hợp, ý nghĩa rộng nhất của từ này là chỉ những người sống cùng nhau thay vì sống biệt lập.
    Khi “xã hội” là một tính từ, nó cũng có nhiều nghĩa và đa phần các nghĩa đều quen thuộc như quyền lực xã hội, áp lực xã hội, cam kết xã hội hay những vấn đề xã hội. Riêng cụm từ “vấn đề xã hội” là một ví dụ về sự giản đơn bên ngoài liên quan đến cả việc đọc và viết tác phẩm khoa học xã hội.
    Những bài viết khoa học xã hội có nhiều thuật ngữ và hình ảnh ẩn dụ kèm theo xúc cảm sâu sắc thường làm độc giả lầm tưởng là dễ đọc. Tài liệu tham khảo đều nói về những vấn đề hoàn toàn quen thuộc với người đọc. Không những thế, thái độ và tình cảm của người đọc về những vấn đề này thường được phát triển một cách chắc chắn. Trong khi triết học cũng giải quyết những vấn đề của thế giới nhưng chúng ta thường ít khi đưa ra ý kiến về những câu hỏi triết học. Còn với những vấn đề do khoa học xã hội giải quyết, chúng ta thường có những ý kiến hết sức mạnh mẽ.
    Khó khăn khi đọc sách khoa học xã hội
    Điều nghịch lý là những yếu tố làm cho tác phẩm khoa học xã hội có vẻ như dễ đọc lại chính là những yếu tố làm cho các tác phẩm về lĩnh vực này khó đọc. Ví dụ, bạn thường phải có quan điểm nhất định đối với vấn đề tác giả đưa ra. Rất nhiều độc giả sợ không trung thực với ý kiến của chính họ nếu họ đứng ở một phía độc lập và tự thắc mắc về những gì họ đọc. Nhưng đây lại là điều cần thiết mỗi khi bạn đọc phân tích một tác phẩm nào đó. Quan điểm đó đã được chúng tôi nói đến trong các nguyên tắc đọc. Nếu bạn định trả lời hai câu hỏi cơ bản đầu tiên đối với bất cứ loại sách vở nào bạn đọc, bạn phải xem xét ý kiến của mình ngay lúc bắt đầu đọc vì bạn sẽ không thể hiểu được một cuốn sách nếu từ chối nghe những gì nó nói.
    Sự quen thuộc của các thuật ngữ cũng như các vấn đề khác trong tác phẩm khoa học xã hội cũng là một trở ngại đối với việc hiểu tác phẩm. Bản thân nhiều nhà khoa học xã hội tự ý thức được khó khăn này. Họ nhất quyết từ chối sử dụng dù ít hay nhiều các thuật ngữ hay khái niệm chuyên ngành trong báo chí phổ thông và các tài liệu khác. Ví dụ như khái niệm “tổng sản phẩm quốc dân” (GNP), được sử dụng với nghĩa tương đối hạn chế trong những bài viết kinh tế nghiêm túc. Nhưng một số nhà khoa học xã hội cho rằng rất nhiều nhà báo và phóng viên đã khiến khái niệm này phải “làm quá nhiều việc”. Họ sử dụng nó quá rộng rãi mà không thật sự hiểu ý nghĩa của nó. Tất nhiên là nếu tác giả của tài liệu bạn đang đọc vẫn còn băn khoăn về việc sử dụng thuật ngữ của anh ta, thì bạn với tư cách là độc giả, cũng sẽ không thể hơn thế.
    Luận điểm này sẽ được làm rõ bằng việc chỉ ra sự khác biệt giữa các ngành khoa học xã hội và các ngành khoa học tự nhiên. Chúng tôi đã quan sát và nhận thấy tác giả những cuốn sách khoa học tự nhiên thường làm rõ những gì ông ta giả định và mong muốn chứng minh. Ông ta cũng cố gắng để độc giả dễ dàng nhận ra những thuật ngữ và tiền đề được ông sử dụng. tức là giúp bạn thống nhất quan điểm với tác giả và tìm ra các tiền đề - một yêu cầu quan trọng đối với độc giả khi đọc bất cứ tác phẩm mô tả nào. Có thể bạn vẫn gặp khó khăn với cách trình bày kiểu toán học và nếu bạn không hiểu chắc chắn về những lập luận cũng như cơ sở thực nghiệm hoặc cơ sở quan sát của những kết luận được rút ra, bạn sẽ khó có thể bình phẩm được cuốn sách - tức là trả lời được câu hỏi “Cuốn sách có đúng không?” và “Ý nghĩa của nó là gì?”. Tuy nhiên, có một ý nghĩa quan trọng khiến cho việc đọc những tác phẩm loại này dễ hơn phần lớn các tác phẩm mô tả khác.
    Một cách nói khác về những gì một nhà khoa học tự nhiên làm là nói rằng ông ta đã “quy định việc dùng từ của mình”, tức là ông ta thông báo cho bạn những thuật ngữ nào cần cho lập luận của ông ấy và ông sẽ sử dụng chúng như thế nào. Những quy định như vậy thường xuất hiện ở đầu cuốn sách dưới dạng định nghĩa, định đề, tiền đề,… Vì việc quy định cụ thể cách sử dụng là một đặc điểm của các ngành khoa học tự nhiên nên người ta thường nói rằng những ngành khoa học này giống những trò chơi hay chúng có cấu trúc của một trò chơi. Việc quy định cách sử dụng cũng giống như việc thiết lập luật cho một trò chơi. Nếu bạn muốn chơi bài tây, bạn không thể vặn vẹo lại luật chơi và nói rằng ba người thì tốt hơn là chơi đôi; nếu bạn muốn chơi bài brit thì bạn không thể tranh luận với luật chung rằng quân Q ăn quân J hoặc lá bài chủ cao nhất sẽ ăn được bất cứ quân bài nào khác. Tương tự, bạn không thể vặn lại những quy định của một nhà khoa học chân chính khi đọc tác phẩm của ông ta. Bạn phải thừa nhận những quy định đó và bắt đầu đọc từ đó.
    Đến nay, việc quy định sử dụng thuật ngữ vấn chưa phổ biến trong các ngành khoa học xã hội như là với các ngành khoa học tự nhiên. Một nguyên nhân là do khoa học xã hội chưa từng bị toán học hoá. Một nguyên nhân khác là việc quy định sử dụng thuật ngữ trong các ngành khoa học xã hội hay khoa học hành vi khó thực hiện hơn. Nó có thể là một cách định nghĩa về một giai đoạn suy thoái kinh tế hay suy giảm sức khoẻ tinh thần. Thậm chí nếu một nhà khoa học xã hội cố gắng định nghĩa những thuật ngữ như vậy thì độc giả của ông ta cũng sẽ đặt dấu hỏi chấm cho cách sử dụng từ như vậy. Do đó, nhà khoa học xã hội phải tiếp tục “chiến đấu” với những thuật ngữ riêng của mình trong suốt tác phẩm của ông và sự chiến đấu đó đã gây ra vấn đề cho độc giả.
    Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của việc đọc tác phẩm khoa học xã hội xuất phát từ thực tế là tài liệu thuộc lĩnh vực này hay bị pha trộn hơn là những bài viết mô tả đơn thuần. Chúng ta đã thấy lịch sử là sự trộn lẫn giữa hư cấu và khoa học như thế nào và chúng ta phải đọc lịch sử với nhận thức đó trong đầu ra sao. Chúng ta đã quen với những kiểu trộn lẫn như vậy nhưng với trường hợp của khoa học xã hội thì có khác. Rất nhiều tác phẩm khoa học xã hội là sự pha trộn giữa khoa học, triết học, sử học và thường có chút hư cấu để viết được trơn tru hơn.
    Nếu khoa học xã hội luôn được pha trộn y hệt như vậy thì chúng ta cũng sẽ quen với nó như đã quen với lịch sử. Nhưng mọi thứ lại không như vậy. Sự pha trộn đó thay đổi giữa các cuốn sách khác nhau và người đọc có nhiệm vụ phải xác định những thành phần đa dạng tạo ra cuốn sách anh ta đọc. Những thành phần đó có thể thay đổi theo diễn biến của chính cuốn sách đó hoặc thay đổi giữa các cuốn sách với nhau khiến cho việc phân tách chúng là không dễ dàng.
    Lúc này, bạn sẽ nhớ lại bước đầu tiên một người đọc phân tích phải làm là trả lời câu hỏi “Cuốn sách đó thuộc loại nào?”. Nếu là tác phẩm hư cấu, việc trả lời câu hỏi này khá dễ dàng. Nếu là tác phẩm khoa học và triết học, việc trả lời câu hỏi này cũng không quá khó khăn. Thậm chí, với một tác phẩm lịch sử phức tạp, ít nhất người đọc cũng biết là mình đang đọc lịch sử. Nhưng những thành phần đa dạng cấu thành nên một tác phẩm khoa học xã hội lúc kết hợp theo cách này, lúc theo cách khác khiến cho câu hỏi này rất khó trả lời.
    Và bằng cách nào đó, độc giả đọc tác phẩm khoa học xã hội vẫn phải trả lời câu hỏi trên. Đây không chỉ là nhiệm vụ đầu tiên mà còn là nhiệm vụ quan trọng nhất. Nếu anh ta có thể nói cuốn sách mình đang đọc được kết hợp từ kiến thức của những ngành nào hoặc được tạo nên từ những bộ phận kiến thức nào thì anh ta đã tiến được một bước rất quan trọng trong việc hiểu cuốn sách.
    Không khó để phác hoạ lại cấu trúc một tác phẩm khoa học xã hội nhưng để đồng tình với những gì tác giả đưa ra thì không hề dễ vì hầu như mọi tác giả đều không thể quy định việc sử dụng từ ngữ của họ. Tuy nhiên, chúng ta luôn có thể hiểu những thuật ngữ quan trọng qua một vài ý nghĩa phổ biến của chúng. Từ thuật ngữ chúng ta chuyển sang nhận định, rồi lập luận. Và sẽ không có gì rắc rối nếu đó là một cuốn sách tốt. Nhưng câu hỏi cuối cùng (Ý nghĩa của cuốn sách là gì?) – đòi hỏi người đọc phải có sự thận trọng nhất định. Đến đây có thể xảy ra tình huống độc giả nói: “Tôi không thể chê những kết luận tác giả đưa ra, nhưng tôi không thể dồng ý với chúng”. Lý do có thể vì độc giả đã có những tiền kiến nhất định về cách tiếp cận vấn đề của tác giả cũng như những kết luận cuối cùng ông ta đưa ra.
