Đồng Tâm

 Quên mật khẩu
 Đăng ký
Xem: 71|Trả lời: 15

TÌNH CẢNH GIAI CẤP CÔNG NHÂN ANH - Engels

[Lấy địa chỉ]

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:01:32 |Xem tất
GỬI CÁC GIAI CẤP LAO ĐỘNG ĐẠI BRITAIN

Hỡi những người lao động!

Tôi xin tặng các bạn tác phẩm này, trong đó tôi cố gắng trình bày cho đồng bào nước Đức tôi một bức tranh trung thực về tình cảnh, về những nỗi đau khổ, và những cuộc đấu tranh, những hy vọng và khao khát của các bạn. Tôi đã sống với các bạn khá lâu để có thể am hiểu tình cảnh của các bạn. Tôi đã để nhiều tâm trí vào việc tìm hiểu tình cảnh ấy, tôi đã nghiên cứu nhiều tài liệu chính thức và không chính thức khác nhau, trong chừng mực tôi có thể tìm kiếm được, nhưng tôi nghĩ như thế vẫn chưa đủ. Tôi tìm kiếm một cái gì hơn là sự hiểu biết trừu tượng về chủ đề đó, tôi muốn tận mắt thấy các bạn trong nhà các bạn, muốn quan sát cuộc sống hàng ngày của các bạn, muốn nói chuyện với các bạn về tình cảnh và những bất bình của các bạn, muốn chứng kiến những cuộc đấu tranh của các bạn chống quyền lực chính trị và xã hội của những kẻ áp bức các bạn. Tôi đã làm như thế. Tôi dứt bỏ sự xã giao, những bữa tiệc, những cốc rượu porto và champagne của giai cấp tư sản, và dành thì giờ rỗi rãi hầu như chỉ để giao du với những người lao động bình thường; tôi vừa vui vừa tự hào vì đã làm thế. Vui vì như vậy là tôi đã có một khoảng thời gian bổ ích để tìm hiểu cuộc sống thực tế, không thì nó sẽ bị lãng phí vào những câu chuyện gẫu trong phòng khách và những lễ nghi phiền toái. Tự hào, vì nhờ đó tôi có thể đền bù xứng đáng một giai cấp bị áp bức và phỉ báng, giai cấp của những người, dù còn rất nhiều thiếu sót và gặp rất nhiều bất lợi trong hoàn cảnh của mình, vẫn đáng để mọi người phải kính trọng, trừ giới lái buôn Anh; và cũng vì nhờ đó tôi có khả năng bênh vực nhân dân Anh khỏi sự khinh miệt ngày một tăng của những người sống trên lục địa, hậu quả tất nhiên của chính sách và toàn bộ hành vi ích kỷ trắng trợn của giai cấp tư sản đang thống trị ở nước các bạn.

Đồng thời, vì có nhiều cơ hội để quan sát giai cấp tư sản, kẻ thù của các bạn; tôi đã nhanh chóng kết luận rằng các bạn có lý, hoàn toàn có lý khi không mảy may mong chờ họ giúp đỡ bất cứ một điều gì. Lợi ích của họ hoàn toàn trái ngược với lợi ích của các bạn, mặc dù họ luôn luôn cố gắng chứng minh điều ngược lại và cố làm các bạn tin là họ thật tình thông cảm với số phận của các bạn. Hành động của họ đã bác bỏ lời nói của họ. Tôi hy vọng rằng tôi đã thu thập thừa chứng cớ chứng minh rằng, dù cho trên lời nói giai cấp tư sản có quả quyết thế nào chăng nữa, trong thực tế họ không có mục đích nào khác là làm giàu bằng lao động của các bạn, chừng nào họ còn bán được sản phẩm của lao động ấy, và một khi cái lối buôn người gián tiếp ấy không mang lại lợi nhuận cho họ nữa thì họ lập tức bỏ mặc các bạn chết đói. Họ đã làm gì để chứng tỏ trên thực tế cảm tình với các bạn, như họ đã trịnh trọng tuyên bố? Họ đã bao giờ quan tâm nghiêm túc đến những bất bình của các bạn? Họ đã làm được gì khác ngoài việc trả tiền cho độ nửa tá tiểu ban điều tra, mà những tập báo cáo dày cộp của họ bị vĩnh viễn bỏ quên trong mớ giấy lộn, ở các ngăn tủ hồ sơ của Bộ Nội vụ? Họ đã bao giờ nghĩ đến cái việc dùng những tập Sách xanh đang mục nát ấy để soạn ra dù chỉ là một quyển sách đáng đọc, trong đó mọi người có thể dễ dàng tìm thấy được chút tài liệu về tình cảnh của đại đa số "người Britain bẩm sinh tự do"? Dĩ nhiên là không họ không làm như thế; đó là những điều mà họ không ưa nói đến. Họ đã để một người nước ngoài làm cái việc báo cáo cho thế giới văn minh biết cái tình cảnh nhục nhã mà các bạn buộc phải sống.

Tôi hy vọng rằng đó chỉ là người nước ngoài đối với họ, chứ không phải đối với các bạn. Tiếng Anh của tôi có thể không được thành thạo, nhưng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ thấy nó là thứ tiếng Anh chất phác. Chưa có một người lao động nào ở Anh - và nhân tiện, cả ở Pháp nữa - từng coi tôi là một người nước ngoài. Tôi rất sung sướng nhận thấy các bạn đã thoát khỏi những thành kiến và tự kiêu dân tộc, chúng rút cục chỉ là tính ích kỷ trên quy mô lớn. Tôi đã nhận thấy rằng các bạn đồng tình với bất cứ ai thật tâm đem sức mình phục vụ sự tiến bộ của loài người, dù họ có là người Anh hay không; rằng các bạn khâm phục mọi điều cao cả và tốt lành, dù điều đó có sản sinh trên quê hương các bạn hay không. Tôi tin chắc rằng các bạn không phải chỉ đơn thuần là những người Anh, thành viên của một dân tộc biệt lập; các bạn là những Con người, những thành viên của đại gia đình chung, nhận thức được rằng lợi ích của mình và lợi ích của toàn thể loài người là một. Và coi các bạn là những thành viên của cái gia đình loài người "thống nhất và không thể chia cắt được" đó, những con người theo nghĩa cao cả nhất của từ này; bản thân tôi cũng như nhiều người khác trên lục địa, chúng tôi chào mừng những tiến bộ của các bạn về mọi phương diện và chúc các bạn nhanh chóng thành công.

Các bạn hãy tiến lên, như đã làm từ trước tới nay! Còn phải trải qua rất nhiều thử thách; hãy vững lòng, hãy dũng cảm, các bạn chắc chắc sẽ thành công; trên bước đường tiến tới của các bạn, mỗi bước đều phục vụ sự nghiệp chung của chúng ta, sự nghiệp của cả loài người!

Barmen (miền Rhein thuộc Phổ).
15 tháng Ba 1845.
Friedrich Engels
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:02:03 |Xem tất
LỜI TỰA

Cuốn sách này đề cập tới vấn đề mà ban đầu tôi định trình bày như một chương của một tác phẩm lớn hơn về lịch sử xã hội Anh. Nhưng tầm quan trọng của vấn đề đó đã sớm buộc tôi phải đem nó nghiên cứu riêng biệt.

Tình cảnh giai cấp công nhân là cơ sở thực tế và là xuất phát điểm của mọi phong trào xã hội hiện tại, bởi vì nó là đỉnh cao gay gắt và rõ rệt nhất của những tai họa xã hội ở thời chúng ta. Chủ nghĩa cộng sản của công nhân Pháp và Đức là sản phẩm trực tiếp, còn chủ nghĩa Fourier và chủ nghĩa xã hội Anh cũng như chủ nghĩa cộng sản của giai cấp tư sản trí thức ở Đức là sản phẩm gián tiếp của nó. Cho nên để có một cơ sở vững chắc, một mặt cho những lý luận xã hội chủ nghĩa, mặt khác cho những kiến giải về quyền tồn tại của những lý luận ấy, để chấm dứt mọi điều mơ tưởng và bịa đặt pro et contra1, thì việc nghiên cứu những điều kiện sinh sống của giai cấp vô sản là một điều hoàn toàn cần thiết. Song chỉ ở Đại Britain và ở chính tại nước Anh, những điều kiện sinh sống của giai cấp vô sản mới có được hình thức điển hình toàn vẹn của nó; và đồng thời cũng chỉ có ở nước Anh, những tư liệu cần thiết mới được thu thập khá đầy đủ, và được các cuộc điều tra chính thức xác nhận, đáp ứng yêu cầu trình bày tường tận vấn đề.

Suốt hai mươi mốt tháng, tôi đã có cơ hội để tiếp xúc với giai cấp vô sản Anh, với những cuộc đấu tranh, những vui buồn sướng khổ của họ; để trực tiếp nghiên cứu họ, từ quan sát và quan hệ của bản thân; đồng thời, bổ sung sự quan sát của tôi bằng những nguồn tài liệu xác thực cần thiết. Trong sách này là những điều tôi đã thấy, nghe và đọc được. Tôi sẵn sàng đón đợi sự công kích từ mọi phía, không những với quan điểm của tôi mà còn với cả những sự kiện tôi đã dẫn ra, nhất là khi quyển sách này rơi vào tay độc giả người Anh. Tôi biết rõ rằng lác đác có thể có một vài sai sót không đáng kể, mà ngay một người Anh có lẽ cũng không tránh được, vì chủ đề quá rộng lớn đòi hỏi phải luận chứng toàn diện; nhất là trong khi ngay ở Anh cũng không có một tác phẩm nào, như tác phẩm của tôi, đề cập đến tình cảnh của tất cả người lao động. Nhưng tôi không hề ngần ngại thách thức giai cấp tư sản Anh: hãy vạch ra lấy một điều không đúng, dù chỉ là một sự kiện duy nhất có ảnh hưởng đôi chút đến toàn bộ quan điểm của tôi, và chứng minh điều không đúng ấy bằng những tư liệu mà tôi đã dẫn ra.

Việc miêu tả cái hình thức điển hình của điều kiện sinh sống của giai cấp vô sản ở Britain là rất quan trọng, đặc biệt là đối với nước Đức và chính vào lúc này. Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Đức - hơn bất kì đâu - đã xuất phát từ những tiền đề lý luận; chúng ta, những nhà lý luận người Đức, còn hiểu biết quá ít về thế giới hiện thực, để những quan hệ hiện thực có thể trực tiếp thúc đẩy chúng ta cải tạo cái "hiện thực xấu xa" ấy đi. Trong số những người hiện nay đang công khai ủng hộ những cải cách như thế thì hình như không có một ai là không thông qua Feuerbach mà rời bỏ triết học của Hegel để đi tới chủ nghĩa cộng sản. Trong chúng ta, sự hiểu biết về điều kiện sống thực tế của giai cấp vô sản kém đến nỗi ngay cả "Hội liên hiệp cải thiện tình cảnh của các giai cấp lao động" có thiện ý, trong đó giai cấp tư sản của chúng ta hiện nay đang xuyên tạc bừa bãi vấn đề xã hội, cũng luôn xuất phát từ những ý kiến lố lăng và tầm thường nhất về tình cảnh của công nhân. Về vấn đề này, người Đức chúng ta thiếu những hiểu biết thực tế hơn bất cứ ai. Và dù điều kiện sinh sống của giai cấp vô sản Đức còn chưa đạt tới tính điển hình như ở Anh, nhưng về căn bản chúng ta vẫn có cùng một chế độ xã hội, nó sớm muộn cũng sẽ đạt tới mức độ gay gắt như nó đã đạt được ở bên kia biển Bắc, trừ khi trí tuệ của dân tộc kịp thời thi hành những biện pháp tạo nên một cơ sở mới cho toàn bộ hệ thống xã hội. Ở Đức cũng có những nguyên nhân cơ bản đã tạo nên cảnh cùng khổ và bị áp bức của giai cấp vô sản như ở Anh, và theo thời gian, chúng sẽ đưa đến những kết quả tương tự. Đồng thời, việc vạch trần tình cảnh khốn cùng ở Anh sẽ thúc đẩy chúng ta vạch trần tình cảnh khốn cùng ở Đức và tạo ra một cái thước để đánh giá quy mô của nó và mối nguy hiểm đã bộc lộ trong những cuộc nổi dậy ở Bohemia và Silesia, mối nguy hiểm này đang đe doạ trực tiếp sự yên ổn của nước Đức từ mặt ấy.

Sau cùng, tôi muốn nêu thêm hai nhận xét nữa. Thứ nhất, tôi đã luôn dùng danh từ Mittelklasse theo nghĩa của từ tiếng Anh middle-class (hay như người ta thường dùng middle-classes). Cũng như tiếng Pháp bourgeoisie, nó có nghĩa là giai cấp hữu sản tức là giai cấp có của, cái giai cấp ở Anh và Pháp thì trực tiếp nắm chính quyền, và ở Đức thì gián tiếp nắm chính quyền dưới danh nghĩa "dư luận xã hội"2; khác với cái gọi là quý tộc. Cũng vậy, tôi thường dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa. Thứ hai, trong phần lớn các trích dẫn, tôi đã nêu rõ tác giả thuộc đảng phái nào; bởi vì phái Tự do hầu như luôn cố tìm cách nhấn mạnh sự bần cùng ở các vùng nông nghiệp, và phủ nhận sự bần cùng ở các vùng công xưởng; ngược lại, phái Bảo thủ thừa nhận sự bần cùng ở các vùng công xưởng, nhưng lại không muốn thừa nhận sự bần cùng ở các vùng nông thôn. Cũng vì vậy, khi tôi không có tài liệu chính thức, mà muốn mô tả tình cảnh của những người lao động công nghiệp, tôi thường dùng dẫn chứng của phái Tự do để đập giai cấp tư sản tự do bằng chính dẫn chứng của họ; và tôi chỉ dẫn tài liệu của phái Tory hay phái Hiến chương khi mà do kinh nghiệm bản thân, tôi được biết rằng sự kiện ấy là đúng, hoặc khi tiếng tăm của bản thân tác giả hay bài văn của tác giả khiến tôi tin tưởng được rằng điều dẫn chứng ấy là xác thực.

Barmen, ngày 15 tháng Ba 1845.
Friedrich Engels

-------------------
Chú thích
1 "tán thành và phản đối" (Chú thích của người dịch).

2 Theo cách giải thích này của Engels, từ Mittelklasse" ("giai cấp trung gian") sau đây được dịch là "giai cấp tư sản" (Chú thích của người dịch)
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:02:52 |Xem tất
LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử giai cấp công nhân Anh bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XVIII, cùng với việc phát minh ra máy hơi nước và những máy làm bông. Như ta đã biết, những phát minh ấy là nguồn gốc của cách mạng công nghiệp, cuộc cách mạng đã biến đổi toàn bộ xã hội công dân, mà hiện nay người ta chỉ mới bắt đầu nhận thức được ý nghĩa lịch sử của nó. Anh là nước điển hình về sự biến đổi ấy, nó càng diễn ra lặng lẽ, thì càng mạnh mẽ; do đó, nước Anh cũng là nước điển hình về sự phát triển của giai cấp vô sản, kết quả chủ yếu của sự biến đổi đó. Chỉ ở Anh mới có thể nghiên cứu toàn diện giai cấp vô sản trên tất cả các mối quan hệ của nó.

Ở đây, chúng ta không xét đến lịch sử cuộc cách mạng ấy, cũng như không xét đến ý nghĩa to lớn của nó đối với hiện tại và tương lai. Việc đó phải dành cho một tác phẩm lớn hơn sau này. Hiện nay, ta chỉ giới hạn ở mấy điểm cần thiết để làm sáng tỏ các sự kiện sau đây, để hiểu rõ tình cảnh hiện tại của giai cấp vô sản Anh.

Khi chưa dùng máy móc, việc kéo sợi, dệt vải, đều làm ở nhà người thợ. Vợ và con gái kéo sợi, người chồng đem sợi ấy dệt thành vải; nếu anh ta không tự dệt lấy thì đem sợi đi bán. Các gia đình thợ dệt ấy phần đông sống ở nông thôn, gần thành phố và có thể làm đủ ăn vì lúc đó về mặt nhu cầu vải thì thị trường địa phương còn có ý nghĩa quyết định, thậm chí hầu như là thị trường duy nhất; còn sức mạnh ghê gớm của cạnh tranh, sau này mới xuất hiện cùng với sự xâm chiếm các thị trường nước ngoài và mở rộng buôn bán, bấy giờ còn chưa ảnh hưởng mấy tới tiền công. Thêm vào đó sự tăng lên liên tục của nhu cầu trên thị trường trong nước, song song với sự tăng lên từ từ của dân số, đã đảm bảo cho mọi người công nhân đều có việc làm; ngoài ra không thể có cạnh tranh mạnh mẽ giữa họ với nhau, do điều kiện cư trú phân tán của họ ở nông thôn. Cho nên những người thợ dệt thường dành dụm được chút ít và thuê được một mảnh đất nho nhỏ để làm trong những lúc rảnh rang - mà thì giờ muốn rảnh bao nhiêu cũng được, bởi vì anh ta muốn dệt bao nhiêu hay dệt lúc nào là tuỳ ý. Thực ra thì về nghề nông anh ta cũng tồi, trồng trọt qua loa và cũng chẳng thu lợi được mấy; nhưng ít ra thì anh ta cũng không phải là một người vô sản; như người Anh thường nói, anh ta đã đóng cọc trên mảnh đất quê hương; anh ta có nơi ở cố định và, trong xã hội, anh ta đứng cao hơn một bậc so với người công nhân Anh ngày nay.

Như vậy người lao động sống một cuộc sống dễ chịu và ấm cúng, một cuộc đời ngay thẳng, yên bình, với tất cả lòng thành kính và tín nghĩa; so với những người công nhân sau này thì tình cảnh sinh hoạt vật chất của họ khá hơn nhiều. Họ chả cần gì phải làm quá sức; họ muốn làm bao nhiêu thì làm mà vẫn kiếm đủ dùng; họ có thì giờ rảnh để lao động bồi bổ sức khoẻ ở trong vườn hay ngoài ruộng, bản thân công việc này lại là một sự nghỉ ngơi đối với họ, ngoài ra họ còn có thể tham gia những cuộc vui chơi giải trí của hàng xóm láng giềng; và tất cả các trò chơi đó: bowling, bóng chày, v.v. lại có tác dụng rất tốt để bảo vệ sức khoẻ và rèn luyện thân thể cho họ. Họ phần nhiều khoẻ mạnh, rắn chắc, thể chất của họ không khác mấy, thậm chí chẳng khác gì thể chất của những người nông dân láng giềng. Con cái họ lớn lên trong không khí trong lành của nông thôn, và nếu chúng có giúp đỡ cha mẹ làm việc thì cũng chỉ thỉnh thoảng thôi, chứ đương nhiên không phải chuyện mỗi ngày làm tám hay mười hai tiếng đồng hồ.

Có thể hình dung được những đặc trưng đạo đức và trí tuệ của giai cấp đó là gì. Họ sống tách rời các thành phố là nơi họ không hề bước chân đến, sợi và vải của họ được trao cho những thương nhân lưu động để đổi lấy tiền công; đến nỗi có những người già ở sát thành phố mà chưa hề bước chân đến đó, cho đến khi máy móc cướp mất thu nhập của họ và lôi cuốn họ ra thành phố kiếm việc làm; về mặt đạo đức và trí tuệ, họ ở cùng trình độ với nông dân, là những người mà phần lớn họ có quan hệ trực tiếp do mảnh đất nhỏ họ lĩnh canh. Họ coi squire - tên địa chủ lớn nhất vùng - như cấp trên tự nhiên của mình, có gì thì hỏi hắn, có tranh chấp lặt vặt gì với nhau thì nhờ hắn khu xử, và tôn kính hắn theo đúng mối quan hệ gia trưởng như thế. Họ là những người "đáng tôn kính", những người chồng, người cha tốt, sống rất đạo đức, vì chẳng có lý do gì mà sống thiếu đạo đức - xung quanh chẳng có tiệm rượu cũng chẳng có chỗ chơi bời bậy bạ; thỉnh thoảng có đi giải khát tí chút thì chủ quán cũng lại là người đáng kính trọng, thường là một tá điền lớn, bán rượu ngon, thích trật tự nghiêm ngặt và đóng cửa sớm. Họ suốt ngày giữ con cái bên họ trong gia đình và giáo dục chúng theo tinh thần phục tùng và kính sợ Thượng đế. Quan hệ gia đình gia trưởng cứ giữ nguyên khi con cái chưa có vợ có chồng. Bọn trẻ lớn lên cùng với bè bạn trong sự thân thiết và hồn nhiên kiểu thôn dã cho tới khi lập gia đình; và nếu quan hệ tình dục trước khi cưới là hiện tượng hầu như phổ biến, thì cũng là trên cơ sở hai bên đều thừa nhận việc kết hôn là một nghĩa vụ đạo đức, và sau đó lễ cưới lại làm mọi việc đâu vào đó. Tóm lại, người lao động công nghiệp Anh bấy giờ sống và suy nghĩ theo kiểu mà ngày nay thỉnh thoảng còn gặp ở một vài nơi trên đất Đức, nghĩa là sống cách biệt và xa lánh, không có hoạt động gì về mặt tinh thần và không có thay đổi gì lớn trong hoàn cảnh sinh hoạt của mình. Rất hiếm người biết đọc, người biết viết lại càng hiếm; họ đi lễ nhà thờ rất đều, không bàn chính trị, không hoạt động âm mưu, không trầm ngâm suy nghĩ, rất thích hoạt động thể dục, nghe Kinh thánh với lòng thành kính được truyền dạy từ thuở nhỏ, và do nhẫn nhục không đòi hỏi gì, họ sống rất hoà thuận với các giai cấp bề trên. Nhưng ngược lại, về mặt tinh thần, họ như người đã chết; họ chỉ sống vì lợi ích nhỏ mọn của bản thân, vì cái khung cửi, vì mảnh vườn; và không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đang lôi cuốn toàn thể loài người ở bên ngoài xóm làng của họ. Họ thoải mái với cuộc sống yên tĩnh, tầm thường của mình, và nếu không có cách mạng công nghiệp thì họ sẽ không bao giờ rời bỏ lối sống ấy; nó thật ra là đầy thi vị và rất ấm cúng nhưng lại không xứng với một con người. Thực ra, họ không phải là những con người, mà chỉ là những cái máy làm việc, phục vụ cho một số ít nhà quý tộc, là những kẻ cho đến bây giờ vẫn chi phối lịch sử. Cách mạng công nghiệp chỉ thúc đẩy tình trạng ấy tới kết cục tất yếu của nó, bằng cách hoàn toàn biến những người lao động thành những cái máy đơn thuần, và cướp nốt cái phần hoạt động độc lập cuối cùng của họ; nhưng cũng chính do đó mà lại bắt họ phải suy nghĩ và đòi hỏi một địa vị xứng đáng với con người. Nếu ở Pháp là chính trị, thì ở Anh, công nghiệp và phong trào của xã hội công dân nói chung đã lôi cuốn vào cơn lốc lịch sử những giai cấp cuối cùng hãy còn hờ hững với lợi ích chung của nhân loại.

Phát minh đầu tiên làm thay đổi sâu sắc tình cảnh của người lao động Anh là máy Jenny của anh thợ dệt James Hargreaves ở Stanhill, gần Blackburn, Bắc Lancashire (năm 1764). Nó là tiền thân thô sơ của máy mule sau này; người ta quay máy bằng tay; nhưng các xa quay tay thường chỉ có một cọc suốt, thì máy này có từ mười sáu đến mười tám cọc suốt do một công nhân điều khiển. Nhờ vậy, có thể sản xuất được rất nhiều sợi hơn trước; trước kia cứ một người thợ dệt thì phải ba người kéo sợi luôn tay, mà thường không bao giờ có đủ sợi và người thợ dệt nhiều khi phải chờ đợi, ngày nay thì sợi lại nhiều quá sức làm của số thợ dệt hiện có. Nhu cầu về hàng dệt, vốn đã tăng, lại càng tăng lên nữa khi giá hàng dệt hạ xuống do kết quả của sự giảm chi phí sản xuất sợi nhờ có máy mới. Người ta cần nhiều thợ dệt hơn, và tiền công thợ dệt tăng lên. Bây giờ vì dệt kiếm được nhiều tiền hơn, anh thợ bỏ lơ mảnh vườn con và dốc sức vào việc dệt vải. Thời đó, một gia đình bốn người lớn với hai đứa trẻ (làm việc cuộn chỉ), làm một ngày mười tiếng, có thể kiếm được mỗi tuần bốn Bảng, và nhiều khi còn được hơn nữa khi hàng chạy và việc nhiều; lại thường có khi với khung cửi của mình, một anh thợ dệt kiếm được tới hai Bảng mỗi tuần. Giai cấp thợ dệt kiêm dân cày dần mất hẳn đi và trở thành giai cấp thợ dệt mới, hoàn toàn sống bằng tiền công, không có chút tài sản nào, ngay cả tài sản giả tạo dưới hình thức một mảnh đất đi thuê; và như vậy họ đã trở thành những người vô sản (working men). Thêm vào đó, mối quan hệ trước đây giữa người kéo sợi và người dệt vải cũng bị xoá bỏ. Trước kia, trong chừng mực có thể, việc kéo sợi và dệt vải được tiến hành ngay trong một ngôi nhà. Bây giờ vì máy Jenny cũng như khung cửi đòi hỏi phải có sức lực mới sử dụng được, nên đàn ông cũng bắt đầu kéo sợi, và cả gia đình sống nhờ vào công việc ấy; ngược lại một số gia đình khác thì bắt buộc phải vứt bỏ cái guồng xe sợi cũ kỹ và lỗi thời, và nếu không có khả năng mua một máy Jenny thì họ bắt buộc phải sống nhờ vào thu nhập mà cái khung cửi đem lại. Như vậy, sự phân công lao động, bắt đầu với việc kéo sợi và việc dệt vải, từ đây đã được phát triển đến vô tận trong công nghiệp.

Cái máy đầu tiên còn chưa hoàn hảo ấy không những đã làm cho giai cấp vô sản công nghiệp phát triển mà còn thúc đẩy giai cấp vô sản nông nghiệp ra đời. Cho đến lúc bấy giờ, người ta mới chỉ biết có một số đông tiểu điền chủ gọi là những nông dân tự canh (yeoman), họ cũng sống một cách thầm lặng, không hoạt động trí óc, và thiếu mọi sinh hoạt tinh thần như những người thợ dệt kiêm dân cày ở bên cạnh họ. Họ cày cấy trên mảnh đất của mình hoàn toàn theo lối cũ kĩ và không hiệu quả của cha ông, ngoan cố chống lại mọi điều mới mẻ, trải qua bao nhiêu thế hệ vẫn không thay đổi. Trong số đó cũng có nhiều chủ đất nhỏ, nhưng không phải tá điền theo nghĩa hiện nay; mà là những người hoặc do một khế ước thuê đất kế thừa, hoặc do một tục lệ lâu đời nào đó mà được cha ông truyền lại cho mảnh đất, họ lập nghiệp vững vàng trên đất ấy như là đất của chính mình. Khi những công nhân công nghiệp không làm nghề nông nữa, thì nhiều mảnh ruộng thuê bị bỏ hoang và một giai cấp mới gồm những tá điền lớn, gọi là tenants-at-will, đến lập nghiệp trên những ruộng đất ấy; họ thuê năm chục, một trăm, hai trăm acre hay hơn nữa, có thể tới hết năm thì ngừng thuê, và biết tăng thêm thu nhập của đất đai đó nhờ canh tác tốt hơn và sản xuất theo quy mô lớn hơn. Họ có thể bán sản phẩm rẻ hơn nhiều so với yeoman, người này cuối cùng chỉ còn cách đem bán mảnh ruộng vườn không đủ nuôi sống mình nữa, và mua một máy Jenny hay một khung cửi; hoặc đi làm thuê cho tá điền lớn, với tư cách là người làm công nhật, người vô sản nông thôn. Với tính lạc hậu bẩm sinh và phương pháp làm ruộng cẩu thả do cha ông truyền lại, mà anh ta không thể khắc phục được, thì anh ta không còn có con đường nào khác; một khi bị bắt buộc phải cạnh tranh với những người biết canh tác đất đai một cách hợp lý hơn, và có mọi thuận lợi do nền kinh doanh lớn và do bỏ vốn để cải tạo chất đất đem lại.

Nhưng sự phát triển của công nghiệp không phải chỉ dừng lại ở đây. Một vài nhà tư bản bắt đầu đặt những máy Jenny vào những tòa nhà lớn và dùng sức nước cho máy chạy, như vậy họ có thể rút bớt số công nhân và bán sợi với giá rẻ hơn những người kéo sợi cá thể còn phải quay máy bằng tay. Người ta luôn luôn tìm cách cải tiến cấu tạo của máy Jenny, đến nỗi nó lúc nào cũng có thể trở thành cổ lỗ, cần phải cải tiến hoặc thay mới; và nếu như nhà tư bản còn có thể đứng vững được bằng cách dùng sức nước để chạy cả những máy cũ, thì đối với anh thợ kéo sợi cá thể, điều đó lại không thể được. Nếu như đó mà chế độ công xưởng đặt được cơ sở thì nhờ cái máy sợi con do anh thợ cạo Richard Arkwright ở Preston, Bắc Lancashire phát minh năm 1767, chế độ ấy lại mở rộng thêm. Cái máy này, mà ở Đức thường gọi là Kettenstuhl, cùng với máy hơi nước là phát minh về máy móc quan trọng nhất của thế kỷ XVIII. Ngay từ đầu, nó đã được thiết kế để chạy với động cơ, và dựa trên những nguyên lý hoàn toàn mới. Năm 1785, Samuel Crompton ở Firwood, Lancashire đã kết hợp những đặc điểm của máy Jenny và máy sợi con để chế thành máy mule, và cũng khoảng thời gian ấy, khi mà Arkwright phát minh được máy chải và máy sợi thô; thì trong nghề kéo sợi, chế độ công xưởng trở thành chế độ thống trị duy nhất. Dần dần, do một số cải biến nhỏ, người ta bắt đầu sử dụng những máy ấy trong việc kéo sợi len, rồi sau đó (khoảng mười năm đầu thế kỷ XIX), trong việc kéo sợi lanh, như vậy là loại những công việc làm bằng tay ra khỏi hai ngành này. Nhưng người ta vẫn không dừng lại ở đây; Trong những năm cuối của thế kỷ XVIII, một mục sư nông thôn là bác sĩ Cartwright, phát minh ra khung cửi máy và khoảng 1804, đã cải tiến nó đến mức độ có thể cạnh tranh thắng lợi được với thợ dệt tay. Máy hơi nước do James Watt phát minh năm 1764 và được áp dụng từ 1785 để chạy máy sợi, đã khiến những máy móc ấy trở thành quan trọng bội phần.

Nhờ có những phát minh về sau mỗi năm một hoàn thiện ấy, lao động bằng máy móc đã thắng lao động bằng chân tay trong các ngành chủ yếu của công nghiệp Anh; và, toàn bộ lịch sử sau đó của nền công nghiệp Anh chỉ là thuật lại tình hình người lao động thủ công đã bị máy móc đánh bật khỏi hết vị trí này đến vị trí khác như thế nào. Kết quả là: một mặt những hàng hóa công xưởng giảm giá nhanh chóng, thương nghiệp và công nghiệp phồn thịnh, hầu hết các thị trường nước ngoài không có quan thuế bảo hộ bị chiếm đoạt, tư bản và tài sản quốc dân tăng lên nhanh chóng; mặt khác, giai cấp vô sản tăng lên còn nhanh hơn nhiều về số lượng, giai cấp công nhân mất mọi tài sản, mất mọi niềm tin vào công ăn việc làm, phong tục đồi bại, chính trị rối ren, và tất cả những sự kiện rất khó chịu đối với các giai cấp có của ở Anh mà chúng ta sẽ nghiên cứu ở đây. Trên đây ta đã thấy chỉ một cái máy thô sơ như máy Jenny cũng đã gây bao nhiêu biến đổi trong địa vị xã hội của những giai cấp lớp dưới, cho nên ta sẽ chẳng lấy gì làm ngạc nhiên về tác dụng gây nên bởi cả một hệ thống máy móc bổ sung cho nhau và cấu tạo tinh vi, tiếp nhận nguyên liệu của ta để trao lại cho ta những tấm vải dệt hoàn hảo.

Tuy nhiên, chúng ta hãy theo dõi kỹ càng hơn sự phát triển của công nghiệp Anh1* và hãy bắt đầu bằng ngành chủ yếu là công nghiệp bông. Trong những năm 1771-1775, con số trung bình về nhập khẩu bông chưa cán hàng năm chưa tới 5 triệu pound, mà năm 1841 con số ấy đã là 528 triệu, và năm 1844 lên tới trên 600 triệu. Năm 1834, nước Anh xuất khẩu 556 triệu yard vải, 76,5 triệu pound sợi bông và 1.200.000 Bảng hàng dệt kim bằng bông. Cũng năm ấy, công nghiệp bông sử dụng tới hơn 8 triệu cọc sợi, 110.000 khung cửi máy và 250.000 khung cửi tay, không kể những máy sợi con, và theo thống kê của McCulloch thì trong toàn Vương quốc liên hợp có gần một triệu rưởi người trực tiếp hoặc gián tiếp sống nhờ ngành công nghiệp ấy và trong số này chỉ có 220.000 người làm trong các nhà máy; động lực dùng trong các công xưởng ấy thì sức hơi nước là 33.000 sức ngựa, và sức nước là 11.000 sức ngựa. Ngày nay những con số ấy đã bị vượt xa và chúng ta có thể không ngần ngại công nhận rằng về số lượng và công suất máy móc, cũng như số lượng công nhân, năm 1845 đã gấp rưỡi năm 1834. Lancashire là trung tâm, cũng là cái nôi của công nghiệp bông. Công nghiệp này đã hoàn toàn cách mạng hóa, biến tỉnh ấy từ một bãi lầy âm u, rất ít khai khẩn, thành một địa phương náo nhiệt hoạt động sôi nổi; trong 80 năm làm tăng dân số lên gấp mười lần, và như là có chiếc gậy thần, nó đã làm mọc lên những thành phố khổng lồ như Liverpool và Manchester, gồm đến 70 vạn dân, và các vùng ngoại ô: Bolton (6 vạn dân), Rochdale (7 vạn rưởi dân), Oldham (5 vạn dân), Preston (6 vạn dân), Ahston và Stalybridge (4 vạn dân), và cả một loạt thành phố công xưởng khác. Lịch sử Nam Lancashire đã được chứng kiến những điều kỳ diệu nhất của thời hiện đại, dù người ta không thích nói tới, và những điều kỳ diệu ấy chính là do công nghiệp bông đã tạo nên. Ngoài ra, Glasgow ở Scotland là trung tâm của khu vực bông thứ hai, gồm Lanarkshire và Renfrewshire; và ở đây cũng vậy, dân số thành phố chủ yếu này, từ khi bắt đầu có ngành công nghiệp ấy cho đến nay, đã tăng từ 3 vạn lên 30 vạn. Nghề dệt kim bít tất ở Nottingham và Derby, do việc hạ giá sợi, cũng đã được đẩy lên một bước mới; và một bước thứ hai do sự cải tiến máy dệt kim, khiến từ nay trên một máy có thể đồng thời dệt hai chiếc tất. Nghề làm đăng-ten cũng trở thành một ngành công nghiệp quan trọng từ năm 1777 là năm phát minh được máy dệt tuyn; ít lâu sau, Lindley phát minh máy làm đăng-ten và sau đó, năm 1809, Heathcoat phát minh máy ống sợi. Việc làm đăng-ten nhờ đó được đơn giản hóa rất nhiều, và do giá hạ, sự tiêu dùng đăng-ten tăng lên rất nhiều đến nỗi hiện nay có tới ít ra là 20 vạn người sống nhờ ngành này. Những trung tâm chủ yếu của công nghiệp ấy là Nottingham, Leicester và ở miền Tây nước Anh (Wiltshire, Devonshire, v.v.). Những ngành phụ thuộc vào công nghiệp bông, như ngành tẩy trắng, ngành nhuộm, ngành in hoa, cũng phát triển như vậy. Nhờ dùng Clo thay cho Ôxy trong việc tẩy trắng, nhờ sự tiến bộ nhanh chóng của ngành hóa học có ảnh hưởng đến ngành nhuộm và in hoa, và nhờ một loạt phát minh rực rỡ nhất trong lĩnh vực máy móc thúc đẩy sự phát triển của ngành in hoa; những ngành này đã được sự thúc đẩy, sự thúc đẩy này cộng với sự mở rộng nhu cầu do sự phát triển của nghề sản xuất sợi bông gây nên, làm cho những ngành công nghiệp ấy đạt đến mức thịnh vượng chưa từng thấy.

Trong nghề làm len, cũng có hoạt động tương tự; trước kia đó là ngành chủ yếu của công nghiệp Anh, nhưng sản phẩm của những năm đầu so với ngày nay thật không đáng kể. Năm 1782, do thiếu công nhân, số lông cừu thu hoạch trong ba năm trước vẫn chưa được chế biến, và nhất định vẫn còn để đó nếu không có sự viện trợ của máy móc mới phát minh để kéo len thành sợi. Việc dùng các máy móc ấy để kéo sợi len tiến hành có kết quả tốt. Từ đó ở các khu chế biến len cũng bắt đầu có sự tiến triển nhảy vọt như ở các khu bông vải sợi. Năm 1738 ở khu vực phía tây Yorkshire dệt được 7 vạn rưởi tấm vải len, nhưng năm 1817 thì dệt được 49 vạn tấm; và công nghiệp len phát triển nhanh chóng đến nỗi ngay năm 1834 đã xuất khẩu nhiều hơn năm 1825 tới 45 vạn tấn. Năm 1801, người ta làm được 101 triệu pound (trong đó có 7 triệu nhập khẩu); năm 1835 thì làm 180 triệu pound (trong đó có 42 triệu nhập khẩu). Trung tâm chính của nền công nghiệp ấy là khu vực phía tây Yorkshire; ở đây len dài xơ được chế biến làm len đan v.v., đặc biệt là ở Bradford, còn len ngắn xơ được chế biến làm loại sợi săn và để dệt dạ thì làm ở các thành phố khác: Leeds, Halifax, Huddersfield, v.v., rồi đến một phần của Lancashire tiếp giáp với Yorkshire, vùng lân cận Rochdale là nơi mà ngoài việc làm các sản phẩm bằng bông, người ta còn dệt nhiều hàng nỉ mỏng, và sau hết miền Tây nước Anh là nơi sản xuất những hàng dạ tinh xảo nhất. Ở đây, dân số cũng tăng một cách rất đáng chú ý:
        Năm 1801        Năm 1831
Bradford        29.000 dân        77.000 dân
Halifax        63.000 ''        110.000 ''
Huddersfield        15.000 ''        34.000 ''
Leeds        53.000 ''        123.000 ''
Toàn bộ khu phía Tây Yorkshire        564.000 ''        980.000 ''
Số dân ấy, từ 1831 đến nay còn tăng lên ít ra là 20 đến 25%. Năm 1835, trong toàn Vương quốc liên hợp có 1313 xưởng máy kéo sợi len với 71.300 công nhân; nhưng số ấy chỉ mới là một phần nhỏ trong con số đông đảo những người trực tiếp hoặc gián tiếp sống bằng nghề làm len, và hầu như hoàn toàn không kể những thợ dệt len.

Trong ngành công nghiệp lanh, sự tiến bộ có muộn hơn vì tính chất tự nhiên của thứ nguyên liệu này làm cho rất khó ứng dụng các máy kéo sợi. Thực ra thì ngay từ những năm cuối thế kỷ XVIII ở Scotland đã có thử làm việc ấy, nhưng mãi đến 1810, một người Pháp là Girard mới thực hiện thành công trên thực tế việc kéo sợi lanh bằng máy. Song những máy của Girard chỉ chiếm được vị trí quan trọng xứng đáng trên đất Anh sau khi đã cải tiến ở Anh và được áp dụng một cách rộng rãi ở Leeds, Dundee và Belfast. Từ đó, công nghiệp lanh ở Anh mới bắt đầu phát triển nhanh chóng. Năm 1814, ở Dundee nhập khẩu 3000 tấn2 lanh, năm 1833 19.000 tấn lanh và 3400 tấn gai. Vải gai xứ Ireland xuất cảng sang Anh tăng từ 32 triệu yard (năm 1800) lên 53 triệu (năm 1825) mà phần lớn lại đem xuất khẩu một lần nữa; việc xuất khẩu vải lanh của Anh và Scotland tăng từ 24 triệu yard (năm 1820) lên 51 triệu (năm 1833). Số xưởng máy sợi lanh năm 1835 lên tới 347 xưởng với 33.000 công nhân; một nửa số ấy ở Nam Scotland, hơn 60 xưởng ở khu vực phía tây Yorkshire (Leeds và các vùng phụ cận), 25 xưởng ở Belfast thuộc Ireland, và số còn lại ở Dorsetshire và Lancashire. Việc dệt lanh tiến hành ở Nam Scotland và một số nơi ở Anh, nhưng chủ yếu là ở Ireland.

Người Anh cũng đạt được những thành tích rất lớn trong nghề tơ lụa. Trong công việc này, họ nhận được nguyên liệu đã kéo thành sợi từ miền Nam châu Âu và từ châu Á; công việc chính là xe những sợi tơ rất mảnh lại với nhau (đánh sợi). Trước 1824, công nghiệp tơ lụa ở Anh bị trở ngại nhiều vì thuế tơ mộc rất nặng (mỗi pound 4 shilling) và nó chỉ có được thị trường duy nhất ở Anh và ở các thuộc địa của Anh nhờ quan thuế bảo hộ. Sau đó, thuế nhập khẩu hạ xuống đến một penny, và lập tức số công xưởng tăng lên rất nhiều. Trong một năm số cọc sợi tăng từ 78 vạn lên 118 vạn, và mặc dầu ngành công nghiệp ấy nhất thời bị tê liệt do cuộc khủng hoảng thương nghiệp năm 1825, nhưng ngay năm 1827 trong lĩnh vực đó đã sản xuất nhiều hơn bao giờ hết, vì tay nghề về kỹ thuật và kinh nghiệm của người Anh đã làm cho máy xe sợi của họ hơn hẳn so với những máy móc vụng về của những kẻ cạnh tranh với họ. Năm 1835 Đại Britain có 263 xưởng xe sợi tơ với 3 vạn công nhân; phần lớn những xưởng tập trung ở Cheshire (Macclesfield, Congleton và các vùng phụ cận); ở Manchester và Somersetshire. Ngoài ra còn có nhiều xưởng chế biến những mụn tơ của kén tằm làm thành một thứ sợi đặc biệt (spun-silk) là món hàng người Anh cung cấp cả cho các xưởng dệt lụa ở Paris và Lyon. Lụa chế biến bằng cách đó chủ yếu được dệt ở Scotland (Paisley, v.v.) và ở London (Spitalfields), nhưng cũng có ở Manchester và các nơi khác nữa.

Song sự phát triển to lớn của công nghiệp Anh từ 1760 không phải chỉ giới hạn trong phạm vi chế tạo hàng vải. Một khi đã có đà phát triển thì nó lan ra khắp mọi ngành của hoạt động công nghiệp, và rất nhiều phát minh không liên quan chút gì với những phát minh đã nói ở trên, cũng trở nên quan trọng bội phần vì diễn ra đúng vào giữa lúc phong trào công nghiệp phát triển phổ biến. Nhưng mặt khác, một khi thực tiễn đã chứng minh tác dụng lớn lao của sức cơ giới trong công nghiệp, thì người ta tìm đủ mọi cách để sử dụng sức ấy về mọi mặt và để bắt nó làm cho các nhà phát minh và các chủ xưởng riêng biệt; thêm vào đó chính nhu cầu về máy móc, về chất đốt và nguyên liệu đã trực tiếp đòi hỏi đông đảo công nhân và các ngành công nghiệp riêng biệt tăng cường hoạt động lên gấp đôi. Chính máy hơi nước đã làm cho các mỏ than rộng lớn ở Anh lần đầu tiên trở nên quan trọng; chỉ đến bây giờ, việc chế tạo máy móc mới bắt đầu, và cùng với việc chế tạo máy móc, người ta chú ý hơn đến các xí nghiệp khai thác quặng sắt cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất này. Sự tiêu thụ len tăng thêm làm cho nghề chăn cừu ở Anh phát triển, và sự tăng nhập khẩu thêm len, lanh và tơ làm cho đội thương thuyền của Anh tăng lên. Phát triển mạnh nhất là nghề sản xuất sắt. Trước kia các mỏ sắt rất giàu ở Anh ít được khai thác; người ta thường dùng than củi để nấu quặng, than này do sự phát triển của nông nghiệp và sự phá rừng nên sản xuất ngày càng ít, ngày càng đắt. Mãi đến thế kỷ trước mới bắt đầu dùng than đá đã được luyện (than cốc), và từ năm 1780 người ta mới phát minh một phương pháp mới cho phép biến quặng sắt đã nấu chảy trong lò than cốc, thành sắt rèn được, mà trước đó chỉ có thể thu được gang. Đó là phương pháp rút Carbon bị trộn lẫn trong sắt khi sắt nung chảy, mà người Anh gọi là phương pháp puddling; phương pháp này đã mở ra cho nền sản xuất sắt ở Anh một trường hoạt động hoàn toàn mới. Người ta xây những lò cao lớn gấp năm mươi lần so với trước kia; người ta đơn giản hóa việc nấu chảy quặng bằng cách thổi gió nóng, và nhờ vậy mà sản xuất được sắt rẻ đến nỗi có thể dùng để làm vô số đồ trước kia làm bằng gỗ hoặc đá.

