Mỹ học là gì

Discussion in 'Triết - Tâm lý học' started by KẻSĩẨnDanh, Nov 18, 2015.

  1. KẻSĩẨnDanh

    KẻSĩẨnDanh Administrator

    1. Quá trình xác định đối tượng của mỹ học trong lịch sử

    Lịch sử hình thành và phát triển của mỹ học là một quá trình lâu dài và phức tạp. Từ thời kỳ cổ đại cho đến thế kỷ XVIII những vấn đề của mỹ học được nhiều khoa học khác nghiên cứu: triết học, nghệ thuật học, tâm lý học, văn hóa học và tình dục học, v.v…

    Mỹ học với tính cách là một hình thái ý thức xã hội đã xuất hiện từ thời kỳ thượng cổ. Thời kỳ, mà lịch sử tư tưởng của nhân loại về cơ bản là những ý niệm sơ khai về chuẩn mực đạo đức và tín ngưỡng. Đó cũng là những quan niệm của chúng ta ngày nay về “Nghệ thuật hang động”[1].

    Mỹ học là một bộ phận lý luận của triết học gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của triết học từ thời kỳ cổ đại. Đến thế kỷ XVIII, mỹ học tách khỏi triết học trở thành một khoa học độc lập.

    Những ý niệm thẩm mỹ sơ khai đã có từ thời thượng cổ. Người Trung Quốc quan niệm chữ“nghệ” dùng để chỉ việc “chăm sóc cây cối”. Cũng như vậy, quan niệm về cái đẹp đã được hình thành trong cuộc sống du mục với nghề chăn nuôi gia súc đã phát triển. Bộ phận cơ bản của chữ “mỹ” và“thiện”, có nghĩa là cái đẹp – bộ “dương” chỉ con cừu. Sự xuất hiện của khái niệm chữ “họa” – chỉ chữ họa trong quan hệ thẩm mỹ, quan hệ nghệ thuật, về mặt biểu ý mà nói, có nghĩa là “việc kết hợp những sợi chỉ màu bằng tơ”, tức là việc thêu thùa. Những tư tưởng mỹ học này đã được các nhà mỹ học ở thời kỳ cổ đại – chế độ chiếm hữu nô lệ kế thừa và phát triển.

    Theo quan điểm của Hêghen cùng với đạo đức, lôgíc học và mỹ học tạo thành bộ ba các “khoa học chuẩn mực” được coi là một trong những tập hợp quy tắc mà đời sống tinh thần con người không thể thiếu. Chính vì vậy, chúng ta có thể nói rằng ba mục tiêu của mỹ học: các qui tắc của nghệ thuật, các qui luật của cái đẹp và qui tắc của sở thích, hoàn toàn phù hợp với qui tắc của hoạt động của con người và của khoa học, với các qui luật của Chân – Thiện – Mỹ. Cho nên, Hêghen cho rằng: “Triết học về nghệ thuật là một mắt khâu tất yếu trong tập hợp triết học”.

    Theo đó, Pôn Valêry[2] cũng nhận định: “Mỹ học sinh ra vào một ngày nào đó từ một nhận xét và một sự thích thú của các Triết gia”. Sở dĩ như vậy, bởi vì cho đến ngày nay các nhà triết học, mỹ học vẫn còn tiếp tục tranh luận rằng: mỹ học là khoa học về cái đẹp hay khoa học triết học về nghệ thuật?

    Thuật ngữ “Mỹ học” đã có nguồn gốc trong ngôn ngữ Hy Lạp, xuất phát từ chữ aisthetikos –có nghĩa là “cảm giác”, là “tính nhậy cảm”; hoặc: “có quan hệ với cảm thụ cảm tính”. Thực raaisthetikos có hai nghĩa: thứ nhất, thường được giải thích là nhận thức cảm tính, thứ hai cũng được giải thích là nhận thức cảm tính, nhưng là nhận thức cảm tính của sự xúc động (rung động cảm xúc).

    Tư tưởng mỹ học Hy Lạp ra đời nhằm tìm hiểu thực tiễn nghệ thuật thời đại của mình về mặt lý luận. Cho đến khi xuất hiện những quan điểm thẩm mỹ đầu tiên, nghệ thuật Hy Lạp cổ đại đã đạt đến trình độ cao. Hầu như tất cả các kiểu thế giới quan mỹ học sau này đều ra đời từ lý thuyết triết học – mỹ học Hy Lạp cổ đại.

