Tranh chấp giao hàng theo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Discussion in 'Luật' started by TrạngSư, Oct 18, 2015.

  1. TrạngSư

    TrạngSư Administrator

    Tư vấn giải quyết tranh chấp về việc giao hàng theo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

    Hiện tôi đang có 1 tình huống tranh chấp về việc giao hàng không thể sử đụng được mong được giải đáp ạ. Tôi có tham khảo một số hướng giải quyết nhưng chưa được rõ lắm và có phần mơ hồ nên mong được ý kiến tham khảo.

    Công ty A ( Việt Nam ) ký hợp đồng bán cho công ty B ( Nga) 105 MT lạc nhân theo điều kiện CIF cảng Vladivostok. Tổng trị giá hợp đồng là 75.600 USD, giao hàng bằng container trong tháng 10 tại cảng Sài Gòn. Hình thức thanh toán TTR trả ngay khi nhận bộ chứng từ.
    Trong hợp đồng hai bên thỏa thuận lạc nhân có độ ẩm là 9%, Công ty A phải cung cấp chứng từ cho Công ty B trong vòng 5 ngày sau ngày giao hàng; địa điểm kiểm tra số lượng, chất lượng ở cảng Vladivostok là cuối cùng.
    Ngày 15/10, công ty A giao 105 MT lạc nhân và được Vinacontrol cấp Giấy chứng nhận số lượng, trọng lượng, chất lượng có các chỉ tiêu đúng như hợp đồng quy định.
    Hàng được chở đến cảng Vladivostok vào ngày 30/10 và đã được công ty B thanh toán số tiền này theo chứng từ xuất trình.
    Ngày 5/11, Công ty B bán lô hàng này lại cho công ty C và công ty C mời Tổ chức giám định Nga kiểm tra số lạc nhân này tại kho hàng của cảng Vladivostok. Theo chứng thư của cơ quan này thì lạc nhân có độ ẩm là 12%, lạc mốc, mọc mầm, hư thối không thể sử dụng được và công ty C ( Nga) phải hủy bỏ.
    Ngày 15/11 Công ty B báo cho công ty A biết vấn đề này và thông báo đòi lại số tiền hàng đã thanh toán cho công ty A đồng thời tuyên bố đã hủy bỏ lô hàng trên theo yêu cầu của cơ quan giám định. Công ty A bác bỏ ý kiến này do đó công ty B khởi kiện công ty A
    Vậy vấn đề này giải quyết như thế nào?

    ---------------------------

    Trả lời:

    Căn cứ pháp lý

    - Incoterm 2010, UCP 600

    - CISG 1980, mại Việt Nam 2005

    Nội dung phân tích

    Theo điều kiện CIF Incoterm 2010 thì bên A chịu trách nhiệm từ việc thuê tàu, đến việc chuyên chở và bốc hàng, cũng như bảo hiểm cho các rủi ro trong quá trình chuyên chở. Khi hàng được xếp lên tàu tại cảng Sài Gòn, Rủi ro hàng hóa sẽ được chuyển giao cho người chuyên chở, bên A hết trách nhiệm với hàng hóa đó.
    Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên A có trách nhiệm phải cung cấp chứng từ kiểm tra hàng hóa cho bên B và bên A đã làm đúng nghĩa vụ của mình khi thuê Vinacontrol kiểm định chất lượng hàng hóa,kết quả là hàng được giao đáp ứng chỉ tiêu độ ẩm, chất lượng theo đúng hợp đồng. Thời điểm công ty C mời Tổ chức giám định Nga kiểm tra số lạc nhân này tại kho hàng của cảng Vladivostok là 20 ngày kể từ ngày Vinacontrol kiểm định. Nguyên nhân của việc giảm chất lượng nặng nề của lô hàng này là do hàng hóa không được đóng gói phù hợp quy chuẩn dẫn đến bị biến đổi chất lượng trong quá trình vận chuyển đường biển. Ở đây phải loại trừ nguyên nhân do bên A ngay từ khi giao hàng đã chủ ý đóng gói hàng kém chất lượng so với yêu cầu thỏa thuận vì kết quả giám định chất lượng hàng hóa của Vinacontrol là hoàn toàn chính xác, trung thực. Bên B trong trường hợp này có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại từ công ty bảo hiểm theo mức bảo hiểm đã mua cho lô hàng này. Bên B không thể kiện bên A vì giao hàng không đúng chất lượng vì bên A đã cung cấp đầy đủ chứng từ giám định chất lượng hàng hóa theo đúng nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán ngoại thương. Hơn nữa bên B đã chấp nhận lô hàng này khi hàng cập cảng Vladivostok tức là họ đồng ý với nội dung ghi trên tờ giám định chất lượng hàng hóa do Vinacontrol cấp về lô hàng này.

    Bài học rút ra: Khâu đóng gói hàng hóa là vô cùng quan trọng trong vận tải quốc tế, việc sơ xuất trong khâu này có thể ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện hợp đồng ngoại thương. Việc giám định hàng hóa cần phải thực hiện trước khi xếp hàng tại cảng đi và bốc dỡ hàng tại cảng đến nhất là trường hợp hàng hóa là hàng nông sản.
     
  2. BùiSEO1211

    BùiSEO1211 Member

  3. BùiSEO1211

    BùiSEO1211 Member

Share This Page