Năm 1788, Thomas Paine, một nhà dân chủ nổi tiếng, xây chiếc cầu sắt đầu tiên ở Yorkshire, và liền sau đó, hàng loạt cầu sắt khác xuất hiện; cho đến ngày nay thì hầu hết các cầu, nhất là các cầu cho xe lửa, đều làm bằng gang, và ngay ở London, trên sông Thames, cũng có một cái cầu xây bằng vật liệu ấy (cầu Southwark). Những cột sắt, bệ máy làm bằng sắt, v.v. đã trở thành rất phổ biến, và từ khi dùng đèn khí và đường sắt thì việc sản xuất sắt ở Anh lại có những đầu ra mới. Dần dần người ta đã bắt đầu sản xuất cả ốc vít và đinh bằng máy móc. Năm 1740, Huntsman ở Sheffield đã phát minh ra phương pháp đúc thép bỏ được rất nhiều động tác thừa và cho phép sản xuất nhiều sản phẩm rất rẻ so với trước. Nhờ chất lượng của nguyên liệu cao hơn, cũng như nhờ công cụ cải tiến hơn, nhờ trang bị máy móc mới và nhờ sự phân công lao động quy mô lớn, ngành kim khí ở Anh lần đầu tiên trở nên quan trọng. Dân số Birmingham tăng từ 73.000 (năm 1801) lên 20 vạn (năm 1844), dân số Sheffield từ 46.000 (năm 1801) lên 110.000 (năm 1844) và chỉ riêng một thành phố này năm 1836 đã tiêu thụ hết 515.000 tấn than. Năm 1805 xuất khẩu 4300 tấn sắt thành phẩm và 4600 tấn gang; năm 1834, xuất khẩu 16.200 tấn sắt thành phẩm và 107.000 tấn gang; tổng sản lượng sắt năm 1740 không quá 17.000 tấn, năm 1834 lên tới 700.000 tấn. Hàng năm riêng việc luyện gang đã tiêu thụ hết hơn 3 triệu tấn than; thậm chí rất khó hình dung nổi tầm quan trọng lớn lao của các mỏ than trong sáu mươi năm trở lại đây. Tất cả các mỏ than trên đất Anh và Scotland bây giờ đều được khai thác, và chỉ riêng những hầm mỏ ở Northumberland và Durham hàng năm đã sản xuất hơn 5 triệu tấn than để xuất khẩu và dùng từ 40.000 đến 50.000 công nhân. Theo tin tức của tờ "Durham Chronicle" việc khai thác hầm mỏ trong hai tỉnh đó như sau:
Năm 1753: 14 hầm mỏ; năm 1800: 40 hầm mỏ; năm 1836: 76 hầm mỏ; và năm 1843: 130 hầm mỏ

Mặt khác, tất cả các hầm mỏ ngày nay đều được khai thác khẩn trương hơn trước nhiều. Việc khai thác các mỏ thiếc, mỏ đồng và mỏ chì cũng phát triển tương tự; và đi đôi với sự phát triển sản xuất thuỷ tinh, một ngành công nghiệp mới là sản xuất đồ gốm cũng hình thành, ngành này khoảng năm 1763, nhờ Josiah Wedgwood mà trở nên rất quan trọng. Ông là người đầu tiên đã căn cứ vào những nguyên tắc khoa học để làm đồ gốm, đã thúc đẩy phát triển thẩm mỹ nghệ thuật và đã xây dựng những xưởng sản xuất đồ gốm (potteries) ở Bắc Staffordshire, một khu rộng 8x8 dặm, trước kia cằn cỗi, hoang vu, thì ngày nay đầy công xưởng và nhà ở và nuôi sống hơn 6 vạn người.

Tất cả đều bị cuộn hẳn vào dòng thác chung ấy. Nông nghiệp cũng đã có chuyển biến. Không phải chỉ là sự chiếm hữu và canh tác đất đai đã chuyển vào tay người khác như chúng ta đã thấy ở trên, nông nghiệp còn bị ảnh hưởng về mặt khác nữa. Các tá điền lớn bỏ vốn vào việc cải tạo chất đất, phá những rào giậu không cần thiết, chống úng, bón phân, dùng những công cụ tốt hơn và áp dụng chế độ luân canh có hệ thống (cropping by rotation). Họ cũng nhờ vào sự tiến bộ của khoa học; Sir Humphry Davy đã thành công trong việc áp dụng hóa học vào nông nghiệp, còn sự phát triển của kỹ thuật thì đã mang lại cho các tá điền lớn rất nhiều thuận lợi. Thêm vào đó, do tăng dân số, nhu cầu về nông phẩm cũng tăng nhanh đến nỗi mặc dầu từ 1760 đến hết 1834, có 6.840.540 acre đất hoang đã được khai khẩn, thế mà nước Anh trước kia vẫn xuất khẩu lúa mì bây giờ phải nhập khẩu lúa mì.

Về mặt kiến thiết các đường giao thông cũng có hoạt động khẩn trương như vậy. Từ 1818 đến hết 1829, ở Anh và Wales đã làm 1000 dặm đường lát theo quy cách nhất định là rộng 60 foot, và hầu hết các đường lát cũ đều được sửa chữa lại theo hệ thống McAdam. Ở Scotland, từ 1803, Bộ Công trình Công cộng đã làm khoảng 900 dặm đường lát và hơn 1000 cây cầu, nhờ đó mà nhân dân miền núi Scotland lập tức được tiếp xúc với văn minh. Trước kia dân miền núi phần lớn làm nghề săn bắn trộm hoặc buôn lậu; bây giờ họ trở thành những nhà nông hoặc thợ thủ công cần cù, và mặc dầu người ta đã lập ra những trường học riêng để bảo tồn ngôn ngữ Gael, nhưng do ảnh hưởng của văn minh Anh, phong tục và ngôn ngữ Gael-Celt cũng nhanh chóng biến mất. Ở Ireland cũng vậy. Trước kia giữa các tỉnh Cork, Limerick và Kerry là một vùng đất hoang vu, không có đường xe đi, vì hiểm trở nên đã trở thành sào huyệt của mọi kẻ bất lương, và là thành luỹ của dân tộc Celt-Ireland ở miền Nam Ireland; ngày nay người ta đã xẻ những đường ngang dọc và đã mở đường cho văn minh xâm nhập vào vùng hoang vắng ấy. Toàn Đại Britain, và đặc biệt nước Anh, cách đây sáu mươi năm còn có những con đường cũng xấu như ở nước Pháp hoặc nước Đức hồi đó, ngày nay đã có một mạng lưới đường lát đẹp đẽ nhất; và tất cả những con đường này cũng như hầu hết mọi cái ở Anh, đều là công trình của các nhà kinh doanh tư nhân, bởi vì nhà nước không làm hoặc hầu như không làm gì để đóng góp vào đó.

Trước 1755, nước Anh hầu như không có kênh đào. Vào năm đó, ở Lancashire, một con kênh được đào từ Sankey Brook tới St. Helen's; năm 1759, James Brindley đào con kênh lớn đầu tiên, là kênh Quận công Bridgewater, chạy từ Manchester và các mỏ than xung quanh đến cửa sông Mersey, kênh này đến gần Barton thì vượt qua sông Irwell bằng một cầu dẫn nước. Từ đó hệ thống kênh đào của nước Anh bắt đầu được kiến thiết, mà Brindley là người đầu tiên đã nêu lên tầm quan trọng của nó. Từ đấy người ta đào nhiều kênh khắp mọi hướng và đã nạo vét các sông để chạy tàu. Riêng ở Anh có 2200 dặm kênh, và 1800 dặm đường sông tàu chạy được. Ở Scotland có con kênh Caledonia cắt ngang qua xứ này, ở Ireland cũng đào nhiều kênh. Những công trình này cũng như các đường sắt và đường bộ lớn hầu hết là do tư nhân hoặc các công ty của tư nhân đứng ra làm.

Đường sắt thì chỉ mới xây dựng trong thời gian gần đây. Con đường sắt lớn đầu tiên là từ Liverpool đến Manchester (năm 1830); từ đó, các thành phố lớn đều có đường sắt nối liền nhau. London nối với Southampton, Brighton, Dover, Colchester, Cambridge, Exeter (qua Bristol) và Birmingham; Birmingham nối với Gloucester, Liverpool, Lancaster (qua Newton và Wigan, hay là qua Manchester và Bolton) và Leeds (qua Manchester và Halifax, hay là qua Leicester, Derby và Sheffield); Leeds nối với Hull và Newcastle (qua York). Từ đó còn có rất nhiều đường nhánh dự định sẽ làm hoặc đang xây dựng, do đó không bao lâu nữa sẽ có thể đi từ Edinburgh đến London chỉ trong một ngày.

Hơi nước không những đã cách mạng hóa các phương tiện giao thông đường bộ, mà cũng làm cho giao thông đường thủy thay đổi hẳn. Tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên được hạ thủy trên sông Hudson ở Bắc Mĩ năm 1807, còn ở Đại Britain chiếc đầu tiên được hạ thủy trên sông Clyde năm 1811. Từ đó, ở Anh đã đóng hơn 600 tàu chạy bằng hơi nước và năm 1836, hơn 500 chiếc đậu ở các cảng của Anh.

Đấy là tóm tắt lịch sử công nghiệp Anh trong sáu mươi năm gần đây, một thiên lịch sử chưa từng thấy trong sử sách của loài người. Cách đây 60-80 năm, Anh là một nước như mọi nước khác, với những thành phố nhỏ bé, công nghiệp ít ỏi và kém phát triển, dân cư thưa thớt mà chủ yếu là nhân khẩu nông nghiệp. Ngày nay Anh là nước có một không hai, với thủ đô gồm hai triệu rưởi dân, với nhiều thành phố công xưởng khổng lồ, với một nền công nghiệp cung cấp hàng hoá cho toàn thế giới, và chế tạo hầu hết mọi thứ bằng những máy móc phức tạp nhất; với những người dân cần cù yêu lao động, thông minh và ở rất tập trung, trong số này, nhân khẩu công nghiệp3 chiếm đến hai phần ba, và bao gồm các giai cấp khác hẳn, hơn thế nữa lại là một dân tộc khác hẳn, có những phong tục khác trước. Cuộc cách mạng công nghiệp đối với Anh có ý nghĩa quan trọng ngang với cuộc cách mạng chính trị đối với Pháp và cuộc cách mạng triết học đối với Đức. Và từ nước Anh năm 1760 đến nước Anh năm 1844 có một khoảng cách ít ra cũng lớn bằng khoảng cách giữa nước Pháp của ancien régine4 và nước Pháp của Cách mạng tháng Bẩy. Nhưng sản phẩm quan trọng nhất của cuộc cách mạng công nghiệp ấy là giai cấp vô sản Anh.

Chúng ta thấy việc sử dụng máy móc đã dẫn đến sự ra đời của giai cấp vô sản như thế nào. Công nghiệp mở mang nhanh chóng đòi hỏi phải có bàn tay công nhân; tiền lương tăng lên và do đó từng đám lao động từ các khu nông nghiệp lũ lượt kéo ra thành thị. Dân số tăng lên nhanh chóng lạ thường, và hầu hết số dân tăng đó là thuộc về giai cấp công nhân. Mặt khác, ở Ireland, mãi đến đầu thế kỷ XVIII tình hình mới được yên tĩnh; ở đây dân số đã giảm mất trên một phần mười do bị người Anh tàn sát một cách dã man trong các cuộc nổi dậy trước kia, ngày nay cũng tăng lên nhanh, đặc biệt là từ khi sự phát triển của công nghiệp bắt đầu thu hút rất nhiều người Ireland sang Anh. Những thành phố công xưởng và thương nghiệp lớn của Đại Britain đã mọc lên như thế, trong đó ít ra cũng có 3/4 dân số là thuộc giai cấp công nhân, còn giai cấp tiểu tư sản chỉ gồm những người tiểu thương và một số rất ít thợ thủ công. Nhưng, nền công nghiệp mới ra đời có thể lớn mạnh nhanh chóng như vậy, chỉ là vì nó đã thay công cụ bằng máy móc, thay xưởng thợ thủ công bằng nhà máy, và do đó đã biến những người lao động trong giai cấp trung gian thành giai cấp vô sản lao động và bọn lái buôn lớn trước kia thành chủ xưởng; nó đã loại trừ giai cấp tiểu tư sản và khiến cho trong dân cư chỉ còn sự đối lập giữa công nhân và nhà tư bản. Và ngoài phạm vi công nghiệp theo nghĩa hẹp, trong ngành thủ công nghiệp và ngay cả trong thương nghiệp, hiện tượng tương tự cũng đã xảy ra. Thay thế những thợ cả và thợ bạn trước kia, một mặt là những nhà đại tư bản, và mặt khác là những công nhân không có chút triển vọng nào vươn lên khỏi địa vị giai cấp của mình; nghề thủ công biến thành sản xuất trong công xưởng, việc phân công lao động được thực hiện hết sức chặt chẽ; và các thợ cả loại nhỏ, vì không cạnh tranh được với các xí nghiệp lớn, cũng bị đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản. Đồng thời, với sự tiêu diệt sản xuất thủ công nghiệp trước kia, với sự biến mất của giai cấp tiểu tư sản, người lao động cũng mất hết mọi khả năng trở thành nhà tư sản. Trước đó, họ luôn có hi vọng lập được cho mình một xưởng thợ và sau đó có thể thuê vài thợ bạn; nhưng bây giờ, khi mà chính các thợ cả đã bị các chủ xưởng loại trừ, khi mà muốn mở một xí nghiệp độc lập thì phải có vốn lớn, thì giai cấp công nhân mới thật sự trở nên trọn vẹn và cố định trong nhân dân, còn trước kia thì địa vị của người lao động thường chỉ là giai đoạn quá độ để tiến lên địa vị anh tư sản. Bây giờ ai đã sinh ra là người lao động thì không có triển vọng nào khác là suốt đời làm người lao động. Cũng vì thế mà chỉ từ nay giai cấp vô sản mới có thể tiến hành những phong trào độc lập của mình.

Quần chúng lao động hết sức đông đảo hiện tràn ngập cả nước Đại Britain ngày nay đã nảy sinh như vậy, địa vị xã hội của họ ngày càng bắt buộc thế giới văn minh phải chú ý đến.

Tình cảnh của giai cấp công nhân cũng tức là tình cảnh của tuyệt đại đa số nhân dân Anh. Đó là vấn đề số phận của hàng triệu người không tài sản ấy như thế nào, những người làm ngày nào xào ngày ấy, những người mà trí sáng tạo và bàn tay lao động đã làm nên sự vĩ đại của nước Anh, những người ngày càng có ý thức về sức mạnh của mình và ngày càng đòi hỏi cấp thiết hơn phần quyền lợi của họ trong tài sản xã hội; vấn đề ấy, từ ngày có Dự luật Cải cách, đã trở thành vấn đề của toàn dân tộc. Mọi cuộc tranh luận ít nhiều quan trọng của Nghị viện đều có thể qui vào vấn đề này, và mặc dù giai cấp tư sản Anh cho đến nay vẫn không muốn thừa nhận điều ấy, mặc dù họ tìm cách trốn tránh lờ tịt vấn đề lớn ấy và đưa lợi ích của bản thân họ lên thành lợi ích chân chính của dân tộc, những thủ đoạn ấy cũng chẳng giúp ích gì cho họ. Với mỗi kỳ họp Nghị viện, vấn đề giai cấp công nhân càng thêm quan trọng, còn lợi ích của giai cấp tư sản lại tụt xuống địa vị thứ yếu; và tuy trong Nghị viện, giai cấp tư sản là lực lượng chủ yếu, thậm chí là lực lượng duy nhất nữa, nhưng kỳ họp gần đây nhất vào năm 1844, vẫn là một cuộc thảo luận liên tục về vấn đề người lao động (dự luật về người nghèo, dự luật về công xưởng, dự luật về quan hệ giữa chủ và tớ). Thomas Duncombe, người đại diện cho giai cấp công nhân ở hạ nghị viện, là nhân vật trung tâm của kỳ họp ấy; trong khi đó giai cấp tư sản tự do với yêu sách đòi bãi bỏ đạo luật về ngũ cốc, và giai cấp tư sản cấp tiến với đề nghị bỏ thuế, đã đóng một vai trò rất thảm hại. Ngay cả các cuộc tranh luận về Ireland, về thực chất cũng chỉ là tranh luận về tình cảnh của giai cấp vô sản Ireland và về các biện pháp nhằm giúp đỡ họ. Nhưng cũng đã đến lúc giai cấp tư sản Anh cần phải nhượng bộ những người lao động là những người không cầu xin nhưng đe dọa và yêu sách; vì không lâu nữa sẽ có thể là quá muộn rồi.

Tuy vậy, giai cấp tư sản Anh, và nhất là bọn chủ xưởng là những kẻ trực tiếp làm giàu trên sự bần cùng của người lao động, lại không muốn biết gì về sự bần cùng ấy. Tự cho mình là giai cấp mạnh nhất, là giai cấp đại diện của dân tộc, giai cấp tư sản lấy làm xấu hổ không dám vạch trần trước thế giới cái mụn lở ấy của nước Anh; họ không muốn thú nhận rằng những người lao động rất cùng cực, bởi vì chính họ, giai cấp có của, giai cấp của các nhà công nghiệp, phải chịu trách nhiệm tinh thần về tình cảnh nghèo khổ ấy. Do đó mà những người Anh có học vấn - và trên lục địa, người ta chỉ biết có bọn này, - tức là giai cấp tư sản, thường cười mỉa mai khi người ta nói với họ về tình cảnh của người lao động, do đó mà toàn thể giai cấp tư sản đều có một đặc điểm là hoàn toàn không hiểu gì về người lao động; do đó mà họ mắc phải những điều lầm lẫn đáng buồn cười, ở trong cũng như ở ngoài Nghị viện, mỗi khi nói đến tình cảnh của giai cấp vô sản; do đó, họ vẫn tươi cười vô tư mà sống trên một miếng đất lún dần ngay dưới chân họ và bất cứ lúc nào cũng có thể sụp đổ - một ngày gần đây một tai họa như thế tất nhiên sẽ xảy ra cũng như là tác dụng của một định luật toán học hay cơ học; do đó mà có tình trạng lạ lùng là người Anh chưa hề có một quyển sách hoàn hảo nào nói về tình cảnh của công nhân nước họ, mặc dù là họ đã "nghiên cứu" và "cải thiện" tình cảnh ấy không biết bao nhiêu năm rồi. Nhưng cũng do đó mà sinh lòng phẫn nộ sâu sắc của toàn thể giai cấp công nhân, từ Glasgow đến London, đối với những kẻ giàu có đã bóc lột có hệ thống những người lao động, rồi sau đó lại nhẫn tâm bỏ mặc thây họ. Lòng phẫn nộ ấy chẳng bao lâu nữa (người ta hầu như có thể tính trước được) sẽ bùng nổ thành một cuộc cách mạng, mà nếu đem so sánh với cuộc cách mạng đó thì cuộc cách mạng Pháp đầu tiên và năm 1794 chỉ là một trò chơi trẻ con.


---------------------
Chú thích
1* Theo cuốn sách: Porter: "Progress of the Nation". London, 1836- I vol., 1838 - II vol., 1843 - III vol. (Porter. "Sự tiến bộ của dân tộc". London, tập I, 1836; Tập II, 1838, tập III, 1843) (theo những tài liệu chính thức) và theo nhiều nguồn tư liệu khác phần lớn cũng chính thức như vậy.

(Năm 1892). Ở đây khái luận lịch sử về cách mạng công nghiệp có một vài chi tiết chưa được chính xác, nhưng trong những năm 1843-1844 chưa có những nguồn tư liệu tốt hơn (Chú thích của Engels cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1892).

2 Tấn của Anh bằng 2240 pound, gần 1000 KG (Chú thích của người dịch).

3 Trong các bản tiếng Anh xuất bản năm 1887 và năm 1892, sau chữ "công nghiệp" có chữ "và thương nghiệp" (Chú thích của người dịch).

4 "chế độ cũ" (Chú thích của người dịch).
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:03:12 |Xem tất
GIAI CẤP VÔ SẢN CÔNG NGHIỆP

Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu các bộ phận khác nhau của giai cấp vô sản theo trình tự phát sinh của chúng trong quá trình lịch sử vừa phác hoạ trên đây. Những người vô sản đầu tiên xuất hiện trong công nghiệp và trực tiếp do công nghiệp sản sinh ra; vì vậy chúng ta chú ý trước tiên tới những công nhân công nghiệp, tức là những người sản xuất nguyên liệu. Sự sản xuất vật liệu cho công nghiệp, nghĩa là nguyên liệu và nhiên liệu, chỉ do có cuộc cách mạng công nghiệp mới có ý nghĩa quan trọng; và cũng chỉ lúc đó, mới sản sinh một loại hình mới của giai cấp vô sản, đó là những công nhân mỏ than và mỏ kim loại. Thứ ba là công nghiệp phát triển đã ảnh hưởng đến nông nghiệp, và thứ tư là công nghiệp phát triển đã ảnh hưởng đến Ireland; chúng ta sẽ theo trình tự ấy mà nghiên cứu các loại tương ứng của giai cấp vô sản. Ta cũng sẽ thấy rằng trình độ phát triển của các loại công nhân, có lẽ chỉ trừ người Ireland, thường trực tiếp lệ thuộc vào mối liên hệ của họ với công nghiệp; và vì vậy mà công nhân công nghiệp là những người nhận thức được rõ ràng nhất về lợi ích bản thân của họ, công nhân hầm mỏ nhận thức kém hơn một chút, còn công nhân nông nghiệp thì hầu như chưa nhận thức được gì. Trong hàng ngũ của bản thân giai cấp vô sản công nghiệp, chúng ta cũng phát hiện thấy có sự phụ thuộc ấy; chúng ta sẽ thấy những công nhân công xưởng, con đầu lòng của cách mạng công nghiệp, ngay từ đầu cho tới ngày nay, đã là hạt nhân của phong trào công nhân, còn các công nhân khác tham gia phong trào theo mức độ nghề thủ công của họ bị cách mạng công nghiệp xâm chiếm như thế nào. Như vậy thì lấy tỷ dụ về nước Anh để xem xét sự trùng hợp đó giữa phong trào công nhân và sự phát triển của công nghiệp, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa lịch sử của công nghiệp.

Nhưng vì hiện nay hầu như tất cả giai cấp vô sản công nghiệp đã bị lôi cuốn vào phong trào, và vì tình hình của các bộ phận của nó có rất nhiều điểm chung, chính là do tất cả các bộ phận ấy đều phụ thuộc vào công nghiệp; cho nên trước tiên chúng ta hãy nghiên cứu những nét chung ấy, để rồi sau sẽ nhờ đó mà nghiên cứu kỹ hơn những đặc điểm của từng bộ phận riêng biệt.
Trên kia chúng tôi đã vạch rõ công nghiệp đã tập trung của cải vào tay một số ít người như thế nào. Công nghiệp cần nhiều tư bản để xây dựng những xí nghiệp khổng lồ; bằng cách đó nó đã làm cho giai cấp tiểu tư sản thủ công nghiệp bị phá sản, bắt các lực lượng thiên nhiên phải phục vụ cho mình, và đánh bật những người thợ thủ công riêng lẻ ra khỏi thị trường. Sự phân công lao động, việc sử dụng sức nước, nhất là sức hơi nước, và việc ứng dụng máy móc; đó là ba đòn bảy lớn, nhờ đó nền công nghiệp từ giữa thế kỷ trước đã làm lay chuyển nền tảng của thế giới cũ. Tiểu công nghiệp đã tạo nên giai cấp tư sản, đại công nghiệp đã tạo nên giai cấp công nhân và đưa một số ít kẻ được lựa chọn trong giai cấp tư sản lên ngai vàng, nhưng cũng là để rồi một ngày kia lật đổ họ xuống một cách càng chắc chắn hơn. Hiện giờ, có một sự việc không thể chối cãi được và rất dễ hiểu là: giai cấp tiểu tư sản rất đông đảo của "thời đại hoàng kim cũ" đã bị công nghiệp tiêu diệt và phân hoá; một mặt, thành những nhà tư bản giàu có, mặt khác, thành những người lao động bần cùng1*.

Nhưng, khuynh hướng tập trung của công nghiệp không phải chỉ dừng lại ở đó. Dân cư cũng bị tập trung như tư bản; điều này cũng là dĩ nhiên thôi, bởi vì trong công nghiệp, con người, người công nhân, chỉ được xem như một loại tư bản, loại tư bản này tự nộp mình cho chủ xưởng sử dụng và được chủ xưởng trả lợi tức dưới danh nghĩa tiền lương. Một xí nghiệp công nghiệp lớn cần nhiều công nhân cùng làm việc ở một tòa nhà; những công nhân ấy cần phải sống ở gần nhau, thậm chí ở một công xưởng lớn, họ tạo thành cả một làng. Họ đều có nhu cầu nhất định, và để thoả mãn những nhu cầu ấy, phải có những người khác: thợ thủ công, thợ may, thợ giày, thợ làm bánh, thợ nề, thợ mộc đều dọn đến đó ở. Dân cư trong xóm thợ, đặc biệt là thế hệ trẻ, học dần và làm quen với công việc ở công xưởng; khi mà công xưởng đầu tiên không bảo đảm được việc làm cho tất cả mọi người muốn có việc làm, điều này cũng hoàn toàn tự nhiên, thì tiền công hạ xuống và do đó, nhiều chủ xưởng mới tìm đến nơi đó làm ăn. Thế là xóm thợ trở thành một thành phố nhỏ, rồi thành phố nhỏ trở thành một thành phố lớn. Thành phố càng lớn thì việc đến ở đấy càng có nhiều thuận lợi: ở đấy có đường sắt, có sông đào, có đường bộ; càng dễ chọn được công nhân lành nghề; do sự cạnh tranh trong xây dựng và sản xuất máy móc, ở một nơi mọi thứ đều sẵn có trong tầm tay, người ta xây dựng những xí nghiệp mới ít tốn hơn ở những nơi xa xôi, vì phải chuyên chở trước đến đó không những vật liệu xây dựng và máy móc, mà còn cả những công nhân xây dựng và công nhân công xưởng nữa; ở đây có thị trường, sở giao dịch chứng khoán, là những nơi tấp nập khách hàng; ở đây có thể liên hệ trực tiếp với những thị trường cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ thành phẩm. Do đấy mà các thành phố công xưởng lớn phát triển nhanh chóng phi thường. Thực ra thì nông thôn cũng có điều thuận lợi hơn thành phố là tiền thuê nhân công thường rẻ hơn. Do đó, nông thôn và thành phố công xưởng luôn luôn cạnh tranh với nhau, và nếu ngày nay ưu thế ở phía thành thị, thì ngày mai tiền công ở nông thôn sẽ hạ đến mức xây dựng những công xưởng mới ở đấy lại có lợi hơn. Tuy nhiên, xu hướng ngày càng tập trung của công nghiệp vẫn rất mạnh mẽ và mỗi một công xưởng mới xây dựng ở nông thôn đều mang mầm mống của một thành phố công xưởng. Nếu cuộc chạy đua điên cuồng của công nghiệp còn có thể tiếp tục như thế trong chừng một thế kỉ nữa, thì mỗi một khu công nghiệp của Anh sẽ trở thành một thành phố công xưởng lớn, Manchester và Liverpool có lẽ sẽ gặp nhau ở quãng gần Warrington hoặc Newton. Trong thương nghiệp, sự tập trung nhân khẩu cũng diễn ra y như vậy, và vì thế một vài thương cảng lớn như Liverpool, Bristol, Hull và London hầu như đã lũng đoạn toàn bộ nền hàng hải của Đại Britain.

Vì chính ở các thành phố lớn công nghiệp và thương nghiệp mới phát triển mạnh nhất, cho nên cũng ở đấy những hậu quả của sự phát triển đó đối với giai cấp vô sản mới biểu hiện rõ ràng và cụ thể hơn cả. Chính ở đấy, sự tập trung tài sản đã đạt đến mức độ cao nhất; chính ở đây, các phong tục và quan hệ của thời xưa tốt đẹp đã bị xoá bỏ sạch ráo; ở đây, tình hình đã diễn biến đến mức là những từ Old merry England2 không còn có ý nghĩa gì đối với ai nữa, vì không còn ai biết đến "Old England", dù chỉ là qua những ký ức và qua những câu chuyện của các cụ già. Ở đây, chỉ có giai cấp những kẻ giàu và giai cấp những người nghèo, vì giai cấp tiểu tư sản càng ngày càng mất dần đi. Giai cấp tiểu tư sản trước kia là giai cấp vững chắc nhất thì nay lại là giai cấp không ổn định nhất; nó còn gồm có một ít tàn dư của thời quá khứ và một số những kẻ khao khát làm giàu, những hiệp sĩ chuyên kiếm chác và đầu cơ, theo nghĩa đầy đủ của từ này, trong số đó có thể một kẻ trở nên giàu có, trong khi chín mươi chín kẻ vỡ nợ; và trong số chín mươi chín kẻ này thì quá nửa chỉ sống nhờ vào việc vỡ nợ thôi.

Nhưng tuyệt đại đa số cư dân các thành phố ấy là những người vô sản; đời sống của họ ra sao, các thành phố lớn đã ảnh hưởng đến họ thế nào, đó là điều chúng ta sẽ nghiên cứu sau đây.


-------------------------
Chú thích
1* Xem "Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị" của tôi đăng trong "Deutsch - Französische Jahrbücher". Tác phẩm ấy có bàn về "tự do cạnh tranh", nhưng công nghiệp chẳng qua là thực tiễn của tự do cạnh tranh, còn tự do cạnh tranh chẳng qua là nguyên tắc của công nghiệp.

2 "Nước Anh cổ kính tốt đẹp" (Chú thích của người dịch).
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:04:23 |Xem tất
NHỮNG THÀNH PHỐ LỚN

Một thành phố như London, có thể đi hàng giờ mà vẫn chưa hết địa phận của nó, và không hề gặp một chút dấu hiệu nào chứng tỏ đã gần tới nông thôn, một thành phố như vậy quả là một điều rất đặc biệt. Sự tập trung khổng lồ đó, sự tụ tập cả hai triệu rưởi người vào một chỗ đã làm cho lực lượng của khối hai triệu rưởi người ấy mạnh thêm gấp trăm lần. Họ đã làm cho London trở thành thủ đô của thương nghiệp của thế giới, đã tạo nên những bến dỡ hàng khổng lồ và đã tập trung hàng mấy nghìn chiếc tàu luôn luôn trùm kín dòng sông Thames. Tôi không thấy cái gì hùng vĩ bằng quang cảnh sông Thames, khi đi tàu từ biển ngược lên phía cầu London. Các khối nhà cửa, các xưởng đóng tàu ở hai bên, nhất là ở phía Woolwich, vô số tàu thuỷ đậu dọc hai bờ, ngày càng chen nhau san sát, chỉ chừa một lối hẹp ở giữa dòng cho hàng trăm chiếc tàu thường xuyên hối hả ngược xuôi; tất cả những cái ấy thật hùng tráng, thật lớn lao khiến người ta mê mẩn và rất đỗi kinh ngạc về cái vĩ đại của nước Anh ngay trước khi bước chân lên đất Anh1*.

Nhưng tất cả những cái đó đã phải trả giá bằng những hy sinh như thế nào thì mãi sau này người ta mới phát hiện ra. Chỉ khi đã len lỏi vài ngày trên các đường phố chính, khó nhọc lắm mới rẽ được một lối giữa đám người chen chúc hay giữa những dãy xe cộ dài dằng dặc, chỉ khi đã đi thăm các "khu nhà ổ chuột" của thành phố thế giới ấy thì người ta mới bắt đầu nhận ra rằng người London đã phải hi sinh những phẩm chất tốt đẹp nhất của bản tính con người của họ để sáng tạo ra tất cả những kỳ công của văn minh đầy rẫy trong thành phố họ; rằng hàng trăm lực lượng tiềm tàng trong mỗi người đã bị lãng quên và đã bị vùi dập, để cho một số nhỏ trong các lực lượng ấy phát triển đầy đủ, và còn được tăng lên gấp bội bằng cách liên kết với các lực lượng của những người khác. Ngay chính cái đám đông chen chúc của các đường phố đã có một cái gì ghê tởm, một cái gì trái với bản chất của con người. Phải chăng hàng chục vạn con người đại diện cho mọi giai cấp và mọi đẳng cấp đang tụ tập trên các đường phố đó, phải chăng tất cả bọn họ không phải đều là những con người cùng một bản chất, cùng có những năng khiếu như nhau và cũng đều khao khát hạnh phúc như nhau ư? Chẳng phải là họ đều tìm kiếm hạnh phúc bằng những phương pháp và những con đường giống nhau ư? Ấy vậy mà họ đi ngang qua nhau vội vã như là không có chút gì chung với nhau, không hề có liên quan gì với nhau; và chỉ có mỗi một điều quy ước ngầm là mỗi người phải đi ở phía bên phải vỉa hè để cho dòng người đi ngược chiều khỏi bị trở ngại, và đồng thời cũng không một người nào thèm đoái nhìn đến người khác. Sự lãnh đạm tàn nhẫn ấy, sự cô độc lạnh lùng ấy của mỗi người chỉ theo đuổi lợi ích riêng của bản thân mình lại càng khiến người ta khinh tởm và sỉ nhục, khi cái đám đông người ấy càng chen chúc nhau trên một không gian nhỏ bé. Và tuy chúng ta đã biết rằng sự cô độc ấy của mỗi người, sự ích kỷ hẹp hòi ấy cũng là nguyên tắc cơ bản và phổ biến của xã hội chúng ta ngày nay, nhưng không đâu lại thấy nó bộc lộ một cách trắng trợn, vô liêm sỉ, một cách có ý thức bằng chính ở đây, ở đám người hỗn độn của một thành phố lớn. Sự chia nhỏ nhân loại thành những phần tử, mà mỗi phần tử đều có nguyên tắc sinh hoạt riêng và mục đích riêng, cái thế giới của các nguyên tử ấy ở đây phát triển đến cực điểm.

Cũng do đó mà cuộc chiến tranh xã hội, cuộc chiến tranh của mọi người chống mọi người, đã được công khai tuyên bố ở đây. Như Stirner đã nói, mọi người đều chỉ coi nhau như những đối tượng có thể lợi dụng được; mỗi người đều bóc lột người bên cạnh, và kết quả là kẻ mạnh hơn chà đạp kẻ yếu hơn và một nhúm kẻ mạnh, tức là những nhà tư bản, chiếm lấy tất cả về phần mình, còn số đông kẻ yếu, tức là những người nghèo, thì chỉ còn có cuộc sống miễn cưỡng mà thôi.

Ở London là như vậy thì ở Manchester, ở Birmingham và ở Leeds, ở tất cả các thành phố lớn, cũng đều như vậy. Đâu đâu cũng một bên là sự lãnh đạm dã man, sự ích kỷ tàn nhẫn, một bên là sự nghèo khổ khó hình dung nổi, đâu đâu cũng là chiến tranh xã hội, cũng là mỗi nhà đều ở trong tình trạng bị bao vây, đâu đâu cũng là cướp bóc lẫn nhau dưới sự che chở của pháp luật, và tất cả những cái ấy đều làm một cách trắng trợn, thản nhiên, đến nỗi người ta ghê sợ về những hậu quả của chế độ xã hội chúng ta được phơi trần ở đây không chút giấu giếm như thế, và người ta không có gì phải ngạc nhiên, có lẽ chỉ trừ một điều là cả cái cảnh điên cuồng ấy làm sao mà đến nay vẫn còn tồn tại.

Trong cuộc chiến tranh xã hội ấy, vũ khí là tư bản, tức là sự chiếm hữu trực tiếp hoặc gián tiếp những tư liệu sinh hoạt và tư liệu sản xuất, nên rõ ràng là tất cả những điều bất lợi của tình trạng ấy đều rơi lên đầu người nghèo. Không một ai quan tâm đến anh ta; một khi bị xô đẩy vào dòng nước xoáy dồn dập ấy, anh ta phải biết cách tìm lấy đường mà thoát. Nếu anh ta may mắn có được việc làm, nghĩa là nếu giai cấp tư sản ban cho anh ta cái đặc ân là dùng anh ta để làm giàu, thì anh ta sẽ có được đồng lương chỉ vừa suýt soát đủ để giữ cho thần hồn khỏi lìa thần xác; nếu không kiếm được việc làm, thì anh ta có thể đi ăn cắp, nếu không sợ cảnh sát, hoặc chết đói, còn cảnh sát chỉ muốn làm phiền đến giai cấp tư sản. Trong thời gian tôi ở Anh, ít ra có đến hai ba chục người chết đói - hiểu theo nghĩa trực tiếp của từ này - trong những điều kiện hết sức đáng phẫn nộ, vậy mà hiếm có một viên bồi thẩm nào đủ can đảm công khai thừa nhận điều đó lúc khám nghiệm tử thi. Dù cho chứng cớ đã rành rành, không thể nào chối cãi được, nhưng bọn tư sản, - những viên bồi thẩm đều được chọn trong bọn này - bao giờ cũng tìm được một cái cổng sau để tránh khỏi sự phán quyết ghê sợ : "chết đói". Trong những trường hợp ấy, giai cấp tư sản không dám nói sự thật, bởi vì làm như vậy sẽ là tự kết tội mình. Nhưng số người đang chết dần còn nhiều hơn rất nhiều, không phải chết đói - hiểu theo nghĩa trực tiếp - mà là do hậu quả của đói: sự đói ăn kéo dài đã gây ra những bệnh nan y và làm cho số người chết tăng lên, nó làm cho cơ thể suy yếu đến nỗi trong những hoàn cảnh khác đáng lẽ có thể vượt qua được dễ dàng, thì lại dẫn đến những bệnh nặng và cái chết. Người lao động Anh gọi cái đó là tội giết người của xã hội, và tố cáo toàn thể xã hội là đã luôn luôn nhúng tay vào tội ác ấy. Họ có nói sai không?

Đương nhiên bao giờ cũng chỉ có những cá nhân lẻ tẻ chết đói. Nhưng cái gì đảm bảo cho người lao động là ngày mai sẽ không đến lượt anh ta? Ai đảm bảo cho anh ta có việc làm? Ai đảm bảo với anh ta rằng nếu ngày mai, vì lý do nào đó hoặc cũng chẳng cần có lý do nào cả, người chủ sẽ đuổi anh ta, thì anh ta cùng với gia đình có thể còn sống cho đến khi được một người chủ khác đồng ý "cấp cho anh ta mẩu bánh mì"? Ai làm cho người lao động tin rằng chỉ cần có ý nguyện làm việc là đủ để kiếm được việc làm, rằng sự trung thực, cần cù, yêu lao động, tiết kiệm, và mọi thứ đức tính tốt đẹp mà giai cấp tư sản thông minh khuyên nhủ anh ta; sẽ thật sự mang lại hạnh phúc cho anh ta? Không có ai cả. Người lao động biết rằng hôm nay anh ta còn có một chút gì, và cũng biết rằng ngày mai còn có gì nữa hay không là không tuỳ thuộc vào anh ta; anh ta biết rằng chỉ một chút chuyện nhỏ mọn, một chút dở chứng của người chủ, một chút bất lợi trong việc buôn bán, là anh ta lại có thể bị đẩy vào xoáy nước khủng khiếp ấy, mà anh ta chỉ vừa mới thoát ra được; ở đó muốn ngoi lên mặt nước là rất khó khăn, thường là không thể. Anh ta biết rằng, tuy ngày hôm nay anh ta còn sống được, nhưng ngày mai thì chưa chắc gì đã sống nổi.

Tuy nhiên, chúng ta hãy nghiên cứu kỹ hơn xem cuộc chiến tranh xã hội đã đặt giai cấp không có của vào tình cảnh như thế nào. Hãy xem rốt cuộc xã hội đã trả công cho người lao động bằng nhà ở, quần áo và ăn uống như thế nào để đền bù công việc họ đã làm; hãy xem xã hội đã đảm bảo cho những người đóng góp nhiều nhất vào sự sinh tồn của nó một cuộc sống như thế nào? Trước hết hãy xét về nhà ở.

Mỗi thành phố lớn đều có một hoặc nhiều khu nhà ổ chuột là nơi giai cấp lao động sống chen chúc. Thực ra thì nhiều khi người nghèo ở ngay trong những ngõ chật chội sát nách các lâu đài của kẻ giàu sang; nhưng thông thường thì người ta dành cho họ một khu riêng biệt ở cái nơi khuất mắt những giai cấp được may mắn hơn, và họ phải tự mình lo liệu lấy được chừng nào hay chừng ấy. Những khu nhà ổ chuột trong tất cả mọi thành phố ở Anh nói chung đều giống hệt nhau; đấy là những căn nhà tồi tàn nhất trong khu tồi tàn nhất của thành phố, thường là những dãy nhà gạch một hai tầng, hầu hết được xếp đặt lộn xộn, phần lớn đều có nhà hầm để ở. Những căn nhà nhỏ ấy chỉ có ba bốn phòng và một bếp, thường được gọi là cottage và được xây dựng ở khắp đất Anh, trừ vài khu phố ở London, là chỗ ở thông thường của người lao động. Đường phố ở đây cũng thường không được lát, bẩn thỉu, có nhiều ổ gà, đầy rác rưởi và xác sinh vật, không có cống rãnh thoát nước, nhưng ngược lại, thường xuyên có nhiều vũng nước hôi thối. Do xây dựng luộm thuộm nên không khí khó lưu thông, và vì rất nhiều người sống trong một không gian nhỏ hẹp, nên có thể dễ dàng tưởng tượng bầu không khí của các khu lao động ấy như thế nào. Ngoài ra, khi đẹp trời thì đường phố còn là chỗ phơi phóng: từ nhà nọ sang nhà kia, người ta chăng dây ngang qua đường, treo lủng lẳng những quần áo ướt sũng rách nát.

Chúng ta hãy quan sát một vài khu nhà ổ chuột ấy. Hãy bắt đầu từ London2* và cái "tổ quạ" (rookery) trứ danh St. Giles của nó. Rút cục, hiện nay có mấy con đường lớn xuyên qua khu này và như vậy là nó sắp bị phá bỏ. St. Giles nằm ngay giữa khu vực đông dân nhất của thành phố, xung quanh toàn là phố xá rực rỡ, rộng lớn, nơi mà giới thượng lưu của London qua lại dạo chơi, gần ngay phố Oxford và phố Regent, công viên Trafalgar và Strand. Đó là một đống lộn xộn gồm những ngôi nhà cao ba bốn tầng; phố xá chật hẹp, quanh co, bẩn thỉu, không kém phần nhộn nhịp so với các phố chính của thành phố; chỉ khác mỗi một điều là ở St. Giles hầu như chỉ thấy người lao động. Chợ họp ở giữa phố, các rổ rau và hoa quả - tất nhiên đều thuộc loại tồi và hầu như không thể ăn được - làm cho lối đi lại càng hẹp thêm; ở đó, cũng như ở các hàng thịt, xông lên một mùi khó ngửi. Các ngôi nhà thì từ dưới hầm đến sát nóc đều có người ở, bên ngoài cũng như bên trong đều rất bẩn, tưởng chừng không một con người nào muốn ở đó. Nhưng như thế cũng còn chưa thấm vào đâu so với các nhà ở trong những sân chật hẹp và ở những ngõ hẻm giữa các đường phố, người ta phải đi qua những đường cầu lợp kín ở giữa các nhà mới vào được, ở đây tồi tàn bẩn thỉu quá sức tưởng tượng. Hầu như không thấy cửa sổ nào có kính còn nguyên vẹn, tường lở từng mảng; khung cửa lớn và khung cửa sổ đều hỏng cả, không giữ nổi cửa; cánh cửa ra vào dùng ván cũ ghép thành hoặc là đã mất hẳn, mà ở trong khu phố rất nhiều kẻ cắp này, người ta cũng chả cần có cửa, vì chẳng có gì để cho kẻ cắp lấy cả. Xung quanh, chỗ nào cũng có những đống rác rưởi, tro bụi và nước bẩn đổ hắt ra cửa đọng lại thành những vũng hôi thối. Đấy là nơi ăn chốn ở của những người nghèo nhất trong những người nghèo, những người lao động ít lương nhất, họ sống lẫn lộn với kẻ cắp, với bọn bịp bợm, với những nạn nhân của tệ bán dâm. Trong đó phần đông là người Ireland hoặc là con cháu của người Ireland, và ngay cả những ai còn chưa bị cuốn vào xoáy nước trụy lạc tinh thần bao trùm quanh mình, thì ngày càng sa ngã hơn và ngày càng mất dần sức chống lại ảnh hưởng đồi trụy của nghèo đói, bẩn thỉu và môi trường ghê tởm.

