Richard Moore - Bậc thầy về xây dựng thương hiệu

Discussion in 'Marketing & Brand' started by CóVayCóTrả, Jun 26, 2013.

  1. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    Richard Moore - Một người Mỹ, thành công và nổi tiếng trên đất Mỹ nhưng chọn Việt Nam làm nơi đóng góp, cống hiến hết mình trong hơn 15 năm qua và có thể còn lâu hơn nữa. Ông không chỉ là bậc thầy về xây dựng thương hiệu mà còn là một "người ơn" đối với các doanh nghiệp Việt Nam với những bài học vô giá về thương hiệu.

    [align=center] View attachment Richard Moore.jpg [/align]
    Trước khi đến Việt Nam, ông đã có công việc rất thành công ở New York, thưa ông?

    RM: Vâng, năm 197S, cùng với hai cộng sự, chúng tôi đã thành lập Công từ Mua Cornelius Moore, và san đó trở thành một công ty truyền thông marketing phát triển lớn mạnh, từng được đánh giá là hãng thiết kế truyền thông phát triển nhanh nhất bờ Đông nước Mỹ. Chúng tôi cung cấp tất cả các dịch vụ trọn gói về quảng cáo nhưng thế mạnh của chúng tôi chính là các hoạt động below-the-line, từ thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu cho đến các loại tài liệu truyền thông tại điểm bán hàng. Chúng tôi đã từng phục vụ các tập đoàn công nghệ lớn như IBM, AT&T và các tổ chức tài chính như CitiBank và Sở Giao dịch Chứng khoán New York. Lúc đó, tôi đảm nhận vai trò giám đốc sáng tạo của công ty.

    Điếu gì khiến ông quyết định dừng công việc kinh doanh ở Mỹ và gắn bó với Việt Nam?

    RM: Chúng tôi đã nhận được một lời đế nghị sáp nhập hết sức hấp dẫn từ phía Interpublic, tập đoàn quảng cáo lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau khi sáp nhập và khi hợp đống làm việc của tôi kết thúc vào năm 1990, tôi quyết định thành lập lại Công ty Richard Moore Associates với mục đích duy trì hoạt động công ty ở quy mô nhỏ và làm công việc mà các giám đốc sáng tạo thực sự muốn làm, đó là làm sáng tạo mà không phải quản lý quá nhiều nhân viên.

    Với mối quan hệ lâu dài với hãng IBM, thỉnh thoảng tôi được mời trình bày về mối quan hệ giữa thiết kế và marketing tại các hội thảo đào tạo mà IBM tố chức cho các nhà quản lý của IBM trên khắp thế giới. Năm 1993, tôi tham gia một chương trình hội thảo diễn ra trong hai ngày tại Hồng Kông cho các nhà quản lý của IBM tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tôi không quá xa lạ với châu á, bởi tôi từng sống sáu năm ở Nhật Bản khi còn trẻ, nhưng đối với tôi vùng đất phía Đông vẫn còn là rất mới mẻ. Hội thảo của IBM đã rất thành công nên sau đó tôi quyết định nghỉ ngơi khoảng một vài tháng và điểm dừng chân cho chuyến du lịch chính là Việt Nam.

    Ngày đầu tiên tại Việt Nam, tôi dành thời gian đi dạo quanh các con phố trong khu phố cổ Hà Nội và tôi đã cảm thấy ngay đây chính là nơi dành cho mình. Năm 1994, tôi trở lại Việt Nam với chương trình bao gồm một chuỗi các buổi hội thảo, chuyên đề về thiết kế và cuộc triển lãm trưng bày thiết kế quốc tế do VCCI tổ chức tại Hà Nội, Đà Nẵng và Trung tâm Phát triển Ngoại thương giúp tổ chức tại TP.HCM. Kể từ đó tôi bắt đấu dành một nửa thời gian sống ở Việt Nam, cứ hai tháng một lấn đi đi về về giữa Hà Nội và New York. Vào năm 2005, chúng tôi chính thức trở thành công ty 100% vốn nước ngoài đầu tiên chuyên về phát triển bản sắc nhận diện thương hiệu được cấp phép tại Việt Nam. Văn phòng chính của chúng tôi đặt tại Hà Nội, song tới TP.HCM cũng chỉ mất có hai tiếng đồng hồ đi máy bay và tôi cũng thường có mặt tại Sài Gòn.