    Đọc tài liệu khoa học xã hội
    Trong chương này, chúng tôi đã hơn một lần sử dụng cụm từ “tài liệu khoa học xã hội” thay cho “sách khoa học xã hội”. Sở dĩ như vậy là vì với lĩnh vực khoa học xã hội, độc giả thường phải đọc từ hai tác phẩm trở lên về cùng một chủ đề thì mới có thể hiểu được chủ đề đó. Điều này không phải vì khoa học xã hội là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, có ít tài liệu kinh điển, mà còn vì khi đọc các tác phẩm khoa học xã hội, chúng ta thường chỉ tập trung vào một vấn đề cụ thể nào đó hơn là về một tác giả hay một cuốn sách cụ thể. Ví dụ chúng ta quan tâm đến chủ đề thực thi pháp luật và đọc năm, bảy tác phẩm viết về chủ đề này hoặc chúng ta thích những đề tài như mối quan hệ giống loài, giáo dục, thuế khoá hay những vấn đề của giới chức trách địa phương nhưng không chỉ có duy nhất một tác phẩm chính thức nào nói về bất cứ chủ đề nào trên đây nên chúng ta phải đọc rất nhiều tác phẩm. Tác giả các cuốn sách khoa học xã hội thường xuyên phải cho ra đời những ấn phẩm mới, những tác phẩm được tái bản để thế chỗ cho những cuốn sách cũ.
    Ở một chừng mực nào đó, tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với sách triết học. Để hiểu trọn vẹn tác phẩm của một triết gia, bạn cũng nên cố gắng đọc tác phẩm của những triết gia có ảnh hưởng tới suy nghĩ của tác giả này. Hoặc với sách lịch sử, nếu bạn muốn khám phá ra sự thật của quá khứ thì bạn phải đọc rất nhiều cuốn sách về thời kỳ đó thay vì chỉ đọc một quyển. Trong những trường hợp này, khả năng bạn tìm thấy một cuốn sách cơ bản, có thể tin được về vấn đề đó sẽ cao hơn. Trong lĩnh vực khoa học xã hội, điều này ít khi xảy ra nên việc phải đọc nhiều hơn một tác phẩm cấp thiết hơn rất nhiều.
    Không thể áp dụng cùng một lúc các nguyên tắc của việc đọc phân tích với nhiều cuốn sách viết về cùng một chủ dề. Chúng có thể áp dụng cho từng tác phẩm một và nếu bạn muốn đọc tốt bất cứ cuốn sách nào viết về cùng một chủ đề thì bạn phải quan sát chúng. Nhưng bạn luôn cần những nguyên tắc đọc mới khi bạn chuyển từ cấp độ đọc phân tích lên cấp độ đọc đồng chủ đề. Những nguyên tắc đó sẽ được trình bày trong phần tiếp theo.
     
  2. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    PHẦN 4: Mục đích cao nhất của việc đọc sách

    20, Cấp độ đọc thứ tư – Đọc đồng chủ đề
    Từ đầu đến giờ, chưa có phần nào nói cụ thể về cách đọc hai hoặc nhiều cuốn sách về cùng một chủ đề. Chúng tôi mới chỉ ra rằng, khi chạm đến một vấn đề nào đó, không chỉ có một quyển sách nói về nó. Khi đọc đồng chủ đề, điều đầu tiên là bạn phải biết rằng có nhiều cuốn chứ không phải chỉ một cuốn sách bàn về một vấn đề cụ thể. Yêu cầu thứ hai khó hơn rất nhiều, đó là bạn phải biết được cuốn sách nào nhìn chung nên đọc.
    Nói “cùng chủ đề” nghĩa là gì? Nếu chủ đề là về một giai đoạn hoặc một sự kiện lịch sử thì khá rõ ràng, nhưng nếu về lĩnh vực khác thì còn nhiều điều phải nói. Cuốn theo chiều gió và Chiến tranh và hoà bình là hai cuốn tiểu thuyết cùng viết về chiến tranh, nhưng giữa chúng không có nhiều nét tương đồng. Cuốn The Charterhouse of Parma (Nhà tế bần ở Parma) của Stendhal cũng viết về cuộc xung đột, các cuộc chiến của Napoleon như trong tiểu thuyết của Tolstoy. Nhưng không có tác phẩm nào đơn thuần kể về cuộc chiến theo đúng nghĩa của từ này. Chiến tranh chỉ làm nền cho cả hai câu chuyện, làm bối cảnh cho phần lớn cuộc đời nhân vật, còn bản thân câu chuyện mới là cái thu hút sự chú ý của chúng ta. Có thể nhờ đọc truyện, ta biết thêm vài điều về cuộc chiến. Thực tế, Tolstoy từng nói rằng ông đã biết thêm nhiều về trận Waterloo nhờ sự lý giải của Stendhal. Nhưng không nên tìm đến tiểu thuyết khi mục đích của ta là tìm hiểu về chiến tranh.
    Điều này cũng tương tự với tác phẩm hư cấu vì người viết tiểu thuyết có phong cách hoàn toàn khác người viết tả thực. Nhưng như thế không có nghĩa là trong sách tả thực không có chuyện như thế xảy ra.
    Giả sử, bạn thích đọc về tình yêu và có nhiều tác phẩm văn học viết về đề tài này nên bạn sẽ gặp chút khó khăn khi phải chọn ra cuốn sách nào nên đọc. Đứng trước số lượng sách tham khảo lớn, chúng ta làm thế nào để khẳng định được chủ đề này đúng là chủ đề ta đang nghiên cứu? Ví dụ, một người nói “Tôi thích ăn phó mát”, người khác nói “Tôi thích bóng đá”, người thứ ba lại bảo “Tôi yêu nhân loại”, cả ba người này có dùng từ “yêu” theo nghĩa chung không? Thật ra, chúng ta chỉ ăn được phó mát chứ không ăn được bóng đá hay nhân loại; chúng ta chơi được bóng đá chứ không chơi được phó mát hay nhân loại; và dù câu “Tôi yêu nhân loại” mang nghĩa gì thì nghĩa đó cũng không áp dụng được cho phó mát hay bóng đá. Nhưng cả ba người đều dùng chung một động từ. Có nguyên nhân sâu xa nào khó nhìn ra trên bề mặt của điều này? Vì câu hỏi rất khó nên ngay cả khi đã trả lời được, liệu ta có thể khẳng định là mình đã xác định đúng thế nào là “cùng chủ đề” không?
    Đối mặt với tình huống phức tạp này, bạn hãy quyết định thu hẹp giới hạn, chỉ tìm hiểu về tình yêu với con người thôi – tình yêu giữa người với người, đồng giới hay khác giới, bằng tuổi hay khác tuổi,… Nhưng bạn sẽ thấy vẫn còn nhiều vấn đề kể cả khi bạn chỉ đọc một số ít sách về chủ đề đã chọn. Ví dụ, tình yêu, theo một số nhà văn, chỉ bao gồm lòng vị kỷ, thường là ham muốn xác thịt. Tình yêu đơn thuần là tên gọi của sự hấp dẫn mà hầu hết các sinh vật đều cảm thấy đối với bạn khác giới. Nhưng một số nhà văn khác lại cho rằng tình yêu không phải sự vị kỷ mà là lòng vị tha thuần khiết. Nếu coi sự vi kỷ luôn ám chỉ việc muốn một điều tốt cho bản thân, còn lòng vị tha mang nghĩa muốn điều tốt cho người khác thì giữa chúng có điểm gì chung?
    Ít nhất, vị kỷ và vị tha có điểm chung về xu hướng, về ham muốn theo khía cạnh rất trừu tượng của hai từ này. Nhưng việc đi sâu nghiên cứu vấn đề sẽ giúp bạn sớmnhận ra các nhà văn coi tinh túy của tình yêu mang tính nhận thức hơn là ham muốn. Những nhà văn này quan niệm tình yêu là một hành động nhận thức, không phải là hành động cảm xúc. Nói cách khác, việc biết một người có những phẩm chất đáng được hâm mộ luôn đi trước việc ham muốn người đó. Họ không thể phủ nhận việc có ham muốn, nhưng họ phủ nhận việc có thể gọi ham muốn là tình yêu.
    Giả sử, bạn xác định được một vài nét chung trong rất nhiều quan niệm về tình yêu. Nhưng như vậy không có nghĩa là mọi vấn đề đều đã xong. Hãy xem cách tình yêu biến hoá giữa con người với nhau. Tình yêu của nam nữ khi đang yêu nhau có giống khi đã cưới nhau không? Tình yêu lứa tuổi 20 có giống khi đã ở tuổi 70? Tình yêu của người phụ nữ dành cho chồng mình có giống tình yêu dành cho các con? Tình yêu của người mẹ có đổi thay khi con cái đã trưởng thành? Cách anh trai yêu em gái có khác gì cách người ấy yêu cha mình? Khi trưởng thành, con cái có yêu cha mẹ theo cách khác không? Tình yêu của một người đàn ông với vợ hay với một vài người phụ nữ khác có giống với tình bạn của anh ta với bạn cùng giới mình không? Các mối quan hệ với những người bạn cùng giới khác nhau ở chỗ nào? “Tình yêu” và “tình bạn” là hai từ khác nhau thì những tình cảm mà chúng gọi tên có thật sự khác nhau? Hai người khác tuổi có thể làm bạn với nhau không? Hai người có những khác biệt đáng kể về tiền bạc hoặc trí thông minh có thể làm bạn với nhau không? Phụ nữ có kết bạn được không? Anh trai với em gái, hay anh em trai, chị em gái có trở thành bạn của nhau được không? Liệu bạn có thể duy trì được tình bạn với một người bạn vay tiền hay cho người ta vay tiền không? Nếu không thì tại sao? Một cậu học trò có yêu cô giáo của mình được không? Người giáo viên đó là nam hay nữ thì có sự khác biệt gì? Nếu có rôbôt mang hình dáng con người thật, liệu con người có yêu được chúng không? Nếu chúng ta phát hiện ra sinh vật có trí thông minh tồn tại trên Sao Hoả hay trên bất kỳ hành tinh nào khác, chúng ta có yêu được chúng không? Ta có yêu được một người mà ta chưa bao giờ gặp mặt không, ví dụ như một minh tinh hay một vị tổng thống? Nếu chúng ta thấy ghét ai, đó có thật sự là một biểu hiện của tình cảm?
    Trên đây là một số câu hỏi đặt ra khi bạn đọc, dù đó chỉ là một phần tài liệu mô tả chuẩn xác về tình yêu. Có nhiều câu hỏi khác cũng có thể được đặt ra. Sự nghịch lý mang tính tò mò luôn xuất hiện trong quá trình đọc đồng chủ đề. Dù kiểu đọc này được định nghĩa là đọc hai hay nhiều cuốn sách về cùng một chủ đề, nghĩa là việc xác định chủ đề diễn ra trước việc đọc, nhưng theo một khía cạnh thì việc xác định chủ đề phải đi sau chứ không phải đi trước việc đọc. Trong trường hợp đọc về tình yêu, bạn có thể phải đọc một tá hay một trăm tác phẩm trước khi bạn nhận ra là mình đang đọc về cái gì. Và khi đã đọc xong, rất có thể bạn kết luận là một nửa số sách bạn đọc không liên quan gì đến chủ đề cả.