    Những nhà tư tưởng đầu tiên (phái Pitago, Hêracơlít, Đêmôcơrít), trừ phái Pitago theo quan điểm duy tâm, các nhà triết học duy vật Hêracơlít, Đêmôcơrít đã giải quyết vấn đề chủ yếu của mỹ học – vấn đề quan hệ thẩm mỹ với hiện thực. Họ coi vũ trụ là thể hiện sự cân đối, trật tự, hài hoà là cơ sở khách quan của cái đẹp. Tư tưởng này đã được Arixtốt phát triển thêm khi ông cho rằng cả vũ trụ, lẫn hoạt động nói chung của con người, trong đó có hoạt động nghệ thuật, đều có cùng một số các qui luật nền tảng là qui luật vật lý, sinh học.

    Những đặc điểm mỹ học duy tâm của phái Pitago đã được Xôcơrát và Platông, kế tục và phát triển thêm. Platông cho rằng không có một cái đẹp nào nằm bên ngoài cái đẹp tự nó, - đó là cái đẹp tồn tại trong thế giới ý niệm, còn những cái đẹp thường ngày mà chúng ta cảm nhận được bằng cảm giác chỉ là ảo ảnh, bản sao của cái đẹp trong thế giới ý niệm.

    Đến thời trung cổ, thời kỳ thần quyền tôn giáo là sự thống trị tuyệt đối của thần học, nghệ thuật chính thống chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo. Trong nghệ thuật, người ta đã tìm cách cố gắng biện luận cho thế giới đồ vật có quyền được làm khách thể, thể hiện trực tiếp quyền lực của Đức Chúa Trời. Đó là tư tưởng của Tômát Đacanh, khi ông khẳng định: “Mọi sinh vật được sinh ra đều làm Chúa vui sướng, bởi vì mọi thứ đang tồn tại đều theo ý Chúa”.

    Thời kỳ phục hưng, - thời kỳ mà Ph. Ăngghen đã gọi là thời kỳ của “một cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất”. Nền văn hoá phục hưng ra đời trên cơ sở thời kỳ tiền tư bản, còn nhu cầu khai thác kho tàng các quan niệm cổ đại là do những nhu cầu thực tế của sự phát triển xã hội, chứ không phải chỉ là khôi phục giản đơn nền văn hoá nghệ thuật cổ đại Hy Lạp.

    Đặc điểm cơ bản của sự phát triển mỹ học thời kỳ phục hưng là tìm cách tách mỹ học ra khỏi triết học. Bởi vì, mỹ học đã phát triển thành một phương diện cơ bản của nghệ thuật, do chính những văn nghệ sỹ đề xuất để giải quyết vấn đề cái đẹp, giải quyết phương hướng sáng tác, coi đó như một công cụ quan trọng để đấu tranh giải phóng con người, vì sự tiến bộ của xã hội.

    Những quan niệm cơ bản của thế giới quan nhân văn thời kỳ này, thực chất là ca ngợi con người, tán dương cuộc sống trần thế, minh oan cho nhục cảm, niềm tin vào tiềm năng sáng tạo vô biên của cá nhân, quan tâm đến tự nhiên. Lý tưởng của các nhà nhân văn chủ nghĩa là một cá nhân hoàn toàn tự do, phát triển hài hòa, nhạy cảm và chủ động, với tầm vóc khổng lồ và những hứng thú lớn lao. Đó là các nhà tư tưởng Lêônađờvanhxi, Raphaen, Mikenlănggiơ. Điều đó, chứng tỏ rằng nghề thủ công đã tách ra khỏi nghệ thuật, và phương diện lý thuyết của nghệ thuật đã được đặc biệt đề cao.

    Từ thời kỳ phục hưng trở đi, mỹ học không chỉ từ triết học tác động vào văn học nghệ thuật mà ngược lại, sự phát triển của văn học nghệ thuật, tự nó đòi hỏi những khái quát riêng của chính nó, do nó đề xuất. Và những khái quát này ra nhập vào mỹ học, mà bản thân những nguyên lý chung của triết học không giải đáp được những vấn đề riêng của đời sống thẩm mỹ, của nghệ thuật. Mặt khác, sự phân ngành của khoa học cụ thể ra khỏi triết học như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển khoa học, dẫn đến triết học và các khoa học trở thành các khoa học độc lập, trong đó có mỹ học.

    Chính những lý do trên, sự phát triển tự thân của mỹ học và việc xác định đối tượng nghiên cứu của nó là một nhu cầu khách quan. Baumgácten một giáo sư người Đức đã đưa ra khái miện mỹ học vào năm 1735 trong bài: “Những suy xét về triết học có quan hệ tới việc xây dựng thơ ca”.