    Trong quá trình làm việc với các doanh nghiệp Việt Nam, điều gì khiến ông hài lòng và không hài lòng ở họ? ông trông đợi điếu gì ở các khách hàng của mình?

    RM: Tôi đã học được nhiều điều trong quá trình làm việc với các lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam. Họ là những người rất tận tâm và thực sự khéo léo khi vượt qua được vô vàn khó khăn sau thời kỳ đổi mới, những khó khăn mà ít người phương Tây nào có thể hiểu hết được. Tôi ngưỡng mộ họ bởi sự kiên cường và sự chú tâm nhằm tìm ra những giải pháp thực sự có hiệu quả. Tuy nhiên, hoạt động marketing và truyền thông marketing vẫn còn khá mới mẻ đối với nhiều công ty. Vỉ the, tôi nhận thấy vẫn cần thiết phải tiến hành nhiều hoạt động đào tạo cho các doanh nghiệp trong suốt quá trình xây dựng và triển khai một hệ thống bản sắc nhận diện cho thương hiệu. Thực sự, tôi rất ủng hộ hoạt động này khi làm việc tại Việt Nam, và tôi nghĩ rằng, đây chính là một trong những thế mạnh của công ty chúng tôi.

    Phát triễn bản sắc nhận diện thương hiệu là công việc mang tính chiến lược và dài hạn hơn tất cả các hình thức sáng tạo tài liệu truyền thông marketing khác, vì vậy chúng tôi luôn làm việc chặt chẽ với ban lãnh đạo cấp cao nhất của các doanh nghiệp. Đôi khi, lãnh đạo doanh nghiệp có thể nhấm lẫn giữa tính cách của thương hiệu với tính cách của bản thân và muốn xây dựng bản sắc nhận diện thương hiệu dựa trên những sở thích cá nhân của chính mình. Theo quy trình mà chúng tôi thiết lập nên, chúng tôi luôn thiết lập các mục tiêu rõ ràng một cách cẩn thận dựa trên chính những thế mạnh của doanh nghiệp. Đó là một quá trình phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để mang lại kết quả là những tiêu chí rõ ràng cho quá trình phát triển sáng tạo các yêu tờ nhận diện thương hiệu về mặt ngôn ngữ cũng như hình ảnh. Chúng tôi mong muốn doanh nghiệp cũng tham gia vào quy trình này và sử dụng kết quả thu được đề đưa ra các quyết định liên quan đen việc phát triển một bản sắc nhận diện độc đáo cho thương hiệu.

    Hiện tại, dường như ông mới chỉ tập trung phục vụ cho khối doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp/tập đoàn Nhà nước. ông có ý định hướng đến phân khúc thị trường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam không? Và nếu có dịch vụ cung ứng cho các doanh nghiệp này sẽ có những đặc thù gì?

    RM: Thực sự, chúng tôi không chỉ tập trung vào khối các doanh nghiệp lớn, dù có khá nhiều khách hàng như vậy. Thông thường, chính các doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp hiểu được giá trị của việc phát triển hệ thống nhận diện thương hiệu dựa trên nền tảng chiến lược. Hiệu quả của ngân sách truyền thông marketing sẽ được nâng lên rất nhiều nếu mỗi loại tài liệu truyền thông có thể đáp ứng tốt các mục tiêu chiến thuật ngắn hạn và đồng thời đẩy mạnh hình ảnh mang tính chiến lược dài hạn của thương hiệu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ hơn cũng có the đạt được những lợi ích tương tự với mức độ tương ứng với quy mô. Các bước trong quy trình xây dựng thương hiệu đều áp dụng chung cho mọi doanh nghiệp dù lớn dù nhỏ, song mức độ phức tạp của từng bước thực hiện có thế có sự khác nhau khá lớn. Chúng tôi điều chỉnh quy trình xây dựng thương hiệu của mình để đáp ứng tốt nhất hiện trạng của từng doanh nghiệp.

    Ông đánh giá thế nào vế tiềm năng "xuất khẩu thương hiện của doanh nghiệp Việt Nam? Làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam chinh phục thị trường thế giới bằng thương hiệu của doanh nghiệp chứ không phải bằng những lợi thế về giá cả và chi phí nhân công rẻ?