Nhưng St. Giles không phải là khu nhà ổ chuột duy nhất ở London. Trong đám phố xá như mắc cửi ấy, có hàng trăm hàng nghìn ngõ ngách và đường hẻm, nhà cửa ở đó còn quá tồi đối với những ai còn có thể bỏ ra ít tiền để thuê một chỗ đáng cho con người ở hơn; những nơi trú ngụ của người nghèo khó cùng cực ấy thường thấy ở ngay gần những ngôi nhà lộng lẫy của kẻ giàu. Chẳng hạn như gần đây nhân dịp điều tra về một cái chết, một khu phố ngay gần công viên Portman, nơi ở của những người rất đứng đắn, đã được miêu tả là nơi trú ngụ của "một đám người Ireland bị nghèo khổ và bẩn thỉu làm cho trụy lạc". Trong những phố như Long Acre, v.v., tuy không hoa lệ nhưng cũng tươm tất, người ta thấy rất nhiều nhà hầm, từ đấy thường thấy những hình bóng trẻ con ốm yếu và những người đàn bà gần như chết đói, quần áo rách rưới bò ra ngoài sưởi nắng. Sát ngay cạnh rạp hát Drury Lane, rạp hát đứng hàng thứ hai của London, là mấy khu phố thuộc loại tồi tệ nhất của thành phố: phố Charles, phố King, và phố Park. Các ngôi nhà ở đó từ dưới hầm lên đến tận mái cũng đều do các gia đình nghèo ở. Trong các khu St. John và St. Margaret ở Westminster, theo tài liệu trong tập san của Hội thống kê, năm 1840 có 5366 gia đình lao động trú trong 5294 căn nhà, nếu có thể gọi là "căn nhà" được; đàn ông, đàn bà, trẻ con, cộng tất cả là 26.830 người, nhốt vào đó, không phân biệt già trẻ nam nữ; ba phần tư những gia đình ấy chỉ có một phòng. Cũng theo nguồn tài liệu ấy, trong giáo khu quý tộc St. George ở công viên Hanover, 1465 gia đình lao động gồm gần 6000 người, cũng ở trong những điều kiện tương tự; và ở đây cũng vậy, trên hai phần ba trong số gia đình ấy sống chen chúc mỗi gia đình trong một phòng độc nhất. Vậy mà những kẻ nghèo bất hạnh ấy, nhà cửa xơ xác đến nỗi kẻ cắp không còn tìm thấy cái gì để lấy, còn bị các giai cấp có của bóc lột dưới sự che chở của luật pháp! Trong khu Drury Lane vừa nói trên, những ngôi nhà đáng ghê tởm ấy có tiền thuê như sau: hai phòng ở tầng hầm giá 3 shilling một tuần, một phòng ở tầng thứ nhất giá 4 shilling; ở tầng hai giá 4 shilling rưỡi, ở tầng ba giá 4 shilling; buồng sát mái nhà giá 3 shilling. Như vậy chỉ riêng những con người đói khát ở phố Charles đã trả cho các chủ nhà một số tiền hàng năm là 2000 Bảng và 5366 gia đình nói trên ở Westminster hàng năm trả một số tiền bằng 40.000 Bảng để thuê nhà.

Nhưng khu lao động lớn nhất là ở Whitechapel và Bethnal Green, phía đông Tháp London, nơi tập trung phần lớn người lao động thủ đô. Ta hãy nghe ông G. Alston, mục sư của nhà thờ St. Philip, ở Bethnal Green, nói về tình hình trong giáo khu của ông:
"Giáo khu gồm có 1400 ngôi nhà với 2795 gia đình, khoảng 12.000 người. Số dân đông đúc ấy sống trong một khoảng không gian tổng cộng không đầy 400 yard (1200 foot) vuông, và tình hình chen chúc đến mức nhiều khi một người với vợ, bốn năm đứa con và có khi cả cha và mẹ già, làm việc, ăn và ngủ trong một căn phòng độc nhất từ 10 đến 12 foot vuông. Tôi nghĩ rằng chừng nào đức giám mục London còn chưa kêu gọi công chúng chú ý đến cái giáo khu vô cùng nghèo khổ ấy; thì ở phía tây thành phố, người ta cũng không hiểu biết gì về chúng hơn là về những người dã man ở Australia và ở miền Nam châu Đại dương. Và nếu chúng ta tìm hiểu tận mắt những nỗi thống khổ của những con người không may đó, nếu chúng ta vào nhà họ, xem bữa ăn nghèo nàn của họ, xem họ bị bệnh tật và nạn thất nghiệp giày vò thế nào, và hàng ngày đều làm vậy, ở một khu như Bethnal Green; thì chúng ta sẽ thấy hiện ra chiếc vực thẳm bất lực và nghèo nàn, mà một nước như chúng ta phải lấy làm xấu hổ về sự tồn tại của nó. Tôi đã từng làm mục sư ở Huddersfield trong khoảng ba năm, khi mà các công xưởng làm việc chật vật nhất; nhưng chưa bao giờ tôi thấy tình hình nghèo khổ chẳng ai đoái hoài đến như ở Bethnal Green. Trong toàn khu, cứ mười người chủ gia đình, chẳng có lấy một người có được một bộ quần áo thứ hai ngoài bộ quần áo lao động rách tả tơi; thậm chí nhiều người ban đêm chỉ có bộ quần áo rách đó để làm chăn và một cái bao nhồi rơm và vỏ bao để làm giường".

Chỉ qua đoạn mô tả ấy đã có thể hình dung được tình trạng thông thường của những nhà ở ấy là thế nào. Để hiểu đầy đủ hơn, chúng ta hãy theo gót một số quan chức Anh thỉnh thoảng phải đi thăm những căn nhà như vậy của những người vô sản.

Nhân dịp ông Carter, nhân viên dự thẩm ở Surrey, ngày 14 tháng Mười một 1843, đến khám tử thi bà Ann Galway, 45 tuổi, báo chí đã mô tả chỗ ở của người chết ấy như sau: bà ta ở số 3 White Lion Court, phố Bermondsey ở London, cùng với chồng và đứa con trai 19 tuổi, trong một gian phòng nhỏ, không có giường, không có chăn đệm, không có đồ đạc gì cả. Thi thể bà ta, nằm bên đứa con trai, trên một đống lông gà, vịt vung vãi lung tung cả trên thân thể của bà gần như trần truồng, vì không có chăn cũng không có khăn trải giường gì cả. Lông gà, vịt bám chặt vào toàn thi thể đến nỗi phải lau rửa rồi bác sĩ mới khám nghiệm được: ông ta thấy thi thể gầy trơ xương và đầy nốt chấy rận đốt. Đất nền nhà có chỗ đào lên và lỗ đó để làm cầu tiêu cho cả gia đình.

Ngày thứ hai, 15 tháng Giêng 1844, hai em bé bị đưa ra toà án vi cảnh thành phố Worship, London, về tội vì bị cái đói giày vò nên đã ăn cắp ở một cửa hàng một cái chân bê mới chín dở, và các em đã ăn ngấu nghiến hết ngay tại chỗ. Quan toà thấy phải điều tra thêm và được cảnh sát cho biết những tài liệu như sau: mẹ các em là vợ goá của một cựu chiến binh, sau trở thành cảnh sát, và sau khi chồng chết, bà ta rất khó khăn với chín đứa con. Bà ta sống cực kỳ nghèo khổ ở số 2, quảng trường Pool, phố Quaker, tại Spitalfields. Khi cảnh sát đến nhà, thì thấy bà ta với sáu đứa trong số các con của mình chen chúc trong một căn buồng xép nhỏ, không có đồ đạc gì ngoài hai ghế mây thủng, một cái bàn con gãy hai chân, một cái bát sứt và một cái đĩa con. Trong lò sưởi không một đốm lửa và ở một góc nhà, một đống giẻ rách cơ hồ chỉ xếp đủ trong một vạt áo đàn bà, nhưng đó lại là giường đệm cho cả gia đình. Họ đắp bằng số quần áo rất ít ỏi của họ. Người đàn bà đáng thương ấy kể lại với quan toà rằng năm ngoái bà ta đã phải bán giường để có cái ăn; bà đã đem gán chăn đệm cho cửa hàng thực phẩm để lấy một ít đồ ăn và tóm lại là bà đã phải bán ráo cả để chỉ kiếm bánh ăn cho gia đình. Quan toà đã cấp cho bà một số tiền khá lớn lấy trong quỹ cứu tế.

Tháng Hai 1844, người ta yêu cầu quan toà toà án vi cảnh phố Marlborough giúp đỡ bà Theresa Bishop, một người đàn bà goá 60 tuổi, và con gái bà ta 26 tuổi đang ốm. Họ ở số 5 phố Brown, công viên Grosvenor, trong một căn buồng xếp nhỏ chỉ bằng một cái tủ, không có tí đồ đạc nào. Ở một góc có một ít giẻ rách, hai mẹ con nằm ngủ trên đó, một cái hòm vừa làm bàn vừa làm ghế. Người mẹ đi dọn dẹp thuê kiếm được tí chút. Theo lời chủ nhà, hai mẹ con sống như vậy từ tháng Năm 1843, dần dần bán hoặc gán mọi thứ còn lại, vậy mà cũng không bao giờ trả được tiền nhà. Quan toà trích quỹ cứu tế cấp cho gia đình bà ta một Bảng.

Tôi không hề có ý nói rằng tất cả những người lao động ở London đều sống cùng cực như ba gia đình vừa nói trên. Tôi biết rõ rằng nơi nào mà một người hoàn toàn bị xã hội chà đạp thì có mười người sống khá hơn chút ít. Nhưng tôi khẳng định rằng hàng nghìn gia đình lương thiện và cần cù, lương thiện và đáng kính hơn tất cả những người giàu có ở London gộp lại, đang ở trong cái tình trạng không xứng đáng với con người như vậy; và mỗi người vô sản, không trừ một ai, đều có thể gặp số phận như vậy, mà không phải là lỗi tại họ và mặc dù họ đã hết sức cố gắng để tránh.

Nhưng dù sao, những người có một chỗ trú chân, vô luận là thế nào chăng nữa, cũng còn sung sướng hơn những kẻ hoàn toàn không có nhà cửa gì cả. Ở London, hàng ngày có năm vạn người buổi sáng thức dậy mà không biết đêm nay mình sẽ ngủ nơi đâu. Trong số đó, may mắn nhất là những người ngày hôm đó kiếm được vài xu, họ đến một trong những cái gọi là nhà trọ (lodging-house), có rất nhiều trong tất cả các thành phố lớn, và có thể trả tiền để được một chỗ trú chân. Nhưng chỗ trú chân như thế nào! Ngôi nhà, từ trên xuống dưới, toàn là giường; trong một phòng có bốn, năm, sáu giường, nhét được bao nhiêu thì nhét. Trên mỗi giường cũng nhét được bao nhiêu thì nhét: bốn, năm, sáu người; lẫn lộn cả người ốm với người khoẻ, người già với người trẻ, đàn ông với đàn bà, người say với người tỉnh. Thế rồi xảy ra các vụ cãi cọ, đấm đá, đánh nhau bị thương, nhưng khi những người nằm chung giường đó ăn ý nhau thì lại càng tệ hơn: họ bàn chuyện cùng nhau đi trộm cướp, hoặc làm những việc mà không thể dùng ngôn ngữ loài người của chúng ta để hình dung được tính chất thú vật của những việc đó. Còn những người ngay một chỗ trú chân như thế cũng không có tiền để thuê được thì sao? Thì chỗ nào ngủ được là họ nằm: trong những lối đi, dưới gầm cầu, hoặc ở xó xỉnh nào mà cảnh sát hoặc chủ nhà không xua đuổi. Một số may mắn tìm được chỗ trong những trú xá do sự nghiệp từ thiện tư nhân lập nên ở đôi nơi, một số khác thì ngủ trên ghế dài ở vườn hoa, ngay dưới cửa sổ của nữ hoàng Victoria. Hãy xem tờ "Times" tháng Mười 1843 đã viết:
"Theo báo cáo của cảnh sát đăng trên báo chúng tôi ngày hôm qua, thì trung bình mỗi đêm có năm chục người ngủ ở các công viên, chỉ nhờ vào cây cối và vài hang hốc dọc các bờ tường để che mưa gió. Phần lớn là các thanh nữ bị lính quyến rũ đưa về thủ đô và bị bỏ rơi giữa một thành phố xa lạ, phó mặc cho số phận, cho đói khổ, sống trong cảnh hoàn toàn vô tư lự và mặc sức buông theo cái tội lỗi ban đầu.

"Thật là kinh khủng. Bao giờ cũng có người nghèo khổ. Ở bất cứ nơi nào, sự bần cùng bao giờ cũng tìm được một lối đi và xâm nhập bằng mọi hình thức xấu xa của nó, vào ngay trong lòng một thành phố to lớn và giàu sang. Trong cả nghìn phố nhỏ và ngõ hẻm của một thủ đô đông đến hàng triệu người, chúng tôi e rằng sẽ luôn luôn có rất nhiều đau khổ, rất nhiều điều chướng mắt, và rất nhiều điều sẽ chẳng được phơi bày ra ánh sáng bao giờ.

"Nhưng mà, ở một khu vực tập trung giàu sang, khoái lạc và xa hoa, ở gần hoàng cung St. James, ngay cạnh điện Bayswater rực rỡ, ở khu vực mà các khu quý tộc mới và khu quý tộc cũ tiếp giáp nhau, mà nghệ thuật kiến trúc thành thị tối tân rất tinh tế và mỹ lệ đã không giữ lại một gian lều nào của nông dân nghèo, ở nơi hình như chỉ dành cho sự hưởng lạc của người giàu; thế mà ở đây sự nghèo đói, bệnh tật và đủ thứ thói xấu lại tồn tại, với tất cả sự kinh khủng của chúng, với mọi cái phá hoại cả thể xác lẫn linh hồn!

"Thật là quái gở! Những thú vui cao thượng nhất có thể mang lại sức khoẻ cho cơ thể, hoạt động tinh thần, những sự thích thú hồn nhiên ở liền ngay bên cạnh những nỗi nghèo khổ cùng cực nhất! Sự giàu sang, những phòng khách rực rỡ, tiếng cười vui thú, tiếng cười vô tư lự nhưng tàn nhẫn ở ngay bên cạnh những nỗi đau thương nghèo khổ mà kẻ giàu không hề biết đến. Một niềm vui thú chế giễu một cách vô tình nhưng tàn khốc nỗi đau khổ của những người đang rên xiết ở bên dưới! Ở đây mọi mâu thuẫn đều xung đột nhau, đấu tranh nhau, chỉ trừ cái thói xấu đưa người ta đến sự cám dỗ và cái thói xấu chịu ảnh hưởng của sự cám dỗ... Nhưng xin mọi người hãy nhớ điều này: trong những khu phố rực rỡ nhất của thành phố giàu có nhất thế giới này, mỗi đêm mùa đông, năm này qua năm khác, có thể thấy những phụ nữ tuổi thì ít, mà đã già cỗi vì thói xấu và đau khổ, bị xã hội ruồng bỏ, vùi dập cuộc đời trong cảnh đói khát, bẩn thỉu và bệnh tật. Mọi người hãy nhớ đến điều ấy, và nên học hành động chứ không phải là nghị luận. Có Thượng đế chứng giám: vũ đài cho hoạt động như thế hiện nay rất rộng!".

Ở trên tôi vừa nói đến những trú xá cho những kẻ không nhà. Hai thí dụ sau đây sẽ cho thấy những nơi ấy chật chội đến thế nào. Một "trú xá cho những kẻ không nhà" mới được dựng lên ở phố Upper Ogle, mỗi đêm có thể chứa được 300 người, từ khi mở cửa, ngày 27 tháng Giêng đến ngày 17 tháng Ba 1844, đã tiếp nhận 2740 người trọ một đêm hoặc vài đêm; và dù thời tiết độ này đã khá hơn, nhưng số người trọ ở đó cũng như ở các trú xá ở phố Whitecross và ở Wapping vẫn tăng rất mạnh, và mỗi đêm nhiều kẻ không nhà bị từ chối vì không đủ chỗ. Ở một nơi khác là trú xá trung ương, ở Playhouse Yard, trong ba tháng đầu năm 1844, trung bình mỗi đêm có tới 460 người xin trọ; ở đây đã chứa 6681 người và đã phát 96141 suất bánh mì. Vậy mà ban phụ trách nói rằng chỗ này chỉ tạm thoả mãn phần nào yêu cầu của những người đến trọ, khi mà trú xá khu đông thành phố cũng mở cửa để thu nạp những kẻ không nhà.

Ta hãy rời London để lần lượt đến thăm những thành phố lớn khác trong toàn Vương quốc liên hợp. Trước hết hãy xem Dublin, là một thành phố mà lối vào bằng đường biển thì mỹ lệ, cũng như lối vào London thì hùng vĩ; vịnh Dublin đẹp nhất trong tất cả các đảo của Britain, người Ireland thường ví nó với vịnh Naples. Chính thành phố cũng rất đẹp, các khu phố quý tộc xây dựng đẹp và hợp thẩm mỹ hơn mọi thành phố khác của Anh. Nhưng ngược lại, các khu phố nghèo ở Dublin cũng là nơi ghê tởm và đáng sợ nhất trên đời. Thật ra thì điều này cũng có một phần do tính cách của dân Ireland, nhiều khi họ cảm thấy ở bẩn mới thoải mái. Nhưng vì ở tất cả các thành phố lớn ở Anh và Scotland, ta đều thấy có hàng nghìn người Ireland, và vì mọi cư dân nghèo tất yếu đều dần sa vào tình trạng bẩn thỉu như thế, nên cảnh bần cùng ở Dublin không có cái gì là đặc thù riêng có của một thành phố Ireland, mà trái lại, đó là cái chung cho tất cả các thành phố lớn trên thế giới. Những khu phố nghèo của Dublin ở phân tán khắp thành phố và tình trạng bẩn thỉu, nhà cửa tồi tàn, phố xá không ai đoái hoài đến thì không sao tả nổi. Ta có thể hình dung cảnh tượng chen chúc của dân nghèo ở các khu phố này qua báo cáo của các thanh tra phòng lao động3* nói rằng năm 1817 ở phố Barrack, 52 ngôi nhà gồm 390 phòng, chứa 1318 người; ở phố Church và các đường phố phụ cận, 71 ngôi nhà gồm 393 phòng chứa 1997 người.
"Trong khu ấy và khu lân cận có rất nhiều ngõ hẻm và sân sau hôi thối (foul), các gian nhà hầm chỉ có ánh sáng nhờ cửa ra vào, người ta thường ngủ dưới đất, mặc dù đa số cũng có giường ván. Nhưng còn ở Nicholson's Court chẳng hạn, trong 28 căn phòng nhỏ tồi tàn có tới 151 người sống cùng cực đến nỗi trong cả toà nhà chỉ có hai cái giường và hai cái chăn".

Sự nghèo khổ ở Dublin nghiêm trọng đến nỗi riêng một cơ quan từ thiện thuộc "Hội cứu trợ những người đi ăn xin" mỗi ngày tiếp nhận đến 2500 người, tức là 1% số dân của thành phố, ngày cho ăn rồi tối thả ra.

Theo lời kể của bác sĩ Alison, thì Edinburgh cũng như vậy. Đó là một thành phố mà vị trí tốt đẹp khiến nó được mệnh danh là Athens hiện đại, nhưng nơi đây khu phố quý tộc rất hào hoa, ở khu thành phố mới, là một cảnh tượng trái ngược đáng công phẫn trước cảnh bần cùng, bẩn thỉu của khu thành phố cũ. Alison khẳng định rằng khu vực khá lớn ấy cũng nhơ nhớp ghê tởm không kém những khu phố tồi tàn nhất ở Dublin, và số người mà "Hội cứu trợ những người đi ăn xin" cần cứu giúp ở Edinburgh cũng nhiều không kém ở thủ đô xứ Ireland. Ông còn quả quyết rằng dân nghèo ở Scotland, nhất là ở Edinburgh và Glasgow, khổ cực hơn ở tất cả các miền khác trong toàn Vương quốc liên hợp và những người nghèo khổ nhất không phải là người Ireland mà là người Scotland. Bác sĩ Lee, mục sư cựu giáo hội ở Edinburgh, năm 1836, đã nêu ra trước tiểu ban giáo dục tôn giáo như sau:
"Trước đây tôi chưa hề thấy nơi nào có cảnh nghèo khổ như ở giáo khu này. Người ta không có đồ đạc, không có thứ của cải gì khác; nhiều khi hai cặp vợ chồng ở chung một gian phòng. Một hôm tôi đi thăm bảy nhà trong đó đều không có giường và một vài nhà không có cả ổ rơm nữa; có những ông bà già 80 tuổi ngủ ngay trên nền nhà; hầu hết mọi người mặc nguyên cả áo quần mà ngủ. Trong một gian nhà hầm, tôi thấy hai gia đình người Scotland mới từ nông thôn đến cách đây không lâu; ngay từ khi mới đặt chân đến thành phố, đã chết mất hai đứa con, còn đứa thứ ba lúc tôi đến thăm cũng sắp chết; mỗi gia đình có một đống rơm bẩn ở góc nhà: ngoài ra trong căn hầm tối tăm, đến nỗi giữa ban ngày cũng không trông rõ mặt người, còn chứa một con lừa nữa - một tấm lòng dù sắt đá đến đâu cũng phải đau xót trước cảnh bần cùng đến như vậy trong một xứ như Scotland".

Trong tạp chí "Edinburgh Medical and Surgical Journal", bác sĩ Hennen cũng trình bày những dẫn chứng tương tự. Một bản báo cáo của nghị viện4* đã vạch rõ tình trạng bẩn thỉu trong những nhà nghèo ở Edinburgh; trong những điều kiện như vậy, thì bẩn thỉu là điều dĩ nhiên. Ban đêm thành giường là chỗ gà ngủ; chó và thậm chí cả ngựa nữa ngủ cùng một phòng với người; như thế thì tất nhiên là trong những căn nhà đó bẩn thỉu hôi thối vô cùng, và có vô số rệp bọ đủ các giống. Bản thân cách kiến trúc của Edinburgh chính lại cực kỳ thuận lợi cho tình hình đáng ghê tởm ấy của nhà ở. Thành phố cũ xây dựng ở hai bên sườn một ngọn đồi không cao lắm, dọc theo đỉnh đồi là phố chính (High Street). Rất nhiều ngõ ngách chật hẹp và quanh co - vì quá quanh co nên đã được mệnh danh là wynds5 - từ phố chính ấy toả ra hai bên sườn đồi và tạo thành khu phố vô sản. Nhà cửa ở các thành phố Scotland thường là khá cao, có năm sáu tầng như ở Paris, và có rất nhiều gia đình ở chung một nhà, khác với ở Anh, là nơi mỗi gia đình cố hết sức để ở một nhà riêng. Tình hình chen chúc trên một khoảng hẹp vì vậy lại càng tăng thêm.
Một tạp chí ở Anh trong một bài nói đến những điều kiện vệ sinh trong sinh hoạt của những người lao động ở thành phố6* viết như sau: "Những phố xá đó thường là chật hẹp đến nỗi từ cửa sổ nhà này có thể bước sang cửa sổ nhà trước mặt; hơn nữa, nhà xây tầng nọ trên tầng kia, cao đến nỗi ánh sáng khó lọt được xuống sân và xuống đường phố. Trong khu vực ấy không có một hệ thống cống rãnh nào, không có một hố tiêu hoặc hố tiểu nào trong khu nhà ở, vì vậy mọi thứ rác rưởi, cứt đái của ít ra 5 vạn người mỗi đêm đều được ném xuống rãnh. Do đó mặc dù đường phố được quét dọn, vẫn có một lớp bùn khô xông lên những mùi hôi thối khủng khiếp, điều đó không những khổ mắt, khổ mũi mà còn ảnh hưởng rất nhiều cả đến sức khoẻ của cư dân. Có gì đáng ngạc nhiên, khi ở những nơi như vậy, người ta không những khinh thường vệ sinh và đạo đức, mà còn khinh thường cả những điều lễ độ thông thường nhất nữa? Không những thế, những người tương đối hiểu rõ tình cảnh cư dân ở đấy đều có thể chứng nhận rằng bệnh tật, bần cùng và trụy lạc ở đây đã lan tràn đến mức độ nào. Ở đây, xã hội đã sa xuống đến một trình độ thấp kém và bi đát khó mà tả nổi... Nhà ở của giai cấp nghèo nhất thường rất bẩn, và rõ ràng là không bao giờ được quét dọn. Phần lớn chỉ có một căn phòng độc nhất, và dù rất bí hơi nhưng vẫn lạnh, vì khung cửa làm không kín và kính bị vỡ nát, trong phòng ẩm ướt và nhiều khi còn ở thấp hơn mặt đất; đồ đạc thường tồi tàn hoặc không có gì cả: nhiều khi cả một gia đình chỉ có một ổ rơm để ngủ, đàn ông, đàn bà, già, trẻ ngủ lẫn lộn với nhau, làm cho ta trông thấy phải phẫn nộ. Phải ra vòi nước công cộng mới lấy được nước; và khó khăn trong việc lấy nước là điều kiện thuận lợi để truyền bá bẩn thỉu".

Trong các thành phố cảng lớn khác, tình hình cũng không hơn gì. Ở Liverpool, dù buôn bán phồn thịnh, hoa lệ và giàu sang, những người lao động cũng sống trong tình trạng dã man như thế. Hơn 1/5 dân số, tức là hơn 45.000 người, sống trong những căn nhà hầm tối tăm, chật chội, ẩm thấp, bí hơi, trong thành phố có tới 7862 căn nhà như vậy. Ngoài ra phải kể thêm 2270 cái sân sau (courts), tức là khoảng trống nhỏ, xung quanh đều là nhà và chỉ có một lối nhỏ đi vào, thường có vòm che kín cho nên hoàn toàn không thông gió, phần nhiều rất bẩn và hầu hết là những người vô sản ở. Chúng ta sẽ có dịp nói tỉ mỉ hơn về những cái sân này khi đề cập đến Manchester. Ở Bristol, người ta có lần điều tra 2800 gia đình lao động, 46% trong số đó chỉ có một phòng.

Tình hình những thành phố công xưởng hoàn toàn như thế. Ở Nottingham có tất cả 11.000 ngôi nhà thì 7-8 nghìn ngôi có tường sau xây dựa vào nhau, nên không thể có một chút gió nào lọt qua được; thêm nữa, thường thì nhiều nhà mới có một hố tiêu. Một điều tra mới đây cho thấy nhiều dãy nhà xây dựng trên những rãnh thoát nước nông, chỉ có một lượt ván lát trên mặt làm sàn nhà. Ở Leicester, Derby và Sheffield cũng vậy. Bài báo của tờ "Artisan" dẫn ở trên nói về Birmingham như sau:
"Trong những khu vực cũ của thành phố có nhiều chỗ tồi tàn, bẩn thỉu, không ai đoái hoài đến, đầy những vũng bùn và những đống rác lưu niên. Ở Birmingham có rất nhiều sân, tới hơn 2000 cái, chính là chỗ ở của phần lớn nhân dân lao động. Những sân đó bao giờ cũng rất chật chội, bẩn thỉu, bí hơi, cống rãnh rất tồi tệ, xung quanh một cái rãnh thường có từ tám đến hai mươi ngôi nhà; mà thường không khí chỉ vào có một mặt, vì tường sau lại dính với một nhà khác và ở cuối mỗi sân thường có một hố đổ rác hoặc những vật tương tự, hết sức bẩn thỉu. Tuy nhiên, phải nhận thấy rằng những sân mới xây được sắp đặt hợp lý hơn và giữ gìn khá hơn; và cả trong các sân cũ, nhà cửa cũng không chen chúc như ở Manchester hoặc Liverpool, điều này cắt nghĩa tại sao trong những kỳ có bệnh dịch, ở Birmingham số người chết ít hơn nhiều so với Wolverhampton, Dudley và Bilston là những thành phố cách đó chỉ mấy dặm. Ở Birmingham người ta cũng không ở nhà hầm, tuy rằng đôi khi còn sử dụng hầm không đúng cách để làm xưởng thủ công. Các nhà trọ cho dân vô sản cũng có khá nhiều (hơn 400), chủ yếu là trong các sân ở trung tâm thành phố. Hầu hết là những chỗ ẩm thấp và bẩn thỉu đến lợm mửa, là chỗ ẩn thân của bọn ăn mày, và bọn lêu lổng (trampers, về nghĩa chính xác của chữ này, sẽ nói kĩ hơn ở phía dưới), những kẻ cắp và gái điếm, bọn này sống ở đây không hề quan tâm đến lễ độ và tiện nghi, ăn uống, hút và ngủ trong một bầu không khí mà chỉ những con người trụy lạc như họ mới chịu được".

Glasgow về nhiều mặt cũng giống như Edinburgh, cũng những đường ngoắt ngoéo (wynds), cũng những ngôi nhà ngất nghểu như thế. Tạp chí "Artisan" đã nhận xét về thành phố đó như sau:
"Ở đây, giai cấp công nhân chiếm chừng 78% tổng số cư dân (gần 300.000 người), họ ở những khu phố còn nghèo nàn và ghê tởm hơn cả những hang ổ tồi tệ nhất ở St. Giles và ở Whitechapel, những vùng ngoại ô ở Dublin và những wynds ở Edinburgh. Những khu như thế có rất nhiều ở trung tâm thành phố - ở phía nam Trongate, phía tây Saltmarket, trong khu Calton, sau phố High, v.v.; đó là những ngõ hẹp và những đường ngoắt ngoéo, chằng chịt với nhau, lắt léo không cùng, ở đó cứ vài bước lại gặp những sân hoặc những ngõ cụt, gồm những ngôi nhà cũ kỹ, sắp đổ, những tầng thấp, bí hơi và không có ống nước. Những nhà ấy đúng là chật ních người. Mỗi tầng có ba hoặc bốn gia đình, có khi đến hai chục người, có khi mỗi tầng lại cho thuê làm nhà ngủ trọ, và trong mỗi phòng nhét đến mười lăm, hai mươi người, không thể nói là ở, mà là chồng chất lên nhau. Các khu phố ấy là chỗ nương thân của những kẻ nghèo khổ nhất, trụy lạc nhất, đạo đức đồi bại nhất trong cư dân, và nên xem là chỗ bắt nguồn của những bệnh dịch sốt truyền nhiễm ghê gớm lan tràn ra khắp cả Glasgow".

Hãy xem J. C. Symons, uỷ viên Tiểu ban điều tra của chính phủ về tình cảnh của những thợ dệt thủ công, mô tả các khu vực ấy7* thế nào:
"Tôi đã phải chứng kiến những cảnh nghèo khổ tệ hại nhất cả ở nước ta lẫn ở trên lục địa, nhưng trước khi đến thăm những khu nhà ngoắt ngoéo ở Glasgow, tôi vẫn không tin được rằng ở một nước văn minh lại có thể có nhiều tội ác, nghèo khó và bệnh tật đến thế. Trong những nhà trọ loại tồi tệ vào bậc nhất, mỗi phòng có tới mười, mười hai, có khi đến hai mươi người, cả nam lẫn nữ thuộc mọi lứa tuổi, cởi trần hoặc hoàn toàn trần truồng, nằm lẫn lộn bừa bãi trên sàn nhà. Những chỗ ấy thường là (generally) bẩn thỉu, ẩm ướt và đổ nát đến nỗi không ai muốn cho ngựa của mình ở đó".

Và ở một đoạn khác, tác giả viết:
"Các khu nhà ổ chuột ở Glasgow chứa một số người, thường dao động từ một vạn rưởi đến ba vạn. Khu vực ấy toàn là những ngõ hẹp, những sân hình tứ giác, bao giờ cũng có một đống rác ở ngay giữa. Nhưng dù quang cảnh bên ngoài của những ngôi nhà đó kinh tởm đến như thế, tôi vẫn không ngờ được mức độ bẩn thỉu và nghèo nàn ở bên trong. Trong một vài nhà ngủ trọ mà chúng tôi (đại uý Miller, thanh tra trưởng cảnh sát, và Symons) đến thăm vào ban đêm, chúng tôi thấy cả dãy người nằm kín khắp sàn nhà; đàn ông và đàn bà - người mặc áo quần, kẻ cởi trần - nằm lẫn lộn; có khi đến mười lăm, hai mươi người trong một căn phòng. Đệm giường của họ là một đống rơm mục nát và ít giẻ rách. Đồ đạc không có một thứ gì hoặc có rất ít, và chỉ có mỗi ngọn lửa ở lò sưởi là làm cho cái hố ấy hơi ra vẻ có người ở. Trộm cắp và bán dâm là kế sinh nhai chính của đám người ấy. Hình như không ai buồn quét dọn cái chuồng ngựa của Augeas ấy, không ai buồn huỷ diệt cái hang ổ độc ác, cái sào huyệt của tội ác bẩn thỉu và ôn dịch ấy ở ngay trung tâm thành phố thứ hai của vương quốc. Trong khi điều tra tỉ mỉ về những khu phố nghèo nhất của những thành phố khác, dù về sự đồi bại tinh thần và thể xác, hay về mật độ dân số, tôi chưa hề bao giờ thấy mức độ ghê tởm như vậy. Nhà đương cục địa phương xác nhận là đa số nhà cửa trong các khu ấy hư hỏng, tồi tàn không ở được, nhưng chính đó lại là những chỗ đông người ở nhất, vì pháp luật quy định không được thu tiền thuê nhà ở đấy".

Khu công nghiệp lớn trung bộ nước Anh, vùng đông dân Tây Yorkshire và Nam Lancashire, với rất nhiều thành phố công nghiệp lớn, không kém gì các thành phố lớn khác. Khu công nghiệp len ở vùng Tây Yorkshire là một vùng cảnh đẹp, đồi núi xanh tươi, các ngọn đồi ở đây càng đi về phía tây thì càng dốc cho đến khi đạt đỉnh cao nhất là chỏm Blackstone Edge dốc đứng, là tuyến phân thuỷ giữa biển Bắc và biển Ireland. Thung lũng sông Aire, có thành phố Leeds nằm hai bên bờ sông, và thung lũng sông Calder, có đường xe lửa chạy dọc theo dòng sông nối liền Manchester với Leeds, là những vùng đẹp nhất của Anh, chỗ nào cũng dày đặc những công xưởng, thôn xóm và thành phố. Những ngôi nhà xây bằng đá tự nhiên màu xám, trông đẹp đẽ và sạch sẽ không kém gì những toà nhà xây bằng gạch đã bị đen đi ở Lancashire, khiến cho ta ngắm nhìn rất đẹp mắt. Nhưng khi vào ngay trong thành phố, thì cũng chả có gì là vui thú lắm. Theo như tạp chí "Artisan", đã dẫn ở trên, mô tả trong một đoạn khác - và tôi tin là chính xác - thì Leeds nằm
"trên một triền dốc thoai thoải xuống thung lũng sông Aire. Con sông này uốn khúc chạy cắt ngang qua thành phố trên khoảng chừng một dặm rưỡi, và đến kỳ tuyết tan hoặc mưa nhiều thì có thể lụt lớn. Những nơi cao nhất của thành phố, ở phía tây, thì tương đối sạch sẽ đối với một thành phố lớn như vậy, nhưng các khu phố thấp dọc bờ sông đó và dọc các sông nhánh (becks) thì đều bẩn thỉu, chật chội, đủ để giảm tuổi thọ của cư dân ở đó, nhất là trẻ em. Thêm vào đấy là tình trạng kinh tởm của các khu lao động xung quanh Kirkgate, March Lane, phố Cross và đường Richmond; ở đây phần lớn các đường phố không được lát và không có cống rãnh, nhà cửa xây dựng lộn xộn, với nhiều sân và ngõ cụt, thậm chí những thiết bị vệ sinh thông thường nhất cũng không có. Mọi cái ấy gộp lại đủ để cắt nghĩa tỷ lệ người chết rất cao ở những nơi xấu số, bẩn thỉu và nghèo khổ ấy. Do các trận lụt của sông Aire (và tiện đây nói thêm rằng con sông ấy, cũng như mọi con sông chảy ngang qua những thành phố công xưởng, ở khúc chảy vào thành phố thì sạch sẽ trong veo và ở khúc chảy ra khỏi thành phố thì đủ mọi thứ rác rưởi, đặc sệt, đen ngầu và hôi thối), những nhà ở và nhà hầm thường đầy nước đến nỗi phải tát nước đổ ra phố; những lúc ấy thì cả ở những nơi có cống, nước từ cống dâng lên tràn vào các nhà hầm8*, xông lên những mùi hôi thối sặc khí hydro sulfur, rồi để lại một lớp cặn ghê tởm rất hại cho sức khoẻ. Trong trận lụt mùa xuân năm 1839, tình hình tắc cống như thế đã gây hại đến nỗi, theo báo cáo của nhân viên hộ tịch, thì ở khu này, trong quý ấy, cứ ba người chết mới có hai người ra đời; trong khi cũng vào quý ấy, ở các khu khác, thì tỉ lệ ngược lại: cứ ba người ra đời mới có hai người chết".

Ở nhiều khu vực đông dân khác của thành phố ấy, hoàn toàn không có cống rãnh, hoặc là có nhưng tồi tệ đến nỗi chẳng ích lợi gì. Trong một số phố, các nhà hầm ít khi được khô ráo; trong những khu phố khác, nhiều đường phố phủ một lớp bùn lầy dày. Cư dân thỉnh thoảng đã uổng công đổ tro lấp các ổ gà để sửa sang đường phố; tuy vậy, rác vẫn cứ đổ đống khắp nơi, nước rửa từ các nhà đổ ra vẫn cứ đọng ở những chỗ trũng cho đến khi nắng và gió làm khô đi (xem báo cáo của Hội đồng thành phố trong "Statistical Journal" tập 2, tr. 404). Một căn nhà thông thường ở Leeds, có diện tích không quá hai mươi lăm yard vuông và thường là có một gian hầm, một phòng ở và một phòng ngủ. Những nhà chật hẹp ngày đêm lúc nào cũng chật ních người ấy không những có hại cho sức khoẻ mà còn có hại đến đạo đức của cư dân. Tình hình chật chội trong các nhà ấy như thế nào có thể thấy được qua bản báo cáo dẫn ở trên nói về tình hình vệ sinh trong đời sống của giai cấp lao động:
"Ở Leeds chúng tôi đã thấy nhiều anh chị em và những người thuê nhà xa lạ cả nam lẫn nữ, cùng ngủ chung trong một phòng với cha mẹ; do đó mà sinh ra những hậu quả hễ người ta nghĩ đến là rùng mình".

Ở Bradford, chỉ cách Leeds bảy dặm, ở giao điểm của nhiều thung lũng, trên bờ một dòng sông nhỏ hôi thối và nước đen ngòm như hắc ín, tình hình cũng như vậy. Một buổi chủ nhật đẹp trời, vì những ngày làm việc thì một tầng khói xám xịt bao phủ tất cả, từ trên mỏm cao của các ngọn đồi xung quanh nhìn xuống thì thấy thành phố thật là xinh đẹp; nhưng bên trong cũng bẩn thỉu và không thể sống được như ở Leeds. Những khu phố cũ xây trên những sườn đồi dốc; đường phố chật hẹp và cong queo. Trong các đường phố, các ngõ cụt và các sân, rác rưởi và đồ thối nát chất hàng đống; nhà cửa đổ nát, bẩn thỉu không hợp với điều kiện cư trú; và ngay sát bên sông, ở đáy thung lũng, tôi đã thấy nhiều ngôi nhà mà một nửa tầng dưới là đào ngay vào sườn đồi, hoàn toàn không hợp để ở. Nói chung, những nơi ở đáy thung lũng, mà nhà cửa công nhân chen vào giữa những nhà cao của công xưởng; chính là những nơi có kiến trúc xấu xí và bẩn thỉu nhất của thành phố. Trong các khu phố mới của Bradford, cũng như ở mọi thành phố công xưởng khác, nhà cửa xếp đặt đều đặn hơn thành từng dãy, nhưng ngay ở những nhà đó người ta còn thấy thiếu tiện nghi, tình trạng này gắn liền với cái phương pháp được công nhận trong việc bảo đảm nhà ở cho công nhân; về điểm này chúng tôi sẽ bàn kỹ hơn khi nói đến Manchester. Về các thành phố khác của vùng Tây Yorkshire, như Barnsley, Halifax, Huddersfield, tình hình cũng như vậy. Huddersfield, với vị trí tuyệt vời đáng mê và kiến trúc tối tân của nó, là đẹp nhất trong tất cả các thành phố công xưởng của Yorkshire và Lancashire, nhưng cũng vẫn có những khu phố xấu xí. Trong bản báo cáo ngày 5 tháng Tám 1844 của một ủy ban, do hội nghị thị dân cử ra để điều tra thành phố, có đoạn viết:
"Ai cũng biết rằng ở Huddersfield, nhiều đường phố và nhiều ngõ, nhiều sân không lát mà cũng chẳng có cống rãnh gì cả; rằng đủ mọi loại rác rưởi, cặn bã, mọi vật bẩn thỉu, chất đống ở đấy đang thối rữa; rằng nước bẩn đọng thành vũng ở hầu khắp mọi nơi; do đó nhà cửa ở đây xấu xí và bẩn thỉu, làm phát sinh ra nhiều ổ bệnh tật đe doạ sức khoẻ của cả thành phố".

Nếu chúng ta đi bộ hoặc xe lửa vượt qua Blackstone Edge, chúng ta sẽ đến địa điểm điển hình, nơi mà nền công nghiệp Anh đã hoàn thành cái kiệt tác của nó, nơi xuất phát của toàn bộ phong trào công nhân nước Anh, tức là Nam Lancashire, với trung tâm của nó là Manchester. Ở đây chúng ta cũng lại thấy một vùng cảnh đồi núi mỹ lệ, từ tuyến phân thuỷ, chạy dốc thoai thoải đến tận biển Ireland, với những thung lũng xanh rờn làm cho người ta mê thích của sông Ribble, sông Irwell, sông Mersey và các nhánh của chúng; vùng này cách đây một trăm năm, phần lớn còn là đầm lầy, cư dân thưa thớt, thế mà ngày nay chỗ nào cũng mọc đầy những thành phố và thôn xóm, và là vùng đông dân nhất của nước Anh. Lancashire, đặc biệt là Manchester, là nơi sản sinh ra nền công nghiệp Anh và là trung tâm của nó. Sở giao dịch chứng khoán Manchester là cái hàn thử biểu của mọi sự biến động trong sinh hoạt công nghiệp, và các phương pháp sản xuất tối tân cũng đã đạt mức độ hoàn bị ở Manchester. Trong ngành công nghiệp bông sợi ở Nam Lancashire, việc sử dụng các lực lượng tự nhiên, việc máy móc (chủ yếu là khung cửi máy và máy mule) loại trừ lao động thủ công, và sự phân công lao động đã đạt tới trình độ phát triển cao nhất; và nếu công nhận ba yếu tố đó là đặc trưng của công nghiệp hiện đại, thì phải thừa nhận rằng, về mặt ấy, so với các ngành công nghiệp khác, thì ngành bông sợi, ngay từ đầu cho tới nay, vẫn đi trước. Những ảnh hưởng của công nghiệp hiện đại đối với giai cấp công nhân ở đây phải phát triển một cách đầy đủ nhất và thuần tuý nhất, và giai cấp vô sản công nghiệp ở đây phải xuất hiện dưới hình thức điển hình nhất; và cũng chính ở đây, tình trạng nhục nhã của người lao động do việc áp dụng sức hơi nước, máy móc và sự phân công lao động gây nên, cũng như ý đồ của giai cấp vô sản nhằm chấm dứt sự áp bức ấy, cũng phải đạt đến mức căng thẳng cao nhất và có ý thức nhất. Vì Manchester là một thành phố công nghiệp hiện đại điển hình, và cũng vì tôi biết rõ nó cũng như nơi chôn rau cắt rốn của tôi, và có lẽ còn biết rõ hơn nhiều người dân của nó, cho nên chúng ta sẽ dừng lại ở đây lâu hơn.

Về tình hình các khu phố lao động, những thành phố xung quanh Manchester cũng không khác thành phố trung tâm cho lắm, chỉ là ở đấy thành phần lao động trong cư dân có thể chiếm một tỷ lệ lớn hơn so với Manchester. Thậy vậy, đó là những thành phố công nghiệp thuần tuý, mọi hoạt động thương nghiệp của chúng đều tiến hành ở Manchester và thông qua Manchester; về mọi mặt, các thành phố ấy đều phụ thuộc vào Manchester, và vì vậy cư dân ở đó toàn là công nhân, chủ xưởng và tiểu thương, trong khi ở Manchester thì có rất đông dân buôn bán, đặc biệt là những hãng buôn đại lý và những cửa hàng bán lẻ lớn. Thế nên dù Bolton, Preston, Wigan, Bury, Rochdale, Middleton, Heywood, Oldham, Ashton, Stalybridge, Stockport, v.v. có ba vạn, năm vạn, bảy vạn, thậm chí chín vạn dân, thực ra thì hầu hết chúng cũng chỉ là những khu lao động lớn, bị ngắt ra từng đoạn bởi những công xưởng, vài đường phố chính mà hai bên là những cửa hàng và vài đường ngoại ô hai bên là những nhà theo kiểu biệt thự có vườn hoa bao bọc của các chủ xưởng. Bản thân các thành phố có kiến trúc xấu xí và không đều đặn, với những sân, đường phố và ngõ cụt bẩn thỉu, đầy khói than, và do ở đây nhà cửa xây bằng thứ gạch lúc đầu thì đỏ thắm, nhưng dần dần đã đen xịt lại (thứ gạch đó là vật liệu xây dựng thông dụng ở đây), nên đã gây cho người ta một ấn tượng đặc biệt u ám. Nhà hầm là hiện tượng thường thấy ở đây; chỗ nào làm được là người ta làm những hang dưới đất, và một phần rất lớn cư dân sống ở đó.