    Vai trò của đọc kiểm soát trong đọc đồng chủ đề
    Chúng tôi đã nói nhiều lần rằng các cấp độ đọc là nối tiếp nhau, cấp độ cao hơn gồm những cấp độ trước hoặc dưới nó. Điều này sẽ được giải thích trong trường hợp đọc đồng chủ đề.
    Vấn đề này đã được nói tới trong phần giải thích mối quan hệ giữa đọc kiểm soát và đọc phân tích. Chúng tôi đã chỉ ra hai bước của đọc kiểm soát là đọc lướt và đọc sơ qua nắm ý chính. Hai bước này giúp bạn đoán định trước hai bước đầu của việc đọc phân tích. Đọc lướt tạo tiền đề cho bước thứ nhất của đọc phân tích, trong đó, bạn xác định chủ đề của cuốn sách đang đọc, biết sách đó thuộc loại nào và vạch ra cấu trúc tác phẩm. Đọc sơ qua nắm ý chính, dù cũng rất hữu ích cho bước đầu tiên của việc đọc phân tích, nhưng cơ bản là để chuẩn bị cho bước thứ hai: hiểu được nội dung cuốn sách bằng cách thống nhất thuật ngữ với tác giả, diễn giải các nhận định của tác giả và theo sát các lý lẽ tác giả đưa ra.
    Xét trên một số khía cạnh chung, cả đọc kiểm soát và đọc phân tích đều có thể coi là sự đoán trước hoặc chuẩn bị cho việc đọc đồng chủ đề. Trên thực tế, độc giả thường dùng cách đọc kiểm soát làm công cụ chủ yếu trong đọc đồng chủ đề.
    Giả sử, bạn có một danh mục gồm hàng trăm tên sách mà thoạt nghe đều viết về tình yêu. Nếu bạn đọc phân tích từng cuốn một, bạn không chỉ có một khái niệm rõ ràng về vấn đề đang cần nghiên cứu - chính là “chủ đề chung” trong đọc đồng chủ đề - mà bạn còn biết được cuốn nào không liên quan gì đến tình yêu, tức là nằm ngoài phạm vi nhu cầu tìm hiểu của bạn. Nhưng nếu vậy có thể bạn phải mất nhiều tháng, nhiều năm mới hoàn thành xong. Vì vậy, chúng ta cần phải dùng “lối đi tắt” trong đọc đồng chủ đề.
    Chính kỹ năng đọc kiểm soát sẽ tạo ra lối đi tắt. Điều đầu tiên phải làm sau khi bạn tạo được thư mục của mình là tiến hành khảo sát tất cả các cuốn sách có trong thư mục đó. Bạn không nên đọc phân tích bất cứ cuốn nào trước khi bạn xem qua chúng. Việc đọc qua cuốn sách không giúp bạn hiểu hết được tính phức tạp của chủ đề hay toàn bộ ý tứ sâu xa mà tác giả gửi gắm, nhưng nó sẽ thực hiện hai chức năng chính. Một là, nó đem lại cho bạn một khái niệm đủ rõ ràng về vấn đề để bạn có thể đọc phân tích hiệu quả một số tác phẩm trong danh mục. Hai là, nó cho phép bạn rút ngắn thư mục của mình để dễ kiểm soát hơn.
    Lời khuyên trên đặc biệt hữu ích với các bạn sinh viên, nhất là sinh viên sắp tốt nghiệp và làm nghiên cứu. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, một số người có học vấn ở mức này sẽ có khả năng đọc chủ động và phân tích. Khả năng đó có thể chưa đủ và còn xa mới đạt đến trình độ của người đọc hoàn hảo, nhưng ít nhất họ biết cách đọc được phần cốt lõi của cuốn sách, đưa được một vài nhận định có lý về cuốn sách và đặt được vấn đề cốt lõi đó vào kế hoạch nghiên cứu chủ đề của họ. Nhưng tất cả sự nỗ lực đó sẽ là lãng phí nếu họ không biết làm sao để đọc sách nhanh hơn người khác. Với bất cứ cuốn sách hay bài báo nào, họ đều dành một lượng thời gian đọc như nhau. Như vậy, họ không dành thời gian xứng đáng cho những tác phẩm có giá trị và phí phạm thời gian với những tác phẩm không đáng phải chú trọng nhiều.
    Một độc giả có kinh nghiệm đọc kiểm soát không chỉ biết cuốn sách đó thuộc loại gì và hiểu được sơ qua nội dung của nó. Anh ta còn phát hiện ra, trong khoảng thời gian đọc kiểm soát ngắn ngủi đó, liệu cuốn sách có chứa đựng nội dung gì quan trọng về vấn đề anh ta đang tìm hiểu hay không. Có thể anh ta chưa biết điều này cụ thể là gì, phải đợi đến mức đọc cao hơn mới rõ, nhưng anh ta đã biết được một trong hai điều: hoặc là cuốn sách này hay, đáng để đọc hoặc là nó không mang lại hiểu biết mới mẻ nào về vấn đề nên dù có lý thú hay nhiều thông tin đến đâu cũng không nên đọc nó làm gì.
    Đối với việc đọc phân tích, chúng tôi đã nói rằng độc giả có kinh nghiệm thường tiến hành đồng thời với các bước mà người mới bắt đầu đọc phải làm từng bước một. Việc chuẩn bị cho đọc đồng chủ đề tức là đọc soát qua một lượt các cuốn sách trong thư mục của bạn dường như cũng có thể được tiến hành đồng thời với việc đọc phân tích. Nhưng theo chúng tôi dù người đọc có kinh nghiệm đến đâu cũng rất khó làm được việc này. Đây cũng là một lỗi mà rất nhiều nhà nghiên cứu trẻ mắc phải. Với lối suy nghĩ có thể gộp hai bước làm một, họ đọc tất cả mọi thứ với cùng một nhịp độ rất chậm hoặc rất nhanh. Nhưng điều này là sai với hầu hết các sách mà họ đọc.
    Từ việc đọc kiểm soát, bạn đã biết rõ sách nào liên quan trực tiếp đến chủ đề bạn quan tâm và có thể tiếp tục việc đọc theo cách đọc đồng chủ đề. Điều đó không có nghĩa là tiếp tục việc đọc theo cách đọc phân tích. Tất nhiên, trong tổng số các cuốn tạo thành tài liệu nghiên cứu về chủ đề của bạn, bạn vẫn phải đọc từng cuốn với những kỹ năng của việc đọc phân tích. Nhưng bạn phải luôn ghi nhớ một điều là nghệ thuật đọc phân tích chỉ có thể áp dụng khi đọc một cuốn sách đơn lẻ, khi việc hiểu toàn bộ cuốn sách đó là mục đích trước mắt. Còn mục đích của việc đọc nhiều sách về cùng một chủ đề lại khá khác.
    Năm bước đọc đồng chủ đề
    Giả sử, thông qua đọc kiểm soát một số sách, bạn đã có khái niệm tương đối rõ về chủ đề mà ít nhất vài cuốn trong số đó bàn tới. Hơn thế nữa, đó lại chính là chủ đề bạn muốn nghiên cứu. Khi đó, bạn sẽ làm gì?
    Có năm bước để tiến hành phương pháp đọc này. Chúng tôi không gọi đây là những quy tắc, dù hoàn toàn có thể gọi thế vì nếu bỏ qua bất cứ bước nào, việc đọc sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều, thậm chí là không thể. Các bước sẽ được trình bày theo trình tự diễn ra của chúng. mất đi bước nào thì không thể thực hiện được các bước tiếp theo.
    Bước 1: Tìm những phần có liên quan
    Giả sử, bạn đã biết cách đọc phân tích. Bởi vậy, bạn hoàn toàn có thể đọc kỹ lưỡng từng cuốn sách có liên quan. Nếu thế, ưu tiên hàng đầu sẽ là việc đọc từng cuốn sách riêng lẻ, còn vấn đề cần giải quyết bị đẩy xuống hàng thứ hai trong khi đáng ra phải làm ngược lại mới đúng. Trong đọc đồng chủ đề, bạn và các vấn đề bạn quan tâm phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là cuốn sách bạn đang đọc.
    Do đó, bước thứ nhất ở cấp độ đọc này là đọc soát một lần nữa toàn bộ tác phẩm có liên quan nhằm tìm ra những phần phù hợp nhất với nhu cầu của bạn. Có lẽ không có cuốn sách nào có toàn bộ nội dung viết về vấn đề bạn đang quan tâm hay trăn trở. Nhưng ngay cả khi gặp cuốn sách đó, bạn cũng không nên dừng lại lâu mà vẫn nên đọc nó thật nhanh. Cần hiểu rằng bạn đọc cuốn sách kỹ không phải vì bản thân nó hay mà vì nó cung cấp nhiều vấn đề mà bạn đang tìm hiểu.
    Bước này có thể làm cùng lúc với bước đọc soát qua cuốn sách xem nó có liên quan đến vấn đề bạn quan tâm không. Thường thì có thể gộp hai bước cùng nhau, nhưng không phải lúc nào cũng làm được như vậy. Nên nhớ rằng một trong những mục đích của việc đọc soát cuốn sách lần đầu là xác định chủ đề bạn đang quan tâm. Bạn không thể hiểu đầy đủ về vấn đề khi chưa đọc qua nhiều sách trong “thư mục” ban đầu của bạn. Vì thế, cố gắng tìm ra những phần liên quan cùng lúc với việc xác định sách liên quan thường là việc rất khó. Trừ khi bạn rất có kinh nghiệm, hoặc đã khá quen thuộc với chủ đề này rồi, nếu không, tốt nhất là bạn tách chúng ra làm hai bước riêng biệt.
    Điều quan trọng trong đọc đồng chủ đề là phải nhận thức được điểm khác biệt giữa những cuốn sách bạn đọc lần đầu với các sách đọc lần thứ hai. Với những cuốn đọc sau, có lẽ bạn đã có khái niệm rõ ràng về vấn đề, lúc đó hai bước mới kết hợp thành một được. Nhưng khi mới đọc lần đầu, chúng nên được tách rời. Nếu không, bạn sẽ phạm sai lầm nghiêm trọng khi xác định những đoạn có liên quan. Những lỗi này nếu sau đó bạn sửa được thì cũng làm bạn mất rất nhiều thời gian và công sức.
    Cuối cùng, nên nhớ rằng bạn sẽ không mất quá nhiều công sức để hiểu được đầy đủ một cuốn sách, thấy được sự hữu ích của nó với bạn, có khi còn hơn cả mong đợi ban đầu của tác giả. Tác giả có thể giúp bạn giải quyết vấn đề mà không cần phải có dụng ý từ trước. Chúng tôi đã lưu ý, trong phương pháp đọc này, các cuốn sách bạn đọc sẽ phục vụ mục đích của bạn chứ không phải bạn đọc vì cuốn sách. Xét trên phương diện này, đây là kiểu đọc chủ động nhất. Tất nhiên, đọc phân tích cũng mang tính chủ động, nhưng khi đọc phân tích, bạn đã tự đặt mình vào mối quan hệ giữa trò với thầy. Còn khi bạn đọc đồng chủ đề, chính bạn phải là người làm chủ được tình hình. Bởi vậy, bạn phải tìm được tiếng nói chung với tác giả theo cách khác với trước đây.