    Baumgácten cũng xuất phát từ chữ: aisthetikos để tạo ra thuật ngữ “Aesthetics”, có nghĩa là “học thuyết về các cảm giác” hoặc “lý luận về sự thụ cảm thẩm mỹ”. Ông cho rằng, mỹ học là một khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu những đặc điểm của con đường nhận thức thế giới bằng cảm xúc, để phân biệt với các hình thái khác của hoạt động nhận thức như triết học, khoa học. Cho nên, năm 1750 ông cho xuất bản cuốn Mỹ học (Aesthetics) tập 1, năm 1758 xuất bản cuốn Mỹ học tập 2.

    Sau Baumgácten, vấn đề đối tượng của mỹ học vẫn còn là vấn đề được tranh luận và được phát triển thêm. Lược qua một vài quan điểm tiêu biểu mà chúng ta phải kể đến như Cantơ, Hêghen, Tsécnưsépxki.

    Cantơ nhìn nhận đối tượng của mỹ học là lĩnh vực của “thị hiếu thẩm mỹ” hoặc là lĩnh vực của “phán đoán thẩm mỹ”. Như vậy, Cantơ đã biến đối tượng của mỹ học thành cái chủ quan, chứ không phải là cái khách quan.

    Hêghen coi đối tượng của mỹ học là nghiên cứu cái đẹp, cụ thể hơn là “vương quốc bao la của cái đẹp”. Song ở Hêghen, cái đẹp chủ yếu được quan niệm trong nghệ thuật và cũng là sự tha hóa của “ý niệm tuyệt đối”. Ông không phủ nhận cái đẹp trong cuộc sống, trong tự nhiên, nhưng ông coi thường nó, cho nó là cái không đầy đủ và nhàm chán.

    Tsécnưsépxki đối lập với quan niệm của Hêghen. Ông coi đối tượng của mỹ học là: “Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực”. Dựa trên quan niệm “cái đẹp là bản thân cuộc sống”, ông hướng mỹ học vào cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân lao động.

    Như vậy, trong lịch sử mỹ học, về cơ bản có hai quan điểm:

    Thứ nhất - mỹ học là khoa học về cái đẹp?

    Có thể coi đây là một định nghĩa có tính truyền thống và ngắn gọn nhất. Dù định nghĩa này không được đầy đủ và chính xác, nhưng nó được coi là điểm xuất, là một cơ sở lý luận trong việc nghiên cứu đối tượng của mỹ học. Bởi vì, cái đẹp là một phạm trù trung tâm của mỹ học. Có thể coi đó là một định nghĩa mỹ học theo nghĩa hẹp, nhưng thực chất nội dung của nó không đủ xác định những nội dung cơ bản trong đối tượng của mỹ học.

    Mỹ học không chỉ nghiên cứu cái đẹp mà còn nghiên cứu các hiện tượng thẩm mỹ khách quan khác như cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả, cái thấp hèn. Vấn đề quan trọng hơn là mỹ học phải nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa các hiện tượng thẩm mỹ khách quan đó với tính cách là khách thể thẩm mỹ và mặt chủ quan của các mối quan hệ này – đó là chủ thể thẩm mỹ.

    Nghiên cứu chủ thẩm mỹ không chỉ nghiên cứu tình cảm – thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ mà còn phải nghiên cứu năng lực cảm thụ – đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ theo những qui luật của cái đẹp. Vì vậy, có thể định nghĩa mỹ học là khoa học về mối quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực?

    Thứ hai - mỹ học là triết học về nghệ thuật?

    Khuynh hướng này cho rằng đối tuợng của mỹ học là triết học về nghệ thuật, là những nghiên cứu những qui luật chung nhất của nghệ thuật như một hình thức đặc thù phản ánh hiện thực. Quan điểm này nghiên cứu nghệ thuật chỉ đơn giản về phương diện nhận thức hơn là bản chất thẩm mỹ của nghệ thuật với tính cách mỹ học về nghệ thuật chỉ là một bộ phận lý luận của triết học.

    Nghệ thuật không chỉ là đối tượng nghiên cứu của triết học, văn hoá học mà còn là đối tượng khoa học của mỹ học, nghệ thuật học. Đối với mỹ học, nghệ thuật là hình thái cao nhất của quan hệ thẩm mỹ với hiện thực, nghệ thuật mới là đối tượng của mỹ học.