Thành phố tồi tệ nhất sau Preston và Oldham, là Bolton, cách Manchester 11 dặm về phía tây-bắc. Tôi đã nhiều lần đến đó, và theo mắt tôi thấy thì chỉ có một phố chính là phố Deansgate, khá bẩn, đồng thời cũng là chỗ họp chợ; và tuy rằng ngoài các công xưởng, chỉ có những căn nhà thấp một hai tầng, nhưng ngay những hôm đẹp trời, phố ấy cũng vẫn là một cái hốc u ám, ghê tởm. Cũng như ở mọi nơi, phần thành phố cũ đặc biệt tồi tàn và khó coi. Một dòng nước đặc sệt và đen sì chảy qua thành phố, mà người ta không biết nên gọi là cái lạch hay là một chuỗi những vũng nước hôi thối; làm cho bầu không khí - đã chẳng lấy gì làm trong sạch - càng ô uế thêm.

Xa hơn nữa là Stockport, một thành phố tuy nằm bên bờ sông Mersey, phía Cheshire, nhưng vẫn thuộc khu công nghiệp Manchester. Thành phố thu gọn trong một thung lũng hẹp lòng của sông Mersey, cho nên phố xá chạy dốc tuột xuống ở bên này, để leo dốc ngược lên ở bên kia, còn đường xe lửa từ Manchester đến Birmingham vượt qua bên trên thành phố và qua cả thung lũng bằng một cái cầu cao. Stockport nổi tiếng là một nơi ảm đạm và ám khói nhất trong toàn khu, và quả thực là nó tạo nên một cảm giác hết sức u ám, nhất là khi nhìn từ trên cầu cao xuống thành phố. Nhưng những căn nhà nhỏ và nhà hầm, chỗ ở của người vô sản, trải thành dãy dài khắp thành phố, từ đáy thung lũng lên tới đỉnh đồi, lại còn gây ra ấn tượng u ám hơn nữa. Tôi không nhớ đã trông thấy một thành phố nào trong khu này có nhiều nhà hầm có người ở như vậy.

Cách Stockport mấy dặm về phía đông bắc là Ashton-under-Lyne, một trong những trung tâm công xưởng mới nhất của vùng này. Thành phố này ở bên sườn một ngọn đồi, dưới chân đồi là kênh và sông Tame; nói chung thì kiến trúc ở đây theo hệ thống hiện đại đều đặn hơn. Năm hoặc sáu đường phố dài chạy song song dọc theo ngọn đồi, có các đường phố khác cắt thẳng góc, chạy dốc xuống thung lũng. Với cách xếp đặt phố xá như vậy, các xưởng máy bị gạt ra khỏi trung tâm thành phố, dù không thế chăng nữa, thì chúng cũng phải tập trung ở dưới thung lũng để được gần nước và gần đường sông, ở đó, chúng nằm san sát gần nhau, từ các ống khói tuôn ra những làn khói đặc. Nhờ đó mà Ashton trông dễ coi hơn phần lớn các thành phố công xưởng khác; phố xá rộng rãi và sạch sẽ hơn, những cottage đỏ tươi, trông có vẻ mới mẻ và ấm cúng hơn. Nhưng hệ thống mới trong việc xây cottage cho công nhân ấy cũng có những mặt xấu của nó; bởi vì phía sau mỗi đường phố như thế lại có một phố sau bẩn thỉu hơn rất nhiều, có một lối hẹp ở bên cạnh để vào. Và ngay ở Ashton, tôi không thấy có một ngôi nhà nào cổ quá 50 năm, trừ mấy ngôi nhà ở ngoại ô thành phố, vậy mà ở đây cũng có những đường phố mà nhà cửa đã thành cũ kỹ xấu xí, gạch long ra và tuột xuống, tường nứt nẻ, làm cho lớp vữa trát bên trong rơi vụn xuống; các đường phố ấy cũng nhơ nhớp và đen sì vì ám khói, không kém gì ở các thành phố khác trong khu; chỉ khác là ở Ashton, đó không phải là hiện tượng phổ biến mà là ngoại lệ.

Cách hơn một dặm về phía đông là Stalybridge cũng trên sông Tame. Từ Ashton leo qua núi mà đến, ở trên đỉnh núi nhìn về bên phải và bên trái đều thấy những toà nhà lộng lẫy kiểu biệt thự xung quanh có vườn rộng rất đẹp, đa số nhà ấy làm theo kiểu Elizabeth, kiểu này so với kiểu Gothic thì cũng y như đạo Tin Lành Anh so với đạo Thiên Chúa La Mã. Đi bộ một trăm bước nữa thì trông thấy Stalybridge nằm trong thung lũng. Nhưng so với các biệt thự lộng lẫy trên kia, và ngay cả với những cottage giản dị ở Ashton, thì cảnh tượng thật trái ngược biết bao! Stalybridge nằm trong một vùng trũng quanh co và hẹp hơn cả thung lũng Stockport nhiều, hai bên sườn là một mớ lộn xộn những cottage, nhà lớn và công xưởng. Mới vào thành phố thì thấy ngay những cottage đầu tiên san sát nhau, chật hẹp, ám khói, cũ kỹ, tồi tàn; và những nhà đầu tiên ấy thế nào thì cả thành phố cũng như thế cả. Chỉ có rất ít đường phố chạy dài theo đáy thung lũng chật hẹp; phần nhiều đường phố giao nhau, uốn lượn, leo lên xuống theo các triền dốc, do cách sắp xếp các đường phố trên sườn đồi như thế, nên trong hầu hết các nhà, tầng dưới đều đào xuống dưới đất một nửa. Và do lối xây dựng hỗn độn ấy mà tạo ra biết bao nhiêu sân, phố sau và ngõ hẻm; từ trên núi nhìn xuống có thể trông thấy hết cảnh tượng ấy, như là đang bay trên thành phố vậy. Thêm vào đấy là tình trạng bẩn thỉu kinh khủng, thì sẽ hiểu tại sao, phong cảnh xung quanh rất đẹp mà thành phố này lại gây nên ấn tượng ghê tởm đến như vậy.

Nhưng thôi, về các thành phố nhỏ, nói như vậy là đủ. Mỗi thành phố đều có nét riêng của mình, nhưng nói chung thì những người lao động ở đó cũng hệt như ở Manchester. Vì vậy tôi chỉ mô tả kiến trúc đặc biệt của chúng, và chỉ thêm một điều là mọi nhận xét của tôi về đặc điểm chung của tình trạng nhà cửa của những người lao động ở Manchester có thể hoàn toàn áp dụng với các thành phố xung quanh. Bây giờ chuyển sang nói về thành phố chính.

Manchester ở chân sườn phía nam của một dãy đồi chạy từ Oldham, giữa các thung lũng của sông Irwell và sông Medlock, cuối cùng kết thúc ở đồi Kersall Moor, đây là trường đua ngựa, và cũng là "Núi thánh" của Manchester. Chính thành phố Manchester thì ở tả ngạn sông Irwell, nằm giữa con sông ấy và hai nhánh của nó là Irk và Medlock, đổ vào sông Irwell ở chỗ này. Hữu ngạn sông Irwell là Salford, nằm lọt trong một khuỷu sông, và Pendleton ở xa hơn một ít về phía tây; phía bắc sông Irwell là Broughton Thượng và Hạ; phía bắc sông Irk là Cheetham Hill; phía nam sông Medlock là Hulme, xa hơn về phía đông là Chorlton-on-Medlock, xa hơn nữa, gần phía đông Manchester là Ardwick. Theo thói quen, người ta gọi cả các khối nhà cửa ấy là Manchester, gồm tới ít nhất là bốn mươi vạn người, hay hơn nữa. Cách xây dựng thành phố độc đáo đến nỗi một người có thể sống nhiều năm ở đó, hàng ngày đi ra đường phố, nhưng không lần nào tiếp xúc với một khu phố lao động, hoặc với những người lao động, nếu người đó chỉ đi vì công việc của mình hoặc đi dạo chơi. Điều đó chủ yếu được giải thích là do một sự thoả thuận ngầm và vô ý thức, cũng như do sự tính toán hoàn toàn rõ ràng và có chủ tâm: các khu lao động ở cách biệt hẳn với các khu dành cho giai cấp tư sản, còn ở những nơi không thể công khai làm như thế, thì nó được che đậy dưới lớp màn từ thiện. Ở trung tâm Manchester có khu buôn bán khá rộng lớn, dài rộng mỗi chiều độ nửa dặm, hầu như toàn là hãng buôn và kho hàng. Cả khu hầu như không có nhà ở, và ban đêm thì vắng vẻ quạnh hiu, chỉ có những viên cảnh sát mang những đèn ló đi tuần trên những đường phố hẹp tối om. Khu vực ấy có vài đường phố chính rất náo nhiệt, những tầng dưới các ngôi nhà toàn là cửa hiệu sang trọng; trong các phố ấy tầng trên có chỗ cũng có người ở, và phố xá nhộn nhịp đến tận đêm khuya. Ngoài khu buôn bán ấy ra, toàn bộ thành phố Manchester hiểu theo nghĩa hẹp, toàn bộ Salford và Hulme, phần lớn Pendleton và Chorlton, 2/3 Ardwick và một vài khu ở Cheetham Hill và Broughton, tất cả gộp thành một khu lao động thuần tuý, bao quanh khu buôn bán, như một vành đai rộng trung bình một dặm rưỡi. Bên ngoài vành đai ấy là chỗ ở của giai cấp tư sản thượng đẳng và trung đẳng: lớp trung đẳng ở các phố thẳng tắp, gần khu lao động, tức là ở Chorlton và phần thấp của Cheetham Hill; lớp thượng đẳng ở xa hơn, trong những ngôi nhà và những biệt thự ở ngoại ô Chorlton và Ardwick, hoặc trên những chỗ cao thoáng gió của Cheetham Hill, Broughton và Pendleton, giữa không khí thôn quê trong lành, trong những ngôi nhà lộng lẫy đầy đủ tiện nghi, đằng trước nhà cứ nửa giờ hoặc mười lăm phút lại có những chiếc xe chở khách ra thành phố chạy qua. Điều thú vị nhất, là các ngài quý tộc tài chính giàu có ấy vẫn có thể đi qua tất cả các khu phố lao động, để tới văn phòng ở trung tâm thành phố bằng con đường gần nhất, mà không hề nhận thấy sự nghèo cùng đang sinh sôi nảy nở trong cảnh bẩn thỉu nhất ở ngay gần đấy, ở cả hai bên đường. Bởi vì, những đường phố chính, từ Sở giao dịch chứng khoán toả theo mọi ngả ra ngoài thành phố, đều có mỗi bên một dãy hầu như liên tiếp các cửa hàng, và như vậy là đều do giai cấp trung và tiểu tư sản ở; những người này đã vì lợi ích của chính họ mà muốn và có thể giữ gìn phố xá sạch sẽ, lịch sự. Thật ra, những cửa hàng ấy bao giờ cũng có cái gì đó giống những khu vực ở đằng sau chúng; và do đó, trong những khu buôn bán và ở gần các khu giai cấp tư sản ở, thì các cửa hàng ấy lại lịch sự hơn là ở nơi nào mà đằng sau chúng là các cottage bẩn thỉu của những người lao động. Nhưng dù sao chúng cũng đủ sạch sẽ để che giấu cho các ông bà giàu sang, có dạ dày mạnh khoẻ nhưng thần kinh yếu ớt, khỏi thấy cái nghèo, cái bẩn là những cái bổ sung cho sự giàu sang và xa xỉ của họ. Cho nên, ví dụ như phố Deansgate, chạy từ nhà thờ cũ thẳng về phía nam, mới đầu là hai dãy kho hàng và công xưởng, rồi đến các cửa hiệu hạng nhì với vài quán rượu; xa hơn nữa về phía nam, ở cuối khu buôn bán là những cửa hàng trông tồi hơn, rồi càng đi thì cửa hàng càng bẩn thỉu, càng xen nhiều quán rượu và quán ăn; đến cuối phố ở phía nam, thì ngay hình dáng của các cửa hiệu nhỏ làm người ta không còn nghi ngờ gì nữa, rằng khách hàng ở đây là người lao động, và chỉ có người lao động mà thôi. Phố Market chạy từ Sở giao dịch chứng khoán về phía đông nam cũng vậy; mới đầu là những cửa hiệu lộng lẫy vào hạng nhất, và ở các tầng gác trên là các hãng buôn và kho hàng; tiếp theo (ở Piccadilly) là những khách sạn và nhà kho khổng lồ; xa hơn nữa (khi tới đường London) ở gần sông Medlock là những công xưởng, quán rượu và cửa hiệu phục vụ công nhân và những tầng lớp thấp của giai cấp tư sản; rồi dọc theo Ardwick Green là nhà cửa của bọn tư sản thượng đẳng và trung đẳng, và từ chỗ đó trở đi là những vườn hoa lớn và biệt thự của các chủ xưởng và nhà buôn giàu có nhất. Vậy là khi đã hiểu biết Manchester, có thể lấy mấy phố lớn mà suy ra tình hình các khu tiếp giáp; nhưng rất ít khi từ những phố lớn ấy, có thể nhìn thấy được quang cảnh thật sự của chính các khu lao động. Tôi biết rất rõ rằng cách sắp xếp giả tạo ấy ít nhiều đều có tính chất đặc trưng cho tất cả các thành phố lớn; tôi cũng biết rằng những người buôn bán lẻ, do chính tính chất kinh doanh của họ, buộc phải ở trên những đường phố lớn; tôi biết rằng ở đây cũng vậy, trong các phố ấy nhà tốt nhiều hơn nhà xấu, và giá đất ở đây cao hơn ở các khu hẻo lánh. Nhưng tôi chưa thấy ở đâu lại gạt bỏ một cách có hệ thống giai cấp công nhân ra khỏi các phố lớn, lại che giấu hết sức chu đáo mọi cái có thể làm chướng tai gai mắt giai cấp tư sản, như ở Manchester. Vậy mà chính Manchester lại ít được xây dựng theo kế hoạch định sẵn, hoặc theo quy định của cảnh sát; mà ngược lại, phần lớn hình thành một cách ngẫu nhiên, hơn bất cứ một thành phố nào khác. Khi tôi nghĩ đến lời cam đoan nhiệt tình của giai cấp tư sản, rằng những người lao động sống trong một tình cảnh hoàn toàn tốt đẹp, thì tôi thấy được rằng các chủ xưởng thuộc phái tự do, những big wigs9 của Manchester không phải là không tham gia vào sự quy hoạch thành phố đáng xấu hổ ấy.

Tôi nói thêm một điều là hầu hết các công xưởng đều nằm dọc theo các dòng sông và những con kênh chạy chằng chịt khắp thành phố, và bây giờ tôi chuyển sang mô tả chính ngay các khu phố lao động. Trước hết là Manchester cổ, nằm giữa giới tuyến phía bắc của khu buôn bán và sông Irk. Phố xá ở đây, cả những phố tốt nhất như Todd, Long Millgate, Withy Grove và Shude Hill, đều quanh co, chật hẹp, nhà cửa bẩn thỉu, cũ kỹ, đổ nát và các ngôi nhà trong các phố nhỏ thì hoàn toàn kinh tởm. Từ nhà thờ cũ đi dọc phố Long Millgate, ta thấy ngay ở bên phải là một dãy nhà kiểu cổ, không có một mặt nhà nào còn đứng thẳng; đó là những tàn tích của thành phố Manchester cũ, Manchester thời kỳ chưa có công nghiệp, cư dân cũ đã cùng con cháu họ rời sang những khu tốt hơn, bỏ lại những nhà quá tồi đối với họ cho dân lao động, trong đó có nhiều người Ireland. Đây mới chính là một khu lao động hầu như không che giấu, vì ngay các cửa hàng và tiệm rượu ở đường phố chính cũng không ai buồn làm cho có vẻ sạch nữa. Nhưng đó cũng còn chưa thấm gì so với các ngõ hẻm và các sân ở đằng sau, mà muốn vào đấy phải qua những lối đi lợp kín, chật hẹp đến nỗi hai người không thể có đủ chỗ để tránh nhau. Thật khó mà tưởng tượng nổi cái đống nhà cửa lộn xộn, trái với mọi quy tắc kiến trúc hợp lý, và tình hình chật chội khiến các nhà cửa thực sự dính cái này vào cái kia. Nhưng vấn đề không chỉ ở những căn nhà cổ lỗ, còn lại từ thời Manchester cũ; chính trong thời gian gần đây, sự hỗn độn mới tăng lên đến cực độ, vì chỗ nào trước kia còn hở một khoảng trống, thì nay người ta xây thêm nhà, tiếp thêm gian, cho đến khi không còn một tấc đất nào có thể xây thêm được nữa mới thôi. Để chứng thực lời nói của mình, tôi vẽ lại đây một phần nhỏ Manchester. Đây không phải là mảnh tồi nhất và cũng chưa được bằng một phần mười của thành phố cũ.

Bức bản đồ này đủ để hình dung được lối kiến trúc không hợp lý của toàn khu, nhất là ở gần sông Irk. Bờ sông ở đây, về bên phía Nam rất dốc và cao từ 15 đến 30 foot; trên sườn dốc ấy nhiều chỗ có đến ba dãy nhà, dãy thấp nhất nằm sát mặt nước, trong khi đó mặt trước nhà của dãy cao nhất ngang với đỉnh đồi, trông ra phố Long Millgate. Xen vào đó lại còn những công xưởng ở trên bờ sông, tóm lại, nhà cửa ở đây cũng chật chội và vô tổ chức như ở phần dưới phố Long Millgate. Bên phải và bên trái, có rất nhiều lối đi lợp kín thông từ phố chính vào nhiều sân trong; vào đó là rơi vào một chỗ bẩn thỉu ghê tởm có một không hai; nhất là những sân dốc xuống sông Irk; quả thật ở đây có những nhà cửa kinh khủng nhất mà tôi được thấy từ trước đến nay. Ở một trong những sân ấy, ngay ở lối vào, cuối lối đi lợp kín, có một chuồng tiêu không có cửa và bẩn thỉu; đến nỗi cư dân trong sân, mỗi khi về nhà hoặc ra phố, đều không thể không bước qua một vũng nước tù sặc mùi cứt đái hôi thối. Đó là sân thứ nhất ở bờ sông Irk, phía trên cầu Ducie, tôi xin báo điều đó phòng khi có ai muốn chứng thực lời tôi nói; về phía dưới, sát con sông, có nhiều xí nghiệp thuộc da, làm cho xung quanh sặc mùi thịt da thối rữa. Muốn xuống các sân ở phía dưới cầu, thường phải qua những cầu thang nhỏ hẹp, bẩn thỉu, và muốn vào nhà thì phải bước qua những đống rác rưởi và bùn nhơ. Sân thứ nhất phía dưới cầu là Allen's Court, hồi có dịch tả thì ở đó bẩn thỉu đến nỗi cảnh sát vệ sinh phải ra lệnh quét dọn và tẩy uế tất cả bằng Clo; bác sĩ Kay, trong một cuốn sách nhỏ10*, đã mô tả rùng rợn tình trạng sân này vào thời ấy. Từ đó hình như nó đã được phá đi một phần và xây lại; ít ra từ trên cầu Ducie nhìn xuống, vẫn thấy những bức tường đổ nát và những đống rác lớn, bên cạnh vài ngôi nhà mới xây. Cảnh tượng nhìn từ trên cầu xuống - một bức tường đá cao bằng đầu người đã che đậy nó, cho khuất mắt những người qua đường thấp bé - là tiêu biểu cho cảnh tượng toàn khu. Ở dưới cùng, con sông Irk chảy, hoặc nói đúng hơn là đọng ở đó, một dòng sông hẹp, đen ngòm, hôi thối, đầy rác rưởi và cặn bã mà nó đẩy dạt vào bên bờ thấp, tức bờ bên phải sông. Khi trời khô ráo, trên bờ còn lại một dãy dài những vũng bùn lầy xanh thẫm, hôi thối kinh tởm hết sức; từ đáy những vũng bùn ấy, sủi lên những bong bóng khí độc, xông lên một mùi hôi, đến nỗi đứng trên cầu cách mặt nước đến bốn, năm mươi foot cũng không chịu nổi. Thêm vào đó, bản thân dòng sông cứ mỗi bước lại bị những đập cao chặn lại, phía trên đập, bùn nhớp và rác rưởi đọng lại thành khối lớp rồi thối rữa ra. Phía trên cầu là các xưởng thuộc da, xa hơn nữa là các xưởng nhuộm, các xưởng bột xương và xưởng khí đốt, mà những nước thừa và vật cặn bã đều đổ ra sông Irk; con sông này còn tiếp nhận thêm cả những đồ nhơ nhớp của các cống rãnh và hố xí ở xung quanh. Như vậy người ta dễ tưởng tượng con sông ấy để lại những cặn lắng như thế nào. Phía dưới cầu, người ta thấy những đống rác, những thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, những đống gạch ngói đổ nát trong các sân ở bờ cao bên trái; nhà nọ nhô lên sau nhà kia, và vì bờ sông cao dần, nên chỉ thấy mỗi nhà được một phần; tất cả đều ám khói, tồi tàn, cũ kỹ, với những cửa sổ vỡ kính và long khung; ở phía sau là những ngôi nhà cũ kỹ của các công xưởng, trông giống trại lính. Trên bờ bên phải, dưới thấp là một dãy dài nhà cửa và công xưởng. Nhà thứ hai thì đổ nát, không mái, đầy rác; còn nhà thứ ba xây thấp đến nỗi tầng dưới không thể ở được và do đó chẳng có cửa sổ, cửa ra vào gì cả. Ở đây, phía sau là nghĩa địa người nghèo, các ga của những đường xe lửa Liverpool và Leeds, và sau nữa là nhà tế bần "ngục Bastille của người nghèo" thành phố Manchester, nó như một bức thành, từ trên đỉnh đồi cao, sau những bức tường cao có hình răng cưa, đang nhìn xuống khu lao động ở bờ sông bên kia như đe doạ.

Phía trên cầu Ducie, bờ bên trái thì thoai thoải, ngược lại, bờ bên phải thì dốc đứng hơn; nhưng tình hình nhà cửa hai bên bờ sông thì không khá hơn mà lại xấu đi. Ở đây, nếu rời khỏi phố chính, vẫn là Long Millgate, mà đi về bên trái thì sẽ lạc đường ngay; ra khỏi sân này thì lại đi vào sân kia, qua những xó xỉnh, chỗ ngoặt, những lối đi hẹp và bẩn, qua mấy phút thì mất hết phương hướng và không còn biết đi về phía nào nữa. Đâu đâu cũng thấy những ngôi nhà đổ nát một phần hoặc hoàn toàn đổ nát, một vài nhà thật sự không có người ở, và ở đây điều đó có nhiều ý nghĩa lắm; trong nhà rất ít khi thấy nền lát gỗ hoặc lát đá, nhưng ngược lại, hầu như ở chỗ nào, cửa sổ và cửa ra vào cũng hư nát, xộc xệch, và bẩn thỉu làm sao! Chỗ nào cũng có những đống rác rưởi, đồ bẩn thỉu và vật bỏ đi, cũng có những vũng nước tù thay cho cống rãnh, và chỉ mùi hôi thối cũng đủ làm cho một người có chút ít văn hoá không thể ở được. Mới rồi đường xe lửa Leeds được kéo dài thêm một đoạn, vượt qua sông Irk ở chỗ này, nên một phần các sân và ngõ đó đã bị phá đi, làm cho một số khác lần đầu tiên lộ ra trước mắt người ta. Ngay cạnh cầu xe lửa có một cái sân, so với mọi cái khác còn bẩn thỉu ghê tởm hơn nhiều, chính vì trước đây nó bị chắn hết tất cả các mặt đến nỗi vào được đấy cũng rất khó khăn; nếu không có chỗ hổng, do xây dựng cầu xe lửa tạo nên, thì chính tôi cũng chẳng bao giờ phát hiện ra nó, mặc dù tôi tưởng mình đã biết khu ấy kỹ lắm. Dọc theo bờ sông lồi lõm, đi ngang qua những cọc và dây phơi quần áo, sẽ vào một đám hỗn độn những nhà nhỏ lụp xụp, một tầng, đa số chỉ có nền đất, ở đây bếp, buồng ở, buồng ngủ, tất cả trong một phòng duy nhất. Trong một cái hốc như vậy, dài chưa đầy sáu foot, rộng chưa đầy năm foot, tôi thấy hai chiếc giường - mà giường với đệm có ra gì! - đặt giữa cầu thang và lò bếp, thế là vừa đủ chật gian phòng. Trong nhiều gian nhà khác, tôi thấy hoàn toàn không có gì cả, dù cửa mở toang và những người ở đấy đứng cạnh lối ra vào. Trước cửa, chỗ nào cũng có rác rưởi và bùn lầy; bên dưới lớp bùn lầy ấy hình như có con đường lát gì đó, không thể trông thấy được mà chỉ có thể cảm thấy dưới bàn chân đôi chỗ có lát. Bao quanh toàn bộ đám chuồng súc vật do người ở đó, thì hai mặt là nhà ở và công xưởng, mặt thứ ba là sông. Ngoài cái ngõ cụt chật hẹp trên bờ sông thì chỉ có mỗi một hành lang hẹp dẫn đến một đám nhà chằng chịt khác cũng tồi tệ và bừa bãi như vậy.

Thế là đủ rồi! Nhà cửa trên suốt bờ sông Irk đều xây dựng như vậy. Đó là những đám nhà hỗn độn không trật tự gì, ít nhiều đều bị hư hỏng; tình hình bẩn thỉu trong nhà cũng tương ứng với tình hình nhớp nhúa bên ngoài. Vậy thì những người sống ở đây làm sao mà sạch sẽ được? Không có điều kiện cần thiết để giải quyết ngay cả những nhu cầu hàng ngày và tự nhiên nhất. Nhà vệ sinh hiếm hoi đến nỗi ngày nào cũng đầy tràn, hoặc là quá xa, nhiều người không thể sử dụng được. Người ta còn tắm rửa làm sao được khi gần đó chỉ có dòng nước bẩn của con sông Irk, còn ống dẫn nước và vòi nước thì chỉ thấy ở những khu "lịch sự" của thành phố thôi! Quả là người ta không thể trách những nô lệ của xã hội hiện đại, nếu nhà của họ không sạch hơn các chuồng lợn ở rải rác ngay giữa các nhà ấy. Bọn chủ nhà không hề biết xấu hổ khi cho thuê những chỗ như sáu, bảy nhà hầm ở ven phố bờ sông phía dưới cầu Scotland, nền nhà ấy còn thấp hơn hai foot so với mực nước, khi con nước xuống thấp, của sông Irk cách đó không đầy sáu foot; hoặc như tầng gác trên cùng của ngôi nhà ở góc phố trên bờ sông bên kia, sát phía trên cầu, tầng dưới thì hoàn toàn không ở được, không có cửa sổ cũng như cửa ra vào gì cả! Những trường hợp như thế không phải là hiếm ở nơi này, còn cái tầng dưới trống trải ấy thường được những người ở xung quanh dùng làm cầu tiêu, vì chẳng còn chỗ nào khác tốt hơn!

Ta rời sông Irk, để lại len lỏi vào giữa đám dày đặc những nhà cửa của người lao động ở bên kia phố Long Millgate, đến một khu phố có phần mới hơn, chạy dài từ nhà thờ St. Michael đến Withy Grove và Shude Hill. Ở đây phần nào còn có trật tự hơn. Thay cho cái kiến trúc hỗn độn, ta ít ra cũng thấy những đường phố, những ngõ hẻm dài và thẳng, hoặc những sân xây dựng theo một quy hoạch nhất định, thường là hình tứ giác. Nhưng nếu ở kia mỗi nhà đều xây dựng một cách tùy tiện, thì ở đây, sự tùy tiện ấy biểu hiện trong việc xây dựng từng phố, từng sân mà không tính đến những sân và phố xung quanh. Đường phố thì khi chạy về phía này, khi thì chạy về phía kia; cứ đi một quãng là có thể sa vào một ngõ cụt hoặc vấp phải một góc hẻm dẫn trở lại đúng chỗ mà ta vừa mới đi khỏi, ai chưa ở trong cái mê cung ấy một thời gian thì nhất định không biết lối nào mà lần. Tình trạng thoáng khí ở các phố và sân này - nếu tôi có thể dùng từ đó ở đây - cũng tồi như ở khu sông Irk, và nếu khu này dù sao cũng có cái hơn khu kia: nhà cửa mới hơn, một số phố có rãnh thoát nước, tuy hiếm; thì ngược lại, hầu như ở mỗi nhà đều có nhà hầm cho người ở, điều này ít thấy ở vùng bờ sông Irk, chính là do ở đó nhà cửa cũ kỹ và xây dựng cẩu thả hơn. Về các mặt khác, như bẩn thỉu, những đống rác và đống tro, những vũng nước ở đường phố, thì hai khu đều giống nhau; và trong khu phố mà ta đang nói tới, còn có một hiện tượng rất tai hại đến vệ sinh của cư dân: đó là từng đàn lợn lang thang khắp các ngõ ngách, mõm rúc vào rác rưởi, hoặc bị nhốt trong các chuồng nhỏ dựng trong các sân. Ở đây, cũng như ở phần lớn các khu lao động ở Manchester, những người hàng thịt thuê các sân để dựng chuồng lợn ở đấy; hầu như trong mỗi sân đều có một hoặc vài góc được ngăn ra như vậy, và cư dân trong sân vứt vào đấy mọi thứ cặn bã, rác rưởi; lợn nhờ đó mà béo lên, còn không khí trong các sân, vốn đã ngột ngạt vì bốn phía đều bị chắn, thì hoàn toàn ô uế vì các chất của động vật và thảo mộc thối rữa. Người ta đã làm qua khu phố ấy một đường phố rộng rãi, khá lịch sự, đó là phố Miller, và như vậy là đã che giấu được mọi cái ở đằng sau một cách khá thành công, nhưng nếu ai đó tò mò đi vào một trong rất nhiều lối đi dẫn vào các sân, thì cứ vài chục bước lại vấp phải cái chuồng lợn ấy, hiểu theo đúng nghĩa của chữ này.

Khu Manchester cổ là vậy đấy. Khi đọc lại bài mô tả của mình, tôi phải nhận rằng: không những nó không quá đáng, mà còn chưa đủ để người ta hình dung được rõ ràng cảnh bẩn thỉu, đổ nát, tối tăm; và cách kiến trúc trái ngược với mọi yêu cầu về sạch sẽ, thoáng khí và vệ sinh của một khu vực chứa ít nhất là hai ba vạn người. Và một khu vực như vậy lại tồn tại, ngay trong trung tâm của một thành phố hàng thứ hai của Anh, thành phố công xưởng hàng đầu của thế giới! Nếu muốn biết một con người cần ít không gian đến mức nào để có thể cử động, cần ít không khí - mà là thứ không khí gì! - đến mức nào để có thể thở, cần ít tiện nghi đến mức nào để có thể sinh tồn; thì chỉ cần đến Manchester sẽ rõ. Thật vậy, đó là thành phố cũ, và đó là lý lẽ mà những người ở đấy thường viện ra, khi nghe nói đến tình trạng kinh tởm của cái địa ngục trần gian đó, nhưng chính điều đó nói lên cái gì? Cần hiểu rằng tất cả những gì làm cho chúng ta ghê tởm và phẫn nộ đều là sản phẩm mới nhất của thời đại công nghiệp. Vài trăm ngôi nhà thuộc thời kỳ Manchester cổ đều đã bị những người ở cũ rời bỏ từ lâu, chỉ có công nghiệp là đã dồn những đám đông người lao động đến những ngôi nhà ấy; chỉ có công nghiệp là đã xây dựng thêm từng xó nhà giữa những căn nhà cũ ấy, để kiếm chỗ ở cho những đám đông người đã bị nó thu hút từ các vùng nông nghiệp và từ Ireland đến; chỉ có công nghiệp mới cho phép bọn chủ đem các chuồng súc vật ấy cho người thuê với giá cắt cổ, lợi dụng sự nghèo khổ của người lao động, huỷ hoại sức khoẻ của hàng nghìn con người để làm giàu riêng cho chúng; chỉ có công nghiệp mới có thể khiến người lao động - vừa mới thoát khỏi chế độ nông nô - bị sử dụng như vật vô tri vô giác, như đồ dùng, làm cho họ phải tự giam mình trong một chỗ ở mà mọi người khác đều cho là quá tồi tệ, một chỗ ở mà họ phải trả bằng những đồng tiền do mồ hôi nước mắt của họ làm ra, để được hưởng quyền sử dụng cho đến khi chỗ ở đó sụp đổ hoàn toàn; tất cả những cái ấy chỉ là do công nghiệp gây nên, nền công nghiệp này nếu không có những người lao động đó, không có tình trạng bần cùng và bị nô dịch của họ thì không thể tồn tại được. Đúng là quy hoạch ban đầu của các khu phố ấy rất tồi, từ quy hoạch đó khó mà làm được cái gì tốt đẹp hơn. Nhưng thử hỏi bọn chủ đất đã làm gì, nhà đương cục địa phương đã làm gì để cải thiện nó trong khi tiếp tục xây dựng lại ở đấy? Chẳng làm gì cả; trái lại, chỗ nào còn một xó trống là người ta xây thêm nhà, chỗ nào còn một ngõ đi thừa là người ta xây thêm nhà. Giá đất tăng lên cùng với đà phát triển của công nghiệp, và giá đất càng tăng thì trên từng mảnh đất người ta càng xây dựng thêm một cách điên cuồng và lộn xộn, chẳng hề quan tâm đến vấn đề sức khoẻ cũng như vấn đề tiện nghi của cư dân, chỉ với ý nghĩ duy nhất là làm sao được nhiều lợi nhuận nhất; vì một túp lều tồi tàn đến đâu, cũng có một anh nghèo kiết xác phải thuê, vì không thuê nổi một chỗ tốt hơn. Nhưng đó là thành phố cũ, giai cấp tư sản tự thoả mãn như thế; vậy hãy xem Thành phố mới (the New town) ra sao.

Thành phố mới, còn gọi là thành phố Ireland (the Irish town), nằm ở bên kia thành phố cũ, trên một ngọn đồi đất sét, ở giữa sông Irk và đường St. George. Ở đây không còn gì có vẻ thành thị cả. Trên mặt đất sét trơ trụi, không có một ngọn cỏ, nổi lên một cách hỗn độn những dãy nhà hoặc những đường phố lắt léo, quanh co, riêng biệt như những thôn xóm nhỏ. Nhà cửa, đúng hơn là những cottage, đều hư hỏng, không bao giờ được sửa chữa, bẩn thỉu, có những căn nhà hầm để ở, ẩm thấp, nhớp nhúa. Đường phố không lát gì, cũng không có cống rãnh; nhưng ngược lại, nhiều đàn lợn hoặc nhốt trong các sân nhỏ, hay trong chuồng, hoặc tự do lang thang trên sườn đồi. Đường sá ở đây bùn lầy đến nỗi khi trời thật khô ráo mới có thể đi qua mà không ngập bùn đến mắt cá. Ở gần đường St. George, những nhóm nhà riêng biệt ở gần nhau hơn và bắt đầu một loạt liên tục những đường phố nhỏ, ngõ cụt, và sân, càng đến gần trung tâm thành phố thì càng chật chội và càng mất trật tự. Thật ra thì ở đây thường thấy những đường phố có lát, hoặc ít ra là có vỉa hè lát và rãnh thoát nước; nhưng tình trạng nhớp nhúa và tồi tệ của nhà ở, nhất là các nhà hầm thì vẫn như vậy.

Cũng nên nêu ra mấy nhận xét chung về kiểu quy hoạch thông thường của các khu phố lao động ở Manchester. Chúng ta đã thấy ở thành phố cũ, nhà cửa phần lớn được sắp xếp một cách thuần tuý ngẫu nhiên. Khi xây dựng mỗi ngôi nhà, người ta không nghĩ đến các nhà khác; và những khoảng trống xiên xẹo ở giữa các ngôi nhà, vì không biết gọi bằng tên nào khác, nên được gọi là sân (court). Trong những phần tương đối mới của khu ấy và trong những khu lao động khác được xây dựng vào những năm đầu phồn vinh của công nghiệp, chúng ta thấy nhà cửa sắp xếp có kế hoạch hơn. Khoảng trống ở giữa hai đường phố được phân chia thành những sân khá đều đặn và thường là hình tứ giác.

Các sân này ngay từ đầu đã được xây dựng như hình trên, và từ đường phố chính có những lối đi lợp kín để vào. Nếu cách sắp xếp nhà cửa không theo kế hoạch nào đã rất có hại cho sức khoẻ của dân cư, vì không thoáng khí; thì cách nhốt những người lao động trong các sân này, bị nhà cửa vây kín bốn bề, lại còn tai hại hơn nhiều. Ở đây, không khí hoàn toàn không thể thoát ra ngoài: các ống khói của chính các ngôi nhà trong khi đốt lò, là đường thoát duy nhất cho không khí bí bách trong sân11*. Ngoài ra, các nhà trong sân thường xây thành hai dãy, hai nhà chung một tường sau, chỉ điều ấy cũng đủ cản trở mọi sự thông gió tốt. Và vì cảnh sát đường phố không hề quan tâm đến tình hình các sân đó, vì mọi cái trong nhà vứt ra đều nằm nguyên một chỗ; cho nên cũng không nên lạ gì về cảnh bẩn thỉu, về những đống tro than, rác rưởi thấy ở đó. Tôi đã vào hẳn trong các sân - dọc theo phố Miller - các sân này so với phố chính thấp hơn ít ra là nửa foot, và không có một đường thoát nào cho nước đọng ở đây khi trời mưa!

Về sau người ta bắt đầu xây dựng nhà cửa theo một kiểu khác, kiểu này đến nay đã được thông dụng. Hiện nay các cottage của người lao động hầu như không bao giờ xây riêng rẽ nữa, mà thường xây hàng chục hoặc có khi hàng trăm; một nhà kinh doanh xây một lúc một hoặc hai, ba dãy phố, sắp xếp như sau: dãy đằng trước là những cottage thượng hạng, những nhà này rất may mắn có một cửa sau và một sân nhỏ, và vì thế giá thuê cũng đắt nhất. Sân của những nhà ấy thông ra ngõ sau (back-street), hai đầu bị xây chắn, có một lối đi hẹp hoặc đường lợp kín để vào. Những nhà trông ra ngõ ấy có giá thuê rẻ nhất và cũng ít được săn sóc nhất. Tường sau những nhà này chung với dãy nhà thứ ba, là dãy quay mặt ra đường phố bên kia, dãy ấy có giá thuê rẻ hơn dãy thứ nhất nhưng đắt hơn dãy giữa. Như vậy, cách bố trí các phố gần giống như bản vẽ dưới đây:

Kiểu xây dựng nhà cửa và phố xá như thế này, thật ra, có đảm bảo cho dãy nhà thứ nhất thông gió khá tốt, còn ở dãy thứ ba, thông gió ít ra cũng không kém các nhà trong kiểu kiến trúc trước; nhưng ngược lại, dãy giữa cũng bí hơi như những cottage trong các sân, và ngõ sau cũng bẩn thỉu, và khó coi không kém gì sân. Các nhà kinh doanh thích kiểu xây dựng này hơn bởi vì nó vừa tiết kiệm diện tích, vừa cho phép bóc lột nhiều hơn những người lao động có lương khá, nhờ giá cho thuê cao hơn ở dãy thứ nhất và thứ ba.

Ba kiểu xây dựng cottage này thấy ở khắp Manchester, thậm chí ở khắp Lancashire và Yorkshire, nhiều khi xen lẫn nhau, nhưng thường là riêng biệt nhau; để có thể chỉ căn cứ vào đặc trưng đó mà nhận ra được niên đại của khu này hay khu khác trong thành phố. Kiểu thứ ba, tức là kiểu có ngõ sau, chiếm ưu thế tuyệt đối trong khu lao động rộng lớn ở phía đông đường St. George, hai bên đường Oldham và phố Great Ancoats; và cũng là kiểu thường thấy nhất trong các khu lao động khác ở Manchester và ngoại ô.

Đa số các công xưởng lớn nhất ở Manchester nằm trong khu lao động rộng lớn vừa nói trên, gọi là Ancoats, dọc theo bờ các kênh đào; đó là những ngôi nhà đồ sộ sáu bảy tầng, với những ống khói cao lêu nghêu, vượt lên trên những cottage thấp của người lao động. Bởi thế, cư dân trong khu chủ yếu là công nhân công xưởng, còn trong những phố tồi tệ nhất, là thợ dệt thủ công. Những phố ở sát trung tâm thành phố là cổ nhất, chính vì vậy mà cũng là tồi tàn nhất; tuy nhiên, chúng đều được lát và có rãnh thoát nước, tôi tính gộp vào đó những phố ở gần với chúng nhất, song song với đường Oldham và phố Great Ancoats. Xa hơn, về phía đông bắc, thấy nhiều phố mới xây dựng; ở đó các cottage trông hấp dẫn và sạch sẽ, cửa ra vào và cửa sổ đều mới và nước sơn còn tươi, bên trong các phòng cũng quét vôi sạch sẽ; phố xá cũng thoáng khí hơn; khoảng trống giữa các nhà cũng rộng hơn và có nhiều hơn. Nhưng chỉ một số ít nhà được như vậy. Cũng phải nói thêm rằng hầu hết mọi nhà đều có nhà hầm để ở, nhiều đường phố không lát và không có rãnh thoát nước; và trên hết, cái vẻ gọn gàng đó chỉ là bề ngoài, cái bề ngoài này chỉ độ mươi năm là mất hẳn. Bởi vì chính cách xây dựng nhà cửa cũng không hơn gì cách xây dựng phố xá. Các nhà đó thoạt nhìn đều dễ chịu và chắc chắn; tường gạch đồ sộ trông đến thích mắt; nếu đi dọc theo các khu phố lao động mới xây dựng, mà không nhìn vào các ngõ đằng sau, và không xem xét kĩ cách kiến trúc của từng nhà; thì có thể đồng ý với nhận định của các ngài chủ xưởng phái tự do rằng: không ở đâu người lao động lại được ở nhà tốt bằng ở Anh. Nhưng khi nhìn kỹ hơn, sẽ thấy tường các cottage được xây mỏng hết mức có thể. Những tường ngoài của tầng nhà hầm, phải chống đỡ cả sức nặng của tầng chính và mái nhà, mà dày nhất cũng chỉ bằng chiều dài viên gạch, tức là xếp gạch theo từng hàng ngang, viên này tiếp viên kia, tường dày bằng chiều dài viên gạch; nhưng tôi còn thấy nhiều cottage cũng cao như vậy - một số còn đang xây dở - tường ngoài chỉ dày bằng nửa viên gạch, vì gạch xếp không theo chiều ngang mà theo chiều dọc, đầu viên nọ nối đầu viên kia, tường dày bằng chiều rộng viên gạch. Một phần là vì tiết kiệm vật liệu, nhưng một phần cũng vì nhà xây dựng không phải là chủ đất mà chỉ theo phong tục Anh, thuê đất trong 20, 30, 40, 50 hoặc 99 năm; hết hạn đó thì đất đai và mọi cái xây dựng trên đất đều thuộc về chủ đất, không bồi thường gì cả. Vì vậy, người thuê đất tính toán để khi hết hạn thuê đất, thì nhà cửa trên đó không còn đáng giá bao nhiêu; và vì các cottage ấy thường chỉ xây hai ba chục năm trước khi hết hạn thuê, nên có thể hiểu tại sao chủ xây dựng không muốn bỏ tiền nhiều. Ngoài ra, bọn này phần nhiều là chủ hãng xây dựng hoặc chủ xưởng, chúng chi rất ít hoặc không chi gì cả cho việc sửa chữa, một phần vì không muốn giảm bớt thu nhập của mình, một phần vì hạn thuê đất ngắn; trong thời gian khủng hoảng thương nghiệp, khi rất nhiều công nhân thất nghiệp, thường có hàng dãy phố bỏ không, do đó nhà cửa rất chóng đổ nát và không ở được. Người ta đã tính là: nói chung nhà của người lao động trung bình chỉ ở được bốn mươi năm. Điều đó có vẻ khá kỳ quặc, khi nhìn thấy những bức tường đồ sộ đẹp đẽ của những cottage mới xây, hứa hẹn có thể tồn tại qua nhiều thế kỷ, nhưng sự thật là như thế: sự keo kiệt ngay từ lúc xây dựng, tình hình thiếu sửa chữa, nhà ở thường bỏ không, người ở luôn thay đổi; và sau hết là tình trạng người ở - phần nhiều là người Ireland - phá hoại trong khoảng chục năm trước khi hết hạn thuê đất, họ thường cậy những mảnh gỗ trong nhà để đốt lò, tất cả những cái đó làm cho nhà cửa độ sau bốn mươi năm là đổ nát hết. Vì thế nên khu Ancoats, mới xây trong thời kỳ công nghiệp phồn vinh, và chủ yếu là trong thế kỷ này, mà cũng có nhiều nhà cửa cũ kỹ, đổ nát, và phần lớn nhà cửa thậm chí bây giờ đã đến giai đoạn cuối cùng có thể ở được. Tôi không muốn nói đến vấn đề là có bao nhiêu vốn đã bị lãng phí như vậy, vấn đề chỉ bỏ thêm chút ít vào việc xây dựng và sửa chữa, là có thể giữ cho cả khu phố ấy sạch sẽ, lịch sự và ở được thêm nhiều năm. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến tình hình nhà cửa và điều kiện ăn ở của cư dân, và phải nói rằng không có chế độ nào làm bại hoại cơ thể và tinh thần người lao động hơn là chế độ này. Người lao động buộc phải ở trong những gian nhà tồi tàn như thế, vì họ không có tiền thuê những nhà tốt hơn, hoặc vì không có nhà tốt hơn ở gần công xưởng của họ, có khi cũng vì những cottage ấy là của chủ xưởng, có ở thì mới có việc làm. Tất nhiên, thời hạn bốn mươi năm ấy không phải quy tắc cố định; nếu nhà cửa ở một khu đông đúc của thành phố, luôn có hi vọng tìm được người thuê; thì dù giá thuê đất có cao, các chủ xây dựng cũng sửa chữa đôi chút, để giữ cho các nhà ấy ở được trong một thời gian dài hơn; nhưng chắc chắn họ cũng chỉ làm những cái tối cần thiết, và những căn nhà được sửa chữa đó nằm trong số những nhà tệ nhất. Thỉnh thoảng, khi bệnh dịch đe doạ, thì lương tâm thường vẫn ngủ yên của cảnh sát vệ sinh bỗng thức tỉnh, thế là họ tổ chức đột kích các khu lao động, bắt đóng cửa hàng dãy nhà hầm và cottage không còn ở được, như đã xảy ra trong nhiều ngõ gần đường Oldham; nhưng chẳng được bao lâu, các nhà bị cấm đó lại có người đến ở ngay; bọn chủ nhà tìm được người thuê mới, thậm chí còn được lợi, vì người ta thừa biết rằng cảnh sát vệ sinh còn lâu mới trở lại đây!