    RM: Hình ảnh của Việt Nam trên thế giới hiện nay gợi cho tôi nhớ đến hình ảnh của Nhật Bản khi tôi sống ở đó vào thời điểm khoảng 20 năm sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Tôi nhớ là ke từ khi người tiêu dùng Mỹ bát đầu tiếp xúc với những sản phẩm tinh tế như máy ảnh Nikon, máy nghe nhạc Song Walkmans và mô Hon da thì phải mất ít nhất khoảng một thập ít sau đó cảm nhận về các sản phẩm Nhật mới được thay đổi, từ đó Nhật Bản mới được biết đến như là nhà sản xuất các sản phẩm chất lượng cao với nhiều thương hiệu thực sự thông minh. Với tốc độ phát triển của thông tin và giao thông vận tải ngày nay, chúng ta không cần mất nhiều thời gian đến vậy đế có thể thay đồi nhận thức. Với Việt Nam, điều cần thiết đối với các nhà sản xuất là phải chú trọng đấu tư phát triển thương hiệu để chấm dứt việc kinh doanh hàng hóa đơn thuần và chuyển sang gặt hái những lợi ích về mặt tài chính thu được từ các sản phẩm có thương hiệu. Khi đề cập đen thống hóa , ý tôi không chỉ muốn nói tới các loại hàng hóa thực phẩm đơn thuần mà là bất cứ sản phẩm nào được sản xuất ra nhưng vẫn chỉ mang thương hiệu của người khác.

    Ông đã cống hiến rất nhiều cho Việt Nam. Sau 15 năm gắn bó với quốc gia này, hai tiếng "Việt Nam” có ý nghĩa gì đối với ông? Tới đây, ông có những kế hoạch nào để tiếp tục thể hiện thiện chí chung tay xây dựng đất nước Việt Nam?

    RM: Tóm lại trong một từ, đối với tôi Việt Nam có nghĩa là “growth" (phát triển). Tôi đã chứng kiến sự thay đổi của một số thành phố như Hà Nội, TP HCM và nhiều nơi khác từ lúc chỉ có vài cột đèn giao thông trên đường phố, khi mà người dân còn có nhiều thời gian nhưng có rất ít các hoạt động. Nay những thành phố ấn đã phát triển thành những đô thị lớn sôi động với lực lượng lao động lành nghề, chăm chỉ, với động lực hội nhập mạnh mẽ cùng các thị trường tự do khác trên thế giới để tận hưởng những tiện ích của một cuộc sống hiện đại.

    Do thường xuyên đi đi về về giữa hai đầu thế giới, tôi nghĩ mình cảm nhận được sâu sắc hơn hết về tốc độ phát triển của Việt Nam. Về mặt chuyên môn cũng như về mặt cá nhân, tôi cho rằng bản thân tôi và đội ngũ nhân viên của công ty ngày một chuyên nghiệp hơn và làm tốt hơn công việc của mình. Tôi vừa xuất bản một cuốn sách mới về thương hiệu mang tựa đề "Đầu tư cho Chiến lược Hình ảnh Thương hiệu” và hiện đang lên kế hoạch tiến hành một số chương trình đào tạo mới. Thật thú vị khi được sống, làm việc và đóng góp cho một môi trường năng động như nơi đây. Tôi sẽ còn tiếp tục làm việc và đóng góp lâu dài cho Việt Nam khi tôi còn có thể.

    Xin cảm ơn ông rất nhiều.
     
  2. le_911

    le_911 New Member

  3. CóVayCóTrả

    CóVayCóTrả Administrator

    xạo gì bác, thật ra ông này làm ở Việt Nam nên tạp chí trong nước họ tung hô là bậc thầy. Chắc bác thấy vậy là nói quá :D .
     
  4. ovuive2014

    ovuive2014 New Member

    đến với hãng hàng không giá rẻ Tiger Airway, quý khách hoàn toàn yên tâm về lộ trình bay tới quốc gia Indonesia xinh đẹp. quý khách chỉ cần đưa ra lịch trình cụ thể, nhân viên của V&V Booking sẽ tìm kiếm và hỗ trợ quý khách đặt mua vé bay đi Indonesia giá rẻ nhất và theo lịch trình của quý khách đã sắp xếp.

    vé máy bay đi Indonesia


    [​IMG]

    chúng ta đang có dự định đi du lịch đến với Indonesia. Điều các bạn đang băn khoăn đó là đến Indonesia bằng phương tiện gì để tiết kiệm chi phí? Đến Indonesia thì cần chuẩn bị như thế nào, đi những đâu khi đến đó?