    Nghiên cứu hình thái cao nhất của quan hệ thẩm mỹ, một mặt sẽ làm sáng tỏ bản chất, đặc trưng của quan hệ thẩm mỹ nói chung; mặt khác, chỉ có thể hiểu rõ bản chất và đặc trưng, vai trò của nghệ thuật khi xét nó trong toàn bộ quan hệ thẩm mỹ của con người. Vì vậy, có thể định nghĩa mỹ học là khoa học về quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực nói chung và về nghệ thuật như một hình thái cao nhất của các quan hệ thẩm mỹ?

    Thông qua những vấn đề trên, chúng ta nhận thấy quá trình xác định đối tượng nghiên cứu của mỹ học trong lịch sử có nhiều quan điểm khác nhau về các mặt quan hệ của quan hệ thẩm mỹ. Song, về cơ bản là quan niệm đồng nhất đối tượng của mỹ học là khoa học về cái đẹp hay khoa học triết học về nghệ thuật.

    2. Đối tượng của mỹ học

    Lịch sử mỹ học là lịch sử ra đời, hình thành và phát triển các khuynh hướng cơ bản trong mỹ học – mỹ học duy vật và mỹ học duy tâm trong các thời kỳ khác nhau của lịch sử phát triển xã hội. Mặc dù, vấn đề duy vật duy tâm trong mỹ học hiện đại ngày nay ít nhiều mất đi yếu tố truyền thống của nó xét về mặt triết học trong mỹ học. Vì mỹ học là một khoa học độc lập. Nhất là mỹ học hiện đại. Cố nhiên, do kết quả đấu tranh giữa các quan điểm cơ bản trong lịch sử đã hình thành các quan niệm khác nhau về đối tượng của mỹ học như một quá trình tất yếu.

    Mỹ học hiện đại đã giải thích qúa trình phát triển của mỹ học, của nghệ thuật thông qua quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực dưới các hình thức khác nhau. Về cơ bản là hai khuynh hướng mỹ học. Đó là mỹ học Mác – Lênin và mỹ học tư sản.

    Mỹ học Mác – Lênin khẳng định sự ra đời của các quan hệ thẩm mỹ, của nghệ thuật đều gắn liền với quá trình lao động và hoạt động thực tiễn. Đây là quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử của triết học Mác – Lênin khi phân tích đời sống xã hội để khẳng định vai trò của sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại, vận động và phát triển của xã hội; bao gồm tất cả các lĩnh cực tinh thần. Trong đó có ý thức thẩm mỹ. C. Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất của xã hội quyết định các qúa trình sinh hoạt xã hội, chính trị tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ qui định ý thức của họ”[3].

    Mỹ học tư sản cũng xuất phát từ thế giới quan và phương pháp luận của các trào lưu triết học tư sản. Chủ yếu vẫn là khynh hướng triết học nhân bản để hình thành những quan điểm mỹ học nhân bản chủ nghĩa. Đó là mỹ học về nhân cách về tính dục của Phơrớt và mỹ học hiện sinh của Kiếckêga và Giăng Pôn Sác.

    Mặc dù có sự khác nhau và mặt thế giới quan và phương pháp luận giữa Mỹ học Mác – Lênin và mỹ học tư sản khi nghiên cứu nguồn gốc, bản chất và các qui luật của quan hệ thẩm mỹ. Song, mỹ học hiện đại đều khẳng định mỹ học nghiên cứu toàn bộ các quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực, bao gồm cả nghệ thuật với tính cách là hình thái cao nhất của các quan hệ thẩm mỹ.

    Xét về nội dung, đối tượng nghiên cứu của mỹ học là nghiên cứu các quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực, xét về chủ thể, khách thể và nghệ thuật:

    Chủ thể thẩm mỹ, một mặt với tính cách là quá trình cảm thụ, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ; mặt khác là các hoạt động của chủ thể thẩm mỹ nhằm thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ tình cảm thẩm mỹ – thị hiếu thẩm mỹ – lý tưởng thẩm mỹ của cá nhân và xã hội. Chỉ có các nhu cầu về cái đẹp, tình cảm về cái đẹp – thị hiếu về cái đẹp – lý tưởng thẩm mỹ về cái đẹp là đối tượng của mỹ học, còn các nhu cầu khác trong hoạt động xã hội của con người là đối tượng nghiên cứu của các khoa học khác.

    Khách thể thẩm mỹ với tính cách là đối tượng thẩm mỹ. Đó là những những hiện tượng thẩm mỹ khách quan như cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Trong đó cái đẹp giữ vị trí trung tâm. Bởi vì, cái bi, cái hài, cái cao cả sở dĩ mang yếu tố thẩm mỹ vì chúng là các hình thức tồn tại khác nhau của cái đẹp và trong mối quan hệ với cái đẹp.