    Bước 2: Đưa tác giả đến với thuật ngữ
    Trong giai đoạn hai của việc đọc phân tích, quy tắc đầu tiên đòi hỏi bạn phải thống nhất thuật ngữ với tác giả, nghĩa là phải xác định được những từ khoá trong tác phẩm và cách tác giả sử dụng chúng. Nhưng bây giờ bạn phải đọc sách của nhiều tác giả và chưa chắc họ sẽ sử dụng các từ khoá hay các thuật ngữ giống nhau. Vì vậy, chính bạn phải tạo lập được các thuật ngữ và đưa tác giả đến với những thuật ngữ đó, chứ không phải ngược lại.
    Đây có thể là bước khó nhất trong đọc đồng chủ đề. Cái khó ở đây là buộc tác giả phải sử dụng ngôn ngữ của bạn hơn là dùng ngôn ngữ của chính tác giả. Mọi thói quen đọc sách thông thường của chúng ta đều đi ngược lại điều này. Chúng ta thường mặc định là tác giả cuốn sách chúng ta muốn đọc kỹ phải là người giỏi hơn ta, nhất là khi đó là một tác phẩm vĩ đại. Dù ta có chủ động tìm hiểu ý đồ tác giả đến mức nào thì cũng không tránh khỏi xu hướng dễ dàng chấp nhận các ngôn từ được tác giả dùng và cách ông ta sắp xếp vấn đề. Tuy nhiên, nếu làm vậy khi đọc đồng chủ đề là ta đã đi sai hướng. Ta có thể hiểu cuốn sách của tác giả đó, nhưng sẽ không hiểu được sách của những người khác và vấn đề ta nghiên cứu không sáng tỏ thêm được gì.
    Chúng ta không những không được chấp nhận hệ thống ngôn từ của bất kì tác giả nào mà còn phải sẵn sàng đối mặt với khả năng là không có hệ thống ngôn từ nào mang lại ích lợi cho chúng ta. Nói cách khác, chúng ta phải chấp nhận một thực tế là nếu từ ngữ của ta và của bất kỳ tác giả nào trùng khớp nhau thì cũng chỉ là do tình cờ. Sự trùng hợp như vậy thường sẽ rất bất lợi, vì nếu ta dùng một hoặc một loạt từ của một tác giả, ta rất dễ tiếp tục dùng các từ khác của tác giả ấy. Điều này sẽ gây cản trở hơn là giúp ích cho ta.
    Nói ngắn gọn, đọc đồng chủ đề xét trên phương diện lớn là một bài tập dịch thuật. Không phải dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia mà là áp đặt một hệ thống ngôn từ lên nhiều tác giả. Các tác giả, dù có chung ngôn ngữ nào, cũng không đóng vai trò quá đặc biệt trong vấn đề chúng ta đang giải quyết, vì vậy không thể tạo ra được một hệ thống ngôn từ lý tưởng giúp ta xử lý vấn đề.
    Tóm lại, khi đọc đồng chủ đề, chúng ta phải xây dựng một hệ thống thuật ngữ, trước hết giúp ta hiểu được ý đồ của tất cả chứ không chỉ một hay một số tác giả, để giúp ta giải quyết được vấn đề.
    Bước 3: Giải quyết mọi thắc mắc
    Quy tắc thứ hai của việc đọc hiểu ý tác giả đòi hỏi ta phải tìm ra được các câu then chốt trong tác phẩm, từ đó hiểu được hàm ý của tác giả. Trong khi vừa phải xây dựng một hệ thống thuật ngữ, chúng ta cũng đồng thời đối mặt với nhiệm vụ tạo dựng một loạt nhận định mang tính trung lập. Cách tốt nhất để thực hiện việc này là tạo ra một khung câu hỏi làm sáng tỏ vấn đề của ta và mỗi câu hỏi đó sẽ lần lượt được từng tác giả trả lời.
    Điều này không hề đơn giản vì các câu hỏi phải được đặt ra theo cách thức và trình tự để vừa giúp ta giải quyết được vấn đề, được trả lời lần lượt bởi từng tác giả. Khó khăn là câu hỏi ta muốn tìm lời giải chưa chắc đã được các tác giả coi là câu hỏi. Cách họ nhìn vấn đề có thể rất khác với chúng ta.
    Đôi khi, chúng ta buộc phải chấp nhận thực tế rằng có các tác giả sẽ không đưa ra câu trả lời nào cho một hoặc hơn một câu hỏi của chúng ta. Khi ấy, phải coi câu hỏi đó là chưa có hồi âm. Nhưng ngay cả khi tác giả không thảo luận về câu hỏi một cách rõ ràng, đôi khi, ta vẫn tìm được câu trả lời dù là gián tiếp trong tác phẩm. Nếu tác giả động chạm tới câu hỏi, ta có thể kết luận là sau đó kiểu gì tác giả cũng trả lời nó. Mặc dù, không thể đặt suy nghĩ của ta vào suy nghĩ của tác giả hoặc bắt họ nói những điều ta muốn, nhưng ta cũng không thể hoàn toàn phụ thuộc vào việc nhận được từ họ những nhận định tường minh giúp giải quyết vấn đề của ta. Bởi nếu không ta sẽ không còn việc gì để làm nữa.
    Như đã nêu, các câu hỏi phải được đặt trong một trình tự giúp ích cho việc nghiên cứu của chúng ta. Trình tự này phụ thuộc vào đề tài nghiên cứu nhưng chúng tôi có thể đưa ra vài chỉ dẫn. Những câu hỏi đầu tiên thường là về sự tồn tại hoặc tính chất của một hiện tượng hoặc ý tưởng mà chúng ta đang nghiên cứu. Nếu một tác giả khẳng định sự tồn tại của hiện tượng hoặc đặc tính của ý tưởng, ta có thể đặt thêm câu hỏi với tác phẩm của người này. Thường là: Làm cách nào biết được hiện tượng này? Ý tưởng này được thể hiện ra sao?
    Chúng ta cũng không nên hy vọng tất cả các tác giả sẽ trả lời các câu hỏi của ta cùng một kiểu. Nếu như vậy, ta lại không còn việc gì để làm vì sự nhất trí của các tác giả đã đủ để tháo gỡ vấn đề. Nhưng vì các tác giả không ai giống ai nên ta phải tiến hành bước tiếp theo.
    Bước 4: Xác định vấn đề
    Nếu một câu được hỏi rõ ràng và chúng ta biết chắc các tác giả sẽ trả lời nó theo những cách khác nhau có nghĩa là ta đã tìm ra một vấn đề. Vấn đề đó là sự khác nhau giữa các câu trả lời của các tác giả.
    Khi tất cả tác giả chỉ đưa ra hai câu trả lời, vấn đề trở nên đơn giản. Mỗi câu hỏi thường có từ hai câu trả lời trở lên và khi đó, các câu trả lời phải được sắp xếp theo từng cặp đối nghịch. Dựa vào đó ta phân loại được các tác giả theo quan điểm của họ.
    Vấn đề chỉ thật sự nảy sinh khi hai tác giả hiểu câu hỏi theo cùng một cách nhưng lại trả lời theo hai cách trái ngược nhau. Nhưng điều này ít khi xảy ra. Thông thường, những sự khác biệt trong cách trả lời được quy cho là những quan niệm khác nhau về câu hỏi, về cùng một vấn đề. Nhiệm vụ của người đọc đồng chủ đề là xác định các vấn đề sao cho chúng được kết nối càng nhiều càng tốt. Đôi khi, điều buộc người đọc phải tạo ra một khung câu hỏi theo cách không tác giả nào đúng. Có nhiều vấn đề liên quan đến chủ đề chúng ta đang bàn tới, nhưng chúng có vẻ thuộc nhiều nhóm khác nhau. Ví dụ, các câu hỏi về đặc điểm của ý tưởng đang được xem xét gợi lên rất nhiều vấn đề liên quan. Những vấn đề xoay quanh một loạt câu hỏi gắn bó chặt chẽ với nhau được gọi là cuộc tranh luận về một khía cạnh của vấn đề. Cuộc tranh luận này có thể rất phức tạp và người đọc có nhiệm vụ phải tìm hiểu và sắp xếp nó có trật tự và rõ ràng ngay cả khi không tác giả nào làm việc đó. Việc phân loại và sắp xếp các cuộc tranh luận này cũng như các vấn đề cốt lõi đưa chúng ta đến bước cuối cùng của cách đọc này.
    Bước 5: Cuộc phân tích thảo luận
    Đến đây, chúng ta đã tìm ra các phần trong sách có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu; tạo được một hệ thống thuật ngữ trung lập có thể áp dụng với tất cả hoặc đa số các tác giả; tạo khung và sắp xếp một loạt câu hỏi coi như sẽ được giải đáp trong các sách; xác định và sắp xếp các vấn đề nảy sinh từ các câu trả lời khác nhau. Vậy còn những việc nào cần làm thêm?
    Bốn bước trên ứng với hai nhóm quy tắc trong việc đọc phân tích. Khi chúng ta tuân theo và áp dụng các quy tắc này vào bất cứ cuốn sách nào, ta có thể trả lời các câu hỏi “Cuốn sách nói về cái gì?” và “Cuốn sách nói về vấn đề đó như thế nào?”. Giờ đây, chúng ta cũng có thể trả lời được các câu hỏi tương tự về cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề đang được quan tâm trong đọc đồng chủ đề. Khi đọc phân tích một tác phẩm riêng lẻ, có hai câu hỏi nữa cần được trả lời là “Cuốn sách có đúng không?” và “Ý nghĩa của nó là gì?”. Với đọc đồng chủ đề, chúng tôi đã sẵn sàng trả lời hai câu hỏi như thế về cuộc thảo luận.
    Giả sử, vấn đề ta đang tìm hiểu là một trong những vấn đề nan giải khiến người ta phải mất hàng thế kỷ đấu tranh với nó và là vấn đề đã và sẽ không bao giờ nhận được sự đồng tình từ những người tốt. Khi đó, bạn nên nhận thức rằng nhiệm vụ của bạn, với tư cách độc giả đọc đồng chủ đề, không chỉ là tự trả lời các câu hỏi bạn đã dày công tạo dựng nhằm làm sáng tỏ những ý kiến xoay quanh chủ đề và về chính chủ đề. Không dễ tìm ra chân lý của loại vấn đề này. Nói đúng hơn, tìm thấy nó thì cũng là thấy trong mâu thuẫn giữa những câu trả lời trái ngược nhau, mà phần nhiều các câu trả lời đó đều chứa đựng những dấn chứng rất thuyết phục và những lý do xác đáng để củng cố cho chúng.
