khủng hoảng dầu mỏ 1973

Discussion in 'Kinh tế-Tài chính' started by admin, Jun 3, 2013.

  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng chưa từng có bùng nổ rồi nhiều cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, tài chính, tiền tệ… tiếp diễn theo sau đó, mở đầu cuộc khủng hoảng chung của toàn thế giới, đặt ra cho toàn thể nhân loại những vấn đề bức thiết phải giải quyết như: sự bùng nổ dân số và hiểm hoạ vơi cạn dần những tài nguyên thiên nhiên cung cấp cho sự sống của con người; yêu cầu đổi mới, thích nghi về kinh tế, chính trị, xã hội trước sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoa học – kỹ thuật và sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ theo xu thế quốc tế hoá cao…

    [align=center] View attachment khủng hoảng dầu mỏ 1973.jpg [/align]
    Bắt đầu diễn ra từ ngày 17 tháng 10 năm 1973 khi các nước thuộc Tổ chức các quốc gia Ả Rập xuất khẩu dầu mỏ (gồm các nước Ả Rập trong OPEC cùng với Ai Cập và Syria) quyết định ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng hộ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur chống lại Ai Cập và Syria (gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Tây Âu). Sự kiện này đã khiến giá dầu thế giới tăng cao đột ngột và gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1975 có quy mô toàn cầu.

    Cuộc Chiến tranh Yom Kippur, Ramadan War hay Chiến tranh tháng 10 (tiếng Do Thái: מלחמת יום הכיפורים; transliterated: Milkhemet Yom HaKipurim or מלחמת יום כיפור, Milkhemet Yom Kipur; Ả Rập: حرب أكتوبر‎; transliterated: ħarb October or حرب تشرين, ħarb Tishrin), cũng còn gọi là Chiến tranh A Rập-Israel 1973 và Chiến tranh A Rập-Israel thứ tư, là cuộc chiến diễn ra từ 6 cho tới 26 tháng 10 năm 1973 bởi liên minh các quốc gia A Rập dẫn đầu bởi Ai Cập và Syria chống lại Israel. Cuộcc chiến khởi phát khi quân Ai Cập và Syria bất ngờ đồng loạt tấn công Israel trong ngày lễ Yom Kippur, ngày lễ sám hối thiêng liêng của người Do thái. Ai Cập và Syria vượt qua tuyến ngưng bắn tại bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan, vốn bị Israel chiếm năm 1967 trong cuộc Chiến tranh Sáu ngày.[7]

    Quân Ai Cập và Syria chiến thắng trong vòng 24–48 giờ đầu, sau đó tình hình xoay chuyển theo hướng có lợi cho Israel. Tới tuần thứ hai của cuộc chiến, quân Syria đã bị đánh bật khỏi Cao nguyên Golan. Tại Sinai, quân Israel đánh vào chỗ nối tiếp hai đạo quân Ai Cập, vượt kênh đào Suez (là tuyến ngưng bắn trước đó), cắt đứt Quân đoàn 3 Ai Cập, trước khi lệnh ngưng bắn của Liên Hiệp Quốc có hiệu lực

    Cuộc chiến có ảnh hưởng sâu rộng vì nhiều lý do khác nhau. Thế giới A Rập, vốn bị đánh thua đau trong cuộc chiến tranh Sáu ngày, phấn chấn về mặt tâm lý bởi một chuỗi thắng lợi lúc mở màn cuộc chiến. Tâm lý này mở đường cho cho quá trình đàm phán hòa bình tiếp đó, và cũng khởi đầu cho các chính sách tự do hóa của Ai Cập. Hiệp định hòa bình Trại David (1978) dẫn đến việc bình thường hóa quan hệ giữa Ai Cập và Israel—lần đầu tiên một quốc gia Ả Rập công nhận quốc gia Do thái. Ai Cập, vốn đã bắt đầu xa lánh Liên Xô, sau đó tách hoàn toàn khỏi khu vực ảnh hưởng của Liên Xô (cũ).

    Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973 là "cuộc chiến tranh Yom Kippur" (Yom Kippur là tên ngày lễ lớn nhất của người Do thái- lễ Sám hối) xảy ra ngày 06/10/1973. Đây là cuộc chiến tranh giữa một bên là Ai Cập-Syria cùng các đồng minh thuộc thế giới Ả Rập và một bên là Israel cùng các đồng minh chính là Mỹ, Nhật và một số nước trong EU hiện nay. Trong cuộc chiến tranh này, một động thái hỗ trợ chiến tranh quân sự của bên Ai Cập-Syria chính là việc ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng hộ Israel từ 10/1973 tới 4/1974, việc này đã đc "Tổ chức các quốc gia Ả Rập xuất khẩu dầu mỏ"(Các nước Ả Rập trong OPEC, Ai Cập và Syria) thực hiện rất tốt.