    Nghệ thuật với tính cách là hình thái cao nhất của quan hệ thẩm mỹ, cũng bao gồm sự hưởng thụ, đánh giá, sáng tạo nghệ thuật nhằm thoả mãn nhu cầu tình cảm – thị hiếu – lý tưởng nghệ thuật của cá nhân và xã hội. Nói đến nghệ thuật là nói đến các qui luật của tình cảm, của cái đẹp. Sự phản ánh cái xấu trong nghệ thuật cũng phải gắn với lý tưởng về cái đẹp. Do đó, cái đẹp đã làm cho nghệ thuật thể hiện được bản chất, đặc trưng và chức năng của nó và đồng thời nghệ thuật là đối tượng nghiên cứu của mỹ học.

    Mỹ học là khoa học mang tính chất triết học nghiên cứu những qui luật chung nhất của quan hệ thẩm mỹ. Trong đó cái đẹp là trung tâm, hình tượng là đặc trưng cơ bản, nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất của quan hệ thẩm mỹ.

    - Mỹ học là khoa học có tính triết học[4] nghiên cứu những qui luật chung nhất của quan hệ thẩm mỹ?

    Với tư cách là một khoa học nhân văn, mỹ học mang tính chất triết lý khi tập trung nghiên cứu ý thức thẩm mỹ chi phối sự khám phá và sáng tạo của con người theo qui luật của cái đẹp.

    Mỹ học nghiên cứu các qui luật chung của quan hệ thẩm mỹ – đó là các hiện tượng thẩm mỹ của thế giới hiện thực và các qui luật của nghệ thuật với tính chất là khách thể trong mối quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Qui luật về sự cảm thụ, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật với tính chất là chủ thể trong mối quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Qui luật của giáo dục thẩm mỹ, sự hình thành mối quan hệ thẩm mỹ đúng đắn cho con người.

    - Cái đẹp là trung tâm của quan hệ thẩm mỹ?

    Cái đẹp là một phạm trù mỹ học cơ bản, một hiện tượng thẩm mỹ khách quan. Nó không tồn tại thuần tuý trừu tượng độc lập với cái bi, cái hài và cái cao cả. Nói một cách khác, không thể nghiên cứu cái bi, cái hài và cái cao cả ngoài các phương diện khác nhau của cái đẹp. Hơn nữa, xét về mặt chủ quan của các quan hệ thẩm mỹ xét cho cùng là quá trình con người cảm thụ, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật theo qui luật của cái đẹp.

    - Hình tượng là đặc trưng cơ bản của quan hệ thẩm mỹ?

    Khác với các hình thức khác trong hoạt động nhận thức của con người, thì ý thức thẩm mỹ là sự phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Trong đó, hình tượng là thuộc tính chung, phổ biến của các hiện tượng thẩm mỹ trong tự nhiên, xã hội và nghệ thuật. Hơn nữa, xét về mặt chủ quan của mối quan hệ thẩm mỹ trong quá trình con người cảm thụ, đánh giá, sáng tạo thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật thì tính hình tượng là phương thức phản ánh đặc thù của của ý thức thẩm mỹ.

    - Nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất của quan hệ thẩm mỹ?

    Kết cấu của quan hệ thẩm mỹ bao gồm khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật. Trong đó, nghệ thuật không chỉ là hình thái ý thức xã hội đặc thù của ý thức thẩm mỹ trong quá trình phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực; mà sáng tạo nghệ thuật là sáng tạo có khả năng thoả mãn cao nhất những nhu cầu thẩm mỹ của con người.

    Đào Duy Thanh

    [align=right]Nguồn: daoduythanh999.blogspot.com[/align]
    -----------------------
    [1] Đó là nghệ thuật vẽ trên vách đá những hang lớn mà người nguyên thủy cư trú. Nghệ thuật này nhằm trang trí nơi ở, nhằm nhận thức và phục vu cả công việc thờ cúng. Hiện nay về cơ bản người ta đã phát hiện 6 hang lớn nằm rải rác ở phía nam nước Pháp và Tây Ban Nha.
    [2] Paul Valéry đọc tại diễn văn khai mạc Đại hội quốc tế mỹ học và khoa học nghệ thuật lần II, Paris 1937.
    [3] C.Mác & Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 15.
    [4] Trong một số giáo trình mỹ học từ trước đến nay cho rằng mỹ học là khoa học triết học. Theo chúng tôi quan điểm đó chỉ đúng khi mỹ học là một bộ phận lý luận của triết học, trước khi mỹ học là một khoa học độc lập.
     