    Khi đó, chân lý hay giải pháp cho vấn đề lại có trong cuộc thảo luận theo trình tự nhiều hơn là có trong bất cứ chuỗi nhận định hoặc khẳng định nào về nó. Vì vậy, để trình bày chân lý này, chúng ta không chỉ đặt câu hỏi và trả lời mà còn phải hỏi theo trình tự nhất định, giữ vững được trình tự đó; phải thể hiện được sự khác nhau giữa các câu trả lời và cố gắng nêu được lý do tại sao; phải chỉ ra được cụ thể đoạn nào trong sách minh hoạ cho việc phân loại câu trả lời. Làm được tất cả những việc này mới có thể nói là ta đã phân tích xong cuộc thảo luận về vấn đề ta đang quan tâm và ta đã hiểu được nó.
    Sự phân tích thấu đáo về cuộc thảo luận xung quanh một vấn đề sẽ tạo điều kiện giúp các nghiên cứu sau đạt kết quả tốt hơn. Nếu không có sự phân tích, những khía cạnh của vấn đề sẽ không hiện hữu một cách rõ ràng.
    Sự cần thiết của tính khách quan
    Sự phân tích đầy đủ các ý kiến bàn luận xung quanh một vấn đề sẽ cho ta biết những vấn đề chính hoặc những luồng quan điểm cơ bản đối lập nhau. Điều này không có nghĩa là sự bất đồng luôn là vấn đề nổi cộm trong mọi cuộc tranh luận. Trái lại, sự đồng thuận thường đi kèm sự bất đồng, thể hiện các mặt đối lập nhau của cuộc tranh luận. Thường có một số hoặc nhiều tác giả có chung quan điểm ủng hộ hoặc phản đối. Hiếm khi có tác giả nào một mình một quan điểm trong tình huống gây tranh luận.
    Sự đồng ý của con người về bản chất của các sự việc trong bất cứ lĩnh vực nào đều tạo ra một số suy đoán về tính chân thực của các ý kiến thường gặp. Nhưng sự bất đồng quan điểm lại tạo ra điều ngược lại với suy đoán - rằng không ý kiến nào mâu thuẫn với nhau lại có thể hoàn toàn đúng, dù nó có được ai tán thành hay không. Giữa các ý kiến trái ngược nhau, có thể có một ý kiến hoàn toàn đúng và những ý kiến còn lại là sai nhưng cũng có thể mỗi ý kiến phản ánh một phần của sự thật, thậm chí tất cả các ý kiến trái ngược nhau đều sai. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra, giống như trường hợp ý kiến mà ai cũng đồng ý hoá ra lại sai; ý kiến không được nói ra lại đúng hoặc gần đúng.
    Nói cách khác, mục đích nghiên cứu cấp độ đọc thứ tư này không phải là phương án cuối cùng trả lời cho câu hỏi nảy sinh trong quá trình tiến hành nghiên cứu hay giải pháp cuối cùng cho vấn đề gốc rễ dẫn đến cuộc nghiên cứu này. Sẽ là võ đoán chứ không phải biện chứng nếu với mỗi vấn đề quan trọng được nhận diện và phân tích, nó đều khẳng định hoặc cố gắng chứng minh tính đúng đắn hay sai lầm của bất cứ quan điểm nào. Nếu đúng vậy, nó sẽ có thêm một tiếng nói trong cuộc tranh luận và mất đi bản chất khách quan, độc lập của mình.
    Có thể tóm tắt tính chất đặc biệt của việc phân tích cùng chủ đề được hướng tới trong bốn từ “khách quan biện chứng”. Nói ngắn gọn, người đọc theo cách này cố gắng nhìn nhận tất cả các ý kiến và không theo riêng ý kiến nào cả. Tuy nhiên, tính khách quan tuyệt đối nằm ngoài khả năng của con người. Độc giả có thể không theo ý kiến chủ quan nào, trình bày vấn đề không chút thành kiến hoặc thiên vị nào và coi các ý kiến trái ngược là như nhau. Nhưng làm được việc này cũng không phải đơn giản, đòi hỏi người đọc phải chống lại sức hấp dẫn và làm chủ được chính mình. Không thể bảo đảm tính khách quan biện chứng tuyệt đối chỉ bằng việc tránh đưa ra những nhận xét rõ ràng về tính chân thực của các ý kiến trái ngược nhau. Thiên kiến có thể xen vào bất cứ lúc nào, dù biểu hiện chỉ là mơ hồ nhất – qua cách tóm tắt các luận điểm, nhấn lướt các ý, qua giọng điệu đặt câu hỏi hoặc màu sắc đậm nhạt của một điểm ta lưu ý hay qua trình tự trình bày các câu trả lời cho những câu hỏi trọng tâm.
    Nhưng dù sao, việc không theo ý kiến nào vẫn dễ hơn việc nhìn nhận tất cả các ý kiến. Người đọc đồng chủ đề chắc chắn sẽ thất bại trong việc nhìn nhận mọi ý kiến. Không thể liệt kê thấu đáo mọi ý kiến về vấn đề nhưng người đọc vẫn phải cố gắng hoàn thành nó.
    Để tránh sơ sót, người đọc cẩn thận có thể chọn cho mình phương pháp dễ và sử dụng nó càng nhiều càng tốt. Đó là luôn lưu tâm đến những gì tác giả viết, đọc đi đọc lại các đoạn có liên quan và khi trình bày kết quả nghiên cứu với một lượng khán giả lớn hơn, người đọc phải trích dẫn nguyên văn ý kiến hoặc luận điểm của tác giả. Điều này không hề mâu thuẫn với tính cấp thiết của việc tìm được một hệ thống thuật ngữ trung lập để phân tích vấn đề. Tính cần thiết đó vẫn giữ nguyên giá trị và khi tóm tắt luận điểm của một tác giả được trình bày, bạn phải dùng chính ngôn từ đó chứ không phải của tác giả. Nhưng lời của tác giả - được trích dẫn một cách cẩn thận để không bị sai lệch ý - phải được kèm vào phần tóm tắt giúp người viết, cũng là để người đọc theo phương pháp này tự đánh giá được liệu mình đã hiểu đúng ý tác giả chưa.
    Chỉ có ý chí cứng rắn của người đọc mới đủ để tránh những trường hợp xa rời tính khách quan biện chứng. Lý tưởng này đòi hỏi sự nỗ lực làm việc thật cẩn trọng để cân bằng các câu hỏi đối nghịch nhau, loại ra những lời bình mang thành kiến, kiểm tra xem có xu hướng nào quá nhấn mạnh hoặc quá coi nhẹ không. Ở bản phân tích cuối cùng, dù có một độc giả nào đó thẩm tra tính hiệu quả của bài viết mang tính biện chứng này, nhưng chỉ có người viết ra nó, tức người đọc đồng chủ đề với có thể biết mình có thỏa mãn được những yêu cầu này không.
    Ví dụ về đọc đồng chủ đề
    Có thể coi việc nêu ví dụ là một cách tốt để giải thích đọc đồng chủ đề là như thế nào. Chúng tôi chọn chủ đề là ý tưởng về sự tiến bộ. Đây không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu khá sâu về vấn đề này (Chú thích: Kết quả của những nghiên cứu này được xuất bản trong cuốn The Idea of Progress, New York: Praeger, 1967. Tác phẩm được hoàn thành với sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu Triết học, các tác giả chính là giám đốc và phó giám đốc của viện này). Nếu không, ví dụ chúng tôi đưa ra có lẽ sẽ không giúp ích nhiều cho các bạn.
    Việc nghiên cứu về ý tưởng có ý nghĩa lịch sử và triết học quan trọng này đã kéo dài nhiều năm. Nhiệm vụ đầu tiên là lọc ra một danh sách các tác phẩm cần nghiên cứu để tìm ra các phần liên quan và tạo thành một thư mục. Chúng tôi đã phải đọc soát vài lần nhiều cuốn sách, bài báo và các đoạn văn khác. Trong quá trình đó, chúng tôi nhận thấy nhiều đầu sách cuối cùng được đánh giá là có liên quan lại được tìm thấy một cách ngẫu nhiên hoặc chỉ là do dự đoán. Có những dấu hiệu rất dễ nhận biết như rất nhiều cuốn có từ “tiến bộ” trong tựa đề, nhưng hầu hết các cuốn sách cũ, dù có liên quan đến vấn đề cũng không hề sử dụng thuật ngữ này.
    Chúng tôi cũng đọc qua một số tác phẩm thơ cả, tiểu thuyết nhưng tập trung chủ yếu vào các sách chuyên khảo và thấy rằng rất khó cho cả tiểu thuyết, kịch, thơ nếu đọc cách đọc đồng chủ đề này vì một số nguyên do. Trước hết, cốt truyện không phải là luận điểm hay vấn đề. Thứ hai, ngay cả các nhân vật có nhiều phát ngôn nhất trong truyện cũng hiếm khi có ý kiến rõ ràng về một vấn đề nào. Họ thường nói chủ yếu về các mối quan hệ tình cảm. Thứ ba, ngay cả khi các nhân vật có hẳn một bài diễn thuyết, ví dụ như Settembrini nói về sự tiến bộ trong cuốn Magic Moutain (Ngọn núi kỳ diệu) của Thomas Mann, chúng ta cũng không thể chắc rằng đó cũng chính là quan điểm của tác giả. Liệu tác giả có dụng ý châm biếm không khi ông cho nhân vật của mình nói về chủ đề? Nói chung, người đọc phải rất nỗ lực để thấu hiểu ý đồ của tác giả trước khi quyết định đặt một tác phẩm hư cấu vào mặt này hay mặt kia của vấn đề. Nỗ lực này rất lớn nhưng kết quả đạt được lại rất mù mờ nên tốt nhất là hãy tránh nó.
    Đối mặt với cuộc thảo luận về sự tiến bộ trong nhiều tác phẩm khảo cứu còn lại, nhiệm vụ của chúng tôi là phải phát triển một hệ thống thuật ngữ mang tính trung lập. Đây là nhiệm vụ phức tạp nhưng sẽ trở nên dễ hiểu hơn nếu có một ví dụ.
    Từ “tiến bộ” được các tác giả sử dụng theo nhiều cách khác nhau mà đa số đều chưa phản ánh thực chất nghĩa của từ. Một số tác giả sử dụng từ này để chỉ một dạng biến chuyển trong lịch sử nhưng lại không mang nghĩa là sự tốt hơn lên, trong khi hầu hết các tác giả đều dùng từ này để chỉ sự thay đổi mang tính lịch sử và theo hướng tốt lên. Vì thế, hai cách hiểu trên không thể được thể hiện bằng một từ chung. Trong trường hợp này, đa số sẽ thắng. Do đó, khi bàn luận về các quan điểm của một bộ phận nhỏ tác giả, chúng ta không thể dùng từ “sự tiến bộ” ngay cả khi các tác giả trong nhóm đó dùng từ này.