    Có một tài liệu khác thì lại cho biết nguyên nhân khác của cuộc khủng hoảng 1973:
    Cuối năm 1973, một cuộc khủng hoảng dầu lửa bắt nguồn từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh chỉ trong mấy tháng đã “cuốn sạch” một nửa bán cầu rộng lớn. Tuy nhiên, điều mà mọi người không biết đến chính là, sự bùng nổ cuộc khủng hoảng này trên thực tế là hậu quả các hãng dầu mỏ lớn và các nhà đầu cơ tài chính của Anh – Mỹ đã nhúng tay vào dưới sự ủng hộ của chính phủ.

    Chinanews ngày 3/9 đưa tin, một học giả chính trị Đức đã dùng lịch sử khoa học thiết thực để phân tích, vén bức màn bí mật về việc các nước phương Tây (chủ yếu là Anh, Mỹ) sử dụng vũ khí dầu mỏ để tạo dựng sự bá quyền toàn cầu của mình.

    Tháng 5/1973, 84 chính trị gia và giới tài chính hàng đầu thế giới đã tề tựu tại hòn đảo du lịch Baden của gia tộc Wallenberg, Thụy Điển. Trong cuộc họp bí mật do “Câu lạc bộ Bilderberg” tổ chức, ông Levy đại diện cho phía Mỹ đã miêu tả sinh động những lợi ích thu được của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC, tức là viễn cảnh tăng trưởng gấp 4 lần từ nguồn lợi dầu mỏ. Cuộc gặp mặt tập thể này nhằm thao túng dòng chảy đô la dầu mỏ sắp xảy ra.

    Từ năm 1945 đến nay, do các công ty dầu mỏ của Mỹ thống lĩnh thị trường năng lượng, đồng USD với tiêu chuẩn định giá dầu mỏ đã trở thành thông lệ quốc tế. Do đó, với việc giá dầu quốc tế đột nhiên tăng mạnh cũng đồng nghĩa với việc lượng nhu cầu đồng USD dùng để thu mua dầu mỏ cũng đã tăng theo. Để hành động, họ đã quyết định sử dụng vũ khí quyền lực tối cao để khống chế dòng chảy dầu mỏ của thế giới.

    Ngày 6/10/1973, cuộc “chiến tranh Yom Kippur” tại Trung Đông bùng nổ và hậu quả của nó vô cùng nghiêm trọng. Thậm chí kiểu “ngoại giao con thoi” của cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger trên thực tế đều sắp xếp dựa trên cương lĩnh của hội nghị Baden. Kết quả, nước sản xuất dầu mỏ Ả rập cũng đã trở thành “nạn nhân bất đắc dĩ”, còn tổ hợp lợi nhuận Anh – Mỹ đáng ra phải chịu trách nhiệm lại bình an vô sự núp đằng sau.

    Ngày 16/10/1973, OPEC quyết định nâng giá dầu mỏ từ 3,01USD/thùng lên 5,11USD/thùng, biên độ tăng lên tới 70% (đến giữa năm thứ hai, con số này đạt gần 12USD). Ngày hôm sau, các nước thành viên OPEC chính thức tuyên bố ngừng xuất khẩu dầu mỏ cho Mỹ và Hà Lan. Cho đến lúc đấy, cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất làm chấn động lịch sử thế giới bùng phát toàn diện.

    Diễn biến:

    Trong giai đoạn khủng hoảng dầu mỏ, tại nhiều bang mỗi người dân chỉ được phép mua một lượng xăng dầu nhất định giá xăng trung bình tại Mỹ cũng tăng 86% chỉ trong 1 năm từ 1973-1974.
    Không dừng lại ở đó, khủng hoảng dầu mỏ đã tạo ra thay đổi lớn trong chính sách của phương tây, trong đó chú trọng tìm kiếm và bảo tồn năng lượng tự nhiên, cũng như đặt ra các quy định tiền tệ chặt chẽ hơn để chống lạm phát.
    Trái lại, biến cố trên góp phần thay đổi đáng kể vị thế chính trị, kinh tế của các nước xuất khẩu dầu, đặc biệt các quốc gia Ả-rập tại khu vực Trung Đông.

    Một vụ đổ vỡ nữa xảy đến với thị trường chứng khứng toàn cầu vào năm 1973-74. Chỉ số FT30 của Sở giao dịch chứng khoán London (khi ấy tương đương với chỉ số Dow Jones) mất 73% giá trị, khiến đồng đô la Mỹ mất giá và làm cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973 thêm tồi tệ.