  2. chiphim4444

    chiphim4444 Member

    viêm xoang ở trẻ em 3 tuổi Chào bạn, có phải bạn đang muốn tìm cách điều trị viêm xoang, mũi xoang mà không để biến chứng phải không? Nếu bạn muốn biết thêm chi tiết và cách điều trị thì hãy đọc bài viết tuyệt vời này nhé. Nó sẽ không làm bạn thất vọng đâu.”
    Viêm xoang, mũi là tình trạng niêm mạc xoang bị viêm, tổn thương, không thể hoạt động bình thường. Tổn thương lâu ngày dẫn đến ứ đọng các dịch nhầy trong hốc xoang, gây hẹp, tắc lỗ thông xoang, dẫn đến viêm nhiễm tạo mủ. Viêm xoang nếu không điều trị kịp thời có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Chính vì vậy, việc tìm hiểu phương pháp điều trị là điều vô cùng cần thiết.
    Nếu bạn đang gặp những triệu chứng sau ?
    Bệnh viêm xoang với một số triệu chứng điển hình thường gặp như:
    Đau, nhức đầu: Người bệnh thường đau nhức ở giữa 2 lông mày, đau một bên ở phía trên ổ mắt, cơn đau thường tăng dần và đỉnh điểm giữa trưa.
    Chảy dịch mũi: Dịch thường đặc, có màu vàng, nâu hoặc xanh, có mũi tanh hoặc hôi.
    Chóng mặt, mệt mỏi, suy nhược cơ thể: Đau đầu thường xuyên dễ gây ra chóng mặt, mất ngủ, suy nhược…
    Hệ luỵ nguy hiểm của Viêm Xoang
    Viêm túi lệ, giảm thị lực, áp xe mi mắt.
    Viêm phế quản, u thanh quản.
    Tổn thương màng não, viêm mãng não, áp xe não.
    Viêm ruột, viêm dạ dày(thường xảy ra ở trẻ nhỏ).
    Tổn thương xương thái dương, xương đỉnh.
    Các phương pháp điều trị viêm xoang hiện nay
    [​IMG]
    giờ, Bệnh viêm xoang được điều trị cốt bằng Tây y, Đông y. Vậy 2 phương pháp này kết quả như thế nào? Cùng Cotarin Xoang tìm hiểu nhé.
    Điều trị viêm mũi bằng tây y
    Ở chừng độ nhẹ, bệnh nhân thường được chỉ định dùng thuốc giảm đau đơn giản, rửa mũi hay xông hơi bằng nước muối sinh lý ấm. Ở giai đoạn bệnh tinh niên, điều trị ngoại khoa thường được vận dụng khi điều trị xoang bằng nội khoa không hiệu quả, tức là phải phẫu thật để vét mủ trong hốc xoang.
    # Ưu điểm: giảm nhanh các triệu chứng của bệnh viêm mũi, ngoài ra còn giảm luôn các triệu chứng dị ứng.
    # Nhược điểm: sau giải phẫu, bệnh nhân viêm xoang vẫn có đến 30 - 40% nguy cơ tái phát lại. Do đó, người bệnh cần phải cân nhắc tỉ mỉ việc giải phẫu nếu chưa cần thiết. Kháng sinh nếu lạm dụng quá liều hoặc quá thời kì, những loại thuốc này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới gan thận, dạ dày và đại tràng.
    Phương pháp đông y điều trị bệnh viêm xoang ra sao?
    bác sĩ sẽ bắt mạch, coi xét tình trạng bệnh rồi kê toa thuốc ăn nhập. Các vị thuốc dùng đều 0 tự nhiên, dược tính mạnh mẽ, uống trong bôi ngoài đẩy nhanh quá trình điều trị.

    # Ưu điểm:

    Điều trị 0 nguyên cớ của bệnh, không như các phương pháp khác chỉ hội tụ làm giảm triệu chứng. Khi nguyên nhân gây bệnh được giải quyết thì các triệu chứng bên ngoài như tắc mũi, chảy dịch mũi, đào thải nhanh dịch đọng trong khoang mũi.

    Các vị thuốc được dùng 0 từ thiên nhiên nên không gây tác dụng phụ. Hơn thế nữa, làm lành và khôi phục lại cơ chế của niêm mạc mũi song song cung cấp giúp nâng cao thể trạng, tăng cường hệ miễn nhiễm giúp ngừa tái phát.