Vùng ven phía đông và đông bắc Manchester là nơi duy nhất không có nhà ở của giai cấp tư sản; vì ở đây gió tây và gió tây nam thổi suốt 10-11 tháng trong một năm, luôn luôn dồn khói của tất cả các nhà máy về phía đó (mà khói này thực không phải là ít!). Thứ khói ấy chỉ để cho người lao động thở mà thôi!

Phía nam phố Great Ancoats là một khu lao động lớn đã xây được một nửa, đó là một khu đất đồi trơ trụi, với hàng dãy nhà hoặc những khối nhà hình tứ giác riêng biệt, phân bổ lộn xộn. Giữa các dãy là những khoảng đất trống, gồ ghề, toàn đất sét, không có cỏ, khi trời mưa rất khó đi. Nhà cửa đều bẩn thỉu, tồi tàn, thường xây dựng trong chỗ đất trũng sâu, và nói chung rất giống thành phố mới. Ở khu vực có đường xe lửa Birmingham chạy qua, nhà cửa xây dựng chen chúc nhất và do đó cũng tồi tệ nhất. Sông Medlock ngoằn ngoèo chảy qua đây theo một cái thung lũng mà nhiều chỗ không hơn gì thung lũng sông Irk. Dọc hai bên bờ của một con sông cũng đen ngòm, tù hãm và hôi thối - từ chỗ sông bắt đầu vào thành phố đến chỗ hợp dòng với sông Irwell - là một dải rộng gồm những công xưởng và nhà cửa hết sức tồi tàn của công nhân. Bờ sông ở đây thường dốc và nhà cửa xây đến sát mặt nước, y như chúng ta đã thấy ở bờ sông Irk; tình hình nhà cửa phố xá cũng tệ như nhau, dù là ở phía Manchester hay phía Ardwick, Chorlton và Hulme. Nhưng chỗ ghê tởm nhất, nếu tả tỉ mỉ từng chỗ riêng lẻ thì sẽ không bao giờ nói hết được, là ở bờ phía Manchester, ngay ở phía tây nam đường Oxford, gọi là Tiểu Ireland (Little Ireland). Trong một lòng chảo khá sâu, được một khuỷu sông Medlock thắt lại, bị những công xưởng cao, những mô đất cao và bờ sông xây đầy nhà bao bọc bốn phía; có chừng hai trăm nóc nhà xếp thành hai khóm, phần nhiều là hai nhà dựa lưng vào nhau; tổng cộng gần 4000 người sống ở đấy, hầu hết là người Ireland. Nhà cửa đều cũ kỹ bẩn thỉu và vào loại nhỏ nhất; đường phố gồ ghề, lồi lõm, phần nhiều không lát và không có rãnh thoát nước. Chỗ nào cũng có hàng đống rác rưởi, cặn bã và bùn lầy bẩn ghê tởm nổi lên giữa những vũng nước tù, làm cho bầu không khí, vốn đã u uất khó thở vì khói của hàng tá ống khói nhà máy, lại sặc mùi hôi thối bốc lên từ những đống ấy. Đàn bà, trẻ con rách rưới đi lại khắp nơi, bẩn thỉu không kém những con lợn lăn mình trên các đống rác và trong các vũng bùn. Tóm lại, khu này phơi bày một cảnh tượng cũng khó coi, cũng ghê tởm chẳng kém những sân tồi nhất trên bờ sông Irk. Những người sống trong các cottage sắp đổ nát ấy, đằng sau những cửa sổ vỡ kính, dùng vải dầu che lại, đằng sau những cửa ra vào gãy vỡ với khung mục nát, hoặc trong những nhà hầm ẩm thấp tối tăm, giữa cảnh nhơ nhớp thối tha ngoài sức tưởng tượng ấy, trong bầu không khí hình như cố ý bị đầu độc ấy, họ thực tế không thể không rớt xuống bậc thấp kém của loài người; bất cứ người nào dù chỉ mới nhìn bề ngoài của khu vực ấy cũng đều có cảm tưởng và kết luận như thế. Nhưng người đó sẽ nói gì khi biết rằng mỗi túp nhà như vậy, với nhiều lắm là hai căn phòng, một góc chứa đồ, đôi khi thêm một nhà hầm, chứa trung bình đến hai mươi người; rằng ở khu ấy cứ chừng 120 người mới có một hố xí, dĩ nhiên là hố xí đó hầu như chẳng bao giờ sử dụng được; rằng mặc cho các y sĩ tuyên truyền thế nào, rằng khi có nạn dịch tả, cảnh sát vệ sinh đã báo động về tình trạng của khu Tiểu Ireland, ngày nay, vào năm 1844, khu này vẫn y như năm 1831? Bác sĩ Kay kể lại12 rằng không những phần hầm mà cả tầng một của mọi nhà trong khu ấy đều ẩm thấp; rằng trước kia một số lớn các nhà hầm đã phải lấy đất lấp đi, nhưng hiện nay lại được đào ra dần dần và có người Ireland ở; rằng trong một nhà hầm, mặt nền thấp hơn mực nước sông, nên nước luôn luôn rỉ vào từ một cái lỗ đã bít lại bằng đất sét, đến nỗi người ở nhà ấy, một người thợ dệt thủ công, sáng nào cũng phải tát nước trong hầm ra ngoài đường!

Xuống dưới một tý, trên tả ngạn sông Medlock, là Hulme, thực ra chỉ là một khu lao động lớn, mà tình hình giống hệt khu Ancoats. Chỗ nào xây dựng chen chúc thì nhà cửa đều tồi tàn và sắp đổ nát, còn chỗ nào người ở thưa thớt, thì nhà cửa mới và thoáng hơn, nhưng phần lớn là ngập trong bùn. Nơi nào nhà cửa cũng ẩm thấp, cũng có nhà hầm cho người ở và ngõ sau. Ngay trong thành phố Manchester, bên kia sông Medlock, có một khu lao động lớn thứ hai, nằm dọc hai bên Deansgate, đến tận khu buôn bán, nhiều chỗ không kém gì thành phố cũ. Đặc biệt là ngay sát khu buôn bán, giữa phố Bridge và phố Quay, phố Princess và phố Peter, nhà cửa chen chúc, nhiều chỗ còn hơn cả ở những sân hẹp nhất của thành phố cũ. Ở đây có những ngõ dài và hẹp, những sân và lối đi chật hẹp gấp khúc, đường ra lối vào hỗn độn đến nỗi, nếu không quen thuộc từng sân, từng lối đi trong cái mê cung ấy, thì chốc chốc chúng ta lại vấp phải một ngõ cụt, hoặc là chẳng biết đường nào mà lần. Theo lời bác sĩ Kay thì những khu chật hẹp, bẩn thỉu và đổ nát ấy là chỗ ở của tầng lớp đồi trụy nhất của cư dân Manchester, mà nghề nghiệp là trộm cắp hoặc làm đĩ, rõ ràng là lời nói ấy đến bây giờ vẫn còn đúng. Năm 1831, khi cảnh sát vệ sinh đến đây kiểm tra, họ thấy rằng ở đây nhớp nhúa không kém gì ở bờ sông Irk hoặc ở khu Tiểu Ireland (tôi có thể chứng minh rằng ngày nay cũng chẳng hơn gì mấy); và thêm vào đó là ở phố Parliament cứ 380 người mới có một hố xí, và trong ngõ Parliament thì cứ ba mươi nhà chật ních người ở mới có một hố.

Vượt qua sông Irwell, ta thấy Salford, trên một bán đảo do con sông này tạo nên, với tám vạn dân; thực ra là một khu lao động lớn, với một đường phố rộng xuyên qua. Ngày xưa Salford quan trọng hơn Manchester, nó từng là trung tâm của toàn vùng xung quanh, ngày nay vẫn còn có tên là Salford Hundred. Vì thế, ở đây có một khu khá lâu đời, nên ngày nay nó rất thiếu vệ sinh, bẩn thỉu và đổ nát; ở ngay trước mặt nhà thờ cũ của Manchester, và cũng tồi tàn như thành phố cũ, ở bên kia sông Irwell. Xa sông hơn một chút là một khu mới hơn, nhưng cũng đã quá bốn chục năm nên cũng khá tồi tàn. Cả thành phố là những sân và ngõ chật hẹp, đến nỗi làm tôi nhớ đến những phố hẹp nhất mà tôi từng thấy: đó là những phố nhỏ chật chội ở Genoa. Về phương pháp xây dựng cũng như vệ sinh, nói chung Salford còn tệ hơn Manchester nhiều. Ở Manchester, cứ sáu tới mười năm một lần, ít ra cảnh sát còn bất ngờ kiểm tra các khu lao động, niêm phong những nhà đổ nát nhất, bắt quét dọn những ngóc ngách bẩn thỉu nhất của cái chuồng ngựa Augeas ấy; còn ở Salford thì hình như chưa bao giờ họ làm như vậy. Những ngõ hẹp ở bên cạnh và những sân ở dọc phố Chapel, ở Greengate và Gravel Lane từ khi xây dựng đến nay chắc chưa hề được quét dọn lần nào. Ngày nay đường xe lửa Liverpool chạy qua các phố ấy trên một chiếc cầu cao, đã làm mất đi một số xó xỉnh bẩn thỉu nhất, nhưng liệu có nhờ đó mà khá lên không? Khi đi dọc theo cầu cao ấy, từ trên cầu nhìn xuống, vẫn còn thấy cảnh tượng khá nhớp nhúa, nghèo nàn; và nếu chịu khó dạo một vòng trong các ngõ ấy, ghé mắt nhìn vào các nhà và các hầm qua các cửa sổ và cửa ra vào mở toang, thì dễ thấy rằng người lao động Salford sống ở những nơi không thể nói đến sạch sẽ và tiện nghi được. Ở các khu xa hơn của Salford, ở Islington, dọc đường Regent và sau đường xe lửa Bolton, cảnh tượng cũng như vậy. Nhà cửa của người lao động giữa Oldfield Road và Cross Lane, ở hai bên phố Hope có vô số ngõ và sân vào loại tồi tệ nhất, bẩn thỉu và chật chội không kém gì thành phố cũ. Ở nơi này, tôi đã thấy một người tuổi trạc sáu mươi sống trong một ngăn chuồng bò; trong cái hộp hình tứ giác ấy không có cửa sổ, không sàn, và thậm chí không lát đá, ông ta đã làm một cái giống như lò sưởi, đặt một chiếc giường và sống ở đó, mặc dù hễ mưa là nước dột qua cái mái tồi tàn ruỗng nát. Ông ta quá già yếu, không thể có được một công việc thường xuyên, nên đã kiếm ăn bằng cách dùng xe cút-kít chở thuê phân hoặc những thứ tương tự: hố chứa phân ở sát ngay ngăn chuồng bò ông ta ở!

Các khu lao động ở Manchester, mà tôi đã có dịp tự mình quan sát trong hai mươi tháng trời, là thế đấy. Nếu khái quát kết quả chuyến đi của ta qua các nơi ấy, thì phải nói rằng hầu hết 35 vạn người lao động ở Manchester và các vùng phụ cận đều sống trong những cottage tồi tàn, ẩm thấp và bẩn thỉu; còn những phố quanh đó phần nhiều đều trong tình trạng tồi tệ và bừa bãi nhất, khi xây những phố ấy, người ta không chú ý đến vấn đề thông gió, mà chỉ quan tâm đến lợi nhuận của chủ xây dựng thôi. Tóm lại, phải nhận rằng: trong những căn nhà của người lao động ở Manchester, không thể có được sự sạch sẽ, cũng không thể có được thứ tiện ích nào, do đó không thể có được sự ấm cúng gia đình; trong các căn nhà ấy, chỉ có hạng người thoái hoá, suy đồi về thể xác, mất hết tính người, về trí tuệ và đạo đức đã sa đoạ thành súc vật, mới có thể cảm thấy dễ chịu và ấm cúng. Và không phải mình tôi khẳng định như vậy: chúng ta đã thấy bác sĩ Kay cũng mô tả như thế, và tôi còn dẫn chứng thêm những lời nói của một người thuộc Đảng tự do, một nhân vật có uy tín được các chủ xưởng công nhận và kính trọng, một kẻ thù mù quáng của mọi phong trào công nhân độc lập, đó là ông Senior13*:
"Khi quan sát nhà ở của công nhân công xưởng trong thành phố Ireland, Ancoats và Tiểu Ireland, tôi chỉ ngạc nhiên một điều là: sống trong những căn nhà như vậy mà người ta còn có thể giữ được mức sức khoẻ tương đối. Khi xây dựng những thành phố ấy - đứng về diện tích và dân số mà nói, đó là những thành phố thực sự - người ta không hề quan tâm đến bất cứ một cái gì khác ngoài lợi ích trực tiếp của bọn chủ thầu đầu cơ xây dựng. Chủ hãng mộc và chủ hãng xây dựng mua chung (tức là thuê trong một số năm nhất định) mấy lô đất và dựng trên đó những cái mà người ta gọi là nhà. Có chỗ chúng tôi đã thấy cả một dãy phố chạy dọc theo một cái hào quanh co được sử dụng làm tầng nhà hầm khá sâu không phải tốn tiền đào đất, hơn nữa nhà hầm này không phải dùng làm chỗ chứa đồ, hoặc kho tàng, mà là cho người ở. Không một nhà nào trong phố ấy thoát khỏi bệnh dịch tả. Và thường thì những đường phố trong các vùng phụ cận ấy đều không lát, giữa đường là từng đống phân và vũng nước, nhà cửa thì dính lưng vào nhau, chẳng có thiết bị thông gió và thoát nước gì cả, và cả gia đình bị nhốt vào một xó dưới hầm hoặc gác sát mái".

Trên kia tôi đã nói đến tính tích cực phi thường của cảnh sát vệ sinh Manchester trong thời kì có dịch tả. Khi dịch tràn dần đến, toàn thể giai cấp tư sản trong thành phố đều hoảng hốt. Người ta nhớ đến những căn nhà thiếu vệ sinh của người nghèo, run sợ nghĩ rằng mỗi khu nhà ổ chuột ấy sẽ trở thành một lò truyền nhiễm, bệnh dịch có thể từ đó truyền đi, hoành hành khắp nơi, lọt vào trong những toà nhà của giai cấp có của. Lập tức, họ thành lập một tiểu ban vệ sinh để điều tra và báo cáo tường tận với hội đồng thành phố về tình hình các khu ấy. Bác sĩ Kay chính là một uỷ viên trong tiểu ban ấy, đã đích thân kiểm tra từng khu, trừ khu 11, và đã trích mấy đoạn trong báo cáo ấy. Tất cả có 6951 nhà được kiểm tra, tất nhiên chỉ ở chính Manchester, không kể Salford và các vùng phụ cận khác; trong đó, 2565 nhà cấp thiết phải quét vôi ngay bên trong, 960 nhà không thực hiện kịp thời việc tu bổ cần thiết (were out of repair), xung quanh 939 nhà không đủ cống rãnh tốt, 1435 nhà ẩm thấp, 452 nhà thông gió kém, 2221 nhà không có chuồng xí. Trong số 687 phố được kiểm tra, 248 phố không lát, 53 phố chỉ lát từng đoạn, 112 phố thông gió kém, 352 phố có nhiều vũng nước tù và các đống rác rưởi, v.v. Tất nhiên là không dễ gì mà dọn sạch những cái chuồng ngựa Augeas ấy trước khi dịch tả đến. Vì vậy người ta chỉ quét dọn một vài xó tồi tệ nhất, còn những chỗ khác thì đâu vẫn nguyên đấy; dĩ nhiên là những nơi đã được quét dọn đó, chỉ vài tháng sau lại bẩn như cũ, như khu Tiểu Ireland chẳng hạn. Về tình hình bên trong những nhà ấy, tiểu ban ấy đã báo cáo những điều y hệt như ta đã nghe thấy về London, Edinburgh và các thành phố khác:
"Thường là cả một gia đình Ireland nằm chen chúc trên một cái giường; nhiều khi một đống rơm bẩn được phủ bằng bao tải cũ, dùng làm chỗ nằm chung; mọi người đều trụy lạc như nhau vì nghèo khổ, đần độn và phóng đãng. Nhiều khi các uỷ viên kiểm tra đã thấy hai gia đình ở chung một căn nhà có hai phòng, một phòng dùng làm buồng ngủ cho tất cả, phòng kia dùng làm bếp và nhà ăn chung; thậm chí nhiều khi đến mấy gia đình sống trong một gian nhà hầm ẩm ướt; trong bầu không khí hôi thối của gian hầm đó, từ mười hai tới mười sáu người ở chen chúc; ngoài những nguồn bệnh truyền nhiễm như thế, còn có tình trạng người ta nuôi lợn và các con vật khác cả ở đấy, và còn nhiều cái khác, đã gây ra sự bẩn thỉu kinh tởm nhất"14.

Phải nói thêm là nhiều gia đình, dù chỉ có một phòng, cũng nhận người ở nhờ hay người ngủ trọ để lấy tiền; thậm chí nhiều khi khách trọ, cả nam lẫn nữ, lại ngủ chung một giường với gia đình chủ nhà, và theo "Báo cáo về tình hình vệ sinh của giai cấp công nhân", ở Manchester ít nhất có sáu trường hợp người chồng ngủ chung một giường với vợ và em gái vợ đã lớn tuổi. Các nhà trọ ở đây cũng rất nhiều. Năm 1831 bác sĩ Kay đã tính là có 267 nhà trọ như vậy ở chính Manchester, và từ đó trở đi con số chắc phải tăng lên nhiều rồi. Mỗi nhà trọ chứa được hai, ba chục khách, như vậy là mỗi đêm, những nhà trọ ấy chứa từ 5000 đến 7000 người. Tính chất những nhà trọ ấy và những khách trọ thường xuyên của chúng cũng giống như ở các thành phố khác. Trong mỗi phòng, không có chiếc giường nào, chỉ có từ năm đến bảy cái đệm trải ngay trên mặt đất, có bao nhiêu người trọ là nhét vào đó tuốt, và tất cả nằm chung chạ với nhau. Chả cần phải nói các hoàn cảnh vật chất và tinh thần đã ngự trị ở các ổ tội lỗi ấy là như thế nào. Mỗi một nhà ấy là một lò tội ác, một nơi diễn ra những hành vi ghê người, những hành vi có thể không bao giờ xảy ra, nếu không có sự tập trung bắt buộc của các thứ tội ác ấy. Gaskell15* đã tính là ở chính Manchester có đến hai vạn người ở nhà hầm. Như tạp chí "Weekly Dispatch" công bố "theo những báo cáo chính thức" thì có đến 12% tổng số người lao động sống trong các nhà hầm; con số đó phù hợp với con số của Gaskell: tổng số người lao động là 175.000, 12% là 21.000. Ở các vùng phụ cận Manchester, những nhà hầm có người ở ít ra cũng nhiều như thế; vậy số người ở nhà hầm trên toàn bộ Manchester, hiểu theo nghĩa rộng, có từ 4 đến 5 vạn. Đấy, nhà ở của người lao động ở các thành phố lớn là như vậy. Cách giải quyết nhu cầu về nhà ở có thể dùng làm thước đo cách giải quyết các nhu cầu khác. Rất dễ giả định rằng chỉ có những con người rách rưới, đói khát mới có thể ở trong những cái hang bẩn thỉu đó. Và quả thực là như vậy. Tuyệt đại đa số người lao động đều ăn mặc hết sức tồi tệ. Ngay từ chất liệu đã không thích hợp; lanh và len dạ thì hầu như cả nam lẫn nữ đều hoàn toàn không có, mà chỉ có vải sợi bông. Áo sơ-mi thường là vải trắng hoặc vải hoa sặc sỡ, quần áo phụ nữ thì thường may bằng vải in hoa, trên dây phơi ít khi thấy váy bằng len dạ. Đàn ông thường dùng quần bằng nhung sợi bông hoặc bằng loại vải sợi bông dày khác, áo khoác ngoài và áo vét cũng vậy. Nhung sợi bông (fustian) thậm chí đã trở thành một từ đồng nghĩa để chỉ quần áo của người lao động: người ta gọi họ, và thậm chí họ cũng tự xưng là fustian-jackets16; để phân biệt với các ngài mặc len dạ (broad-cloth), từ này lại cũng dùng để chỉ người tư sản. Khi Feargus O'Connor, lãnh tụ của phái Hiến chương đến Manchester trong cuộc khởi nghĩa năm 1842, ông đã xuất hiện với bộ quần áo bằng nhung sợi bông giữa tiếng hoan hô nhiệt liệt của những người lao động. Ở Anh, đội mũ là rất thông thường, ngay cả với người lao động; mũ đủ các kiểu: hình tròn, hình ống, hình chóp, vành rộng, vành hẹp hoặc hoàn toàn không vành, chỉ có thanh niên ở các thành phố công nghiệp mới đội cát-két. Ai không có mũ thì tự làm lấy một cái mũ không vành hình tứ giác thấp bằng giấy. Toàn bộ y phục của người lao động, dù là còn tốt đi nữa, cũng rất ít thích nghi với khí hậu. Thời tiết ở Anh ẩm ướt, thay đổi thất thường, dễ bị cảm, nên gần như toàn bộ giai cấp có của phải mặc áo lót bằng nỉ mỏng; khăn quàng, gi-lê, băng bụng bằng nỉ mỏng đều rất thông dụng. Giai cấp lao động không những không thể dự phòng như vậy, mà còn hầu như không bao giờ may được một cái áo len. Còn vải bông thô, tuy dày hơn, cứng hơn và nặng hơn len dạ, nhưng chống lạnh và chống ẩm thì lại kém hơn rất nhiều; vì dày và vì đặc tính của bản thân nguyên liệu, nên nó lại lâu khô, và nói chung là kém xa hàng len dạ mịn về độ kín. Nếu một người lao động có thể mua một chiếc áo khoác ngoài bằng len để mặc ngày chủ nhật, thì anh ta phải đến "cửa hàng bán rẻ", để mua một chiếc áo làm từ loại vải xấu gọi là devil's dust17, làm ra "chỉ để bán chứ không phải để mặc", chỉ độ nửa tháng là sờn hoặc rách ngay; hoặc anh ta phải đến hàng quần áo cũ, mua lại một chiếc áo đã tàng tàng, mà thời oanh liệt của nó đã qua lâu rồi, và chỉ còn dùng được vài tuần. Hơn nữa, quần áo của phần lớn người lao động vốn đã không ra gì, thế mà thỉnh thoảng có tấm nào hơi khá thì lại phải đem gửi nhà cầm đồ. Quần áo của rất nhiều người lao động, nhất là người Ireland, đúng là giẻ rách, thậm chí nhiều khi không còn chỗ đặt miếng vá nữa, hoặc vì vá nhiều quá nên không nhận ra được lúc đầu nó có màu gì. Người Anh và người lai Anh-Ireland vẫn cứ tìm được cách vá những quần áo ấy, và về nghệ thuật này, họ đã đạt tới mức rất đáng kinh ngạc: việc vá mụn bằng dạ hay vải đay thô lên nhung sợi bông và ngược lại, đối với họ không có khó khăn gì; nhưng người Ireland thực sự, mới di cư đến thì hầu như không vá quần áo bao giờ, trừ trường hợp vạn bất đắc dĩ, tức là nếu không vá thì áo quần sẽ rơi thành từng mảnh mất. Những mảnh rách của áo sơ-mi thường lủng lẳng qua các kẽ rách của áo vét ngắn hoặc quần. Như lời Thomas Carlyle18*, người Ireland mặc
"quần áo bằng những mụn vải rách nát, cởi ra mặc vào là việc hết sức khó khăn, chỉ tiến hành trong những ngày lễ, hoặc những trường hợp đặc biệt long trọng".

Người Ireland cũng đưa vào Anh cái thói quen đi chân đất, mà trước kia ở Anh chưa từng có. Ngày nay, ở tất cả các thành phố công xưởng, thấy rất nhiều người, nhất là đàn bà và trẻ con, đi chân đất, và cái thói quen ấy lan dần sang những người Anh nghèo khổ nhất.

Mặc thế nào thì ăn thế vậy: người lao động chỉ kiếm được những cái mà giai cấp có của cho là tồi quá. Trong các thành phố lớn ở Anh, của ngon vật lạ cái gì cũng có, nhưng rất đắt, người lao động phải tính từng xu trong chi tiêu, không thể nào bỏ ra nhiều tiền. Thêm vào đó, họ thường lĩnh lương vào chiều thứ bảy, đúng là có một vài nơi đã trả lương vào thứ sáu, nhưng sáng kiến này còn chưa phổ biến. Đến tận bốn, năm giờ, thậm chí bảy giờ chiều, họ mới ra tới chợ, còn bọn tư sản đã chọn hết những thứ ngon lành nhất từ buổi sáng rồi. Buổi sáng chợ đầy những thức ăn ngon nhất, nhưng khi người lao động ra đến chợ thì những cái tốt nhất đã hết sạch; mà dù có còn đi nữa, thì chắc họ cũng không thể mua. Khoai tây họ mua thường thuộc loại tồi, rau héo, pho-mát để lâu và phẩm chất kém, mỡ lợn ôi, thịt không béo, dai, của súc vật gầy, già, thường là của súc vật ốm hoặc chết, nhiều khi đã gần thối hỏng. Cung cấp cho công nhân thường là những người buôn bán nhỏ; họ mua những hàng tồi, và chính vì hàng tồi nên họ mới bán được rẻ như vậy. Những người lao động nghèo khổ nhất còn phải đặc biệt xoay xở, để với số tiền ít ỏi của mình, họ có thể mua được những thực phẩm cần thiết, dù là phẩm chất kém: vì đến nửa đêm thứ bảy tất cả các cửa hàng đều phải đóng cửa, và chủ nhật thì không có mua bán gì; nên khoảng giữa mười và mười hai giờ đêm, các cửa hàng bán những thứ không thể để lại đến sáng thứ hai với giá rất rẻ. Nhưng những thứ đến mười giờ đêm thứ bảy còn ế lại, thì đến sáng chủ nhật, chín phần mười là không ăn được nữa, và đó chính là thức ăn chủ nhật của giai cấp nghèo khổ nhất. Loại thịt mà người lao động mua thường là không còn ăn được, nhưng đã mua về thì phải ăn thôi. Ngày 6 tháng Giêng 1844 (nếu tôi không nhầm) ở Manchester, một toà án địa phương (court leet) xử phạt mười một người bán thịt vì đã bán thịt không thể ăn được. Trong đó, một hàng có nguyên một con bò, một hàng có nguyên một con lợn, một hàng có mấy con cừu, một hàng có năm sáu mươi pound thịt bò; tất cả đều bị tịch thu vì đã hoàn toàn không thể ăn được nữa. Người ta đã tịch thu 64 con ngỗng quay nhồi thịt cho lễ Noel của một trong những người bán thịt ấy, vì bán ế ở Liverpool, nên được chở đến Manchester, khi ra đến chợ thì đã trương phình lên và có mùi hôi thối. Báo "Manchester Guardian" có tường thuật tỉ mỉ chuyện này, nêu cả tên người và số tiền phạt. Cũng báo đó, trong sáu tuần, từ 1 tháng Bảy đến 14 tháng Tám, đã đăng tin về ba vụ tương tự. Số báo ngày 3 tháng Bảy đăng tin, ở Heywood đã tịch thu một con lợn 200 pound, người bán thịt tìm thấy khi nó đã chết và đang trương phình lên, nhưng vẫn xẻ thịt ra bán; số báo ngày 31 tháng Bảy, hai hàng thịt ở Wigan bị xử 2 và 4 Bảng tiền phạt vì đã bán thịt không thể ăn được, trong đó một người đã từng mắc tội này; cuối cùng, số báo ngày 10 tháng Tám, một quầy bán lẻ ở Bolton bị tịch thu 26 cái dăm-bông không thể ăn được, đem đốt trước công chúng, và bị phạt 20 shilling. Nhưng đây chưa phải là đã kể hết mọi trường hợp, cũng không thể xem đó là con số trung bình trong sáu tuần, để từ đó suy ra con số trung bình hàng năm. Có những thời gian mỗi số báo "Guardian", báo này ra tuần hai kỳ, đều có đăng tin về những trường hợp tương tự xảy ra, ở Manchester hoặc vùng lân cận. Và nên nhớ rằng, vì phạm vi rộng lớn của các chợ nằm dọc tất cả các phố lớn, và sự kiểm tra không nghiêm ngặt, nên nhiều trường hợp đã lọt qua mắt các viên kiểm tra chợ, nếu không thì cắt nghĩa làm sao được việc các hàng thịt dám đem cả từng con vật đã thối ra bán? Nếu chú ý rằng với hình phạt quá nhẹ như đã nói trên, thì thấy sự cám dỗ của lối buôn bán ấy đối với những người tiểu thương có sức mạnh biết chừng nào; nếu hình dung được một miếng thịt như thế nào mới bị các viên kiểm tra cho là hoàn toàn không thể ăn được và tịch thu, thì không thể tin là người lao động có thể thường xuyên mua được thịt ngon và bổ. Nhưng về các mặt khác, họ còn phải khổ vì lòng tham của giai cấp tư sản. Bọn thương nhân và chủ xưởng làm giả các loại thực phẩm một cách vô lương tâm nhất, hoàn toàn coi rẻ sức khoẻ của những người buộc phải tiêu thụ những thực phẩm đó. Trên kia ta đã dẫn chứng báo "Manchester Guardian", giờ hãy nghe một tờ báo khác của giai cấp tư sản - tôi thích đưa đối thủ của mình ra làm chứng - tờ "Liverpool Mercury":
"Người bán bơ mặn giả làm bơ tươi bằng cách trải một lớp bơ tươi lên mặt những tảng bơ mặn, để đánh lừa khẩu vị, hoặc để một pound bơ tươi ở trên cho nếm thử rồi sau đó bán bơ mặn, hoặc rửa bớt muối rồi bán làm bơ tươi. Đường thì đem trộn bột gạo hoặc những chất gì rẻ tiền rồi mang bán theo giá đường tinh. Những cặn bã nấu xà phòng cũng đem trộn với những thứ khác giả làm đường. Cà-phê bột thì trộn lẫn bột cải đắng hoặc những thứ rẻ tiền khác; nhiều khi làm giả cà-phê chưa xay bằng cách tạo ra những hình dáng giống hạt cà-phê. Ca-cao thường trộn lẫn với đất sét màu nâu xám nghiền vụn có phết mỡ cừu, để cho dễ lẫn với ca-cao thật. Chè thì trộn lẫn với lá mận gai và những thứ giống như thế, hoặc lá chè đã pha rồi được đem phơi khô, rang trên tấm đồng nung nóng để lấy lại mầu chè, rồi bán làm chè mới. Hạt tiêu thì trộn lẫn với vỏ đậu nghiền thành bột, v.v. Rượu Porto thì dứt khoát là làm giả (bằng thuốc màu, cồn và những thứ khác), vì mọi người đều biết chỉ riêng số rượu Porto tiêu thụ ở Anh đã nhiều hơn số rượu Porto mà tất cả các vườn nho ở Bồ Đào Nha có thể cung cấp được. Các loại thuốc lá bán ở thị trường đều pha lẫn với đủ mọi thứ đáng tởm".

(Tôi có thể bổ sung rằng, việc làm giả thuốc lá phổ biến đến nỗi, nhiều tay buôn thuốc lá vào loại có tiếng nhất ở Manchester, mùa hè vừa qua đã công khai tuyên bố rằng: việc kinh doanh của họ không thể tồn tại nếu không làm giả, và mọi loại xì-gà giá dưới ba penny một điếu đều không phải là thuốc lá nguyên chất). Tất nhiên, không phải chỉ trong các loại thực phẩm mới có sự làm giả, dù tôi còn có thể kể ra hàng tá ví dụ nữa, như cái thói đê tiện trộn bột thạch cao hoặc bột phấn vào bột mì. Người ta lừa bịp khắp mọi nơi: nỉ mỏng, bít tất, v.v. thì kéo căng ra cho có vẻ dài, và mới giặt lần đầu đã co lại; dạ khổ hẹp hơn quy cách mất một inch rưỡi hoặc ba inch được bán làm dạ khổ rộng; bát đĩa thì tráng men mỏng đến nỗi lớp men bong đi ngay; và còn hàng trăm trò lừa lọc khác. Tout comme chez nous19. Nhưng người lao động lại chịu những hậu quả tai hại của sự giả mạo ấy nhiều hơn bất kì ai. Anh nhà giàu ít bị lừa, vì có thể mua giá cao ở các cửa hàng lớn, mà chủ các cửa hàng này phải giữ tiếng, vì chính họ sẽ bị thiệt nhất nếu bán hàng xấu và giả; ngoài ra, anh ta còn rất tinh trong việc ăn uống, với vị giác khá nhạy, rất dễ phát hiện sự giả mạo. Nhưng người nghèo, người lao động, phải tính từng xu, phải mua nhiều hàng với số tiền ít ỏi, không thể và cũng không biết quan tâm nhiều tới chất lượng, vì chưa bao giờ có cơ hội phát triển vị giác của mình; chính họ phải mua tất cả những thực phẩm giả và độc hại ấy. Họ buộc phải mua ở quầy hàng nhà buôn nhỏ, có khi phải mua chịu; còn những nhà buôn nhỏ, vì vốn ít mà chi phí kinh doanh lại nhiều, nên với cùng một loại hàng, họ không thể bán rẻ như nhà buôn lớn, và vì khách hàng đòi mua giá rẻ, cũng như vì phải cạnh tranh với kẻ khác, cho nên cố ý hay không cũng phải bán hàng giả. Hơn nữa, nhà buôn lớn đã bỏ nhiều vốn vào kinh doanh, sẽ mất tín nhiệm và phá sản nếu hành vi gian lận bị phát hiện; còn chủ hiệu nhỏ chỉ cung cấp cho một đường phố, nếu bị phát hiện là gian lận thì sẽ mất gì? Nếu mất tín nhiệm ở Ancoats thì anh ta dọn sang Chorlton hoặc Hulme, ở đó chẳng ai quen biết anh ta và anh ta lại có thể gian lận như trước. Mà những hành vi gian lận rất ít bị truy tố, trừ khi có liên quan đến việc trốn lậu thuế. Nhưng người lao động Anh bị lừa không chỉ về chất lượng, mà cả về số lượng. Cân và thước đo của các nhà buôn nhỏ phần nhiều là không đúng; và trong báo cáo của cảnh sát, người ta thấy những vụ phạt về loại vi phạm ấy cũng có rất nhiều. Vài mẩu tin trong báo "Manchester Guardian" sẽ cho chúng ta thấy rằng những việc gian lận như thế phổ biến đến thế nào trong các khu công nghiệp; ở đây chỉ hạn chế trong một thời gian ngắn, mà trong thời gian đó tôi cũng không có tất cả các số báo trong tay.

Báo "Guardian", ngày 16 tháng Sáu 1844. Phiên toà ở Rochdale: 4 chủ hiệu bị phạt tiền từ 5 đến 10 shilling vì dùng quả cân quá nhẹ. Phiên toà ở Stockport: Hai chủ hiệu bị phạt tiền 1 shilling, một trong hai người có 7 quả cân quá nhẹ và 1 cái cân sai, và cả hai trước đây đã bị cảnh cáo.
Báo "Guardian", ngày 19 tháng Sáu. Phiên toà ở Rochdale: 1 chủ hiệu bị phạt tiền 5 shilling và 2 nông dân bị phạt 10 shilling.
Báo "Guardian", ngày 22 tháng Sáu. Thẩm phán hoà giải Manchester đã phạt tiền 19 chủ hiệu từ 2,5 shilling đến 2 Bảng.
Báo "Guardian", ngày 26 tháng Sáu. Phiên toà ở Ashton: 14 chủ hiệu và nông dân bị phạt tiền từ 2,5 shilling đến 1 Bảng. Phiên toà hoà giải ở Hyde: 9 nông dân và chủ hiệu bị phạt 5 shilling và phải nộp án phí.
Báo "Guardian", ngày 6 tháng Bảy. Manchester: 16 chủ hiệu phải nộp án phí và phạt tiền từ 10 shilling trở xuống.
Báo "Guardian", ngày 13 tháng Bảy. Manchester: 9 chủ hiệu bị phạt tiền từ 2,5 đến 20 shilling.
Báo "Guardian", ngày 24 tháng Bảy. Rochdale: 4 chủ hiệu bị phạt từ 10 đến 20 shilling.
Báo "Guardian", ngày 27 tháng Bảy. Bolton: 12 chủ hiệu và chủ khách sạn phải nộp án phí.
Báo "Guardian", ngày 3 tháng Tám. Bolton: 3 chủ hiệu bị phạt tiền từ 2,5 đến 5 shilling.
Báo "Guardian", ngày 10 tháng Tám. Bolton: 1 chủ hiệu bị phạt tiền 5 shilling.

Những nguyên nhân khiến người lao động thường bị lừa gạt về chất lượng, cũng chính là những nguyên nhân khiến họ bị lừa gạt về số lượng.

Sự ăn uống thông thường của mỗi công nhân, tất nhiên khác nhau tuỳ theo tiền lương. Những công nhân có lương cao, nhất là công nhân công xưởng, khi mỗi người trong gia đình đều có việc làm và kiếm được ít nhiều, thì ăn uống khá; hàng ngày có thịt, và buổi tối có thịt mỡ và pho-mát. Nơi nào lương thấp hơn, thì mỗi tuần ăn thịt hai ba lần, và ăn nhiều bánh mì, khoai tây hơn. Nơi nào tiền lương thấp nữa, thì chỉ còn tí thịt mỡ, cắt thành miếng nhỏ, trộn với khoai tây; thấp hơn nữa, thì tí thịt mỡ ấy cũng không có, chỉ còn pho-mát, bánh mì, cháo yến mạch (porridge) và khoai tây; tới những công nhân lương thấp nhất, là những người Ireland, thì khoai tây là thức ăn duy nhất. Đồng thời, nói chung họ đều uống nước chè loãng, có khi pha đường, ít sữa hay chút rượu; ở Anh và cả ở Ireland, nước chè được xem là thức uống quan trọng và cần thiết, như là cà-phê ở Đức; không có nước chè uống là cực kỳ nghèo khổ. Nhưng để có tất cả những cái ấy, thì điều kiện đầu tiên là công nhân phải có việc làm; khi không có việc làm, thì hoàn toàn là nhờ may rủi, anh ta ăn cái gì người ta cho, cái gì xin được hoặc ăn cắp được; nếu không kiếm được gì thì cứ việc chết đói, như ta đã thấy. Cố nhiên, số lượng và chất lượng thức ăn là do tiền lương quyết định, cho nên những công nhân lương thấp bị đói, kể cả khi họ có việc làm, kể cả khi gia đình họ không có đông người; số công nhân lương thấp ấy lại rất nhiều. Nhất là ở London, nơi mà sự cạnh tranh giữa công nhân tăng lên cùng với dân số, giai cấp công nhân rất đông, nhưng ở các thành phố khác cũng thấy có giai cấp ấy. Trong tình hình đó, người ta xoay xở đủ cách, và do không có thức ăn nào khác, người ta phải ăn cả vỏ khoai, lá rau nhặt bỏ đi, hoa quả thối20*, bất kì cái gì còn chút ít dưỡng chất là người ta đều tham lam vơ vét hết. Khi chưa hết tuần mà tiền lương hàng tuần đã cạn, thì thường trong mấy ngày cuối tuần, cả nhà không ăn gì cả, hoặc chỉ ăn đủ để khỏi chết đói thôi. Cách sống như vậy nhất định phải gây nên vô số bệnh tật, và khi bệnh tật chỉ vừa mới bắt đầu xảy ra, nhất là khi người đàn ông đau ốm, người chủ yếu nuôi gia đình, người cần ăn nhiều nhất vì lao động vất vả, và do đó cũng là người đầu tiên ốm; thì nỗi cùng khổ càng lớn, và càng bộc lộ đặc biệt rõ rệt tính tàn nhẫn của xã hội: bỏ mặc những thành viên của mình, chính khi họ cần đến sự giúp đỡ của xã hội nhiều nhất.

Để kết thúc, hãy tóm tắt những gì đã được nhắc đến ở chương này. Cư dân các thành phố lớn chủ yếu là công nhân, vì nhiều lắm thì cũng hai công nhân - thường là ba, có khi tới bốn công nhân - mới có một người tư sản; những công nhân đó bản thân không có chút tài sản gì đáng kể, chỉ sống bằng tiền lương và hầu hết là luôn chỉ vừa đủ ăn; cái xã hội gồm những nguyên tử rời rạc ấy hoàn toàn không quan tâm đến họ, mặc cho họ tự nuôi lấy mình và gia đình, nhưng lại không cấp cho họ phương tiện để có thể thường xuyên và thật sự giải quyết những nhu cầu ấy. Mỗi công nhân, thậm chí là người giỏi nhất, cũng luôn có thể bị mất việc và mất cái ăn, để rồi chết đói, nhiều người đã bị như vậy. Nhà cửa của người lao động đều quy hoạch tồi, xây dựng tồi, không được giữ gìn, bí hơi, ẩm thấp và thiếu vệ sinh; người ở chen chúc nhau, và trong đa số trường hợp, thì trong một phòng ít ra cũng có cả một gia đình ngủ; đồ đạc trong nhà cũng phù hợp với các mức độ bần cùng khác nhau, có khi đến những đồ dùng cần thiết nhất cũng không có. Quần áo của công nhân nói chung cũng rất thảm thương, phần lớn chỉ là những mớ giẻ rách. Thức ăn nói chung rất tồi, thường là hầu như không thể ăn được; nhiều khi, ít ra cũng là thỉnh thoảng, không đủ số lượng; và tệ nhất thì có cả người chết đói. Vậy, có thể hình dung tình cảnh của giai cấp công nhân ở các thành phố lớn như một cái thước đo: khá nhất là một cuộc sống tạm được, đồng lương kiếm được bằng công việc nặng nhọc cũng khá, chỗ ở tốt, ăn uống nói chung không đến nỗi tồi, tất cả đều khá và chịu được, cố nhiên là theo con mắt của người công nhân; tệ nhất là sự bần cùng tàn khốc, đến mức không nhà cửa và chết đói; nhưng mức trung bình thì gần với cái tệ nhất hơn là cái khá nhất. Và những bậc thang khác nhau đó không phải là cố định cứng nhắc cho các loại công nhân khác nhau, được quy chính xác đến mức người ta có thể nói loại công nhân này sinh sống khá còn loại kia kém, xưa nay vẫn vậy và sau này cũng sẽ vậy. Không phải thế. Nếu một đôi nơi có như vậy, nếu về đại thể, có một đôi ngành nào đó có ưu thế hơn so với các ngành khác, thì ở mọi ngành, tình cảnh của người lao động vẫn là hết sức bấp bênh; và mỗi người công nhân đều có thể phải trải qua toàn bộ các bậc thang ấy, từ mức tiện nghi tương đối dễ chịu đến mức cực kỳ nghèo khổ, thậm chí đến mức chết đói, hầu như mỗi người vô sản Anh đều có thể nói chuyện rất nhiều về những rủi ro của đời mình. Bây giờ chúng ta hãy xét tỉ mỉ hơn những nguyên nhân của tình trạng ấy.


-----------------------------
Chú thích
1* (Năm 1892). Đó là viết cách đây gần 50 năm, vào thời đại của những chiếc tàu buồm mỹ lệ. Ngày nay, nếu còn có cái nào đến London, thì chúng bị tống vào các bến chữa tàu, còn sông Thames thì dày đặc những tàu máy đen sì gớm ghiếc (Chú thích của Engels viết cho bản tiếng Đức năm 1892).

2* Sau khi tôi viết đoạn mô tả này, tôi đã có dịp đọc một bài báo trong tờ "Illuminated Magazine" (tháng Mười 1844) nói về các khu lao động ở London. Không những trong bài báo đó có nhiều đoạn cơ hồ y hệt như tôi mô tả, mà về nội dung thì chỗ nào cũng hoàn toàn phù hợp. Bài ấy nhan đề là: "Nhà cửa ở của những người nghèo. Trích sổ tay của một bác sĩ y khoa".