    Kết quả là với việc dầu mỏ khan hiếm ở các quốc gia phương Tây mà nhu cầu thì quá lớn,cuộc khủng hoảng làm tăng giá dầu thô gấp 4 lần vào năm 1973 dẫn đến giá dầu đã tăng vòn vọt trong một thời gian ngắn lên đến gần 100$/thùng. Chính cuộc khủng hoảng năng lượng này đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1975 trên quy mô toàn cầu
     
  2. LySEO6326

    LySEO6326 New Member

  3. BùiSEO1211

    BùiSEO1211 Member

  4. BùiSEO1211

    BùiSEO1211 Member

  5. anhggrr333

    anhggrr333 Member

    chương trình visa e2


    Visa E2 – Đường tắt đi tới Mỹ. Tại sao chương trình có Visa E2 có thể là con đường đến Mỹ hiệu quả, Đầu tư quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ là chương trình phổ thông nhất thế giới dù khó có thể tiếp cận khối Schengen? Tại sao 98% người dự chương trình đầu tư quốc tịch Grenada là người Trung Quốc? Câu giải đáp: visa E2.

    Trong bối cảnh những mối lo ngại về địa chính trị và môi trường ngày một gia tăng, nhu cầu về các chương trình đầu tư quốc tịch thứ hai vượt xa nguồn cung đặc biệt là Mỹ và Canada.

    [​IMG]
    Visa E2 Đi mỹ
    Trong khi chi phí của các chương trình top đầu thế giới vẫn là một rào cản nhập cư thì sự phát triển mạnh mẽ của các chương trình CIP (đầu tư quốc tịch) và RIP (đầu tư thường trú nhân) với mức phí phải chăng đã mang tới một thời cơ tiện lợi cho các nhà đầu tư: một “sơ hở” hoàn toàn hợp pháp – một dịp mà qua đó có thể tiếp cận với các nước top đầu với một phần phí vào các chương trình chính thức.

    Không có con đường nào kiên cố hơn con đường từ các nước trong hiệp ước E2 với Mỹ, cho phép các nhà đầu tư đang giữ quốc tịch của các nước trong hiệp ước có quyền trú ngụ hợp pháp tại Mỹ và xóa bỏ thời kì chờ nhiều năm của chương trình EB-5.

    Dưới đây là bốn chương trình quốc tịch hiện các nhà đầu tư có thể ứng dụng như một cách thức để hoàn thiện giấc mơ Mỹ.

    Đầu tư Quốc Tịch Thổ Nhĩ Kỳ
    Với yêu cầu đầu tư bất động sản ngắn hạn (3 năm) chỉ $250,000, chương trình Thổ Nhĩ Kỳ mang lại quốc tịch thật vượt xa những chương trình định cư và quốc tịch thứ hai về thời gian, giá trị, tính đơn giản và hoài phải chăng – đương đơn chính được cấp hộ chiếu chỉ trong khoảng thời gian 6 tháng.

    Chương trình đầu tư tham dự quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ dành cho Vợ(chồng) con cái dưới 18 tuổi. Đầu tư vào bất động sản Thổ Nhĩ Kỳ Lấy ngay Quốc Tịch với 250.000 USD.
    thời gian xử lý Từ 3 đến 6 tháng để lấy quốc tịch.
    Tỉ lệ chấp thuận lên đến 99.9%
    Con cái được học các trường công hoàn toàn miễn phí
    Gia đình được miễn phí sử dụng hệ thống y tế và chăm chút sức khỏe
    Thêm nữa dù E-2 là Visa không định cư nhưng nó vẫn cho phép nhà đầu tư cùng vợ/chồng và con cái sinh sống lâu dài tại Mỹ, có hạn vận 5 năm và có thể được gia hạn sau 2 năm với điều kiện vẫn đáp ứng được yêu cầu của chương trình.

    Công dân Thổ Nhĩ Kỳ cũng có thể tới Anh bằng chương trình Visa thương gia Thổ Nhĩ Kỳ. Với chương trình Thỏa thuận Hiệp hội Cộng đồng châu Âu (ECAA) hay còn biết tới là Thỏa thuận Ankara, công dân Thổ Nhĩ Kỳ có thể nộp đơn xin visa Anh dựa trên kế hoạch tự kinh dinh hoặc làm việc trong doanh nghiệp hiện có của Anh.

    Lưu ý: Visa theo hiệp ước E1 và E2 là hai chương trình phổ quát nhất cho những ai quãng nhịp kinh doanh hoặc đầu tư tại Mỹ. Visa E1 là visa cho lái buôn không định cư, còn visa E2 là visa cho nhà đầu tư không định cư.

    Theo chương trình E2, nhà đầu tư có thể sinh sống, làm việc và dẫn theo vợ/chồng, con cái hay viên chức của mình miễn với mục đích buôn bán hay quản lý doanh nghiệp, và có thể rời Mỹ khi không đáp ứng được các tiêu chí của chương trình.

    Chương trình E2 được gia hạn 5 năm một lần, tuy nhiên dù nó không bảo đảm cho người có visa E2 thường trú chính thức, theo các mục đích và ý định thực tiễn, đây là cơ sở hợp pháp để định cư tại Mỹ.
     

Share This Page