    Ngoài các loại thuốc sắc sẽ có thêm các loại thuốc dạng viên cô đặc dành cho những bệnh nhân không thể uống hoặc không có thời gian sắc thuốc.

    # Nhược điểm: thời kì điều trị lâu, bền chí điều trị, tuân nghiêm nhặt chế độ ăn uống sinh hoạt theo hướng dẫn của Thầy thuốc.

    Cotarin viêm xoang là thuốc thảo dược rất an toàn, lại có cơ chế giảm mẫn cảm, chống dị ứng, giảm ngứa… nhờ công thức cải tiến với công nghệ sinh sản hiện đại, thành phần thảo dược như: Cao Tân di hoa, Cao Bạch chỉ, Cao Kim ngân hoa, Cao cúc hoa vàng, Cao Kinh tử, Tinh dầu bạc hà. kết quả chóng vánh. Không tác dụng phụ khi dùng lâu dài đối với bệnh viêm mũi mãn tính. COTARIN viêm xoang được sản xuất tại nhà máy với Công trình máy móc sản xuất đương đại, công nghệ khép kín, đạt đầy đủ các tiêu chuẩn HACCP, ISO22000 và là một trong số ít nhà máy đạt chuẩn GMP - WHO tại Việt Nam hiện thời. Một lý do nữa là Cotarin viêm mũi với giá rất bình dân thích hợp với quờ mọi người.

    Thành phần bên trong Corarin Xoang

    -Cao tân di hoa 70mg

    -Cao bạch chỉ 70mg

    -Cao kim ngân hoa 60mg

    -Cao kinh tử 20mg

    -Tinh dầu bạc hà 20mg

    Tá dược: Magnesi stearat, talc vừa đủ 1 viên.

    Cộng dụng của Cotarin Xoang

    thuốc đặc Cotarin Xoang có rất nhiều công dụng đối với người tiêu dùng. Chúng giúp làm thông mũi, thông xoang, thông thoáng đường thở. Và hở trợ giảm các triệu chứng của bệnh viêm mũi, viêm xoang dị ứng.

    Đối tượng dùng Cotarin Xoang

    trẻ mỏ, người lớn bị viêm mũi, viêm mũi dị ứng, chảy mũi, ngạt mũi.

    Cách sử dụng Cotarin Xoang

    Các sử dụng cotarin Xoang vô cùng đơn giản.

    -Đối với người lớn: ngày uống 2 lần mỗi lầ 2 viên.

    -Đối với trẻ thơ 6 - 12 tuổi: Uống nữa liều dùng của người lớn. Uống với nước ấm sau khi ăn 30 phút.

    Khuyến cáo: -không dùng cho người nhạy cảm với bất kỳ thành phần nào của thực phẩm.

    -đàn bà có thai, cho con bú: Hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng. Thuốc này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc hỗ trợ điều trị bệnh.

    Chất liệu bao bì, quy cách đóng gói:

    -Chất liệu bao bì: Hộp giấy bên ngoài, vỉ nhôm - PVC hoặc lọ bên trong, hợp tiêu chuẩn vệ sinh ATTP.

    -Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ x 10 viên nang cứng.

    Hạn sử dụng:

    -36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn dùng in trên bao bì thực phẩm.

    Hướng dẫn bảo quản:

    -Nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

    Bạn được gì khi điều trị tại Cotarin Xoang

    Sau 5-10 ngày điều trị bệnh sẽ giảm rõ rệt

    Chúng tôi cam đoan hoàn tiền 100% nếu không kết quả từ 5 đến 10 ngày. can dự với chúng tôi để đến khám ngay với thầy thuốc chuyên khoa. Không để tình trạng kéo dài ảnh hưởng đến sức khoẻ, có thể phải phẫu thuật sau này. Cotarin Xoang của chúng tôi cam kết không tái phát, không gây tác dụng phụ.

    Qua bài viết có nhẽ bạn đã hiểu rõ được các vấn đề viêm xoang, mũi xoang, Cách trị mũi xoang 2019? Cotarin xoang có tốt không? Bán ở đâu? Giá bao nhiêu?Rất nhiều khách hàng khi mua hàng đã cảm thấy ấn tượng với những ưu điểm mà nó mang lại cho thân của mình. bởi vậy bạn 0 có thể an tâm và sử dụng loại Cotarin Xoang này để hỗ trợ và đẩy lùi đi căn bệnh tiểu đường nhé.
     