    Như đã nói, bước thứ ba của đọc đồng chủ đề là giải đáp các thắc mắc. Câu hỏi đầu tiên về sự tiến bộ là “Sự tiến bộ có diễn ra trong lịch sử không?” và “Có phải những thay đổi trong lịch sử loài người đều theo hướng tốt lên?”. Có nhiều câu trả lời khác nhau về câu hỏi này. Nhưng cơ bản, có ba câu trả lời chính là: có, không, và chúng ta không thể biết được. Tuy nhiên, có rất nhiều cách nói “có”, vài kiểu nói “không” và ít nhất là ba cách khác nhau nói “chúng ta không thể biết”.
    Các câu trả lời muôn hình muôn vẻ và liên quan chặt chẽ đến nhau tạo thành cuộc tranh luận chung về sự tiến bộ. Nó “chung” vì mỗi tác giả đều có những ý kiến khác nhau về rất nhiều vấn đề trong phạm vi của chủ đề. Nhưng cũng có những cuộc tranh luận đặc biệt về sự tiến bộ do các tác giả chọn câu trả lời “có” tạo nên. Các vấn đề này trong cuộc tranh luận nói trên liên quan đến bản chất hoặc tính chất của sự tiến bộ mà họ, với tư cách là các tác giả tiến bộ, khẳng định đó là một sự thật trong lịch sử. Ở đây, có ba vấn đề có thể được đặt ra dưới dạng câu hỏi: (1) Tiến bộ có cần thiết không, hay nó chỉ là sự tiếp giáp của các sự kiện? (2) Tiến bộ đương nhiên sẽ tiếp tục, hay cuối cùng nó sẽ kết thúc hoặc rơi vào trạng thái bất biến? (3) Có sự tiến bộ trong bản chất tự nhiên của con người không hay chỉ diễn ra trong các điều kiện bên ngoài của đời sống con người?
    Ngoài ra, còn một loạt vấn đề nhỏ khác chỉ diễn ra trong nhóm các tác giả tiến bộ về các khía cạnh mà sự tiến bộ xuất hiện. Chúng tôi đã xác định sáu lĩnh vực được một số tác giả cho là có sự tiến bộ xuất hiện. Đó là: tiến bộ tri thức, tiến bộ kỹ thuật, tiến bộ kinh tế, tiến bộ chính trị, tiến bộ đạo đức và tiến bộ mỹ thuật.
    Cấu trúc bài phân tích về sự tiến bộ được mô tả ở trên đã minh họa cho sự cố gắng cắt nghĩa các vấn đề trong phạm vi bàn luận về chủ đề này của chúng tôi và để phân tích chính cuộc bàn luận này. Những việc như thế cần được các độc giả đọc đồng chủ đề tiến hành thường xuyên.
    Cách dùng sách Syntopicon khi đọc đồng chủ đề
    Đọc kỹ chương này, bạn sẽ thấy chúng tôi thỉnh thoảng có nhắc tới nghịch lý của việc đọc đồng chủ đề. Đó là trừ khi bạn biết cuốn sách nào cần đọc, nếu không bạn không thể đọc theo cách này; nhưng bạn phải đọc đồng chủ đề, nếu không bạn sẽ không biết sách nào nên đọc.
    Tất nhiên là có ít nhất một giải pháp về mặt lý thuyết đối với nghịch lý trên. Giả sử bạn biết về kho tàng văn học của chúng tôi tường tận đến mức động đến vấn đề nào là bạn biết ngay nó được viết ở sách nào. Nhưng như vậy, ban không cần ai giúp và cũng không cần nghe chúng tôi nói thêm bất cứ điều gì về phương pháp đọc đồng chủ đề nữa.
    Mặt khác, giả sử bạn không có chút hiểu biết nào, bạn vẫn có cơ hội hỏi những người hiểu biết, nhưng lời khuyên của những người đó thường là sự cản trở hơn là sự trợ giúp. Nếu người đó đã nghiên cứu về chủ đề này thì ngoài việc nói bạn nên đọc đoạn nào, rất có khả năng anh ta sẽ tiện thể nói luôn cách đọc chúng như thế nào và điều này có thể gây khó khăn cho bạn. Nhưng nếu anh ta chưa hề có nghiên cứu nào về vấn đề này, có thể anh ta cũng chỉ hiểu biết bằng bạn.
    Vì thế, điều cần thiết ở đây là một cuốn sách tham khảo chỉ cho bạn biết những phần liên quan đến các vấn đề bạn quan tâm nằm ở đâu mà không nhắc bạn phải đọc những phần đó thế nào, tức là không đánh giá trước ý nghĩa hoặc ý chính của những đoạn đó. Syntopicon là một ví dụ về cuốn sách như vậy. Ra đời vào những năm 1940, nó là một danh mục theo chủ đề về các cuốn sách mang tên “Các cuốn sách vĩ đại của thế giới phương Tây”. Có 3.000 chủ đề hoặc vấn đề, dưới mỗi chủ đề là danh sách liệt kê rõ vấn đề đó được nói tới từ trang nào đến trang nào trong các cuốn sách. Một vài trong số đó là các bài dài nhiều trang, số khác là các đoạn chính hay thậm chí là một phần của đoạn. Vì thế, bạn không cần tốn công tìm các đoạn đó nữa mà chỉ việc lấy cuốn sách được nói đến và giở đến những trang đó mà thôi.
    Tất nhiên, cuốn Symtopicon cũng có hạn chế. Nó chỉ là bản liệt kê về một loại sách và chỉ đưa ra hướng dẫn rất sơ sài về các đoạn có thể tìm trong các cuốn sách khác ngoài loại sách dó. Nhưng ít nhất nó cũng giúp bạn khởi đầu việc đọc cùng chủ đề. Và một điều luôn đúng là các cuốn sách trong loạt sách đó đều là những cuốn bạn muốn đọc dù bạn đang nghiên cứu về bất cứ lĩnh vực gì. Vì vậy, Syntopicon có thể làm thay bước nghiên cứu khởi đầu của những học giả uyên bác hoặc độc giả, tạo điều kiện cho người ấy tiến nhanh đến phần anh ta có thể suy nghĩ độc lập vì anh ta biết những ý tưởng nào đã có rồi.
    Với những người bắt đầu đọc đồng chủ đề, Syntopicon càng hỗ trợ đắc lực hơn, nó có thể giúp họ theo ba cách: đưa ra những sáng kiến, gợi ý, hướng dẫn.
    Nó đưa ra những sáng kiến bằng cách giúp bạn vượt qua những khó khăn ban đầu mà ai cũng gặp phải khi đối diện với những cuốn sách cổ điển. Ai cũng khuyên bạn nên đọc chúng và bạn được giao cho một chương trình đọc từ các tác phẩm dễ tới các tác phẩm khó hơn. Nhưng các chương trình đọc đó đòi hỏi bạn phải đọc toàn bộ hoặc phần lớn cuốn sách. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy cách này thường không đem lại kết quả mong muốn. Với sự trợ giúp của Syntopicon, hướng giải quyết sẽ khác hẳn. Nó khởi đầu việc đọc các cuốn sách lớn bằng cách cho phép người đọc đọc chính xác những sách viết về chủ đề anh ta quan tâm và đọc các bài ngắn về những chủ đề này của nhiều tác giả khác nhau.
    Syntopicon cũng có thể gợi ý cho ta nhiều điều về đọc chọn đoạn cùng chủ đề trong các tác phẩm lớn. Mối quan tâm có thật ban đầu của người đọc về một vấn đề cụ thể có thể tạo thêm mối quan tâm về những vấn đề khác. Và khi đã bắt đầu với một tác giả, bạn rất dễ đi đến tìm hiểu văn cảnh tác phẩm. Trước khi bạn nhận ra điều đó, bạn đã đọc một phần hay của cuốn sách rồi
    Cuối cùng, Syntopicon còn đóng vai trò hướng dẫn theo ba cách khác biệt. Đây là một trong những lợi ích chính của việc đọc theo phương pháp này.
    Thứ nhất, chủ đề sẽ giúp bạn hiểu đoạn văn đang đọc dễ dàng hơn. Nhưng nó không cho người đọc biết bài đang đọc có nghĩa gì vì bài đó có liên quan đến chủ đề ở vài hoặc nhiều khía cạnh khác nhau. Vì thế, người đọc có trách nhiệm tìm hiểu chính xác xem các khía cạnh liên quan đó là gì.
    Thứ hai, tập hợp nhiều bài về cùng một chủ đề. Các tác giả và tác phẩm khác nhau sẽ giúp người đọc mài giũa khả năng đọc hiểu mỗi phần. Đôi khi, các phần trong cùng một cuốn sách được đọc theo một trình tự và đặt trong văn cảnh của nhau sẽ trở nên sáng tỏ hơn. Có lúc, nghĩa của một trong nhiều đoạn đối nghịch nhau trích từ các cuốn sách khác nhau được nêu bật lên khi chúng được đọc theo từng cặp đối nhau. Và thỉnh thoảng, các đoạn của cùng một tác giả bình luận về các bài của một tác giả khác lại giúp người đọc hiểu thêm về tác giả có bài được bình luận kia.
    Thứ ba, nếu áp dụng cách đọc này với nhiều chủ đề khác nhau thì cùng một đoạn văn được trích dẫn trong Syntopicon về hai hay nhiều chủ đề sẽ có tác dụng hướng dẫn. Đoạn văn mang những ý nghĩa mà người đọc hiểu rằng mình đã hiểu nó hơi khác trong mối quan hệ với các chủ đề khác nhau. Cách hiểu đa nghĩa này không chỉ là dạng bài tập cơ bản trong nghệ thuật đọc sách, mà còn có xu hướng tạo cho trí óc ta thói quen luôn ý thức được rằng một đoạn văn phức tạp có thể chứa đựng rất nhiều lớp nghĩa khác nhau.
    Chúng tôi xin lưu ý các bạn là có sự khác biệt lớn giữa đọc đồng chủ đề với chữ “s” viết thường (syntopical reading) và đọc đồng chủ đề với chữ “S” viết hoa (Syntopical reading). Cách thứ hai ám chỉ việc đọc các tác phẩm lớn có sự trợ giúp của cuốn Syntopicon. Nhưng phương pháp đọc đồng chủ đề với chữ “s” viết thường luôn được sử dụng phổ biến hơn là đọc đồng chủ đề với chữ “S” viết hoa.