    Phòng vé V&V Booking xin giúp bạn trả lời những thắc mắc của quý khách . Đến Indonesia, cách đơn giản nhất mà tiết kiệm được thời gian đi lại và chi phí đó là bằng đường hãng bay với tấm vé bay đi Indonesia. Lựa chọn hãng hàng không Tiger Air chính là phương tiện di chuyển đến Indonesia. Bởi đây đó là hãng giá rẻ của quốc gia Singapore, được thành lập vào cuối năm 2003, nhưng phải đến tháng 8 năm 2004 thì hãng này mới chính thức bán những chiếc vé đầu tiên.

    đến với hàng không giá rẻ Tiger Airway, quý khách hoàn toàn yên tâm về hành trình bay tới quốc gia Indonesia xinh đẹp. bạn chỉ cần đưa ra lịch trình cụ thể, nhân viên của V&V Booking sẽ tìm kiếm và hỗ trợ du khách đặt mua vé máy bay đi Indonesia giá rẻ nhất và theo lịch trình của quý khách đã sắp xếp.

    Đến Indonesia các bạn đừng bỏ lỡ công viên đất nước Komodo tại Nusa Tenggara, rừng mưa nhiệt đới Sumatra, đến Borobudur và Prambanan, công viên quốc gia Kulon tại Banten. Bali đó là vùng đất đẹp có những cánh đồng lúa vàng trải dài bên sườn đồi, những bãi tắm đẹp, trong xanh. Và nơi hấp dẫn trong khu vực thì thủ đô Jakarta chính là điểm đến lý thú. đất nước Indonesia có rất nhiều lễ hội, nhưng có điều riêng biệt đó là các lễ hội này không cố định mà thường bị thay đổi theo từng năm. Nếu có ý định du lịch đến với Indonesia quý khách có thể gặp được lễ hội đó.

    Khi đến Indonesia các bạn cần chú ý:
    - Bắt tay lịch sự chính là được thực hiện bằng cả hai tay nhưng không được phép bóp chặt
    - Khi vào một ngôi nhà hay đó là đền chùa, thì các bạn cần phải tháo giày ra trước rồi mới được phép đi vào trong.
    - Điều mà bạn cần quan tâm chính là dùng tay phải để trao hoặc nhận quà.
    - Và đừng bao giờ dùng tay để chỉ vào người hay là vào một vật nào đó khi đến đất nước Indonesia.


    quốc gia tươi đẹp này còn rất nhiều điều hấp dẫn quý khách đến khám phá những nét đặc biệt , những tập tục văn hóa nơi đây . Chỉ với một tấm vé máy bay đi Indonesia mua ở tại V&V Booking thôi, chúng ta đã thực hiện được điều mình muốn rồi đó.
     