3* Trích trong cuốn: Dr. W. P. Alison, F. R. S. E., fellow and late President of the Royal College of Physicians etc. etc. "Observations on the Management of the Poor in Scotland and its Effects on the Health of Great Towns". Edinburgh, 1840 [Bác sĩ W. P. Alison, Hội viên và cựu chủ tịch Hội Phẫu thuật Hoàng gia v.v. và v.v.. "Những nhận xét về biện pháp quản lý người nghèo ở Scotland và ảnh hưởng của biện pháp chăm sóc ấy đối với tình hình vệ sinh ở các thành phố lớn". Edinburgh, 1840]. Tác giả là một đảng viên đảng Tory, có tín ngưỡng tôn giáo, là anh của nhà sử học Archibald Alison.

4* "Report to the Home Secretary from the Poor-Law Commissiones, or an Inquiry into the Sanitary Condition of the Labouring Classes of Great Britain". With Appendices. Presented to both Houses of Parliament in July 1842. 3 vols, in folio ["Báo cáo của Tiểu ban luật về người nghèo gửi bộ trưởng Bộ Nội vụ nói về kết quả điều tra những điều kiện vệ sinh trong đời sống của các giai cấp lao động ở Đại Britain. Có kèm theo phụ lục. Trình bày trước hai viện vào tháng Bảy 1842. 3 tập in folio]. Những tài liệu này bao gồm những báo cáo của các bác sĩ do Edwin Chadwick, thư ký Tiểu ban luật về người nghèo, thu thập và chỉnh lý.

5 "đường ngoắt ngoéo" (Chú thích của người dịch).

6* "The Artisan", nguyệt san, số tháng Mười 1843.

7* "Arts and Artisans at Home and Abroad". By J. C. Symons. Edinburgh, 1839 [J. C. Symons. "Nghề thủ công và thợ thủ công ở nước ta và nước ngoài". Edinburgh, 1839]. Có lẽ bản thân tác giả là người Scotland, thuộc Đảng tự do, do đó có thái độ thành kiến mù quáng đối với mọi phong trào công nhân độc lập. Những đoạn trích trên ở trang 116 và trang tiếp theo.

8* Nên nhớ rằng các "nhà hầm" đó không phải là kho chứa đồ thừa mà chính là những chỗ cho người ở.

9 Engels chơi chữ: big wigs có nghĩa là "nhân vật quan trọng" và cũng có nghĩa là "những đảng viên vĩ đại của đảng Whig" (Chú thích của người dịch).

10* "The Moral and Physical Condition of the Working Classes, employed in the Cotton Manufacture in Manchester". By James Ph. Kay, Dr. Med.2nd edit, 1832 (Bác sĩ y khoa James Ph. Kay "Tình cảnh tinh thần và vật chất của giai cấp công nhân công nghiệp bông sợi ở Manchester", xuất bản lần thứ hai, 1832). Tác giả không phân biệt giữa giai cấp lao động nói chung và công nhân công xưởng, nhưng những phần khác của tập sách đều rất tốt.

11* Vậy mà một đảng viên tự do Anh thông thái đã có lần xác nhận trong "Báo cáo của Tiểu ban điều tra về lao động trẻ em", rằng các sân ấy là mẫu mực của nghệ thuật kiến trúc thành phố, vì chúng giống như một loạt những quảng trường nhỏ lộ thiên, có thể cải thiện tình trạng thông gió và giúp cho không khí lưu thông! Điều này sẽ đúng nếu như mỗi sân có hai hay bốn lối đi rộng, lộ thiên và đối diện nhau, để cho không khí có thể lưu thông tự do được; nhưng trong các sân không bao giờ có đến hai lối đi lộ thiên như thế, thậm chí đến một lối đi cũng rất hiếm, mà hầu hết chỉ có những lối vào hẹp và lợp kín.

12 Xem chú thích 10.

13* Nassau W. Senior "Letters on the Factory Act to the Rt. Hon., the President of the Board of Trade (Chas.Poulett Thomson Esq.)". London, 1837, p. 24 [Nassau W. Senior "Những bức thư về đạo luật công xưởng gửi Bộ trưởng Thương nghiệp (Ngài Charles Poulett Thompson)". London, 1837, tr. 24].

14 Xem chú thích 10.

15* P. Gaskell "The Manufacturing Population of England, its Moral, Social and Physical Condition, and the Changes, which have arisen from the Use of Steam Machinery; with an Examination of Infant Labour". "Fiat Justitia". 1833 [P. Gaskell "Dân cư công nghiệp ở Anh, tình trạng đạo đức, xã hội và thể chất của họ và những biến đổi đã xảy ra từ khi sử dụng máy hơi nước; kèm theo một bản điều tra về lao động trẻ em". "Fiat Justitia". 1833]. Tác phẩm này chủ yếu là mô tả tình cảnh của những người lao động ở Lancashire. Tác giả thuộc Đảng tự do, nhưng ông viết tác phẩm này vào lúc mà người của Đảng tự do chưa tự coi mình phải có nghĩa vụ tán dương "cuộc sống hạnh phúc" của người lao động. Vì thế mà ông ta còn chưa có thiên kiến, và còn nhìn thấy rõ được những thiếu sót do chế độ hiện nay, nhất là chế độ công xưởng gây ra. Nhưng đồng thời ông ta lại viết trước khi có Tiểu ban điều tra về công xưởng và dựa vào những nguồn tin đáng ngờ vực mà khẳng định một số điều về sau đã bị báo cáo của tiểu ban điều tra bác bỏ. Vì lý do đó và vì tác giả, cũng giống như bác sĩ Kay, đã lẫn lộn giai cấp lao động nói chung với công nhân công xưởng nói riêng, nên mặc dù quyển sách ấy về toàn bộ là tốt, nhưng khi sử dụng phải thận trọng đối với một số chi tiết cá biệt. Lịch sử phát triển của giai cấp vô sản, mà tôi trình bày trong "Lời mở đầu", phần lớn dựa vào những tài liệu lấy trong tác phẩm này.

16 Loại áo vét ngắn bằng nhung sợi bông (Chú thích của người dịch).

17 Nguyên văn là "bụi quỉ"; là loại vải dệt bằng vải len cũ đã dùng máy bật lại.

18* Thomas Carlyle "Chartism". London, 1840, p. 28 (Thomas Carlyle "Phong trào hiến chương". London, 1840, tr. 28).

19 "Y như ở nước ta" (Chú thích của người dịch).

20* "Weekly Dispatch", tháng Tư hoặc tháng Năm 1844, theo báo cáo về tình hình người nghèo ở London của bác sĩ Southwood Smith.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:04:47 |Xem tất
CẠNH TRANH

Trong "Lời mở đầu", ta đã thấy, ngay khi công nghiệp mới bắt đầu phát triển, cạnh tranh đã sinh ra giai cấp vô sản như thế nào: nhu cầu hàng dệt tăng lên, tiền công thợ dệt tăng lên, làm cho những nông dân kiêm thợ dệt rời bỏ nghề nông, để kiếm được nhiều hơn từ chiếc khung cửi; ta đã thấy cạnh tranh, nhờ phương thức kinh doanh quy mô lớn, đã loại trừ tiểu nông, làm họ bị vô sản hoá, rồi dần dần đẩy họ ra thành phố như thế nào; rồi ta lại thấy cạnh tranh đã khiến phần lớn giai cấp tiểu tư sản bị phá sản, và cũng biến họ thành vô sản như thế nào; nó đã tập trung tư bản vào tay một số ít người, và tập trung dân cư vào các thành phố lớn như thế nào. Đó là những con đường và phương thức khác nhau, qua đó cạnh tranh đã tạo ra và tăng cường giai cấp vô sản; khi nó đã đạt được, trong nền công nghiệp hiện đại, sự phồn thịnh đầy đủ và phát triển tự do của mình. Bây giờ, hãy xét đến ảnh hưởng của cạnh tranh đối với giai cấp vô sản đã hình thành, trước hết là những hậu quả của sự cạnh tranh giữa từng cá nhân người lao động với nhau.

Cạnh tranh là biểu hiện đầy đủ nhất của cuộc chiến - giữa mọi người với nhau - đang hoành hành trong xã hội công dân hiện đại. Cuộc chiến tranh ấy, chiến tranh vì cuộc sống, vì sinh tồn, vì tất cả và do đó khi cần, cũng là cuộc đấu tranh sinh tử, diễn ra không những giữa các giai cấp khác nhau trong xã hội, mà còn giữa các cá nhân thành viên của những giai cấp ấy; người này đứng chắn lối đi của người kia, mỗi người đều tìm cách gạt người khác ra và lấy chỗ của họ. Người lao động cạnh tranh với nhau, anh tư sản cũng cạnh tranh với nhau. Anh thợ dệt máy cạnh tranh với anh thợ dệt tay; anh thợ dệt tay thất nghiệp, hoặc lương kém, cạnh tranh với anh thợ dệt có việc làm, hoặc lương khá hơn, và tìm cách hất cẳng anh này. Sự cạnh tranh đó giữa những người lao động với nhau, đối với họ, là mặt xấu nhất trong các quan hệ hiện tại; là vũ khí sắc bén nhất trong tay giai cấp tư sản, để chống giai cấp vô sản. Do đó, người lao động đã cố gắng dùng các công hội để tiêu diệt sự cạnh tranh ấy, cũng do đó mà giai cấp tư sản lồng lộn tấn công vào những công hội ấy, và ăn mừng mỗi khi chúng giáng được một đòn.

Người vô sản bất lực; nếu bỏ mặc họ, chỉ trong một ngày, thì họ cũng không thể sống được. Giai cấp tư sản đã lũng đoạn mọi tư liệu sinh hoạt, hiểu theo nghĩa rộng nhất. Mọi cái người vô sản cần dùng, anh ta chỉ có thể nhận từ tay giai cấp tư sản, mà sự lũng đoạn của chúng được Nhà nước bảo hộ. Cho nên, về pháp luật cũng như trên thực tế, người vô sản đều là nô lệ của giai cấp tư sản; giai cấp này nắm quyền sinh sát đối với họ. Giai cấp tư sản cung cấp cho họ tư liệu sinh hoạt, nhưng đổi lấy "vật ngang giá", tức là lao động của họ; thậm chí còn làm cho họ ảo tưởng rằng: dường như họ cũng hành động theo ý chí của chính mình, dường như họ ký kết hợp đồng với giai cấp tư sản một cách tự do, không bị ép buộc, như một người tự chủ. Quý hoá thay, cái tự do chỉ để cho người vô sản mỗi một con đường, là chịu nhận mọi điều kiện mà giai cấp tư sản đặt cho họ, hoặc là phải chết đói, chết rét, phải trần như nhộng tìm chốn dung thân giữa đám thú rừng! Quý hoá thay, cái "vật ngang giá", mà thước đo lại hoàn toàn tuỳ thuộc vào thiện ý của giai cấp tư sản! Và nếu người vô sản ngu xuẩn đến nỗi thà chết đói còn hơn là chịu nhận những điều kiện "công bằng" của bọn tư sản, là những "bề trên tự nhiên"1* của họ; thì có hề gì, người ta sẽ tìm ngay được người khác một cách dễ dàng, bởi vì trên đời này thiếu gì người vô sản, và không phải ai cũng ngu xuẩn đến nỗi thích chết hơn sống.

Cạnh tranh giữa người vô sản với nhau là thế đấy. Nếu tất cả người vô sản đều tuyên bố thà chết còn hơn làm việc cho giai cấp tư sản, thì giai cấp này sẽ buộc phải từ bỏ ngay sự lũng đoạn của mình. Nhưng điều đó không xảy ra và chưa chắc đã xảy ra, vì vậy giai cấp tư sản vẫn cứ yên tâm. Cạnh tranh giữa người lao động với nhau chỉ có một giới hạn, đó là không người lao động nào lại làm việc với tiền lương thấp hơn mức cần thiết để sống; nếu nhất định phải chết đói, thì thà ngồi không mà chết còn hơn làm việc mà vẫn chết. Dĩ nhiên giới hạn đó chỉ là tương đối; nhu cầu để sinh tồn của người này nhiều hơn, của người kia ít hơn, có người quen sống với nhiều tiện nghi hơn người khác; người Anh về một số mặt nào đó, hãy còn có văn hoá hơn và có nhiều nhu cầu hơn, so với người Ireland mặc đồ tả tơi, ăn khoai và ngủ trong chuồng súc vật. Nhưng không vì vậy mà người Ireland không cạnh tranh với người Anh, làm giảm dần tiền lương, cùng với đó làm giảm cả trình độ văn hoá của người lao động Anh, xuống ngang với người lao động Ireland. Một số công việc, bao gồm hầu hết các loại công việc trong công nghiệp, đòi hỏi một trình độ văn hoá nhất định; cho nên vì lợi ích của chính giai cấp tư sản, mà tiền lương cũng phải đủ cao để cho công nhân có được trình độ tương ứng. Một người Ireland vừa mới đến Anh, ở ngay trong cái chuồng gia súc đầu tiên mà anh ta gặp, và dù có được chỗ ở kha khá một chút, thì mỗi tuần đều bị tống ra ngoài, vì anh ta uống rượu hết cả tiền và không trả được tiền thuê nhà, người như vậy không thể làm công nhân công xưởng tốt được; bởi vậy tiền lương trả cho công nhân công xưởng phải đủ để họ nuôi dạy con cái, khiến chúng biết lao động đúng quy cách, nhưng cũng không được nhiều hơn, khiến họ không thể không nhờ vào đồng lương của con cái, và chỉ có thể cho con cái mình trở thành công nhân bình thường. Ở đây cái giới hạn, mức lương tối thiểu, cũng là tương đối: khi trong gia đình mọi người đều đi làm, thì mỗi người có thể kiếm ít đi một chút, và giai cấp tư sản đã tận dụng tối đa cơ hội này: nhờ lao động máy móc, có thể thuê cả phụ nữ và trẻ con vào làm, để hạ thấp tiền lương. Tất nhiên có những gia đình, trong đó không phải ai cũng làm việc được; một gia đình như vậy, sẽ rất khổ, nếu phải làm việc với mức lương tối thiểu, tính cho một gia đình gồm toàn những người có thể làm việc; vì vậy tiền lương được ấn định ở một mức trung bình, với mức này, nhà nào mà mọi người đều đi làm được sẽ sống tương đối khá, còn nhà nào có những người không làm việc được thì sẽ tương đối khổ. Nhưng gặp trường hợp tệ nhất, thì mỗi người lao động đều sẵn sàng từ bỏ chút tiện nghi và văn hoá mà anh ta đã quen thuộc ấy, miễn sao sống được; thà ở một cái chuồng gia súc còn hơn là màn trời chiếu đất; thà quần áo rách rưới còn hơn là không có tí quần áo nào; thà ăn khoai tây còn hơn là chết đói. Với niềm hy vọng ở ngày mai tốt đẹp hơn, họ đành chịu nhận một nửa tiền lương còn hơn là chết đói ở ngoài phố, như bao nhiêu người đã bị tước mất mẩu bánh mì. Cái chút ít ấy, cái "méo mó có hơn không" ấy, chính là tiền lương tối thiểu. Nếu số người lao động nhiều quá mức giai cấp tư sản cần sử dụng, nếu do đó mà qua cuộc cạnh tranh, vẫn còn một số người không tìm được việc làm, thì số ấy cứ việc chết đói; bởi vì nhà tư sản chắc hẳn sẽ không cho họ việc làm, nếu như hắn không kiếm được lợi nhuận từ việc bán sản phẩm lao động đó.

Qua đó ta thấy lương tối thiểu là thế nào. Mức lương tối đa thì do cạnh tranh giữa các nhà tư sản với nhau quyết định, bởi vì, như ta đã biết, giữa họ với nhau cũng có cạnh tranh. Người tư sản chỉ có thể tăng thêm tư bản của mình bằng thương nghiệp hoặc công nghiệp, và trong hai trường hợp đều cần người lao động. Cả khi hắn đem tư bản cho vay lấy lãi, thì hắn vẫn gián tiếp cần người lao động, vì không có thương nghiệp và công nghiệp thì không ai chịu trả lãi cho hắn, không ai có thể sử dụng tư bản của hắn được. Vì vậy người tư sản luôn cần người vô sản, nhưng không phải trực tiếp để sống - vì hắn có thể sống bằng tư bản của mình - mà để làm giàu, giống như buôn bán thì cần có hàng hoá, hoặc thồ hàng thì cần có súc vật. Người vô sản làm ra cho người tư sản những hàng hoá đem bán có lãi. Cho nên khi nhu cầu về hàng hoá tăng, khiến tất cả những công nhân đang cạnh tranh với nhau đều có việc làm, và có thể còn thiếu người nữa, thì cạnh tranh giữa công nhân ngừng lại, và cạnh tranh giữa các nhà tư sản bắt đầu. Nhà tư bản đang cần công nhân thừa biết rằng, khi giá cả tăng do nhu cầu tăng, thì hắn sẽ kiếm được lợi nhuận lớn; hắn thà tăng lương một ít còn hơn bỏ mất cơ hội kiếm toàn bộ món lợi ấy. Hắn cho anh công nhân cái xúc-xích để lấy được chiếc dăm-bông. Thế là các nhà tư bản tranh giành công nhân của nhau, và tiền lương tăng. Nhưng lương chỉ tăng đến mức mà lượng cầu cho phép. Nhà tư bản chịu hi sinh chút ít lợi nhuận bất thường, nhưng khi phải hy sinh lợi nhuận bình thường của mình, tức là lợi nhuận bình quân, thì đương nhiên là hắn sẽ tìm cách không trả quá mức lương trung bình.

Từ đó có thể xác định thế nào là mức lương trung bình. Trong điều kiện bình thường, tức là khi cả công nhân lẫn tư sản đều không có lí do gì để cạnh tranh kịch liệt, khi số công nhân đúng bằng số có thể dùng trong sản xuất, để chế tạo số hàng hoá cần có, thì lương sẽ cao hơn mức tối thiểu một ít; cao hơn bao nhiêu, thì tuỳ vào nhu cầu trung bình và trình độ văn hoá của công nhân. Khi người lao động quen ăn mỗi tuần vài bữa thịt, thì nhà tư bản, dù muốn hay không, cũng phải trả lương đủ để họ có thể ăn như vậy; không thể ít hơn, vì công nhân không cạnh tranh lẫn nhau, do đó không có lý gì mà họ chịu lương ít hơn; cũng không thể nhiều hơn, vì giữa các nhà tư bản không có cạnh tranh, cho nên họ cũng không có lý do gì mà dùng những món tăng thêm đặc biệt để thu hút công nhân.

Trong điều kiện phức tạp của nền công nghiệp hiện đại ở Anh, rất khó xác định mức trung bình về nhu cầu và văn hoá của công nhân, vả lại, như ta đã thấy, nó rất khác nhau đối với các loại công nhân khác nhau. Nhưng phần lớn các loại công việc trong công nghiệp đều đòi hỏi một kỹ năng và quy trình nhất định, muốn thế thì công nhân cũng phải có trình độ văn hoá nhất định, cho nên lương trung bình phải đủ để thúc đẩy công nhân thành thục kỹ năng ấy, và tuân theo quy trình ấy. Vì thế mà tiền lương của công nhân công nghiệp trung bình cao hơn tiền lương của công nhân khuân vác giản đơn, của người công nhật v.v. và cao hơn tiền lương của công nhân nông nghiệp, thêm vào đó lẽ dĩ nhiên là trường hợp này còn phải kể đến giá cả ở thành phố rất đắt.

Nói cách khác, về pháp luật và trên thực tế, công nhân là nô lệ của giai cấp có của, của giai cấp tư sản; họ bị nô lệ đến mức có thể bị bán đi như hàng hoá, và cũng lên giá xuống giá như hàng hoá. Nhu cầu về công nhân tăng thì họ lên giá, nhu cầu giảm thì họ xuống giá, nếu nhu cầu giảm đến nỗi một số công nhân trở nên không thể bán được, phải "tồn kho", thì họ đành không có việc làm, mà không có việc làm thì không sống được, phải chết đói. Bởi vì, nói theo kinh tế học, chi phí dùng để nuôi họ không "tái sản xuất" được, sẽ là tiền vứt đi, và không ai bỏ vốn ra để làm cái đó. Về điểm này, Malthus, với thuyết nhân khẩu của ông ta, hoàn toàn có lý. Nó chỉ khác chế độ nô lệ công khai ngày xưa ở chỗ: người công nhân hiện đại có vẻ được tự do, bởi vì anh ta không bị bán đi vĩnh viễn một lần, mà bán từng phần trong một ngày, một tuần, một năm, và bởi vì không phải người chủ này đem anh ta bán cho người chủ khác, mà là chính anh ta phải tự bán mình như vậy, vì anh ta không phải là nô lệ của một cá nhân, mà là nô lệ của toàn thể giai cấp có của. Đối với anh ta, bản chất vấn đề vẫn không thay đổi; dù rằng cái vẻ bề ngoài tự do ấy, một mặt có mang lại cho anh ta chút ít tự do thật sự, tuy nhiên, lại có cái bất lợi là không ai đảm bảo nuôi sống anh ta; bất cứ lúc nào anh ta cũng có thể bị ông chủ, tức là giai cấp tư sản, đuổi ra và bỏ cho chết đói, khi mà giai cấp ấy không còn có lợi trong việc sử dụng anh ta, trong việc nuôi anh ta sống. Nhưng đối với giai cấp tư sản thì tình hình hiện nay có lợi hơn rất nhiều so với chế độ nô lệ ngày xưa; lúc nào muốn là chúng có thể đuổi công nhân mà vẫn không mất gì đến vốn bỏ ra; và nói chung lao động của công nhân lại rẻ rất nhiều so với lao động của nô lệ, như Adam Smith tính để an ủi chúng2*.

Do đó, có thể nói rằng Adam Smith cũng hoàn toàn đúng, khi ông khẳng định ở một đoạn khác như sau:
"Nhu cầu về công nhân, hệt như bất kì hàng hoá nào khác, điều tiết quá trình sản xuất ra công nhân và số người được sản xuất ra; khi quá trình ấy quá chậm thì nó thúc đẩy lên; khi quá trình ấy quá nhanh thì nó kìm hãm lại."

Y hệt như đối với mọi hàng hoá khác: nếu công nhân ít thì giá công nhân (tức là lương của họ) tăng, đời sống của họ khá hơn, hôn thú nhiều lên, sinh đẻ tăng lên, số trẻ nuôi sống được cũng nhiều lên, đến khi số công nhân sinh ra đã đủ; nếu công nhân quá nhiều thì giá hạ, xảy ra thất nghiệp, nghèo khổ, đói khát, tất cả những cái ấy đã gây ra bệnh tật, để tiêu diệt "nhân khẩu thừa" đi. Và Malthus, người đã phát triển luận điểm trên của Smith, cũng có lí theo lối của ông ta, khi cho rằng bao giờ cũng có "nhân khẩu thừa", bao giờ cũng có quá nhiều người trên quả đất; ông ta chỉ sai khi cho rằng: số người có trên thế giới nhiều hơn số người mà tư liệu sinh hoạt hiện nay có thể nuôi sống. "Nhân khẩu thừa" sinh ra là do cạnh tranh giữa công nhân với nhau, nó bắt mỗi người lao động hàng ngày phải làm hết sức mình. Ví dụ, một chủ xưởng mỗi ngày có thể thuê mười công nhân làm trong chín giờ; nếu các công nhân làm mười giờ một ngày, thì ở đấy chỉ có chín công nhân có việc làm, còn anh thứ mười sẽ thất nghiệp. Nhân lúc nhu cầu về công nhân không cao lắm, một chủ xưởng có thể dùng cách doạ đuổi, mà bắt chín công nhân cũng với chừng ấy lương, mà mỗi ngày phải làm thêm một giờ nữa, tức là làm mười giờ theo ví dụ của tôi, thì hắn đuổi người thứ mười và giữ tiền lương của người ấy ở túi hắn. Đấy là chuyện xảy ra ở qui mô nhỏ, và lặp lại với quy mô lớn trên cả nước. Cạnh tranh giữa công nhân với nhau làm cho năng suất lao động của mỗi người đạt đến mức cao nhất, sự phân công lao động, việc dùng máy móc và lợi dụng các lực lượng thiên nhiên, tất cả những cái đó khiến rất nhiều công nhân không có việc làm. Những người thất nghiệp ấy ra khỏi thị trường; họ không thể mua gì được; số hàng hoá trước kia họ cần mua bây giờ không ai cần nữa, vì vậy cũng không cần phải sản xuất ra nữa; đến lượt những công nhân trước đây chế tạo các hàng hoá ấy cũng trở thành thất nghiệp; họ lại ra khỏi thị trường, và cứ mãi tuần hoàn như vậy, đúng hơn là nếu không có những yếu tố khác chen vào. Việc đưa vào công nghiệp những biện pháp để tăng năng suất nói trên đã dần dẫn tới sự giảm giá của những hàng hoá sản xuất ra, và do đó làm tăng mức tiêu thụ, vì vậy mà một phần lớn công nhân thất nghiệp, tất nhiên là sau những khổ sở kéo dài, rốt cục lại kiếm được việc. Nếu tính thêm sự xâm chiếm những thị trường nước ngoài, như đã xảy ra ở Anh trong khoảng sáu chục năm gần đây, làm cho nhu cầu về sản phẩm công nghiệp tăng liên tục và nhanh chóng, thì nhu cầu về công nhân cũng tăng, và dân số cũng tăng lên tương ứng. Thế là thay vì giảm, dân số Đại Britain lại tăng hết sức nhanh chóng và còn tiếp tục tăng; và dù công nghiệp không ngừng phát triển, dù nhu cầu về công nhân nói chung vẫn tăng, theo lời thú nhận của tất cả các đảng phái chính thức (tức là Đảng Tory, Đảng Whig và Đảng cấp tiến); ở Anh vẫn thường có nhân khẩu thừa, và cạnh tranh giữa công nhân với nhau nói chung vẫn mạnh hơn sự cạnh tranh để giành giật công nhân.

Do đâu mà có mâu thuẫn ấy? Do bản chất của công nghiệp và cạnh tranh, cũng như những cuộc khủng hoảng thương nghiệp bắt nguồn từ bản chất ấy. Trong chế độ hỗn loạn hiện nay của sản xuất và phân phối tư liệu sinh hoạt, không nhằm trực tiếp thoả mãn nhu cầu, mà nhằm kiếm lợi, khi mỗi người tự mình chịu hết những rủi may riêng tư trong lao động và làm giàu, thì sự rối loạn nhất định sẽ xảy ra bất cứ lúc nào. Chẳng hạn, nước Anh cung cấp đủ loại hàng hoá cho rất nhiều nước. Dù người chủ xưởng biết được hàng năm nhu cầu về mỗi mặt hàng trong mỗi nước là bao nhiêu, hắn vẫn không thể biết trong từng thời điểm, hàng ấy đang được dự trữ bao nhiêu, lại càng không biết các kẻ cạnh tranh đã chở đến đấy bao nhiêu. Hắn chỉ có thể dựa vào giá cả luôn lên xuống, để suy đoán không chắc chắn về tình hình dự trữ và nhu cầu; hắn buộc phải gửi hàng hoá đi một cách cầu may; mọi việc đều tiến hành mù quáng, hú hoạ, ít nhiều phó mặc cho ngẫu nhiên. Nhận được tin đầu tiên có lợi từ một thị trường nào đó, là mọi người gửi ngay đến đấy tất cả những gì có thể; không mấy chốc, thị trường ấy ứ đầy hàng hoá, sự tiêu thụ dần đình trệ, tiền không thu về được, giá cả hạ, và công nghiệp Anh không có việc cho công nhân làm nữa. Khi công nghiệp mới phát triển, thì sự đình trệ ấy chỉ hạn chế ở một số ngành hoặc một số thị trường; nhưng do tác dụng tập trung của cạnh tranh, công nhân thất nghiệp ở ngành này đổ xô về những ngành khác dễ học việc nhất, còn hàng hoá ế ẩm ở thị trường này đổ xô về những thị trường khác; kết quả là những cuộc khủng hoảng nhỏ dần hợp lại với nhau, và từ sự kết hợp ấy, dần hình thành một cuộc khủng hoảng lớn lặp lại theo chu kỳ. Một cuộc khủng hoảng loại ấy thường cứ 5 năm lại xảy ra một lần, tiếp sau một thời kỳ ngắn ngủi phồn vinh và thịnh vượng chung; thị trường trong nước, như tất cả các thị trường ngoài nước, đầy rẫy hàng hoá Anh, mà chúng chỉ có thể tiêu thụ từ từ; hoạt động công nghiệp ở hầu hết các ngành đều ngừng lại; các chủ xưởng và thương nhân nhỏ, không thể đợi đến khi thu được vốn về, thì bị phá sản; các chủ xưởng và thương nhân lớn hơn thì phải đình chỉ kinh doanh trong giai đoạn trầm trọng nhất của khủng hoảng: không cho máy chạy, hoặc chỉ làm việc "không hết thời gian", nghĩa là làm khoảng nửa ngày chẳng hạn; tiền lương giảm xuống do những người thất nghiệp cạnh tranh, do thời gian lao động rút ngắn và vì không thể bán hàng hoá có lãi nữa; trong công nhân nạn nghèo khổ lan khắp, nếu người nào đó có chút tiền dành dụm thì cũng hết ngay, các cơ quan từ thiện chật ních người, thuế trợ giúp người nghèo tăng gấp hai gấp ba mà vẫn không đủ, số người đói tăng lên và bỗng nhiên "nhân khẩu thừa" xuất hiện với số lượng khủng khiếp. Việc ấy kéo dài một thời gian: những "người thừa" cố xoay xở để sống, không xoay xở được thì chết; sự nghiệp từ thiện và các đạo luật về người nghèo giúp cho nhiều người kéo lê thêm cuộc sống; một số khác kiếm được việc làm, trong những ngành lao động ít cạnh tranh hơn và cách xa với đại công nghiệp hơn, thì sống vất vưởng; mà để cho một con người sống gượng được một thời gian thì có cần mấy tí đâu! Tình hình dần lại khá lên: hàng hoá dự trữ chất đống được tiêu thụ, tâm trạng chán nản phổ biến của các nhà buôn và nhà công nghiệp làm cho số hàng ấy không được bổ sung nhanh chóng; mãi đến khi, rốt cuộc, giá hàng tăng, và những tin tức thuận lợi từ mọi nơi đưa về lại thúc đẩy người ta hoạt động mạnh mẽ. Nhưng phần lớn các thị trường đều ở rất xa; trong khi những chuyến hàng mới chưa kịp tới nơi, thì nhu cầu vẫn cứ tăng mãi và giá cả cũng tăng theo; người ta tranh nhau mua những hàng chở đến đầu tiên; những cuộc mua bán đầu tiên làm cho thị trường càng nhộn nhịp; những chuyến hàng đến sau xem chừng còn được giá hơn; với hy vọng giá cả còn tăng lên, người ta liền đầu cơ tích trữ, vậy là những hàng hoá định đưa ra tiêu thụ bị cất đi, đúng vào lúc thị trường cần nhất; đầu cơ làm cho giá hàng cao, vì nó thúc đẩy người khác mua hàng, và rút những hàng mới tới ra khỏi lưu thông; tất cả những tin ấy được truyền về Anh; các chủ xưởng bắt đầu hoạt động mạnh, xây những nhà máy mới, tìm đủ mọi cách để lợi dụng cái thời cơ thuận lợi ấy. Lúc đó ở đây cũng xuất hiện đầu cơ, với hậu quả hệt như ở các thị trường nước ngoài: giá hàng tăng, hàng bị rút khỏi lưu thông, hai việc ấy đẩy sản xuất lên đến mức khẩn trương cực độ; sau đó xuất hiện những kẻ đầu cơ "rỗng túi", bọn này dùng vốn ma, nhờ vào tín dụng mà sống, nếu không bán được hàng thật nhanh thì phá sản. Chúng lao vào cuộc chạy đua tổng lực và hỗn loạn ấy để kiếm lợi, lòng tham không đáy của chúng làm cho tình hình càng hỗn loạn và bận rộn, khiến chúng điên cuồng tăng giá và mở rộng sản xuất. Cuộc chạy đua cuồng loạn ấy lôi kéo cả những người điềm đạm nhất, giàu kinh nghiệm nhất; người ta bắt đầu rèn sắt, kéo sợi, dệt vải nhiều như là phải trang bị lại cho toàn thể nhân loại, như là người ta vừa mới tìm ra một thị trường mới, có hàng mấy tỷ khách hàng, ở một nơi nào đó trên mặt trăng. Bỗng một ngày, bọn đầu cơ rỗng túi ở nước ngoài, vì cần tiền, bắt đầu bán hàng ra, dĩ nhiên là thấp hơn giá thị trường vì gấp quá; một người bán ra, những người khác bán theo; giá cả bắt đầu bấp bênh, bọn đầu cơ sợ hãi tung hàng ra thị trường, thị trường trở nên hỗn loạn, tín dụng lung lay, hết hãng buôn này đến hãng buôn khác ngừng trả tiền, hết nhà này đến nhà khác vỡ nợ, và người ta phát hiện ra rằng số hàng có tại chỗ và đang chuyển đến đã nhiều gấp ba lần số hàng cần cho tiêu thụ. Tin này đưa về đến Anh, nơi mà khi đó sản xuất vẫn tiếp tục với năng suất tối đa; người ta cũng kinh hoàng khiếp sợ, những vụ phá sản ở nước ngoài kéo theo những vụ phá sản ở Anh; việc kinh doanh ngừng trệ làm cho nhiều hãng buôn phá sản; và trong cơn kinh hoàng, người ta cũng dốc hết hàng dự trữ ra thị trường, và việc ấy lại làm cho sự kinh hoàng càng tăng. Thế là khủng hoảng bắt đầu, cuộc khủng hoảng này sau đó lại tiến triển gần giống như trình tự của cuộc khủng hoảng trước và qua một thời gian lại được thay thế bằng một thời kỳ phồn vinh. Và cứ tiếp diễn như vậy: phồn vinh, khủng hoảng, phồn vinh, khủng hoảng; sự tuần hoàn vĩnh viễn ấy của công nghiệp Anh, như đã nói, thường là cứ năm hoặc sáu năm lặp lại một lần.

Qua đó ta thấy rõ rằng, trừ những thời kỳ thịnh vượng cao độ ngắn ngủi, lúc nào nền công nghiệp Anh cũng phải có một đội quân lao động dự bị thất nghiệp, để có thể sản xuất ra hàng loạt hàng hoá mà thị trường yêu cầu, trong những tháng hoạt động mạnh nhất. Đội quân dự bị này mở rộng hay thu hẹp là tuỳ theo tình hình thị trường có thể giải quyết việc làm cho ít hay nhiều người trong số họ. Vào những lúc thị trường nhộn nhịp nhất, các vùng nông nghiệp, Ireland và những ngành công nghiệp ít chịu ảnh hưởng của sự phồn vinh chung, có tạm thời cung cấp một lượng công nhân nhất định cho các công xưởng; nhưng họ chỉ là thiểu số, và cũng thuộc hàng ngũ đội quân dự bị, chỉ khác mỗi một điều là: chính sự phồn vinh nhanh chóng đã đòi hỏi phát hiện ra họ. Khi những công nhân ấy chuyển sang các ngành công nghiệp hoạt động sôi nổi hơn, thì ở nơi họ làm việc trước đây, cũng chẳng có vấn đề gì; để lấp chỗ trống, người ta kéo dài thời gian lao động, thuê cả phụ nữ và trẻ con; và khi khủng hoảng xảy ra, những công nhân ấy bị sa thải và quay về, thì chỗ của họ đã có người khác chiếm; bản thân họ, ít nhất là phần lớn trong bọn họ, đã trở thành "người thừa". Đấy là cái đội quân dự bị cấu thành "nhân khẩu thừa" của nước Anh, trong thời kỳ khủng hoảng tăng lên rất nhanh, và ngay trong những thời kỳ có thể coi là ở giữa thịnh vượng và khủng hoảng, cũng có số lượng tương đối lớn; họ duy trì cuộc sống của mình bằng cách ăn xin, ăn cắp, quét đường, dọn phân ngựa, chở hàng bằng xe tay hoặc lừa thồ, bán hàng rong, hoặc làm vài việc lặt vặt. Trong mọi thành phố lớn đều có thể gặp rất nhiều người như vậy, họ nhờ có chút tiền công ít ỏi tình cờ kiếm được "mà giữ cho hồn không lìa khỏi xác", như người Anh thường nói. Đáng kinh ngạc là không có việc gì mà số "nhân khẩu thừa" đó lại không nhận làm! Những người quét đường (crossing-sweepers) ở London thì cả thế giới đều biết; nhưng trước kia, cơ quan bảo trợ người nghèo hoặc toà thị chính thuê người thất nghiệp để quét dọn không chỉ những quảng trường, mà cả các phố chính của tất cả các thành phố lớn; ngày nay máy móc đã làm việc đó, hàng ngày máy chạy ầm ầm qua các phố, cướp mất miếng bánh mì của những người thất nghiệp. Trên những con đường lớn dẫn đến các thành phố, có ngựa xe đi lại nhiều, có thể thấy rất nhiều người đẩy xe ba gác, liều mạng chen giữa những xe ngựa và xe chở khách đang lao nhanh về các ngả, hốt lấy phân ngựa tươi để đem bán. Nhiều khi, để được làm việc ấy, họ còn phải trả hàng tuần vài shilling cho sở vệ sinh đường phố, và ở một số nơi việc ấy còn bị cấm, vì nếu không cấm thì sở ấy sẽ không thể bán thứ rác hốt được ở đấy làm phân bón, vì trong đó có quá ít phân ngựa. Những "người thừa" nào kiếm được một cái xe ba gác để chở hàng đã là may mắn, nhưng nếu ngoài chiếc xe ba gác ra, còn kiếm được đủ tiền mua một con lừa thì lại càng may mắn; con lừa phải tự kiếm ăn lấy, hoặc chỉ được cho ít đồ thừa bỏ đi, nhưng dù sao nó vẫn đem lại một ít thu nhập.

Phần đông những "người thừa" xoay ra bán hàng rong. Nhất là tối thứ bảy, khi tất cả dân lao động đổ ra phố, thì có thể thấy số người sống bằng nghề ấy nhiều đến mức nào. Vô số đàn ông, đàn bà, trẻ con tranh nhau rao bán dây giày, dây lưng, dải băng, cam, bánh và mọi thứ khác. Cả những ngày thường, lúc nào cũng có thể gặp những người hàng rong rao bán cam, bánh, bia ginger và bia nettle3*. Họ cũng bán những hàng như diêm và các thứ tương tự, xi gắn, những đồ được phép sản xuất dùng để nhóm lửa, v.v. Một số khác, gọi là jobber4 thì đi lang thang ngoài phố, tìm làm một số việc linh tinh nào đó ngẫu nhiên gặp được; vài người kiếm được việc làm từng ngày, nhưng đa số thì không được may mắn như vậy.

Ông W. Champneys, mục sư ở East End (của London) kể lại rằng:
"Ở cổng tất cả các bến tàu London, mỗi sáng mùa đông, từ tinh mơ, đã có hàng trăm người nghèo đứng đợi giờ mở cổng, mong kiếm được một việc làm hôm ấy, và khi một số trẻ nhất, khoẻ nhất, hoặc quen biết nhất (với nhân viên quản trị các bến tàu) đã được thuê, thì hàng trăm người còn lại thất vọng buồn bã quay về căn nhà tồi tệ của mình".

Những con người ấy đã không kiếm được việc làm, lại không muốn nổi dậy chống lại xã hội, thì còn cách gì khác hơn là đi ăn mày? Vì vậy không nên ngạc nhiên về số ăn mày rất đông, phần nhiều là những người có sức lao động, mà cảnh sát luôn xua đuổi. Nhưng cách ăn xin của họ cũng đặc biệt. Họ thường đi lang thang trên đường phố với cả gia đình, lúc dừng chỗ này, lúc dừng chỗ kia, để hát một bài ca than vãn, hoặc nói vài câu để kêu gọi lòng thương của người qua đường. Kì lạ là hầu như chỉ thấy loại ăn mày đó trong những khu phố lao động, và hầu như họ chỉ sống nhờ vào của bố thí của những người lao động. Có khi cả gia đình đứng lặng lẽ ở một phố đông người, không nói một lời, chỉ dùng cái dáng cầu xin giúp đỡ của mình làm cho người ta xúc động. Ở đây họ cũng chỉ trông vào sự thông cảm của những người lao động, là những người do kinh nghiệm bản thân, đã biết thế nào là đói, và bất cứ lúc nào bản thân họ cũng có thể rơi vào tình cảnh ấy, và thực ra, sự cầu khẩn âm thầm mà vô cùng xúc động ấy hầu như chỉ thấy ở những đường phố thường có công nhân, và vào những giờ công nhân qua lại; nhất là vào tối thứ bảy, khi mà những "bí mật" của các khu phố lao động thường được phơi bày ra các đường phố lớn, bấy giờ giai cấp tư sản hết sức tránh những nơi nhơ nhuốc ấy. Trong số những "người thừa" ấy, nếu có ai đủ can đảm và điên dại để công khai chống lại xã hội, dùng chiến tranh công khai chống giai cấp tư sản, để đáp lại cuộc chiến tranh ngầm của giai cấp tư sản chống lại họ; thì người đó sẽ đi ăn cắp, ăn cướp, giết người.

Theo những báo cáo của các uỷ viên các tiểu ban luật về người nghèo, thì số "người thừa" này, ở Anh và Wales trung bình là một triệu rưởi; ở Scotland, vì không có luật về người nghèo, nên không tính được chính xác, còn về Ireland thì ta sẽ nói riêng. Nhưng số một triệu rưởi này chỉ gồm những người đã thực sự được cứu tế ở cơ quan bảo trợ người nghèo, không tính đến số người còn tự xoay xở được, để khỏi rơi vào tình thế không ai muốn đó; nhưng phần lớn trong số này lại ở các khu nông nghiệp, nên không kể ở đây. Trong thời kì khủng hoảng, con số ấy tất nhiên tăng lên nhiều, và sự bần cùng cũng đạt đến cực độ. Ví dụ cuộc khủng hoảng năm 1842, là gần đây nhất và dữ dội nhất: vì khủng hoảng càng tái diễn thì mức độ dữ dội càng tăng, và cuộc khủng hoảng sắp tới, chậm nhất là vào 18475*, có lẽ là dữ dội và kéo dài hơn. Trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng ấy, thuế trợ giúp người nghèo ở tất cả các thành phố tăng lên chưa từng thấy. Như Stockport, cứ trả 1 Bảng tiền thuê nhà thì phải đóng thêm 8 shilling thuế trợ giúp người nghèo, đến nỗi riêng món thuế ấy đã chiếm 40% tổng số tiền thuê nhà; hơn nữa, hàng dãy phố bỏ trống, dân số thành phố giảm hơn bình thường ít ra là 2 vạn; trước cửa các nhà bỏ không thường có dòng chữ: Stockport to let (Stockport cho thuê). Ở Bolton, vào các năm bình thường, số tiền thuê nhà phải chịu thuế trợ giúp người nghèo trung bình là 86.000 Bảng, nay thì chỉ còn 36.000; nhưng số người cần cứu tế lên tới 14.000, tức là hơn 20% tổng số cư dân. Ở Leeds, cơ quan bảo trợ người nghèo có một quĩ dự trữ 10.000 Bảng, món tiền ấy và số tiền quyên góp 7.000 Bảng đã hết sạch, từ trước khi khủng hoảng lên đến mức cao nhất. Ở đâu cũng như vậy cả. Báo cáo về tình hình các khu công nghiệp năm 1842, do một uỷ ban của Đồng minh chống đạo luật ngũ cốc viết vào tháng Giêng 1843, dựa trên những tài liệu chi tiết của các chủ xưởng, đã nói rằng: năm 1842, thuế trợ giúp người nghèo trung bình tăng gấp đôi năm 1839, nhưng số người cần cứu tế lại tăng gấp ba, thậm chí gấp năm; rằng nhiều người xin cứu tế là thuộc loại những người từ trước đến nay chưa hề phải xin trợ giúp v.v.; rằng so với những năm 1834-1836, lượng thực phẩm công nhân nhận được giảm đi 2/3, mức tiêu thụ thịt giảm rất nhiều: vài nơi giảm 20%, một số nơi giảm tới 60%; rằng kể cả thợ thủ công, thợ rèn, thợ nề, v.v., những người vẫn thường có đủ việc làm ngay trong thời buổi khó khăn nhất, nay cũng rất khổ sở vì thiếu việc và tiền công thấp; rằng kể cả hiện nay, tháng Giêng 1843, tiền lương vẫn đang giảm dần. Đấy là tin do các chủ xưởng cung cấp!