    Những nguyên tắc làm nền tảng cho việc đọc đồng chủ đề
    Có ý kiến cho rằng, đọc đồng chủ đề (theo nghĩa rộng nói ở trên) là điều không thể. Họ nói rằng hoàn toàn sai lầm khi áp đặt một hệ thống thuật ngữ dù là “trung tính” lên một tác giả. Hệ thống thuật ngữ của tác giả phải được xem là bất khả xâm phạm vì ta không nên đọc các cuốn sấch mà không gắn chúng với văn cảnh. Bên cạnh đó, việc chuuyển hệ thống thuật ngữ này sang hệ thống thuật ngữ khác có nhiều rủi ro vì từ ngữ không đơn giản như các ký hiệu toán học. Ngoài ra, những người theo quan điểm này còn cho rằng việc đọc đồng chủ đề bao gồm cả việc đọc các tác giả tách biệt nhau về không gian và thời gian, khác biệt rõ nét về phong cách và hướng tiếp cận sẽ bóp méo sự thật. Mỗi tác giả là một tiểu vũ trụ và dù có thể tạo ra mối quan hệ giữa các tác phẩm của cùng tác giả viết trong những thời kỳ khác nhau, thì cũng không có mối liên hệ nào rõ ràng giữa tác giả này với tác giả khác. Cuối cùng, họ vẫn cho rằng vấn đề các tác giả bàn tới không quan trọng bằng cách thức họ bàn bạc. Nếu ta không động chạm gì tới cách thức tác giả trình bày nội dung, ta sẽ không hiểu gì về cả hai mặt này.
    Chúng tôi không đồng tình với tất cả lý lẽ trên vì những lý do sau:
    Trước hết là về vấn đề hệ thống thuật ngữ. Phủ nhận việc trình bày một ý tưởng theo nhiều cách cũng giống như nói rằng không thể dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia. Chúng tôi đồng ý là việc dịch một cuốn sách được đông đảo mọi người coi là linh thiêng (ví dụ như Kinh Koran) là rất khó nhưng không phải là không thể làm được. Chúng tôi cũng đồng ý rằng rất khó để chuyển ngôn từ của người này sang ngôn từ của người khác nhưng cũng không phải là không thể làm được.
    Thứ hai là về vấn đề sự tách biệt và tính duy nhất của tác giả. Ví dụ, nếu nhìn thấy Aristotle đi cùng một phiên dịch biết cả tiếng Anh hiện đại và tiếng Hy Lạp cổ, chúng tôi sẽ không thể hiểu nổi ông ta và ông ta cũng vậy. Nhưng chúng tôi tin rằng trong vòng mười phút, nếu muốn, chúng tôi và Aristotle có thể đàm luận với nhau về những vấn đề triết học đôi bên cùng quan tâm. Sẽ không tránh khỏi những bất đồng muôn thuở về các khái niệm nhất định, nhưng ngay khi nhận thức được chúng, chúng tôi có thể tìm ra hướng giải quyết.
    Nếu điều trên là có thể thì việc một cuốn sách “nói chuyện” được với một cuốn sách khác thông qua người phiên dịch là một điều hoàn toàn có thể xảy ra. Tất nhiên, sự thận trọng là cần thiết và bạn cần biết cả hai “ngôn ngữ” (chính là hai quyển sách) càng tường tận càng tốt. Rõ ràng, vấn đề không phải là không thể vượt qua.
    Cuối cùng là về cách thức. Ví dụ bạn nói “Tao yêu mày” với con chó của bạn bằng một giọng giận dữ, nó sẽ co rúm lại vì sợ và không thể hiểu được bạn nói gì. Ai có thể khẳng định là không có gì khác ngoài âm điệu hoặc cử chỉ trong giao tiếp hữu thanh giữa hai người với nhau? Âm điệu giọng nói rất quan trọng, đặc biệt là khi quan hệ tình cảm là nội dung chủ yếu của cuộc giao tiếp và ngôn ngữ của cơ thể có thể nói với ta nhiều điều nếu chúng ta chịu khó lắng nghe. Nhưng còn có những thứ khác nữa trong giao tiếp của con người. Nếu bạn hỏi ai đó lối ra ở đâu, anh ta chỉ cho bạn phải đi theo hành lang B, khi đó âm điệu của anh ta thế nào bạn cũng không quan tâm. Có thể anh ta đúng hoặc sai, nói dối hay nói thật, nhưng điều cần thiết ở đây là bạn sẽ nhanh chóng tìm được lối ra bằng việc đi theo hành lang B. Bạn đã hiểu được anh ta nói cái gì và phản ứng ra sao, chứ không nghi ngờ hay để ý đến việc anh ta nói thế nào.
    Tóm tắt về đọc đồng chủ đề
    Phương pháp đọc đồng chủ đề đã được trình bày hết ở trên. Sau đây là sự tóm tắt các bước cần làm khi đọc theo cách này dưới dạng một đề cương.
    I. Chuẩn bị cho việc đọc đồng chủ đề
    1. Tạo một thư mục tạm thời những sách cần đọc về chủ đề (thông qua danh mục sách trong thư viện, các chuyên gia và thư mục sách tham khảo trong các cuốn sách).
    2. Khảo sát tất cả các cuốn sách trong thư mục để tìm ra cuốn nào viết về chủ đề cần nghiên cứu, đồng thời có khái niệm rõ hơn về chủ đề đó.
    II. Đọc các cuốn sách trong thư mục đã tạo
    1. Khảo sát các cuốn sách liên quan đến chủ đề để tìm ra các phần bàn đến nó trực tiếp nhất.
    2. Xây dựng một hệ thống thuật ngữ trung tính về chủ đề mà ta cho rằng tất cả hoặc đa số tác giả đều sử dụng đến chúng, dù họ có thật sự dùng hay không.
    3. Tạo lập một loạt các nhận định trung tính cho tất cả cá tác giả bằng cách đặt ra một loạt câu hỏi có thể tìm thấy câu trả lời trong các cuốn sách, dù câu hỏi đó có được trả lời rõ ràng hay không.
    4. Xác định các vấn đề chính và phụ bằng cách sắp xếp các câu trả lời đối ngược nhau của các tác giả vào các câu hỏi về một mặt của vấn đề này hay vấn đề kia. Bạn nên nhớ rằng không phải lúc nào cũng nảy sinh một vấn đề rõ ràng giữa hai hoặc nhiều tác giả, nhưng đôi khi nó phải được tạo ra thông qua việc tìm hiểu quan điểm của tác giả về các vấn đề có thể không phải là mối quan tâm hàng đầu của họ.
    5. Phân tích cuộc thảo luận bằng cách sắp xếp các câu hỏi và vấn đề theo cách làm sáng tỏ nhất chủ đề. Nên đặt những vấn đề chung hơn trước các vấn đề ít chung hơn và chỉ rõ mối quan hệ giữa các vấn đề.
     
  3. hontuyetlan

    hontuyetlan Administrator

    21, Đọc sách và sự phát triển trí tuệ

    Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đặt ra ở phần mở đầu cuốn sách bằng cách đã chỉ ra rằng hoạt động chính là yếu tố cốt lõi để đọc có hiệu quả và càng đọc chủ động bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu; đã định nghĩa đọc chủ động chính là biết cách đặt câu hỏi, đâu là những câu hỏi cần phải đặt ra khi đọc bất cứ cuốn sách nào và cách thức trả lời với những loại sách khác nhau.
    Chúng tôi cũng xác định, bàn luận về bốn cấp độ đọc và chỉ ra các cấp độ này nối tiếp nhau ra sao; chú trọng đến cấp độ cao hơn, nhấn mạnh việc đọc phân tích và đọc đồng chủ đề. Vì phương pháp dọc đồng chủ đề có vẻ xa lạ với nhiều người nên chúng tôi bàn về nó nhiều hơn các cấp độ đọc khác, đưa ra đầy đủ quy tắc và giải thích từng quy tắc cũng như cách áp dụng chúng. Nhưng hầu hết những điều đã nói về việc đọc phân tích đều có thể áp dụng vào đọc đồng chủ đề với một số sửa đổi nhất định cho phù hợp sẽ được trình bày trong chương cuối cuốn sách này.
    Như vậy, nhiệm vụ của chúng tôi đã hoàn thành, nhưng bạn thì chưa. Không cần thiết phải nhắc bạn rằng đây là cuốn sách thực hành, tức là, người đọc sách này phải bắt buộc làm theo nó. Nếu độc giả đồng ý với kết luận của cuốn sách và công nhận các phương pháp nó đề xuất là thích hợp và hiệu quả thì người ấy mới phải hành động theo cuốn sách. Có thể, bạn không đồng tình với mục đích đầu tiên là bạn cần biết cách đọc hiệu quả càng tốt hoặc không đồng tình với cách thức chúng tôi đưa ra để đạt được mục đích đó gồm các quy tắc đọc kiểm soát, đọc phân tích và đọc đồng chủ đề. Nhưng nếu bạn chấp nhận mục đích này và đồng ý với các phương pháp đó, bạn phải cố gắng để đọc như chưa bao giờ được đọc.
    Sách hay giúp ích gì cho bạn
    Có thể hiểu từ “phương tiện” theo hai cách. Một là các quy tắc đọc sách, phương pháp giúp bạn trở thành một độc giả đọc sách khôn ngoan; hai là những thứ bạn đọc. Có phương pháp mà không có thứ gì để áp dụng thì cũng vô nghĩa.
    Ở nghĩa thứ hai, phương tiện giúp bạn nâng cao khả năng đọc chính là các cuốn sách bạn đọc. Nhưng trên thực tế, phương pháp được minh họa trong phần bàn về đọc phân tích và đọc cùng chủ đề không áp dụng được với tất cả các loại sách. Lý do là một số cuốn sách không đòi hỏi phải đọc theo phương pháp.
    Hãy nhớ, muốn trở thành một độc giả khôn ngoan, bạn không thể bạ sách nào, bài nào cũng đọc. Bạn không thể trở thành người đọc giỏi nếu chỉ đọc các cuốn sách nằm trong khả năng mà phải động đến những cuốn vượt khả năng của bạn. Chỉ những cuốn sách đó mới khiến bạn phải động não vì nếu không động não, bạn không thể học được cái gì.
    Vì thế, một điều rất quan trọng với bạn là không chỉ đọc tốt, bạn còn phải xác định được sách nào giúp nâng cao khả năng đọc của mình. Một cuốn sách đơn thuần để giải trí chỉ là thú tiêu khiển lúc rỗi rãi và ngoài giải trí ra, bạn không thể nhận thêm được gì từ nó. Chúng tôi không phản đối giải trí, nhưng chúng tôi nhấn mạnh là việc nâng cao kỹ năng đọc không song hành với đọc để giải trí. Những cuốn sách thuần tuý thông báo cho bạn những điều bạn chưa biết nhưng không giúp bạn hiểu được bản chất của chúng thì tình trạng cũng như trên. Việc đọc để lấy thông tin cũng không khiến bạn động não hơn việc đọc để giải trí dù thoạt nhìn có vẻ như có. Nhưng đó đơn giản chỉ vì trí não bạn bị nhét đầy thông tin hơn là trước khi bạn đọc cuốn sách. Có sự thay đổi về lượng nhưng kỹ năng của bạn không nâng cao chút nào.