  3. SB06Hue

    SB06Hue Member

    Quốc tịch thổ nhì kỳ


    Visa E2 – Đường tắt đi tới Mỹ. vì sao chương trình có Visa E2 có thể là con đường đến Mỹ hiệu quả, Đầu tư quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ là chương trình phổ biến nhất thế giới dù khó có thể tiếp cận khối Schengen? vì sao 98% người tham dự chương trình đầu tư quốc tịch Grenada là người Trung Quốc? Câu đáp: visa E2.

    Trong bối cảnh những mối lo ngại về địa chính trị và môi trường ngày một gia tăng, nhu cầu về các chương trình đầu tư quốc tịch thứ hai vượt xa nguồn cung đặc biệt là Mỹ và Canada.

    [​IMG]
    Visa E2 Đi mỹ
    Trong khi uổng của các chương trình top đầu thế giới vẫn là một rào cản nhập cư thì sự phát triển mạnh mẽ của các chương trình CIP (đầu tư quốc tịch) và RIP (đầu tư thường trú nhân) với mức uổng phải chăng đã mang tới một cơ hội thuận lợi cho các nhà đầu tư: một “sơ hở” hoàn toàn hợp pháp – một cơ hội mà qua đó có thể tiếp cận với các nước top đầu với một phần uổng vào các chương trình chính thức.

    Không có con đường nào kiên cố hơn con đường từ các nước trong hiệp ước E2 với Mỹ, cho phép các nhà đầu tư đang giữ quốc tịch của các nước trong hiệp ước có quyền cư trú hợp pháp tại Mỹ và xóa bỏ thời gian chờ nhiều năm của chương trình EB-5.

    Dưới đây là bốn chương trình quốc tịch hiện các nhà đầu tư có thể vận dụng như một cách thức để hoàn thiện giấc mơ Mỹ.

    Đầu tư Quốc Tịch Thổ Nhĩ Kỳ
    Với yêu cầu đầu tư bất động sản ngắn hạn (3 năm) chỉ $250,000, chương trình Thổ Nhĩ Kỳ mang lại quốc tịch thật vượt xa những chương trình định cư và quốc tịch thứ hai về thời kì, giá trị, tính đơn giản và phí phải chăng – đương đơn chính được cấp hộ chiếu chỉ trong khoảng thời gian 6 tháng.

    Chương trình đầu tư tham gia quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ dành cho Vợ(chồng) con cái dưới 18 tuổi. Đầu tư vào bất động sản Thổ Nhĩ Kỳ Lấy ngay Quốc Tịch với 250.000 USD.
    thời kì xử lý Từ 3 đến 6 tháng để lấy quốc tịch.
    Tỉ lệ ưng lên đến 99.9%
    Con cái được học các trường công hoàn toàn miễn phí
    Gia đình được miễn phí sử dụng hệ thống y tế và coi ngó sức khỏe
    Thêm nữa dù E-2 là Visa không định cư nhưng nó vẫn cho phép nhà đầu tư cùng vợ/chồng và con cái sinh sống lâu dài tại Mỹ, có kì hạn 5 năm và có thể được gia hạn sau 2 năm với điều kiện vẫn đáp ứng được yêu cầu của chương trình.

    Công dân Thổ Nhĩ Kỳ cũng có thể tới Anh bằng chương trình Visa doanh nhân Thổ Nhĩ Kỳ. Với chương trình Thỏa thuận Hiệp hội Cộng đồng châu Âu (ECAA) hay còn biết tới là Thỏa thuận Ankara, công dân Thổ Nhĩ Kỳ có thể nộp đơn xin visa Anh dựa trên kế hoạch tự kinh doanh hoặc làm việc trong doanh nghiệp hiện có của Anh.

    Lưu ý: Visa theo hiệp ước E1 và E2 là hai chương trình phổ thông nhất cho những ai dạo nhịp kinh dinh hoặc đầu tư tại Mỹ. Visa E1 là visa cho lái buôn không định cư, còn visa E2 là visa cho nhà đầu tư không định cư.

    Theo chương trình E2, nhà đầu tư có thể sinh sống, làm việc và dẫn theo vợ/chồng, con cái hay nhân viên của mình miễn là với mục đích buôn bán hay quản lý doanh nghiệp, và có thể rời Mỹ khi không đáp ứng được các tiêu chí của chương trình.

    Chương trình E2 được gia hạn 5 năm một lần, tuy nhiên dù nó không bảo đảm cho người có visa E2 thường trú chính thức, theo các mục đích và ý định thực tại, đây là cơ sở hợp pháp để định cư tại Mỹ.
     

Share This Page