Trên tất cả các đường phố đều có những công nhân đói khát, vì chủ của họ đã đóng cửa các xưởng và không thể cho họ việc làm; họ đứng riêng từng người để xin của bố thí, hoặc đứng thành từng tốp, từng đám, vây kín các lối đi để xin người qua đường giúp đỡ; nhưng họ không kêu van như những người ăn mày thường, mà đòi hỏi, làm người ta sợ bằng số lượng, thái độ và lời nói sừng sộ của họ. Tình hình các khu công nghiệp, từ Leicester đến Leeds, từ Manchester đến Birmingham đều như vậy. Các vụ rối loạn lác đác nổ ra ở chỗ này chỗ khác, hồi tháng Bảy, trong các xưởng đồ gốm ở Bắc Staffordshire; lòng phẫn nộ đáng sợ sôi sục trong công nhân cho tới lúc, rốt cuộc, bùng nổ thành cuộc tổng khởi nghĩa ở các khu công nghiệp vào tháng Tám. Cuối tháng Mười một 1842, khi tôi tới Manchester, vẫn còn thấy khắp nơi, những đám người thất nghiệp đứng ở các góc phố, và nhiều công xưởng vẫn còn đóng cửa; trong mấy tháng sau, cho đến giữa năm 1843, những kẻ nhàn rỗi bất đắc dĩ đó mới dần giảm đi và các công xưởng lại hoạt động trở lại.

Trong một cuộc khủng hoảng như vậy, nỗi cùng quẫn khốn khổ của những người thất nghiệp ấy là thế nào, cái đó không cần nói. Thuế trợ giúp người nghèo không đủ, còn xa mới đủ; lòng từ thiện của kẻ giàu như nhát gươm chém xuống nước, chỉ tác dụng trong chốc lát; ở nơi có nhiều kẻ đi xin thì của bố thí chỉ giúp được số ít. Nếu những lúc ấy, các hiệu buôn nhỏ không cố bán chịu cho người lao động nữa - thật ra sau này khi thanh toán họ được trả lại rộng rãi - và người lao động không tương trợ lẫn nhau, thì chắc chắn trong mỗi cuộc khủng hoảng, sẽ có hàng loạt "người thừa" chết đói. Nhưng vì chính thời kỳ gay gắt nhất cũng tương đối ngắn - chỉ độ một năm, lâu lắm là hai năm, hai năm rưỡi - nên phần lớn trong số họ đã trải qua nhiều gian nan khốn khổ để thoát chết. Sau này ta sẽ thấy rằng, mỗi cuộc khủng hoảng đều cướp đi rất nhiều sinh mạng gián tiếp cho bệnh tật, v.v. Giờ thì hãy xét đến một nguyên nhân khác của tình cảnh khổ sở của công nhân Anh, nguyên nhân này bây giờ vẫn còn tiếp tục tác động làm cho mức sống của toàn thể giai cấp này không ngừng giảm sút.


----------------------------------
Chú thích
1* Bọn chủ xưởng Anh rất ưa thích danh từ này.

2* "Người ta nói sức lực của nô lệ hao mòn thì chủ nô chịu, còn sức lực của công nhân tự do hao mòn thì bản thân công nhân chịu. Thực ra, hao mòn sức lực của công nhân tự do cũng do chủ của anh ta chịu. Lương của người làm công nhật, đày tớ, v.v. phải đủ cao, để anh ta có thể tiếp tục sinh ra loại người làm công nhật, đày tớ, ở mức mà sự tăng giảm của nhu cầu đòi hỏi. Nhưng dù hao mòn sức lực của công nhân tự do cũng do chủ anh ta chịu, thì giá của hao mòn ấy cũng thường thấp hơn nhiều so với hao mòn sức lực của nô lệ. Nói chung, bọn chủ cẩu thả hoặc bọn cai lơ đễnh sẽ quản lý số tài khoản dùng để phục hồi hoặc hoàn lại hao mòn sức lực của nô lệ" v.v. (A.Smith, "Wealth of Nations" ["Sự giàu có của các dân tộc"], t. I, phần 8, tr. 134, lần xuất bản thành 4 tập của McCulloch).

3* Hai loại nước giải khát có ga được công nhân, nhất là những người ít uống rượu, rất thích. Loại thứ nhất làm bằng nước, đường và gừng; loại thứ hai làm bằng nước, đường và cây tầm ma.

4 công nhân không có việc làm cố định (Chú thích của người dịch).

5* Nó đã đến vào năm 1847 (Chú thích của Engels cho bản in ở Mĩ năm 1887).
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:05:14 |Xem tất
NGƯỜI IRELAND NHẬP CƯ

Ta đã có nhiều dịp nói tới những người Ireland nhập cư vào Anh. Bây giờ, ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn các nguyên nhân và hậu quả của việc nhập cư đó.

Công nghiệp Anh không thể phát triển nhanh chóng như vậy, nếu nước Anh không tìm thấy ở cư dân Ireland đông đúc và nghèo nàn, một lực lượng dự trữ sẵn sàng phục vụ họ. Người Ireland chẳng có gì để mất ở quê hương, mà sang Anh thì được lợi nhiều, và từ khi họ biết rằng: bên kia eo biển St. George, chỉ cần có cánh tay khoẻ mạnh là chắc chắn kiếm được việc làm và tiền lương cao, thì mỗi năm đều có hàng đoàn người Ireland sang nước Anh. Cho đến nay, người ta tính là đã có hơn một triệu người Ireland di cư, và cứ mỗi năm lại có thêm năm vạn người; hầu hết họ đến các khu công nghiệp, nhất là các thành phố lớn, tạo nên tầng lớp thấp kém nhất trong cư dân, chẳng hạn London có 120.000 dân nghèo người Ireland, Manchester có 40.000, Liverpool 34.000, Bristol 24.000, Glasgow 40.000, Edinburgh 29.0001*. Những người đó lớn lên trong hoàn cảnh hầu như hoàn toàn thiếu văn minh, từ thuở nhỏ quen chịu đủ mọi điều thiếu thốn; những con người thô lỗ, rượu chè, không lo xa; họ vượt biển sang đây, mang theo tất cả những thói xấu của mình đến cho một tầng lớp dân Anh, vốn chẳng thích thú gì giáo dục và đạo đức. Hãy nghe Thomas Carlyle2*:
"Trên tất cả các đường lớn đường nhỏ, ta đều gặp những khuôn mặt dã man của người Milesian3*, trên đó lộ vẻ chất phác giả tạo, hung bạo, liều lĩnh, cùng khổ và giễu cợt. Anh đánh xe ngựa người Anh, khi đánh xe chạy qua, quất roi vào người Milesian; người này liền rủa anh ta một câu bằng tiếng nói của mình, rồi ngả mũ xin tiền. Đó là cái hoạ tệ nhất mà nước ta đang phải đả phá. Với bộ quần áo rách rưới, người dã man yêu đời ấy luôn sẵn sàng làm bất cứ việc gì cần đến tấm lưng rắn chắc và cánh tay khoẻ, để có tiền lương vừa đủ mua khoai tây. Gia vị thì họ chỉ cần muối; chỗ ngủ thì chuồng gia súc hay ổ chó cũng xong; họ ở trong các nhà kho, quần áo gồm một mớ giẻ rách, mặc vào cởi ra là việc hết sức khó khăn, chỉ tiến hành trong những ngày lễ, hoặc những trường hợp đặc biệt long trọng. Người Anh không thể làm việc trong những điều kiện như vậy, nên không kiếm được việc. Người Ireland kém văn hoá hất cẳng người Saxon bản xứ, chiếm chỗ của họ, không phải nhờ mặt mạnh, mà nhờ mặt yếu của mình. Họ sống bẩn thỉu, vô tư lự, ranh mãnh, gây lộn vì say rượu, và là cái lò sinh ra trụy lạc và mất trật tự. Kẻ nào cố sức bơi, khó nhọc lắm mới lên được mặt nước, sẽ thấy ở đấy một ví dụ về việc con người làm thế nào mà tồn tại được, khi không ở trên mặt nước, mà chìm đắm dưới đáy sâu... Mọi người đều biết rằng: mức sống của người lao động Anh thuộc tầng lớp dưới càng ngày càng sụt xuống gần đến mức sống của người lao động Ireland, là những kẻ cạnh tranh với họ trên mọi thị trường; rằng những công việc chỉ cần sức khỏe mà không cần kỹ năng đặc biệt đều được trả công không phải theo mức tiền công của người Anh, mà gần với mức tiền công của người Ireland, nghĩa là nhiều hơn một chút so với mức đòi hỏi để "khỏi chết đói, chỉ cầm hơi bằng khoai tây loại tồi nhất suốt ba mươi tuần trong một năm"; chỉ nhiều hơn một chút, nhưng cứ mỗi chuyến tàu mới từ Ireland tới, thì lại càng xuống gần mức đó".

Nếu loại bỏ sự chê bai quá cường điệu và phiến diện đối với tính cách dân tộc của người Ireland, thì mô tả ấy của Carlyle là đúng. Người lao động Ireland, sau khi trả bốn penny để nằm lăn nằm lóc trên boong tàu như súc vật, tới được đất Anh, thì chui vào đâu cũng được. Nhà cửa tồi tàn nhất đối với họ cũng còn khá tốt; họ ít chú ý đến quần áo, khi mà còn có chút ít dính vào thân; họ không biết giầy dép là gì; thức ăn của họ là khoai tây và chỉ có khoai tây; kiếm được hơn một chút là lập tức tiêu vào rượu. Những người như thế thì cần lương cao làm gì? Trong tất cả các thành phố lớn, những khu tồi tàn nhất là chỗ ở của người Ireland; bất kì đâu, nếu có một khu đặc biệt bẩn thỉu và đổ nát, thì có thể chắc rằng ở đó sẽ thấy phần lớn những khuôn mặt Celt, mà chỉ liếc qua cũng phân biệt ngay được với khuôn mặt Saxon của người bản địa, và sẽ được nghe cái giọng Ireland du dương có nhiều âm hơi, mà người Ireland đích thực không bao giờ bỏ mất. Có khi tôi còn nghe thấy giọng Celt-Ireland cả ở những khu đông nhất của Manchester. Phần lớn các gia đình sống trong nhà hầm, ở hầu hết mọi nơi, đều là người gốc Ireland. Tóm lại, theo bác sĩ Kay, người Ireland đã phát hiện ra mức tối thiểu về nhu cầu sinh hoạt, và nay họ đang dạy cái đó cho người lao động Anh. Họ cũng mang tới tính bẩn thỉu và thói rượu chè. Bẩn thỉu đã trở thành bản tính thứ hai của họ; ở nông thôn dân cư thưa thớt, thói ấy không tai hại mấy; nhưng ở đây, trong các thành phố lớn, với dân cư tập trung đông đúc, nó làm người ta khiếp vía và gây nhiều nguy hiểm. Như đã quen ở quê hương, người Milesian đến đây cũng đổ tất cả đồ bỏ đi và rác rưởi ở ngay trước cửa nhà mình, tạo nên những vũng nước và đống rác, làm bẩn cả khu lao động, và đầu độc không khí. Cũng như ở quê, họ làm chuồng lợn ngay sát nhà, nếu không làm thế được, thì họ cho lợn ở ngay trong phòng mình. Kiểu nuôi súc vật mới mẻ và kỳ lạ ấy ở các thành phố lớn, hoàn toàn là do người Ireland mang tới. Người Ireland gắn bó với con lợn cũng như người Arab đối với con ngựa, chỉ khác là khi lợn đủ béo thì họ đem bán; còn thì họ ăn ngủ cùng lợn, con cái họ chơi với lợn, cưỡi lên lưng lợn, cùng lợn vùng vẫy trong bùn, như người ta có thể gặp hàng nghìn lần, ở tất cả các thành phố lớn ở Anh. Sự bẩn thỉu và thiếu tiện nghi của các căn nhà đổ nát đó thì rất khó tưởng tượng được. Người Ireland không quen dùng đồ đạc trong nhà; một đống rơm, vài mảnh giẻ rách không mặc được nữa, đó là chỗ ngủ của họ; một mẩu gỗ, một cái ghế gẫy, một cái hòm cũ dùng làm bàn, thế là đủ. Một ấm pha chè, vài cái chậu và bát; đó là bếp của họ, bếp cũng là chỗ ngủ và chỗ ăn ở. Nếu không có gì đốt, họ ném vào lò sưởi mọi cái có thể cháy mà họ có: ghế, khung cửa, mái hiên, ván sàn. Mà họ cần chỗ rộng làm gì? Ở Ireland, căn lều đất của họ chỉ có một phòng, mọi thứ đều xếp vào đấy; ở Anh, cả gia đình cũng chả cần hơn một căn phòng. Tình trạng nhiều người chất đống trong một phòng, mà ngày nay rất phổ biến, chủ yếu cũng do người Ireland đưa vào. Và vì dù sao con người khốn khổ đó cũng phải có một thú vui nào đó, mà xã hội thì không cho anh ta thú vui nào khác, nên anh ta đành đến quán rượu. Với người Ireland, uống rượu là cái độc nhất tô điểm cho cuộc đời, thêm vào đó là tính cách vô tâm và vui vẻ của họ; vì vậy họ uống rượu đến say mềm. Sự dễ dãi của người miền Nam, vốn có ở người Ireland, và sự thô lỗ, khiến anh ta chả hơn gì người man rợ, sự khinh thường của anh ta đối với mọi thú vui của con người, những thú vui mà anh ta không có khả năng thưởng thức, chính do tính thô lỗ, tính ở bẩn và sự nghèo khổ của anh ta; tất cả những cái ấy đều thúc đẩy anh ta mê rượu: sự quyến rũ mạnh quá, anh ta không sao cưỡng lại được, và có đồng nào là uống rượu hết đồng ấy. Nhưng có thể nào khác được? Một khi xã hội đã đặt anh ta vào tình cảnh hầu như không thể tránh khỏi trở nên nghiện rượu, một khi xã hội không hề săn sóc đến anh ta, và để mặc cho anh ta trở thành đần độn, thì xã hội làm sao còn có thể trách anh nghiện rượu?

Người công nhân Anh phải đấu tranh với kẻ cạnh tranh như thế đấy, kẻ cạnh tranh ở vào trình độ phát triển thấp nhất có thể có ở một nước văn minh, do đó họ sẵn sàng làm việc với tiền lương ít hơn bất kì ai. Thế nên, như Carlyle nói, trong mọi ngành lao động mà công nhân Anh phải cạnh tranh với công nhân Ireland, tiền lương ngày càng giảm là điều không tránh được. Mà những ngành như thế thì rất nhiều. Tất cả các ngành hầu như không cần, hoặc cần rất ít kĩ năng, đều mở cửa rộng cho người Ireland. Tất nhiên, những ngành đòi hỏi phải học nghề lâu, hoặc phải hoạt động thường xuyên và đều đặn, thì không hợp với người Ireland rượu chè, cẩu thả và không cần mẫn. Muốn làm thợ cơ khí ("mechanic", ở Anh, những công nhân làm việc trong ngành chế tạo máy được gọi như thế), làm công nhân công xưởng, thì trước hết anh ta phải tiếp thu văn hoá và phong tục Anh, tức là về bản chất phải biến thành người Anh. Nhưng ở nơi mà công việc đơn giản, không đòi hỏi chính xác lắm, ở nơi cần nhiều sức lực hơn khéo léo, thì người Ireland không kém gì người Anh. Vì thế các ngành lao động đều đặc biệt đầy rẫy người Ireland: thợ dệt tay, thợ nề, thợ khuân vác, thợ phụ việc, v.v., gồm có vô số người Ireland; và sự xâm nhập của người Ireland ở đó đã thúc đẩy rất nhiều sự hạ thấp tiền lương và sự suy sụp của tình cảnh của giai cấp công nhân. Chính ngay người Ireland, khi xâm nhập vào các ngành lao động khác, buộc phải tiếp thu một trình độ văn hoá nhất định, vẫn còn giữ lại một số tập quán cũ, đủ để khiến những đồng nghiệp người Anh cũng thành trụy lạc, do ảnh hưởng của người Ireland ở xung quanh. Thật ra, nếu ta chú ý rằng, hầu như trong mỗi thành phố lớn, đều có 1/5 hoặc 1/4 số công nhân là người Ireland, hoặc những trẻ con Ireland lớn lên trong tình trạng bẩn thỉu kiểu Ireland; thì sẽ hiểu tại sao đời sống của toàn thể giai cấp công nhân, những phong tục, sự phát triển trí lực và tinh thần của họ, tất cả tính cách của họ, đều hấp thụ phần lớn những nét Ireland đó, và cũng sẽ hiểu rõ tại sao tình cảnh đáng căm phẫn của người lao động Anh, do nền công nghiệp hiện đại và các hậu quả trực tiếp của nó gây nên, lại có thể ngày càng tồi tệ hơn.


-----------------------------
Chú thích
1* Archibald Alison, High Sheriff of Lanarkshire. "The Principles of Population, and their connection with Human Happiness". 2 vols. 1840. [Archibald Alison, tỉnh trưởng Lanarkshire: "Những nguyên lý về dân số và sự liên quan của chúng đối với hạnh phúc của con người", 2 tập, 1840]. Tác giả là nhà sử học về cách mạng Pháp, và cũng như anh ông ta, bác sĩ W.P. Alison, là một đảng viên Đảng Tory mang đầu óc tôn giáo.

2* "Phong trào Hiến chương", tr. 28, 31 và tiếp theo.

3* Theo truyền thuyết, đây là tên một tộc người Celt cổ ở Ireland.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:05:58 |Xem tất
KẾT QUẢ

Ta đã nghiên cứu khá tỉ mỉ điều kiện sinh sống của giai cấp công nhân ở các thành phố Anh, giờ hãy rút ra kết luận từ những sự kiện đó, rồi đối chiếu các kết luận ấy với tình hình thực tế. Hãy xem, bản thân những người công nhân sống trong hoàn cảnh ấy đã trở nên thế nào, đã thành những con người thế nào, trạng thái thể chất, trí lực và đạo đức của họ ra sao.

Khi một kẻ gây thiệt hại đến thể chất của người khác, dẫn tới tử vong, ta gọi đó là kẻ giết người; nếu thủ phạm biết rằng thiệt hại đó sẽ làm chết người, ta gọi đó là mưu sát. Nhưng nếu xã hội1* đẩy hàng trăm người vô sản vào một tình cảnh khiến họ nhất thiết phải chết sớm, chết không bình thường, chết một cách cưỡng bức, giống như bị giết bằng gươm hoặc đạn; nếu xã hội tước những phương tiện sinh hoạt cần thiết khỏi tay hàng nghìn người, đặt họ vào những điều kiện không thể sinh tồn; nếu xã hội dùng bàn tay mạnh mẽ của pháp luật để buộc họ phải sống trong những điều kiện đó, tới khi cái chết xảy ra như một hậu quả tất yếu; nếu xã hội biết quá rõ rằng hàng nghìn người nhất định sẽ trở thành nạn nhân và sẽ chết, mà vẫn để các điều kiện ấy tồn tại; thì đó cũng là giết người, cũng như việc một cá nhân giết người; hành động giết người ấy kín đáo và nham hiểm, không ai có thể tự đề phòng; nó trông không giống hành động giết người, vì không ai trông thấy thủ phạm, vì thủ phạm là tất cả mọi người mà lại cũng không phải là ai, vì cái chết của nạn nhân có vẻ bình thường, và việc đó giống một sự sơ suất hơn là một tội ác. Nhưng đó vẫn là hành động giết người. Tôi định chứng minh rằng: xã hội Anh, hàng ngày hàng giờ đều phạm phải cái tội, mà báo chí của công nhân Anh có đầy đủ lý do để gọi là tội giết người có tính xã hội; rằng xã hội Anh đã đặt công nhân vào một tình cảnh khiến họ không thể khoẻ mạnh và sống lâu; rằng như vậy là xã hội không ngừng huỷ hoại dần cơ thể của họ và sớm đưa họ xuống mồ. Sau đó tôi phải chứng minh rằng, xã hội biết rõ tình hình ấy có hại thế nào đối với sức khoẻ và tính mạng của công nhân, nhưng vẫn không làm gì để cải thiện nó. Và xã hội biết rằng chế độ do nó thiết lập nên mang lại hậu quả như thế nào, vì thế hành động của nó không chỉ là giết người, mà còn là mưu sát; tôi chứng minh được điều đó, dù chỉ sử dụng những văn kiện chính thức, những báo cáo của Chính phủ và Nghị viện.

Một giai cấp sống trong những điều kiện đã nói ở trên, và thiếu đến cả những tư liệu sinh hoạt cần thiết nhất, thì không thể nào khoẻ mạnh và sống lâu, điều đó tự nó cũng đã rõ rồi. Tuy nhiên, hãy xem xét lại một lần nữa từng hoàn cảnh một, đặc biệt là về ảnh hưởng của chúng tới tình trạng sức khoẻ của công nhân. Bản thân sự tập trung dân cư vào các thành phố lớn đã có hậu quả cực kỳ tai hại: không khí ở London không bao giờ có thể trong sạch, nhiều Ôxy như ở một vùng nông thôn; hai triệu rưởi lồng ngực và hai mươi lăm vạn lò bếp, tập trung trên ba bốn dặm vuông, tiêu phí một lượng Ôxy rất lớn; chúng rất khó được bổ sung, vì cách kiến trúc thành phố tự nó đã khiến việc thông gió rất khó khăn. Khí Carbonic do hô hấp và đốt than sinh ra, vì khá nặng, nên lưu lại giữa nhà, còn luồng khí chính thì lướt qua trên nóc. Phổi của những người sống trong các nhà đó không nhận đủ lượng Ôxy cần thiết, nên thể chất và trí óc mệt mỏi, sức sống giảm sút. Vì vậy, dân cư những thành phố lớn, dù rất ít mắc bệnh cấp tính, nhất là bệnh viêm các loại, so với người nông thôn sống trong không khí trong lành, sạch sẽ, nhưng phần lớn họ đều mắc bệnh kinh niên. Nếu việc sống trong các thành phố lớn tự nó đã có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, thì ảnh hưởng tai hại đó của không khí ô uế trong các khu lao động - là nơi, như ta đã thấy, tập trung mọi yếu tố làm cho bầu không khí càng bị uế tạp - sẽ phải to lớn biết chừng nào. Ở nông thôn, không khí tự do lưu thông trên mọi phía, nếu có một hố nước thối ở ngay gần nhà, có lẽ cũng không hại như thế; nhưng ở giữa thành phố lớn, trong các phố và các sân mà bốn phía đều bị xây chắn, và bị cắt đứt mọi dòng không khí trong lành, thì tình hình lại khác. Cặn bã động thực vật bốc lên những khí rất hại cho sức khoẻ, và vì không có lối thoát tự do, nên các khí ấy tất phải đầu độc bầu không khí. Như vậy thì rác rưởi và vũng tù trong các khu lao động của những thành phố lớn bao giờ cũng gây hậu quả tai hại nhất cho vệ sinh chung, vì chính chúng bốc ra những khí độc hại; những hơi bốc lên từ dòng nước bẩn cũng vậy. Nhưng không chỉ có thế. Cái thực sự khiến người ta phẫn nộ là cách đối xử của xã hội hiện đại đối với quảng đại quần chúng nghèo khổ. Người ta kéo họ về các thành phố lớn, ở đó họ hít thở không khí không trong sạch bằng ở quê hương. Người ta nhét họ vào những khu kém thông gió nhất, do cách xây dựng nhà cửa gây nên. Người ta tước đoạt mọi phương tiện giữ vệ sinh; kể cả nước, vì muốn đặt ống dẫn nước thì phải trả tiền, còn nước sông thì đã bẩn đến mức không dùng được. Người ta buộc họ phải vứt ngay ra ngoài đường phố mọi thứ rác rưởi, cặn bã, nước bẩn, cả những thứ bẩn thỉu nhất làm cho người ta lộn mửa, vì mọi phương tiện để vứt bỏ tất cả những thứ đó cũng bị tước đoạt; vậy là người ta buộc họ phải đầu độc chính nơi ở của mình. Thế vẫn chưa đủ. Mọi thứ tai hại đổ lên đầu kẻ nghèo. Cư dân thành phố nói chung đã ở rất chen chúc, nhưng chính họ lại buộc phải sống chật chội hơn. Phải hít thở không khí ô uế ngoài phố cũng chưa đủ, họ còn bị nhét hàng tá người vào một gian phòng, và không khí họ hít thở ban đêm trở nên hoàn toàn ngột ngạt. Người ta cho họ ở trong những phòng ẩm thấp, những nhà hầm nước thấm từ dưới lên, những tầng sát mái nước dội từ trên xuống. Người ta xây cho họ những căn nhà mà uế khí không có lối thoát. Người ta cho họ những áo quần xấu, rách tả tơi, bở bục; những thức ăn tồi tệ, làm giả và khó tiêu. Người ta gây cho họ những tâm trạng đối lập mạnh mẽ nhất, những thay đổi đột ngột, lúc thì lo sợ, lúc thì hy vọng; người ta dồn đuổi họ như săn thú, không cho họ yên thân và sống cuộc đời yên tĩnh. Người ta tước đoạt của họ mọi thú vui, trừ tình dục và rượu chè, và hàng ngày bắt họ làm việc tới kiệt sức về tinh thần cũng như thể chất; do đó luôn đẩy họ chìm đắm một cách không sao kìm hãm được, vào hai thú vui duy nhất mà họ có. Nếu bằng ấy thứ còn chưa đủ, nếu họ vượt qua được tất cả những cái đó, thì họ lại sa vào cảnh thất nghiệp trong thời gian khủng hoảng, nó làm cho họ mất nốt chút gì còn lại.

Trong tình trạng đó, giai cấp nghèo khổ nhất ấy làm sao có thể khoẻ mạnh và sống lâu? Trong tình trạng đó, còn có thể trông đợi gì, ngoài tỉ lệ tử vong cực kỳ cao, bệnh dịch hoành hành liên miên, sự ngày càng tàn lụi về thể lực của nhân dân lao động? Hãy xem thực tế thế nào.

Ở đâu ta cũng thấy những bằng chứng xác nhận rằng: nhà ở của người lao động, nằm trong các khu tồi tàn nhất của thành phố, cộng với điều kiện sinh hoạt của họ, là nguồn gốc của bao nhiêu tật bệnh. Tác giả bài báo đã dẫn ở trên, đăng trên tạp chí "Artisan", nhận định hoàn toàn đúng: bệnh phổi là kết quả tất yếu của tình cảnh ấy, trên thực tế, đó là bệnh thường gặp nhất trong công nhân. Qua vẻ tiều tụy của rất nhiều người đi trên phố, ta thấy rõ rằng: không khí tồi tệ ở London, nhất là các khu lao động, đã khiến bệnh lao phổi phát triển rất dễ dàng. Sáng sớm, vào giờ mọi người đi làm, nếu dạo qua các phố, thì phải ngạc nhiên vì gặp quá nhiều người trông như bị lao phổi hoặc gần như thế. Ngay ở Manchester người ta trông cũng không đến nỗi như vậy; những bóng ma nhợt nhạt, gầy còm, ngực lép, mắt sâu đó, mà người ta gặp ở mỗi bước đi; những bộ mặt tiều tụy, uể oải, mất hết nhựa sống ấy, tôi không thấy ở đâu nhiều như London; dù ở các thành phố công nghiệp miền Bắc, hàng năm lao phổi cũng giết hại khá nhiều người. Cùng với lao phổi, không kể các bệnh phổi khác và bệnh sốt phát ban, trước hết phải nói đến thương hàn, là bệnh hoành hành dữ dội nhất trong nhân dân lao động. Cái tai hoạ phổ biến ấy, theo báo cáo chính thức về tình hình vệ sinh của giai cấp công nhân, là một hậu quả trực tiếp của tình trạng nhà cửa tồi tàn, không thoáng khí, ẩm thấp và bẩn thỉu. Đừng quên rằng báo cáo này là do những thầy thuốc bậc nhất của Anh, dựa trên tài liệu của một số thầy thuốc khác mà viết ra; nó khẳng định rằng chỉ cần một cái sân không thoáng khí, một ngõ cụt không có cống thoát nước, là đủ gây ra bệnh sốt, và thường thì lúc nào cũng vậy, nhất là khi dân cư ở chật chội và có chất hữu cơ thối rữa gần đấy. Bệnh sốt này hầu như ở đâu cũng có tính chất giống nhau, và hầu như trường hợp nào cũng biến thành thương hàn rõ rệt. Bệnh ấy thường thấy ở những khu lao động trong mọi thành phố lớn, ở cả một số phố xây dựng tồi và không được săn sóc trong những điểm dân cư nhỏ hơn, và lan truyền mạnh nhất trong các khu nhà ổ chuột, tuy rằng tất nhiên nó cũng tìm được nạn nhân cá biệt trong các khu tốt hơn. Nó đã hoành hành ở London khá lâu, năm 1837, nó phát triển đặc biệt dữ dội, do đó mà báo cáo chính thức nói trên được ra đời. Theo báo cáo hàng năm của bác sĩ Southwood Smith tại Bệnh viện Sốt London, năm 1843 có 1462 bệnh nhân điều trị, nhiều hơn bất cứ năm nào trước đó 418 người. Trong các vùng ẩm thấp và bẩn thỉu của các khu phía bắc, đông và nam London, bệnh ấy hoành hành đặc biệt dữ dội. Bệnh nhân phần nhiều là công nhân mới từ nông thôn ra, trên dọc đường, và ngay ở London, họ phải chịu mọi thiếu thốn khổ cực: ngủ ngoài đường, quần áo phong phanh, đói khát, không tìm được việc làm, cuối cùng thì mắc bệnh sốt. Lúc được đưa vào viện, họ yếu đến nỗi phải dùng rất nhiều rượu vang, rượu cognac, các chế phẩm ammoniac và nhiều chất kích thích khác. Số chết lên tới 16,5% tổng số bệnh nhân. Ở Manchester cũng có bệnh sốt ác tính ấy: trong những khu lao động tồi tàn nhất ở thành phố cũ, khu Ancoats, khu Tiểu Ireland, v.v., nó hầu như chưa bao giờ dứt hẳn; tuy nhiên ở đây, cũng như các thành phố của Anh nói chung, nó không lan tràn dữ dội như người ta tưởng. Ngược lại, ở Scotland và Ireland, thương hàn hoành hành dữ dội ngoài sức tưởng tượng; ở Edinburgh và Glasgow năm 1817, thời kì nạn đói bùng phát, năm 1826 và 1837, sau các cuộc khủng hoảng thương nghiệp, nó lan tràn đặc biệt mạnh, mỗi lần kéo dài khoảng ba năm rồi mới ngớt đi. Ở Edinburgh, nạn dịch năm 1817 có 6000 người, nạn dịch năm 1837 có 10.000 người mắc bệnh; mỗi lần dịch tái phát thì không chỉ số người ốm, mà cả mức độ dữ dội của bệnh và tỉ lệ tử vong đều tăng2a*. Nhưng sự ác liệt của dịch ở những thời kì trước không thấm vào đâu, so với lúc bệnh hoành hành sau cơn khủng hoảng năm 1842: 1/6 tổng số dân nghèo Scotland mắc bệnh, những người ăn mày lang thang truyền bệnh từ nơi này qua nơi khác một cách nhanh chóng lạ thường; nhưng bệnh không đụng đến các giai cấp trung đẳng và thượng đẳng của xã hội. Trong hai tháng, số người mắc bệnh nhiều hơn cả mười hai năm về trước. Ở Glasgow năm 1843, 12% dân số, tức là 32.000 người mắc bệnh, trong đó 32% tử vong, trong khi ở Manchester và Liverpool, tỉ lệ tử vong thường không quá 8%. Bệnh nguy kịch vào ngày thứ bảy và ngày thứ mười lăm, lúc này, da bệnh nhân thường bị vàng; tác giả của chúng ta cho là: tình trạng ấy chứng tỏ rằng phải tìm nguyên nhân của bệnh cả trong sự hồi hộp và lo lắng về tinh thần3*. Ở Ireland loại dịch này cũng thường xảy ra. Năm 1817-18, trong hai mươi mốt tháng, bệnh viện Dublin đã nhận 39.000 bệnh nhân sốt, và theo lời tỉnh trưởng Alison4* thì một năm sau, con số thậm chí đã lên tới 60.000. Ở Cork những năm 1817-18, bệnh viện sốt đã phải tiếp nhận 1/7 số dân; ở Limerick cũng thời kỳ đó, 1/4 số dân mắc bệnh, còn trong khu nhà ổ chuột Waterford có đến 19/20 toàn bộ dân cư2b* bị bệnh.

Khi nhớ lại tình cảnh sinh sống của người lao động, nghĩ về việc nhà của họ chật chội thế nào, mỗi xó đều chật ních người ra sao, người khoẻ, người ốm nằm lẫn lộn, chung phòng, chung giường như thế nào; thì ta chỉ có thể ngạc nhiên, là một bệnh hay lây như bệnh sốt ấy lại không lan tràn mạnh hơn. Và khi nhớ rằng nhiều người hết sức thiếu thuốc men chạy chữa, nhiều người hoàn toàn không được thầy thuốc chỉ dẫn, và không biết tới những qui định thông thường nhất về việc kiêng khem, thì ta sẽ thấy là chừng đó người chết vẫn còn ít. Bác sĩ Alison, người đã nghiên cứu kỹ bệnh này, cũng như tác giả của báo cáo dẫn ở trên, cho rằng nguyên nhân của nó là hoàn cảnh thiếu thốn khốn khổ của người nghèo: theo ông, chính vì thiếu thốn và không được thoả mãn những nhu cầu thiết yếu nên cơ thể dễ nhiễm bệnh, và dịch thường trở nên đặc biệt nguy hiểm và lan truyền nhanh chóng. Ông chứng minh rằng ở Scotland cũng như Ireland, trong mỗi thời kỳ thiếu thốn do khủng hoảng thương nghiệp hoặc mất mùa, đều có dịch thương hàn, và nó hầu như chỉ hoành hành trong giai cấp công nhân. Đáng chú ý là: theo ông, đa số bệnh nhân thương hàn đều là người chồng, người cha, những người đặc biệt cần cho gia đình họ; nhiều thầy thuốc Ireland mà ông trích dẫn cũng xác nhận như vậy.

Còn một loạt bệnh khác có nguyên nhân từ ăn uống hơn là điều kiện cư trú của công nhân. Thức ăn của họ nói chung rất khó tiêu, hoàn toàn không hợp với trẻ nhỏ; nhưng họ không có tiền và thì giờ để tìm những thứ tốt hơn. Ngoài ra, một tập quán rất phổ biến là cho trẻ con dùng rượu, thậm chí là thuốc phiện. Hai cái đó, cộng với những điều kiện sinh sống khác có hại cho sự phát triển thể lực của trẻ con, gây ra đủ thứ bệnh về đường tiêu hoá, để lại vết tích suốt đời. Hầu hết công nhân ít nhiều đều mắc chứng tiêu hoá kém, vậy mà họ vẫn buộc phải tiếp tục dùng cái thức ăn đã gây nên chứng ấy cho họ. Vả lại, họ đâu biết là cái ấy có hại? Dù biết đi nữa, làm sao họ có thể áp dụng một chế độ ăn uống phù hợp hơn, khi điều kiện sinh hoạt và thói quen của họ chưa thay đổi? Nhưng tiêu hoá kém là nguồn gốc của nhiều bệnh khác, có ngay từ thuở thơ ấu. Hầu như tất cả công nhân đều mắc bệnh tràng nhạc; cha mẹ bị tràng nhạc sinh ra con cái bị tràng nhạc, nhất là khi đứa bé, mang nọc bệnh do cha mẹ truyền lại, tiếp tục chịu ảnh hưởng của những nguyên nhân ban đầu gây ra bệnh ấy. Hậu quả thứ hai của sự ăn uống không đủ trong thời kỳ đang lớn của trẻ con là bệnh còi xương, cũng rất phổ biến trong con cái người lao động. Xương chậm cứng, bộ xương nói chung phát triển chậm; ngoài các biểu hiện thông thường của còi xương, còn thường thấy chân và cột sống cong vẹo. Không phải nói thêm rằng, những thăng trầm của đời sống công nhân, vì thương mại đình đốn, nạn thất nghiệp và tiền lương giảm trong thời kỳ khủng hoảng, đã khiến những bệnh ấy nặng thêm. Tình trạng thiếu ăn nhất thời, mà hầu hết công nhân ít ra cũng trải qua một lần trong đời, làm trầm trọng thêm những hậu quả của chế độ ăn uống kém về chất, dù về lượng thì vẫn đủ. Con trẻ phải ăn lửng dạ, chính vào lúc chúng cần được bồi dưỡng nhiều nhất; có bao nhiêu trẻ con như vậy trong mỗi kì khủng hoảng, và cả thời công nghiệp phồn vinh; thì nhất định phải trở thành những người yếu đuối, bị tràng nhạc và còi xương. Mà quả thực như thế, cái đó có thể thấy qua vẻ bề ngoài của chúng. Tình trạng bị thiếu chăm sóc của đông đảo con cái người lao động để lại những dấu vết không bao giờ mất, dẫn tới sự suy yếu của toàn bộ giai cấp công nhân. Nếu thêm vào tình trạng quần áo người lao động không phù hợp, không chống được cảm lạnh; tình trạng phải làm việc cho đến khi bệnh tật vật ngã, tình cảnh khốn cùng cực độ của gia đình khi người lao động bị ốm đau, tình trạng ốm đau thường không được chạy chữa, thì sẽ có thể tưởng tượng sơ qua về tình hình sức khoẻ của những người lao động Anh. Đó là ở đây còn chưa nói đến những hậu quả tai hại của việc làm trong một vài ngành lao động cá biệt, trong điều kiện hiện nay.

Ngoài ra, còn nhiều nhân tố khác làm cho sức khoẻ của một số đông công nhân giảm sút. Trước hết là tệ nghiện rượu. Mọi thứ hấp dẫn và cám dỗ liên kết lại để lôi kéo người lao động tới chỗ rượu chè. Đối với họ, hầu như chỉ có một nguồn vui duy nhất là rượu mạnh, và mọi thứ dường như cùng nhau đẩy họ đến với nó. Người công nhân khi tan tầm về nhà, đã mệt mỏi rã rời; mà nhà cửa thì thiếu tiện nghi, lạnh lùng, ẩm thấp, bẩn thỉu; anh ta rất cần tiêu khiển, cần cái gì đó để cảm thấy còn đáng làm việc, cái gì đó làm dịu được viễn cảnh của ngày mai khổ cực; sự mệt mỏi, bực dọc và ưu phiền của anh ta, một phần do sức khoẻ kém, nhất là vì tiêu hoá không tốt gây ra, đã tăng đến cực độ, do tất cả các điều kiện sinh hoạt khác của anh ta: đời sống bấp bênh, phụ thuộc vào mọi thứ may rủi, không thể tự làm gì để cải thiện tình cảnh của mình; cơ thể của anh ta, suy yếu vì không khí và thức ăn tồi tệ, đòi hỏi mãnh liệt một chất kích thích nào đó từ bên ngoài; nhu cầu xã giao của anh ta chỉ có thể được thoả mãn ở quán rượu, vì không còn nơi nào khác để anh ta gặp bạn bè. Thế thì anh ta làm sao tránh được sự lôi cuốn mạnh mẽ của rượu và chống lại được sự cám dỗ ấy? Ngược lại, ở hoàn cảnh ấy, phần lớn người lao động, do nhu cầu thể chất và tinh thần, nhất định phải sa vào rượu chè. Ngoài các lí do có thể nói là tự nhiên ấy, còn cả gương xấu của số đông, sự thiếu giáo dục, không thể giữ cho thanh niên tránh khỏi cám dỗ; nhiều khi lại là ảnh hưởng trực tiếp, khi cha mẹ nghiện rượu tự mình đem rượu cho con uống; niềm tin rằng: nhờ hơi men có thể lãng quên, ít ra là trong vài giờ, những khổ cực và áp bức của cuộc đời; và còn hàng trăm tình huống khác, chúng tác động mạnh đến nỗi thật không thể trách người lao động vì họ thích uống rượu. Ở đây nghiện rượu không còn là một tật xấu, mà người mắc phải có thể bị chê trách; nó là một hiện tượng tất nhiên, hậu quả không thể tránh khỏi của những điều kiện nhất định, tác động tới một đối tượng mất hết ý chí của mình. Phải chịu trách nhiệm về việc này, chính là những kẻ đã biến người lao động thành đối tượng như thế. Nhưng bản thân sự nghiện rượu khiến thể xác và tinh thần của nạn nhân phải chịu tác động hủy hoại, điều đó cũng tất nhiên như việc đại đa số công nhân nghiện rượu. Nó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh do điều kiện sinh hoạt của công nhân gây nên; tạo điều kiện cực kì thuận lợi cho bệnh phổi, bệnh đường ruột, kể cả thương hàn, phát sinh và lan rộng.

Một nguyên nhân khác của tình trạng sức khỏe tệ hại của giai cấp công nhân là: khi ốm đau, họ không thể được thầy thuốc giỏi cứu chữa. Thực ra, một số cơ quan từ thiện đã tìm cách bù đắp thiếu sót ấy; như bệnh viện Manchester, hàng năm chữa cho 22.000 bệnh nhân, trong đó có một số được điều trị ngay tại bệnh viện, số khác được khám và cấp thuốc. Nhưng với một thành phố mà Gaskell5* ước lượng là hàng năm có đến 3/4 dân số cần được chăm sóc y tế, thì điều ấy có thấm vào đâu? Bác sĩ ở Anh lấy tiền khám chữa bệnh rất cao, người lao động không trả nổi. Do đó họ đành không chạy chữa gì, hoặc buộc phải tìm đến những tên lang băm lấy công rẻ, và những thứ thuốc bịp bợm, chung quy lợi ít hại nhiều. Trong tất cả các thành phố ở Anh có rất nhiều kẻ như vậy, họ kiếm khách trong những giai cấp nghèo khổ nhất, bằng mọi thứ quảng cáo, áp-phích, và các mánh khoé khác. Ngoài ra, người ta còn bán rất nhiều thứ "thuốc được cấp bằng" (patent medicines), trị bách bệnh: Thuốc viên Morrison, Thuốc viên Bổ khí Parr, Thuốc viên Bác sĩ Mainwaring và hàng ngàn loại thuốc viên, tinh dầu, dầu thơm khác; cái nào cũng có tác dụng chữa khỏi đủ thứ bệnh. Những thuốc ấy thực ra ít có chất gây hại trực tiếp, nhưng dùng lâu và dùng nhiều thì vẫn có hại cho cơ thể; và vì người lao động, vốn không thạo về thuốc men, lại được tuyên truyền là phải dùng chúng càng nhiều càng tốt, nên không có gì lạ khi họ nốc hàng loạt thuốc ấy, mà chẳng biết có nên hay không. Nhiều khi chủ xưởng Thuốc viên Bổ khí Parr trong một tuần bán được đến 20-25 nghìn hộp thuốc thần hiệu ấy, thứ thuốc mà người này dùng để trị táo bón, người kia dùng để chữa ỉa chảy, người khác uống khi bị sốt, suy nhược toàn thân và mọi loại bệnh. Cũng như nông dân Đức đến những mùa nào đó thì đặt bầu giác hoặc chích máu, công nhân Anh uống những "thuốc được cấp bằng" chỉ để làm hại chính mình, đồng thời làm đầy túi tiền của các chủ xưởng bào chế. Trong đó, có hại bậc nhất là một thứ thuốc nước, chế bằng các chất thuốc phiện, chủ yếu là laudanum6, và đem bán rộng rãi với cái tên "dung dịch bổ Godfrey". Những phụ nữ làm việc ở nhà và phải nuôi con mình hoặc con người khác, thường cho trẻ uống thứ thuốc ấy để chúng ngủ yên, hoặc như nhiều người tưởng, để chúng khoẻ thêm. Người ta thường cho trẻ con dùng thuốc ấy ngay từ khi mới đẻ, không hề để ý đến loại thuốc "bổ" ấy có hại hay không, và cứ tiếp tục cho uống đến khi chúng chết. Cơ thể đứa trẻ càng ít thụ cảm với tác dụng thuốc phiện thì người ta càng tăng liều dùng. Nếu thuốc ấy không có tác dụng nữa thì họ cho trẻ uống laudanum nguyên chất, thường một lần 15-20 giọt. Viên dự thẩm ở Nottingham đã xác nhận trước một tiểu ban của chính phủ7* rằng, theo lời một dược sĩ, thì trong một năm hắn đã dùng đến 13 tạ si-rô để chế ra "dung dịch bổ Godfrey". Cách điều trị ấy gây ra hậu quả thế nào đối với trẻ con, điều đó cũng dễ thấy. Chúng dần trở nên xanh xao, uể oải, yếu ớt, đa số chết dưới hai tuổi. Thứ thuốc này rất thông dụng trong mọi thành phố lớn và khu công nghiệp ở Anh.

Hậu quả của tất cả những cái ấy là thể lực của người lao động suy yếu toàn diện. Trong họ, rất ít người khoẻ mạnh, vạm vỡ và không tật bệnh; ít ra là trong số công nhân công nghiệp, phần lớn làm việc ở những nơi tù túng, và ở đây cũng chỉ nói về họ thôi. Hầu hết họ đều yếu ớt, vóc người cứng chắc nhưng không mạnh mẽ, gầy gò, xanh xao, bắp thịt không nở nang, trừ những bắp thịt phải đặc biệt căng sức khi làm việc. Hầu hết đều mắc bệnh khó tiêu hoá, vì vậy ít nhiều đều mắc chứng ưu tư, buồn rầu, hay cáu gắt. Cơ thể họ suy nhược, sức đề kháng kém, do đó lúc nào cũng có thể làm mồi cho mọi bệnh tật. Cũng vì vậy họ mau già và chết yểu. Các bản thống kê người chết là một bằng chứng không thể chối cãi về điểm ấy.