    Chúng tôi đã nói nhiều lần rằng người đọc giỏi luôn đặt ra những yêu cầu cho mình. Anh ta đọc rất chủ động với sự nỗ lực lớn. Còn một điều khác bạn cũng nên nhớ là những cuốn sách bạn muốn đọc để thực hành khả năng đọc của mình, đặc biệt là đọc phân tích, cũng phải đặt ra những yêu cầu cho bạn. Chúng phải nằm ngoài tầm của bạn. Khi áp dụng các quy tắc chúng tôi đã nêu, chúng sẽ không còn ngoài tầm nữa. Tất nhiên, các quy tắc sẽ không mang phép màu đến ngay cho bạn. Có những cuốn vẫn mãi nằm ngoài tầm của bạn dù bạn có đọc giỏi đến đâu. Đó chính là những cuốn sách bạn cần tìm kiếm vì chúng là trợ thủ đắc lực nhất giúp bạn trở thành một độc giả thông thái hơn.
    Có những độc giả đã sai lầm khi cho rằng những cuốn sách thách thức như vậy đều viết về các lĩnh vực xa lạ. Họ tin rằng chỉ có những cuốn sách khoa học và triết học mới thoả mãn được các tiêu chí đặt ra. Điều này không đúng. Những cuốn sách khoa học vĩ đại thường dễ đọc hơn rất nhiều những cuốn khác vì các tác giả đã cẩn thận giúp bạn hiểu được những thuật ngữ, xác định rõ các nhận định chính và trình bày các luận điểm chủ chốt. Những điều này không hề có trong các tác phẩm thơ ca nên thơ ca mới chính là những cuốn sách khó nhất, yêu cầu cao nhất. Ví dụ, sách của Homer khó đọc hơn sách của Newton, dù khi đọc lần đầu tiên, bạn có thể hiểu được nhiều hơn từ sách của Homer. Lý do là Homer chọn chủ đề rất khó để có thể viết hay được.
    Những khó khăn khi đọc một cuốn sách hay rất khác với những khó khăn khi đọc một cuốn sách tồi. Cuốn sách tồi chống lại mọi nỗ lực phân tích của bạn. Nó trượt khỏi tay bạn mỗi khi bạn nghĩ đã nắm được vấn đề rồi. Thực tế là với sách tồi, không có gì cần phải nắm bắt cả. Nó không đáng để nỗ lực. Bạn không nhận được phần thưởng nào cho sự chiến đấu của mình.
    Trong khi đó, một cuốn sách hay sẽ có phần thưởng cho bạn khi bạn nỗ lực đọc nó. Các cuốn sách hay nhất tặng nhiều phần thưởng nhất. Có hai loại phần thưởng. Một là, nó nâng cao kỹ năng đọc của bạn khi bạn đọc thành công một tác phẩm hay và khó; hai là, một cuốn sách hay có thể dạy bạn rất nhiều điều về thế giới và về bản thân bạn. Ngoài việc học được cách đọc hiệu quả hơn, bạn còn biết thêm về cuộc sống và trở nên sáng suốt hơn. Tức là bạn sẽ ý thức sâu sắc hơn về những chân lý vĩnh cửu và vĩ đại của đời người. Đặc biệt, những cuốn sách vĩ đại nhất có thể giúp bạn suy nghĩ tốt hơn về những vấn đề con người không thể giải quyết được hoặc bạn không thể nghĩ nhiều và hiểu được sâu, vì chúng được viết ra bởi những người có trí tuệ hơn người.
    Kim tự tháp về những cuốn sách
    Tính riêng kho tàng sách phương Tây đã có vài triệu cuốn sách, nhưng phần lớn trong đó không đưa ra được đầy đủ các yêu cầu giúp bạn nâng cao kỹ năng đọc vì đó là những cuốn sách giải trí đơn thuần hoặc cung cấp thông tin. Bạn không cần đọc phân tích mà chỉ cần đọc lướt là đủ.
    Loại sách thứ hai là loại bạn có thể học được nhiều điều từ nó về cách đọc và cách sống. Trong 100 cuốn, chưa chắc đã có một cuốn thuộc loại này, có khi trong 1.000 cuốn hay nhiều hơn thế mới có một cuốn. Đó là những cuốn sách hay, được tác giả gọt giũa cẩn thận, truyền tải tới người đọc những ý tứ sâu xa về những chủ đề luôn là mối quan tâm muôn thuở của con người. Chúng đặt ra những yêu cầu nghiêm khắc với người đọc, đáng để chúng ta đọc và suy ngẫm chí ít là một lần. Nếu có kỹ năng đọc tốt, bạn có thể thấu hiểu được toàn bộ nội dung tác phẩm chỉ trong một lần đọc. Những cảm giác khi đọc cuốn sách mách bảo bạn là bạn không cần đọc lại nữa. Các cuốn sách như vậy làm bạn động não và tăng sự hiểu biết. Bạn “vắt kiệt” nó. Nhờ đó, bạn nhận ra cuốn sách không còn gì để cho bạn thêm nữa.
    Trong số sách đó, có một lượng nhỏ hơn không thể bị vắt kiệt dù bạn đọc theo cách tốt nhất có thể. Đò là khi bạn gấp sách lại sau khi đã đọc và suy ngẫm hết khả năng của mình, bạn bỗng nghi ngờ cuốn sách còn có những điều bạn chưa hiểu hết. Cuối cùng, bạn lại tìm đến nó. Lúc này, có một điều rất đáng lưu tâm xảy ra. Hoặc là bạn sẽ thấy hóa ra cuốn sách có ít thứ cần hiểu hơn bạn tưởng. Lý do là vì trong thời gian dừng giữa các lần đọc, suy nghĩ của bạn đã kịp trưởng thành thêm. Hiểu biết của bạn rộng hơn, bạn đã thay đổi nhưng cuốn sách thì không. Vì thế, việc đọc lại cuốn sách làm bạn thất vọng. Hoặc là bạn khám phá ra rằng cuốn sách dường như cũng trưởng thành cùng bạn nếu đó là cuốn sách thuộc loại cao nhất - loại không bao giờ bị “vắt kiệt”. Bạn tìm thấy những điều thật sự mới mẻ mà trước đó bạn không nhận ra. Những gì bạn hiểu về cuốn sách vẫn đúng và bây giờ nó lại đúng theo nhiều cách hiểu khác nữa. Cuốn sách vẫn nằm ngoài tầm của bạn vì nó thật sự là một cuốn sách hay, vĩ đại, có thể được tiếp cận từ nhiều cấp độ khác nhau. Nó sẽ luôn nâng bạn lên tầm cao mới ngay cả khi bạn đã trở nên khôn ngoan và hiểu biết hơn.
    Chúng tôi không muốn áp đặt tên các sách hoặc nhóm sách tốt cho bạn. Bạn nên tìm kiếm một số cuốn sách có giá trị cho chính bạn. Đó là những cuốn sách dạy bạn nhiều nhất về cả cách đọc và về cuộc sống - những cuốn sách bạn muốn đọc đi đọc lại nhiều lần và giúp bạn trưởng thành.
    Cuộc sống và sự phát triển của trí tuệ
    Có một bài trắc nghiệm cũ, đã từng rất phổ biến có thể giúp bạn tìm ra cuốn sách nào giúp bạn trưởng thành. Giả sử, bạn bị bỏ lại trên một hoang đảo ít nhất là trong một thời gian dài và được phép mang theo mười cuốn sách. Bạn sẽ chọn những cuốn nào?
    Hãy nhớ là không có tivi hay phương tiện giải trí gì trên đảo, cũng không có thư viện cho mượn sách về, chỉ có bạn và mười cuốn sách thôi. Xét về một khía cạnh nào đó, tất cả chúng ta đều như người bị bỏ trên hoang đảo. Chúng ta đều phải đối mặt với những thách thức giống khi chúng ta ở trong tình huống như vậy – thách thức về việc tìm kiếm cội nguồn trong bản thân mình để sống một cuộc đời tốt đẹp.
    Có một sự thật khiến trí tuệ khác hẳn với cơ thể. Cơ thể có những giới hạn mà tâm trí không có. Ví dụ như cơ thể không phát triển mãi cả về sức mạnh và kỹ năng. Khi 30 tuổi, cơ thể con người đã phát triển hết sức. Nhưng không có giới hạn nào trong sự trưởng thành và phát triển của trí tuệ con người. Trí tuệ không ngừng phát triển dù ở độ tuổi cụ thể nào, mà chỉ ngừng khi bộ não tự nó mất đi sự sáng suốt. Khi bị lão hoá, trí tuệ mới mất đi sức mạnh tăng kỹ năng và hiểu biết.
    Đây là một trong những điểm đáng lưu ý nhất về con người và là đặc điểm khác biệt nhất giữa người thông tuệ và các động vật khác - những động vật đến một độ tuổi nào đó không phát triển thêm về mặt trí óc nữa. Nhưng lợi thế lớn đó của con người cũng kéo theo nguy cơ lớn: Trí tuệ có thể bị hao mòn đi, như là cơ bắp, nếu nó không được sử dụng. Sự hao mòn trí tuệ chính là cái giá phải trả cho việc không luyện tập trí não. Đây là một hình phạt khủng khiếp vì đã có những bằng chứng cho thấy nó là một căn bệnh dẫn đến chết người. Dường như không thể giải thích được một thực tế lá có quá nhiều người bận rộn lại chết rất nhanh sau khi họ về hưu. Họ sống là nhờ những yêu cầu mà công việc đặt ra cho trí não họ. Ngay khi những yêu cầu đó không còn, không còn nguồn nào để tiếp tục hoạt động trí tuệ và họ ngừng hẳn việc suy nghĩ và dừng lại.
    Các phương tiện giải trí và thông tin trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta là những trụ cột tinh thần giả dối. Chúng có thể cho chúng ta cảm tưởng rằng trí óc của ta hoạt động vì chúng yêu cầu ta phản ứng trước những kích thích từ bên ngoài. Nhưng sức mạnh khiến ta tiếp tục hành động từ những kích thích ấy lại rất hạn chế. Chúng giống như ma tuý. Chúng ta quen dần với chúng và ngày càng cần nhiều hơn. Cuối cùng, chúng càng lúc càng ít tác dụng cho đến khi không còn gì nữa. Như vậy, nếu thiếu các nguồn lực nội tại, chúng ta sẽ ngừng phát triển về trí tuệ, tinh thần và đạo đức, tức là ta bắt đầu chết đi.
    Đọc tốt, hay đọc tích cực, không chỉ tốt cho bản thân việc đọc, cũng không chỉ là một phương tiện giúp ta tiến bộ trong công việc hay nghề nghiệp. Nó còn giúp ta giữ cho trí óc sống và phát triển.
     

Share This Page