  5. Thời gian qua, công tác an toàn vệ sinh lao động-Phòng chống cháy nổ (ATVSLĐ, PCCN) tại các khu công nghiệp của các tỉnh luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm, doanh nghiệp tích cực hưởng ứng nhằm đảm bảo an toàn lao động trong quá trình làm việc, đảm bảo tài sản, sự phát triển, ổn định của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra các vụ tai nạn lao động, cháy nổ tại các công ty, doanh nghiệp, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Do đó, nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động, ngày 24/06/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động chính thức có hiệu lực từ 01/07/2016. Căn cứ theo nhu cầu đào tạo của các doanh nghiệp, VIỆN ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ XÂY DỰNG khai giảng các lớp an toàn lao động theo quyết định số 44/2016/NĐ-CP như sau:
    - Căn cứ theo Luật an toàn lao động ngày 25/06/2016
    - Căn cứ theo Nghị định số 37/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc.
    - Căn cứ theo Nghị định số 39/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động có hiệu lực từ 1/7/2016
    - Căn cứ theo Nghị định số 44/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động
    1. Đối tượng tham gia khóa học an toàn lao động
    - Nhóm 1: Người quản lý phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động
    - Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động
    - Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
    - Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5 Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động.
    - Nhóm 5: Người làm công tác y tế
    - Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại điều luật 74 Luật an toàn, vệ sinh lao động.
    2. Nội dung khóa học huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động: dựa trên điều 18, điều 19 và điều 20 Nghị định số 44/2016/NĐ-CP.
    Thời gian huấn luyện an toàn lao động theo quy định cho nhóm 1 và 4 tối thiểu 16 giờ; nhóm 2 tối thiểu 48 giờ. Với nhóm 3, thời gian huấn luyện tối thiểu là 24 giờ. Đặc biệt, nghị định số 44 có quy định thời gian huấn luyện tối thiểu với nhóm 5 và 6 lần lượt là 56 giờ và 4 giờ.
    Huấn luyện nhóm 1
    a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
    b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm:
    - Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở;
    - Phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động;
    - Kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động;
    - Văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh.
    Huấn luyện nhóm 2
    a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
    b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động:
    - Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở;
    - Xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động;
    - Phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động;
    - Văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh;
    - Kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động;
    - Xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm;
    - Phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp;
    - Xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra;
    - Công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động;
    - Quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động;
    - Hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động;
    - Sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động
    - Công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động;
    c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành:
    - Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại;
    - Quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.
    Huấn luyện nhóm 3
    a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
    b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động:
    - Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động;
    - Kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động;
    - Chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên;
    - Văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh;
    - Nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân;
    - Nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp;
    c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành:
    - Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm;
    - Quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động;
    - Kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.
    Huấn luyện nhóm 4
    a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động:
    - Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động;
    - Kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động;
    - Chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên;
    - Văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh;
    - Nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp.
    b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
    Huấn luyện nhóm 5:
    a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
    b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm:
    - Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở;
    - Phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động;
    - Kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động;
    - Văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh;
    c) Huấn luyện cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động:
    - Yếu tố có hại tại nơi làm việc;
    - Tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại;
    - Lập hồ sơ vệ sinh lao động tại nơi làm việc;
    - Các bệnh nghề nghiệp thường gặp và biện pháp phòng chống;
    - Cách tổ chức khám bệnh nghề nghiệp, khám bố trí việc làm, chuẩn bị hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp;
    - Tổ chức và kỹ năng sơ cứu, cấp cứu;
    - Phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc;
    - An toàn thực phẩm;
    - Quy trình lấy và lưu mẫu thực phẩm;
    - Tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật và dinh dưỡng cho người lao động;
    - Nâng cao sức khỏe nơi làm việc, phòng chống bệnh không lây nhiễm tại nơi làm việc;
    - Kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng kế hoạch, phương án, trang bị phương tiện và điều kiện cần thiết để thực hiện công tác vệ sinh lao động;
    - Phương pháp truyền thông giáo dục về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; lập và quản lý thông tin về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp tại nơi làm việc;
    - Lập và quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp.
    - Công tác phối hợp với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện nhiệm vụ liên quan theo quy định tại Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động.
    Huấn luyện nhóm 6:
    Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên.
    Chứng chỉ, chứng nhận:
    Học viên tham gia khóa học thông qua sát hạch, kiểm tra sẽ được cấp:
    - Chứng nhận an toàn lao động với nhóm 1, 2, 5, 6 (thời hạn 2 năm);
    - Thẻ an toàn với nhóm 3 (thời hạn 2 năm);
    - Ngoài ra, nhóm 5 sẽ được cấp Chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động (thời hạn 5 năm);
    - Sổ theo dõi người thuộc nhóm 4 được huấn luyện.
    Lịch khai giảng:
    - Công ty tổ chức liên tục khai giảng các lớp an toàn lao động vào ngày 15 hàng tháng.
    - Quý cơ quan/doanh nghiệp có nhu cầu tổ chức riêng cho đơn vị xin liên hệ theo số điện thoại: 0904.889.859 - 0908.060.060
    Hồ sơ đăng ký học an toàn lao động:
    Bản sao Chứng minh thư nhân dân không cần công chứng;
    Ảnh màu 3×4: 02 chiếc.
    Viện Đào Tạo Bồi Dưỡng Cán Bộ Xây Dựng

    Adress: Tòa HH2A - KĐT Linh Đàm - Hoàng Mai - Hà Nội

    Hotline: 0904 889 859 ( Ms.Linh )

    Hotline: 0908 060 060 ( Mr.Phong )

    Tel: 046.686.8910 - Fax: 043.257.9999

    Website: https://vienxaydung. edu.vn



    Email: vienxaydung.edu.vn@gmail.com
     

Share This Page