Theo báo cáo của G. Graham, chủ nhiệm sở đăng ký tình hình công dân, tỉ lệ tử trên toàn nước Anh và Wales hàng năm là gần 2,25%, tức là mỗi năm, cứ 45 người thì có 1 người chết8*. Ít ra đó là con số trung bình trong những năm 1839-40; các năm sau có thấp hơn một chút, cứ 46 người có 1 người chết. Nhưng ở các thành phố lớn thì khác hẳn. Tôi có trong tay những bản thống kê chính thức về số tử vong (công bố trên báo "Manchester Guardian" số ra ngày 31 tháng Bảy 1844), theo đó thì tỉ lệ tử ở vài thành phố lớn là như sau: ở Manchester, kể cả Salford và Chorlton thì cứ 32,72 người có 1 người chết, không kể hai vùng đó thì cứ 30,75 người có 1 người chết; ở Liverpool, tính cả vùng ngoại ô West-Derby thì cứ 31,9 người có 1 người chết, không tính vùng đó thì cứ 29,9 người có 1 người chết; trong khi theo các số liệu tổng hợp chung cho Cheshire, Lancashire và Yorkshire, các vùng có nhiều khu nông nghiệp hoặc bán nông nghiệp và nhiều thành phố nhỏ, với tổng số dân là 2.172.506 người, thì tỉ lệ người chết là 1/39,8. Có thể thấy điều kiện sống của người lao động ở các thành phố tồi đến thế nào, qua số tử vong ở Prescott (Lancashire); đó là khu vực cư trú của công nhân mỏ than, và vì công việc trong hầm mỏ ảnh hưởng không tốt lắm đối với sức khoẻ, cho nên tình trạng sức khoẻ ở khu này kém hơn các khu nông nghiệp. Nhưng ở đây công nhân sống ở nông thôn, và tỉ lệ tử chỉ là 1/47,54, so với mức trung bình của cả nước Anh thì thấp hơn tới gần 2,5%. Tất cả thông tin trên đều được lấy trong những bản thống kê tử vong năm 1843. Ở các thành phố của Scotland, con số còn cao hơn: ở Edinburgh, trong những năm 1838-39, tỉ lệ tử là 1/29, thậm chí năm 1831, riêng khu thành phố cũ là 1/22; ở Glasgow, theo số liệu của bác sĩ Cowan9* từ năm 1830 tới nay, tỉ lệ tử trung bình là 1/30, một số năm là 1/22 hoặc 1/24. Tuổi thọ trung bình giảm nhiều chủ yếu ở giai cấp công nhân, còn tuổi thọ trung bình ở các giai cấp khác thì tương đối cao hơn, vì tỉ lệ tử ở các giai cấp thượng đẳng và trung lưu là thấp hơn, việc này được chứng thực từ mọi phía. Mới đây nhất là lời của P. H. Holland, thầy thuốc ở Manchester đã được ủy nhiệm chính thức đi kiểm tra khu Chorlton-on-Medlock10* ở ngoại ô thành phố Manchester. Ông chia các nhà và phố làm ba hạng và có được số tử vong như sau:
Phố        Nhà        Tỉ lệ tử
Hạng I        Hạng I        1/51
Hạng II        1/45
Hạng III        1/36
Hạng II
Hạng I        1/55
Hạng II        1/38
Hạng III        1/35
Hạng III        Hạng I        Thiếu số liệu
Hạng II        1/35
Hạng III        1/25
Qua nhiều bản thống kê khác do Holland trình bày, ta thấy rõ rằng tỉ lệ tử ở những phố hạng II cao hơn 18%, ở những phố hạng III cao hơn 68% so với những phố hạng I; tỉ lệ tử ở những nhà hạng II cao hơn 31%, ở những nhà hạng III cao hơn 78% so với những nhà hạng I; trong những phố bẩn thỉu, sau khi được quét dọn thì tỉ lệ tử giảm đi 25%. Ông kết luận bản báo cáo bằng những lời rất thẳng thắn đối với người tư sản Anh:
"Khi ta thấy có những phố có số tử vong cao gấp bốn lần những phố khác, và có những hạng phố nọ cao gấp đôi những hạng phố kia; khi ta thấy trong những phố tồi tàn, tỉ lệ tử có thể nói là luôn cao, mà trong những phố tốt thì luôn thấp; thì không thể không kết luận rằng, hàng năm, rất nhiều đồng loại của chúng ta, hàng trăm láng giềng gần gũi nhất của chúng ta bị sát hại (destroyed), vì thiếu những biện pháp dự phòng sơ đẳng nhất".

Trong báo cáo về tình hình vệ sinh của giai cấp công nhân cũng có nhiều tài liệu chứng minh sự thật như thế. Ở Liverpool năm 1840, tuổi thọ trung bình của các giai cấp trên (gần với giai cấp thượng lưu, những người làm nghề tự do, v.v.) là 35, trong giới buôn bán và các thợ thủ công khá giả là 22 tuổi, còn với công nhân, người làm công nhật, và người lao động làm thuê nói chung, thì chỉ có 15 tuổi. Các báo cáo của nghị viện cũng có rất nhiều sự thật tương tự.

Tỉ lệ tử cao chủ yếu là vì trong giới lao động, số trẻ em chết rất cao. Cơ thể non yếu của đứa trẻ ít có khả năng chống đỡ nhất, trước những ảnh hưởng xấu của điều kiện sống kham khổ. Tình trạng trẻ con bị bỏ vơ vất, khi cả cha lẫn mẹ đều đi làm, hoặc một trong hai người đó đã mất, đã cho thấy ngay tác hại; vì vậy không lạ gì khi thấy, như ở Manchester, theo báo cáo đã dẫn ở trên, hơn 57% con cái của người lao động chết dưới 5 tuổi, trong khi ở các giai cấp thượng đẳng, con số ấy chỉ là 20%; còn ở các vùng nông nghiệp, con số trung bình về trẻ con chết dưới 5 tuổi, của tất cả các giai cấp, cũng chưa đến 32%11*. Trong bài báo đã nhiều lần dẫn ra của tạp chí "Artisan", ta thấy nhiều tài liệu chính xác hơn về vấn đề này; tác giả đối chiếu con số tử vong ở thành phố và nông thôn do các bệnh của riêng trẻ con, từ đó chứng minh rằng: nói chung, ở Manchester và Liverpool, bệnh dịch làm chết nhiều người gấp 3 lần so với các vùng nông thôn, bệnh thần kinh nhiều gấp 5 lần, bệnh đường ruột nhiều gấp hơn 2 lần; còn số ca tử vong vì các bệnh phổi thì gấp 2,5 lần. Ở thành phố, số trẻ em chết vì đậu mùa, sởi, ho gà và bệnh tinh hồng nhiệt nhiều gấp 4 lần; vì bệnh tràn dịch não gấp 3 lần; vì chứng co giật gấp 10 lần. Để thêm một chứng cớ chắc chắn nữa, tôi dẫn ra đây một biểu đồ mà bác sĩ Wade đã trích ở bản báo cáo năm 1832 của tiểu ban nghị viện về công xưởng, trong quyển sách của ông: "Lịch sử giai cấp trung gian và giai cấp công nhân" (xuất bản lần thứ ba, London, 1835).
Độ tuổi tử vong ở 10.000 người        Dưới 5        5-19        20-39        40-59        60-69        70-79        80-89        90-99        100 trở lên
Ở tỉnh Ruthlandshire, vùng nông nghiệp trong lành        2865        891        1275        1299        1189        1428        938        112        3
Ở tỉnh Essex, vùng nông nghiệp đất lầy        3159        1110        1526        1413        963        1019        630        17712        3
Ở thành phố Carlisle những năm 1779-87, trước khi có các công xưởng        4408        911        1006        1201        940        826        533        153        22
Ở thành phố Carlisle sau khi có các công xưởng        4738        930        1261        1134        677        727        452        80        1
Ở thành phố công xưởng Preston        4947        1136        1379        1114        553        532        298        38        3
Ở thành phố công xưởng Leeds        5286        927        1228        1198        593        512        225        29        2
Ngoài các bệnh là hậu quả tất nhiên của việc giai cấp nghèo khổ bị áp bức và bỏ mặc, còn nhiều nguyên nhân khác làm tăng số tử vong ở trẻ em. Ở nhiều gia đình, người mẹ cũng đi làm xa nhà như người cha, hậu quả là con cái bị bỏ vơ vất, hoặc bị nhốt một mình trong nhà, hay là bị giao cho những người giữ trẻ thuê. Cho nên không có gì lạ nếu hàng trăm đứa trẻ ấy chết vì đủ thứ tai nạn. Không đâu có nhiều trẻ con chết vì xe chẹt, vì ngựa giẫm, chết đuối, chết cháy như các thành phố lớn của Anh. Đặc biệt là trẻ con thường bị chết bỏng vì lửa hoặc nước sôi; ở Manchester, trong mùa đông, hầu như tuần nào cũng có một vụ; ở London cũng nhiều như vậy; nhưng trên báo chí rất ít thấy những tin ấy: tôi chỉ có được một tin của tờ "Weekly Dispatch" ra ngày 15 tháng Chạp 1844, nói rằng trong tuần từ ngày 1 đến 7 tháng Chạp, đã có sáu vụ như thế. Những đứa trẻ bất hạnh đó chết một cách khủng khiếp như vậy, hoàn toàn là nạn nhân của tình hình hỗn loạn trong xã hội chúng ta; và của giai cấp có của, kẻ có lợi trong việc duy trì tình hình hỗn loạn ấy. Vậy mà biết đâu, cái chết kinh khủng và đau đớn đó lại là một điều may mắn cho những đứa trẻ ấy, vì nó đã giúp chúng khỏi phải sống một cuộc đời đầy cực nhọc và nghèo khó, nhiều đau khổ mà ít niềm vui! Tình hình ở Anh đã đến mức ấy, giai cấp tư sản ngày nào cũng đọc những tin như thế trên báo chí mà không hề để ý tới. Nhưng họ sẽ không có quyền phản đối, nếu tôi dựa vào những chứng cớ chính thức và không chính thức vừa được dẫn ra, những chứng cớ mà họ nhất định phải biết rõ, để tố cáo họ đã phạm cái tội giết người có tính xã hội. Họ phải chọn, hoặc là tìm cách chấm dứt tình trạng kinh khủng ấy, hoặc là để giai cấp công nhân quản lí những công việc công cộng. Nhưng họ không có ý định thực hiện điều thứ hai; mà cái thứ nhất, thì khi nào họ còn là tư sản, còn bị vướng mắc trong những thành kiến tư sản, khi đó họ vẫn không thể thực hiện. Và nếu giờ đây, sau khi hàng trăm nghìn nạn nhân đã chết, họ có chút ít biện pháp nhỏ nhặt để dự phòng cho tương lai, có ban hành "Đạo luật xây dựng thủ đô", ít ra cũng hạn chế phần nào tình trạng nhà cửa chen chúc hỗn độn; nếu họ khoe khoang về những biện pháp, không những không đụng đến nguồn gốc của tội ác, mà còn không đáp ứng được những yêu cầu thông thường nhất của cảnh sát vệ sinh; thì họ vẫn không thể nhờ vậy mà rửa sạch tội lỗi của mình. Giờ đây, giai cấp tư sản Anh chỉ có thể lựa chọn: hoặc là tiếp tục nắm chính quyền, bất chấp cái tội giết người không chối cãi được đang đè nặng trên vai nó; hoặc là rút khỏi chính quyền, vì lợi ích của giai cấp công nhân. Cho đến nay, họ vẫn thích con đường thứ nhất.

Hãy chuyển từ tình cảnh thể chất sang tình cảnh tinh thần của người lao động. Nếu giai cấp tư sản chỉ chăm lo đến đời sống của công nhân, trong chừng mực những cái cần thiết nhất; thì cũng không nên lấy làm lạ là chúng chỉ thí cho công nhân chút ít giáo dục, vừa đủ để đáp ứng lợi ích của chúng. Mà chút đó có là bao. Các cơ quan giáo dục ở Anh so với số dân thì còn quá ít. Các trường học ban ngày mà giai cấp công nhân có thể đến thì rất hiếm, chỉ rất ít người có thể lui tới, vả lại những trường ấy rất tồi tàn; giáo viên là những công nhân đã mất sức lao động, hoặc là những người chẳng làm được gì, phải đi dạy học để kiếm ăn, đa số họ còn thiếu cả những kiến thức cơ sở cần thiết nhất, thiếu cả phẩm chất đạo đức thiết yếu của người thầy, và chẳng hề bị công chúng giám sát. Ở đây, tự do cạnh tranh cũng thống trị, và như thường lệ, người giàu thì hưởng lợi; còn người nghèo thì chịu thiệt, vì thật ra họ không còn được tự do cạnh tranh, và không đủ kiến thức cần thiết để lựa chọn cho đúng đắn. Không nơi nào có phổ cập giáo dục; trong công xưởng, như ta sẽ thấy, phổ cập giáo dục chỉ có trên danh nghĩa, và trong kì họp năm 1843, khi chính phủ muốn hiện thực hóa việc phổ cập trên danh nghĩa ấy, thì giai cấp tư sản công nghiệp đã cực lực phản đối, dù công nhân ủng hộ mạnh mẽ việc bắt buộc đi học. Ngoài ra, có rất nhiều trẻ em làm việc cả tuần tại xưởng hoặc ở nhà, nên cũng không thể đi học. Còn các trường buổi tối dành cho những người bận làm việc ban ngày, thì hầu như chẳng ai học, và chẳng đem lại ích lợi gì. Đòi hỏi những công nhân trẻ, đã làm kiệt sức suốt mười hai giờ liền, tối đến lại đi học từ tám giờ đến mười giờ, thì thật quá đáng. Những ai đi học thì phần lớn đều ngủ ngay trong giờ, điều này được xác nhận qua hàng trăm chứng cớ trong "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em". Dù đã có những trường học chủ nhật, nhưng rất thiếu người dạy; và nó chỉ có thể có lợi với những người đã theo học các trường hàng ngày. Khoảng thời gian giữa hai ngày chủ nhật quá dài: một đứa trẻ ở trình độ thấp, khi học bài mới, không khỏi quên mất bài học tuần trước. "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em" có hàng trăm dẫn chứng về điều này, và chính tiểu ban đã tuyên bố dứt khoát rằng: trường học hàng ngày và trường học chủ nhật đều không thể đáp ứng, dù là một phần nhỏ, nhu cầu của đất nước. Báo cáo ấy nêu ra các dẫn chứng về tình trạng dốt nát của giai cấp lao động Anh, một tình trạng mà người ta không ngờ là có, kể cả ở những nước như Tây Ban Nha hoặc Ý. Nhưng cũng không thể khác được. Học vấn của công nhân ít hứa hẹn điều tốt lành cho giai cấp tư sản, lại còn gây ra cho họ nhiều mối lo sợ. Trong toàn bộ ngân sách khổng lồ 55 triệu Bảng, chính phủ chỉ dành một khoản bé tí là 4 vạn Bảng cho giáo dục quốc dân. Và nếu không có lòng cuồng tín của các giáo phái - chí ít thì những cái hại mà nó gây ra cũng không kém những cái lợi mà nó đem lại - thì chi phí cho giáo dục có lẽ còn ít hơn. Nhưng giáo hội Anh đã lập ra các National School13 của họ, và mỗi giáo phái cũng đều có những trường học của mình, với mục đích duy nhất là nắm lấy con em những người đồng đạo, và nếu có thể thì chộp lấy của các giáo phái khác một linh hồn thơ dại đáng thương. Kết quả là tôn giáo, và chính khía cạnh vô tác dụng nhất của tôn giáo, tức là bác bỏ giáo lí của những tôn giáo khác, đã trở thành môn học quan trọng nhất; đầu óc trẻ con bị nhồi đầy những giáo điều khó hiểu và những điều phiền toái về thần học, lòng thù hằn giáo phái và sự cuồng tín mê muội được bồi dưỡng từ tuổi thơ ấu; việc rèn luyện tư duy, tri thức và đạo đức thì bị bỏ bê một cách trắng trợn. Người lao động đã nhiều lần đòi Nghị viện lập nên một hệ thống giáo dục quốc dân hoàn toàn trần tục, còn giáo dục tôn giáo thì để lại cho giới tu hành của từng giáo phái, nhưng đến nay vẫn chưa có Bộ nào thi hành biện pháp ấy. Điều đó là tất nhiên: Bộ trưởng là tôi tớ ngoan ngoãn của giai cấp tư sản, mà giai cấp tư sản thì chia thành vô số giáo phái, và giáo phái nào cũng sẽ cho công nhân hưởng một nền giáo dục đầy nguy hiểm, với điều kiện là công nhân phải đồng thời tiếp thu một thứ thuốc giải độc, là những giáo lí riêng của các giáo phái ấy. Vì tới nay các giáo phái vẫn giành nhau quyền thống trị, nên giai cấp công nhân vẫn chưa được đi học. Thật thế, các chủ xưởng thường khoe khoang là mình đã dạy cho đại đa số công nhân biết chữ; nhưng qua "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em", ta có thể hiểu cái gọi là biết chữ đó như thế nào. Một người thuộc được các chữ cái thì cho là mình biết đọc rồi, và các chủ xưởng cũng lấy thế làm yên lòng. Những phép chính tả của tiếng Anh rất dễ nhầm lẫn; nên đọc sách là cả một nghệ thuật, đòi hỏi phải học tập lâu dài; nếu chú ý đến điểm đó, thì sự thiếu học vấn của công nhân cũng rất dễ hiểu. Rất ít người viết thạo, còn viết đúng chính tả thì đến nhiều người "có học" cũng không làm nổi. Những trường học chủ nhật của giáo hội Anh, của Tân giáo, và theo tôi là cả một số giáo phái khác, nói chung không dạy tập viết, "bởi vì chủ nhật mà làm việc đó thì trần tục quá". Mấy ví dụ rút trong "Báo cáo của Tiểu ban điều tra về lao động trẻ em", không may là báo cáo này không nói đến bản thân công nghiệp công xưởng, sẽ chỉ rõ những cách giáo dục khác dành cho công nhân là thế nào.
Grainger, ủy viên của tiểu ban nói: "Ở Birmingham, nói chung những trẻ em mà tôi đã kiểm tra hoàn toàn không có chút kiến thức gì có thể tạm gọi là có ích. Dù hầu hết các trường đều chỉ có giáo dục tôn giáo, nhưng cả về phương diện ấy, nói chung chúng cũng rất dốt". Ủy viên Horne nói: "Ở Wolverhampton, tôi đã gặp những trường hợp thế này: một bé gái 11 tuổi đã học ở trường hàng ngày và trường chủ nhật, mà 'chưa bao giờ được nghe nói về một thế giới khác, hay là thiên đường, và cả cuộc sống ở thế giới bên kia' ". Một thiếu niên 17 tuổi, không biết 2 lần 2 là mấy, không biết 2 penny là mấy farthing (1 farthing là 1/4 penny), kể cả khi người ta đặt tiền vào tay nó. Vài em trai chưa bao giờ được nghe nói tới London, và cả Willenhall, một nơi chỉ cách Wolverhampton một giờ đi đường và có giao lưu thường xuyên với nơi này. Một vài em chưa bao giờ nghe đến tên nữ hoàng, hoặc những người như Nelson, Wellington, Bonaparte. Nhưng đáng chú ý là, chính những đứa trẻ chưa bao giờ nghe nói ngay cả đến thánh Paul, Moses hoặc Solomon; lại biết rất rõ về cuộc đời, hành vi và tính nết của tên cướp đường Dick Turpin, và nhất là của Jack Sheppard, kẻ trộm đã lừng danh về vượt ngục. "Một thiếu niên 16 tuổi không biết 2 lần 2 là mấy, và 4 farthing là bao nhiêu tiền; một cậu khác 17 tuổi quả quyết rằng 10 farthing là 10 nửa penny; còn cậu thứ ba cũng 17 tuổi, khi được hỏi mấy câu rất đơn giản, thì chỉ trả lời gọn lỏn là 'không biết gì cả' (he was ne judge o'nothin)" (Horne, "Báo cáo", Phụ lục, phần thứ II, Q. 18, số 216, 217, 226, 233, v.v.).

Những thiếu niên ấy, trong suốt 4-5 năm, bị người ta nhồi cho những giáo lí tôn giáo, cuối cùng chẳng biết gì hơn lúc đầu.
Một đứa trẻ "theo học đều ở trường chủ nhật trong năm năm, không biết Jesus là ai, dù đã từng nghe tên đó; chưa bao giờ được nghe nói tới 12 tông đồ, cũng như đến Samson, Moses và Aaron, v.v." (Như trên, Văn kiện, tr.q. 39, I.33). Một đứa khác "đi học đều tại trường chủ nhật trong sáu năm, biết Jesus là ai, biết ngài đã chết trên thánh giá, nhỏ máu mình" để chuộc tội cho Chúa cứu thế của chúng ta, "mà chưa từng được nghe nói tới thánh Peter, hoặc thánh Paul" (Như trên, tr.q. 36, I.46). Đứa thứ ba "trong bảy năm học ở nhiều trường chủ nhật khác nhau, chỉ có thể đọc những chữ dễ, đơn âm trong những cuốn sách mỏng; đã được nghe nói về 12 tông đồ, nhưng không rõ Peter và John có trong số đó không, nếu có thì đó là thánh John Wesley" (người sáng lập phái Giám lí), v.v. (Như trên, tr.q. 34, I.58). Khi hỏi "Jesus là ai", Horne còn được trả lời như sau: "là Adam", "là một tông đồ", "là con trai Chúa cứu thế" (he was the Saviour's Lord's son); và một cậu 16 tuổi còn nói: "đó là một ông vua ở London, từ thuở đã lâu, lâu lắm rồi". ở Sheffield, Ủy viên Symons cho học sinh các trường chủ nhật đọc sách; chúng đều không kể lại được là mình đã đọc những gì, và các tông đồ mà chúng vừa đọc là người thế nào. Sau khi ông lần lượt hỏi chúng về các tông đồ, và chẳng có câu trả lời nào đúng, một đứa trẻ có vẻ láu lỉnh kêu lên quả quyết: "Thưa ông tôi biết, đó là những người hủi!" (Symons, "Báo cáo". Phụ lục, phần I, tr. E 22 và tr. tiếp theo).

Ở các khu vực làm đồ gốm và Lancashire, tình hình cũng như vậy.

Thế là ta thấy được giai cấp tư sản và Nhà nước đã làm gì, để giáo dục và đào tạo giai cấp công nhân. May thay, chính điều kiện sinh sống của giai cấp này đã cho họ một thứ giáo dục thực tiễn; không những thay thế toàn bộ cái mớ đồ bỏ được học ở trường, mà còn hóa giải các quan niệm tôn giáo nhảm nhí gắn liền với mớ đồ bỏ ấy, và đặt công nhân lên hàng đầu của phong trào toàn dân tộc ở Anh. Sự cùng khốn dạy ta cầu nguyện, và quan trọng hơn nhiều, dạy ta suy nghĩ và hành động. Công nhân Anh hầu như không biết đọc, và viết thì còn yếu hơn, nhưng vẫn biết rất rõ lợi ích của bản thân và lợi ích của toàn dân tộc là thế nào; họ cũng biết lợi ích của giai cấp tư sản là gì, và họ có thể trông đợi gì ở giai cấp ấy. Không biết viết thì họ nói, và nói trước công chúng; không biết số học, nhưng họ hiểu rõ những khái niệm về kinh tế chính trị học, đủ để nhìn thấu chủ trương của một người tư sản tán thành bãi bỏ các thuế ngũ cốc, và phản bác y; không hiểu các vấn đề trên trời mà các cha xứ cố gắng dạy, nhưng về những vấn đề trần thế, chính trị và xã hội thì họ hiểu rõ ràng. Sau đây, ta sẽ còn trở lại điểm này; giờ hãy chuyển sang những đặc điểm về đạo đức của công nhân Anh.

Điều hoàn toàn rõ ràng là việc giáo dục đạo đức trong mọi trường học ở Anh, vốn bị gắn chặt với giáo dục tôn giáo, nên không thể đem lại kết quả gì tốt hơn so với chính việc giáo dục tôn giáo. Những nguyên tắc đơn giản điều tiết các quan hệ giữa người với người đã bị rối loạn kinh khủng, dưới điều kiện xã hội hiện tồn, và bởi cuộc chiến tranh của mọi người chống mọi người; những nguyên tắc ấy nhất định phải trở nên rối rắm và xa lạ đối với các công nhân không có học vấn, khi người ta trộn chúng với những giáo lí tôn giáo khó hiểu, và trình bày chúng dưới hình thức mệnh lệnh độc đoán, chẳng có cơ sở gì. Theo lời xác nhận của mọi người có uy tín, nhất là của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em, thì các trường học hầu như không có ảnh hưởng đến đạo đức của giai cấp công nhân. Giai cấp tư sản Anh ích kỉ tới mức ngu xuẩn và thiển cận, thậm chí không muốn truyền bá cho công nhân cái đạo đức hiện đại, được họ tạo ra vì lợi ích của mình, và để bảo vệ bản thân mình! Kể cả việc chăm lo cho lợi ích của chính mình như thế, mà giai cấp tư sản ươn hèn, lười biếng cũng coi là thừa. Rồi sẽ tới lúc họ hối hận về điều đó nhưng đã quá muộn. Dù sao thì giai cấp tư sản cũng không nên phàn nàn, nếu người lao động không biết gì về đạo đức ấy, và không tuân theo nó.

Vậy là người lao động, không chỉ về thể chất và trí tuệ, mà cả về đạo đức, đều bị giai cấp thống trị bỏ rơi, mặc cho số mệnh. Lí lẽ duy nhất mà giai cấp tư sản dùng để chống lại công nhân, khi công nhân tới quá gần chúng, đó là pháp luật; dường như công nhân cũng là súc vật không có lí tính, người ta chỉ dùng một phương thức giáo dục đối với họ: đó là cái roi, một sức mạnh thô bạo, không thuyết phục mà chỉ dọa nạt. Thế nên không có gì lạ: khi công nhân bị đối xử như súc vật, nếu không thực sự trở thành giống như súc vật; thì họ chỉ giữ được ý thức và tình cảm của con người, nhờ lòng căm thù sôi sục, và sự phẫn nộ âm thầm nhưng không gì có thể dập tắt, đối với giai cấp tư sản cầm quyền. Họ chỉ còn là con người, chừng nào trong lòng họ còn căm giận giai cấp thống trị; một khi họ ngoan ngoãn để cho người ta tròng ách lên cổ, và chỉ tìm cách sống dễ chịu hơn đôi chút dưới cái ách đó, mà không nghĩ đến cách bẻ gãy nó đi, thì họ lại biến thành súc vật.

Để giáo dục giai cấp công nhân, giai cấp tư sản chỉ làm có thế thôi, và nếu xét tới các mặt khác trong điều kiện sinh sống của công nhân, thì ta sẽ không thể trách họ là sao lại thù ghét giai cấp thống trị. Ở nhà trường, công nhân đã không hấp thụ được giáo dục đạo đức, họ cũng không thể hấp thụ nó trong các điều kiện sinh hoạt khác; ít ra là cái giáo dục đạo đức mà theo con mắt của giai cấp tư sản là có giá trị gì đó. Địa vị của người lao động, và toàn bộ hoàn cảnh xung quanh họ, đều đẩy họ đến chỗ mất đạo đức. Họ nghèo, cuộc sống đối với họ không có gì thú vị, họ hầu như không được hưởng thú vui nào; với họ, sự trừng trị của luật pháp cũng có gì đáng sợ nữa đâu, vậy thì tại sao họ phải hạn chế những thèm muốn của mình? Tại sao họ phải để cho bọn nhà giàu hưởng thụ của cải của chúng, tại sao lại không chiếm lấy cho mình một phần của cải ấy? Người vô sản vì cớ gì mà không đi ăn cắp? Khi nói đến "quyền tư hữu tài sản là thiêng liêng", giai cấp tư sản thấy rất hay, rất êm tai; nhưng với kẻ không có tài sản gì, thì tính thiêng liêng ấy tự nó không còn nữa. Tiền bạc là thượng đế trên đời này. Nhà tư sản lấy tiền từ tay người vô sản và trên thực tế, làm cho người vô sản biến thành kẻ vô thần. Có gì lạ khi thấy người vô sản trở nên vô thần, không còn tôn kính sự thiêng liêng và uy lực của thượng đế trên thế gian. Và khi sự khốn cùng của người vô sản tăng lên đến mức hoàn toàn thiếu những cái cần nhất cho cuộc sống, đến mức phải ăn xin và nhịn đói, thì xu hướng coi thường mọi trật tự xã hội cũng tăng lên. Chính giai cấp tư sản biết rõ điều đó. Symons nhận định14*: sự nghèo khổ có tác động phá hoại đối với tinh thần, cũng như nghiện rượu đối với cơ thể; và viên tỉnh trưởng Alison đã nói rất rõ cho giai cấp có của biết: sự áp bức xã hội nhất định phải mang lại hậu quả gì cho công nhân15*. Sự cùng khổ chỉ cho người lao động lựa chọn: hoặc chết dần chết mòn vì đói, hoặc tự sát ngay; hoặc lấy những gì anh ta cần ở nơi nào có thể, nói trắng ra là ăn cắp. Và không nên ngạc nhiên khi thấy đa số thích ăn cắp hơn chết đói hoặc tự sát. Đương nhiên, trong những người lao động, nhiều người có đạo đức tốt, cả khi bị dồn đến bước đường cùng vẫn không chịu ăn cắp, đó chính là những người chết đói hoặc tự sát. Tự sát ngày xưa là một đặc quyền đáng mơ ước của các giai cấp thượng đẳng, ngày nay đã thành cái mốt ngay cả trong những người vô sản ở Anh, và rất nhiều người nghèo tự sát để thoát nỗi khốn cùng mà họ không có cách nào khác để thoát khỏi.

Nhưng cuộc sống bấp bênh, kiếm ngày nào ăn ngày ấy, tóm lại là mọi cái làm cho người công nhân Anh trở thành người vô sản, còn phá hoại đạo đức của họ ghê gớm hơn sự nghèo khổ. Các tiểu nông ở Đức phần nhiều cũng nghèo, cũng thường thiếu thốn, nhưng ít lệ thuộc vào may rủi hơn; ít ra họ cũng có chút gì đó ổn định. Người vô sản hoàn toàn không có gì ngoài hai bàn tay của mình, hôm qua kiếm được gì thì hôm nay ăn nấy, phụ thuộc vào mọi sự may rủi, không có gì đảm bảo là họ sẽ kiếm đủ tiền để thỏa mãn những nhu cầu cấp bách nhất; vì mỗi cuộc khủng hoảng, mỗi sự thất thường của ông chủ đều có thể làm mất miếng bánh mì của họ; người vô sản đó bị đặt vào một tình cảnh đáng phẫn nộ nhất và vô nhân đạo nhất mà con người có thể tưởng tượng. Đời sống của nô lệ ít ra cũng được bảo đảm vì lợi ích của chủ nô, người nông nô dù sao cũng có một mảnh đất để tự nuôi mình, ít nhất họ cũng được bảo đảm để không chết đói; còn người vô sản chỉ có thể nhờ cậy vào chính mình, mà người ta lại không cho anh ta sử dụng sức lực của mình, để anh ta có thể hoàn toàn nhờ cậy vào nó. Mọi cái người vô sản có thể tự làm để cải thiện hoàn cảnh của mình, chỉ là một giọt nước trong dòng thác may rủi; anh ta bị lệ thuộc vào dòng thác ấy, và hoàn toàn không thể khống chế nó. Anh ta là đối tượng thụ động của mọi sự kết hợp do hoàn cảnh tạo ra; và nếu còn sống sót được, dù là trong ít lâu, thì có thể coi là may mắn rồi. Và hiển nhiên là tính khí và cách sống của anh ta đều do những hoàn cảnh đó quyết định: hoặc là anh ta phải cố giữ mình khỏi chìm xuống đáy dòng nước xoáy, cố cứu vãn nhân phẩm của mình, và muốn vậy thì chỉ có cách là đấu tranh16* chống giai cấp tư sản, kẻ đã bóc lột anh ta tàn nhẫn đến như vậy rồi phó mặc anh ta cho số mệnh, kẻ muốn bắt anh ta vĩnh viễn phải ở trong tình cảnh không xứng với con người; hoặc là anh ta từ bỏ cuộc đấu tranh chống lại tình cảnh mà anh ta bị đặt vào, coi cuộc đấu tranh ấy là vô hiệu, và chỉ tìm cách lợi dụng, trong chừng mực có thể, những thời cơ thuận lợi riêng biệt. Với anh ta, việc để dành không có tác dụng, vì số tiền dành dụm được cùng lắm cũng chỉ đủ nuôi thân trong vài tuần, mà khi anh ta bị thất nghiệp thì không phải chỉ trong vài tuần. Anh ta không giữ được tài sản trong một thời gian dài, mà nếu giữ được thì tất nhiên anh ta sẽ không còn là công nhân nữa, và người khác sẽ thế chỗ anh ta. Vậy thì khi kiếm được đồng lương khá, anh ta còn làm gì khác ngoài việc dùng nó để sống dễ chịu hơn? Người tư sản Anh ngạc nhiên và tức giận khi thấy người lao động sống "rộng rãi" ở thời kì lương cao. Nhưng việc người ta hưởng thụ cuộc sống chừng nào còn có thể, không những là hoàn toàn tự nhiên, mà còn rất hợp lí nữa; chứ họ không dành dụm, vì làm thế chẳng có lợi ích gì, mà sau cùng lại bị mọt và gỉ, tức là bọn tư sản, khoét mất. Nhưng lối sống ấy khiến người ta trụy lạc hơn bất kì lối sống nào khác. Lời Carlyle nói về công nhân công nghiệp kéo sợi cũng đúng cho tất cả công nhân công nghiệp Anh:
"Nghề nghiệp của họ luôn như đánh bạc: hôm nay còn hưng thịnh, ngày mai đã lụi tàn; họ sống như kẻ đánh bạc: hôm nay còn xa hoa, ngày mai đã đói khổ. Nỗi bất mãn u uất của kẻ phản loạn giày vò họ; đó là tình cảm đau khổ nhất có thể có ở một người. Thương nghiệp Anh, với những biến động mang tính toàn cầu của nó, và với thần Proteus "Hơi nước" vô song của nó, đã làm mọi con đường đều trở nên không chắc chắn đối với họ, khiến họ sa vào một vòng luẩn quẩn; những hạnh phúc bậc nhất của con người như điềm tĩnh, ổn định, thanh bình, họ đều không có... Thế giới này với họ không phải là gia đình, mà là nhà tù u ám, đầy những khổ đau, vô nghĩa lí và vô hiệu quả; đầy phẫn nộ, hằn học, oán hận với chính mình và với mọi người. Đó là thế giới xanh tốt, đầy hoa nở, do Thượng đế tạo ra và trị vì; hay là địa ngục âm u sôi sục, đầy mùi sắt và bụi bông, đầy tiếng huyên náo của những kẻ say rượu, đầy phẫn nộ và khổ dịch, do ma quỉ tạo ra và trị vì?"17*

Và tiếp đó, trang 40:
"Nếu bất công, phản bội chân lí, phản bội hiện thực và qui luật tự nhiên là tội ác thật sự duy nhất trên đời, nếu nhận ra rằng mình bị đối xử bất công là cảm giác duy nhất không chịu nổi, thì vấn đề lớn của chúng ta về tình cảnh của người lao động phải là: Nó có công bằng không? Trước hết, bản thân công nhân có coi đó là công bằng không?... Lời nói của họ đã là câu trả lời khá rõ, hành động của họ lại càng rõ... Lòng phẫn nộ và xu hướng báo thù ác độc chống lại các giai cấp thượng đẳng ngày càng thâm nhập vào các giai cấp bên dưới; sự tôn trọng đối với thế quyền và niềm tin ở những giáo lí của thần quyền ngày càng giảm. Tâm trạng ấy có thể chê trách, có thể trừng phạt; nhưng mọi người phải thừa nhận sự tồn tại của nó, và phải thấy rằng đó là một hiện tượng đáng buồn, và nếu mọi thứ không thay đổi, thì sẽ thành tai hại".

Về sự kiện, Carlyle rất đúng; ông ta chỉ sai lầm khi chê trách mối căm thù mãnh liệt của công nhân đối với những giai cấp thượng đẳng. Mối căm thù ấy, sự phẫn nộ ấy chứng tỏ rằng công nhân cảm thấy tình cảnh của họ là vô nhân đạo, rằng họ không cam chịu để bị đối xử như súc vật, rằng sẽ có lúc họ tự giải phóng khỏi xiềng xích của giai cấp tư sản. Có thể thấy điều ấy ở những công nhân không còn cảm thấy sự phẫn nộ đó nữa: họ ngoan ngoãn tuân theo số mệnh, sống như thường dân lương thiện, không quan tâm đến những gì xảy ra trên đời, giúp giai cấp tư sản rèn đúc những xiềng xích chắc chắn hơn để trói buộc công nhân, về mặt tinh thần, họ vẫn lặng lẽ như trong thời kì tiền công nghiệp; vài người khác thì mặc cho số mệnh, khi mất chỗ dựa về kinh tế thì cũng mất chỗ dựa về đạo đức, họ sống ngày nào hay ngày ấy, uống rượu mạnh và đi tán gái; trong cả hai trường hợp, họ đều là những con vật. Chính loại người thứ hai này đã có công lớn trong "sự truyền bá nhanh chóng tật xấu", khiến cho giai cấp tư sản đa sầu đa cảm - chính họ đã tạo nên những tiền đề cho tình trạng ấy - rất lấy làm tức tối.

Một nguyên nhân khác của sự trụy lạc trong công nhân là tính cưỡng bức của lao động của họ. Nếu lao động sản xuất tự nguyện là thú vui cao quí nhất trong những thú vui mà ta biết, thì lao động cưỡng bức lại là sự tra tấn nặng nề và nhục nhã nhất. Không gì ghê sợ bằng ngày nào cũng thế, từ sáng đến tối, bị ép phải làm những việc mình chán ghét! Những tình cảm con người trong công nhân càng mạnh, thì anh ta càng phải căm ghét công việc của mình, vì anh ta thấy công việc đó là cưỡng bức, không có mục đích gì đối với bản thân mình. Anh ta làm việc vì cái gì? Vì vui thích lao động sáng tạo? Vì bản năng? Quyết không phải. Anh ta làm việc vì đồng tiền, một vật không liên quan gì tới bản thân lao động; anh ta làm việc vì bị bắt buộc, hơn nữa lại phải làm việc một cách đơn điệu mệt lử trong nhiều giờ liền; đến nỗi chỉ riêng điểm ấy đã đủ khiến cho lao động đối với anh trở thành một cực hình ngay từ những tuần đầu, nếu anh còn giữ được chút tình cảm của con người. Sự phân công lao động còn làm cho tác dụng tiêu cực của lao động cưỡng bức tăng lên nhiều lần. Ở hầu hết các ngành, hoạt động của công nhân chỉ còn là các thao tác vụn vặt và hoàn toàn cơ giới, lặp đi lặp lại phút này qua phút khác, năm này qua năm khác vẫn không thay đổi gì18*. Nếu một người, từ thuở nhỏ, suốt mười hai giờ liền (hoặc hơn nữa) trong mỗi ngày, chỉ làm đầu kim găm hoặc giũa các bánh xe răng cưa, đồng thời lại sống trong một tình cảnh như của người vô sản Anh; thì đến tuổi ba mươi, anh ta còn giữ được bao nhiêu tình cảm và năng lực của con người? Tình hình ấy vẫn không thay đổi sau khi sử dụng hơi nước và máy móc. Thao tác của công nhân được giảm nhẹ, bắp thịt không phải căng thẳng, bản thân lao động trở nên không đáng kể, nhưng lại đơn điệu tới cực độ. Công việc không để công nhân có được chút hoạt động tinh thần nào, lại luôn bắt họ phải tập trung chú ý, đến mức không được nghĩ đến gì khác, nếu muốn làm được chu đáo. Lao động bắt buộc như thế chiếm hết thì giờ của công nhân, trừ thì giờ tối thiểu để ăn và ngủ; không cho anh ta chút rảnh rỗi nào để hít thở không khí trong lành, tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên, chứ chưa nói đến hoạt động tinh thần; một thứ lao động như vậy làm sao không hạ con người xuống hàng súc vật? Công nhân lại phải chọn: hoặc là đầu hàng số phận, làm một "công nhân tốt", "trung thành" phục vụ lợi ích của người tư sản, như vậy anh ta chắc chắn sẽ trở thành con vật không có lí tính; hoặc là phản kháng, đem hết sức bảo vệ nhân phẩm của mình, và anh ta chỉ có thể làm thế trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản.

Các nguyên nhân ấy đã dẫn đến tình trạng suy đồi đạo đức nghiêm trọng trong giai cấp công nhân; ngoài ra, còn một yếu tố nữa làm cho tình trạng ấy càng lan rộng và lên đến cực độ: đó là sự tập trung nhân khẩu. Các nhà văn tư sản Anh kêu gào điên dại về ảnh hưởng trụy lạc của các thành phố lớn, những Jeremiah ngược đời ấy than vãn không phải về cảnh lụi tàn của thành phố, mà về cảnh phồn vinh của nó. Tỉnh trưởng Alison hầu như đổ tất cả cho nguyên nhân ấy, bác sĩ Vaughan, tác giả quyển "Thời đại của các thành phố lớn" còn kết tội nặng hơn thế nữa. Điều đó là tất nhiên. Các nguyên nhân khác, có tác dụng phá hoại thân thể và tinh thần của người lao động, đều liên quan hết sức mật thiết với quyền lợi của giai cấp có của. Nếu các tác giả ấy thừa nhận: những nguyên nhân cơ bản là nghèo khổ, bất an, lao động cưỡng bức quá độ; thì mọi người, và cả chính họ, sẽ phải tự bảo mình: vậy hãy cho người nghèo có tài sản, hãy bảo đảm cho cuộc sống của họ, hãy ban hành các đạo luật chống lao động quá sức; nhưng giai cấp tư sản không thể đồng ý việc đó. Nhưng các thành phố lớn cứ tự động phát triển, người ta tới đó ở cũng hoàn toàn do tự nguyện; không phải ngay tức thì đã có kết luận rằng: những thành phố lớn được tạo nên chỉ là do công nghiệp, và do giai cấp tư sản, nhờ có công nghiệp mà giàu lên; cho nên giai cấp thống trị càng dễ đổ mọi điều tai ác cho cái nguyên nhân dường như không thể loại trừ ấy. Thật ra, các thành phố lớn chỉ tạo ra những điều kiện, để cho các tội ác đã tồn tại từ trước, ít ra cũng mới chỉ ở trạng thái phôi thai, được phát triển nhanh chóng và đầy đủ hơn. Alison có đủ nhân đạo để công nhận điều ấy: ông ta không phải là loại tư sản công nghiệp, đảng viên Đảng tự do hoàn toàn thành thục, mà chỉ là người tư sản, đảng viên đảng Tory nửa thành thục; cho nên ông ta còn có lúc thấy rõ những sự vật, mà một người tư sản thực thụ hoàn toàn không nhìn thấy. Hãy nghe ông ta nói:
"Chính các thành phố lớn là nơi sức cám dỗ của những tật xấu và dục vọng đã dăng đầy lưới bẫy, tội ác được khuyến khích bởi hi vọng sẽ không bị trừng phạt, còn tính lười biếng được phát triển nhờ nhiều gương xấu. Chính ở đây, những trung tâm trụy lạc lớn này, những kẻ hư hỏng, những phường vô lại đã đến ở, để trốn tránh cuộc sống giản dị ở nông thôn; chính ở đây, chúng có thể tìm được nạn nhân cho những hành động hèn hạ của chúng, và việc mạo hiểm của chúng sẽ được đền đáp bằng sự kiếm chác dễ dàng. Ở đây đức hạnh bị vùi dập và dìm vào bóng tối, thói xấu vì khó bị khám phá nên nảy nở sum suê, và lối sống phóng đãng được khuyến khích vì vừa với túi tiền. Ai mà đi dạo ban đêm trong khu St. Giles, hay là các phố chật hẹp, đông đúc ở Dublin, hoặc các khu phố nghèo ở Glasgow; thì sẽ tìm thấy thừa đủ bằng chứng để xác nhận những lời đó, sẽ không còn lấy làm lạ về cách sống bừa bãi và những thú vui phóng đãng của các tầng lớp dưới; và sẽ ngạc nhiên, không phải vì có quá nhiều, mà vì có quá ít tội ác ở trên đời... Nguyên nhân chính của sự trụy lạc trong những thành phố lớn là sự ảnh hưởng từ gương xấu, việc khó cưỡng lại những cám dỗ của các tệ nạn, khi nó ở ngay bên cạnh, và thế hệ trẻ tiếp xúc với nó hàng ngày. Eo ipso19 người giàu cũng chẳng hơn gì người nghèo: nếu ở vào hoàn cảnh tương tự, họ cũng không chống lại được sức quyến rũ ấy; điều đặc biệt không may của người nghèo trong các thành phố lớn là: dù ở đâu, họ cũng không thể tránh tiếp xúc với sự mồi chài của thói xấu, với sự cám dỗ của những lạc thú tội lỗi... Quả thật, ở những thành phố lớn, không thể giữ cho thế hệ trẻ của giai cấp vô sản tránh được ma lực của các tệ nạn; đó là nguyên nhân của sự đồi bại về đạo đức".

Sau khi đã mô tả nhiều về đạo đức, tác giả viết tiếp:
"Những cái đó không phải do sự sa đọa tột độ nào, mà là do sức mạnh hầu như không cưỡng nổi của sự cám dỗ mà người nghèo gặp phải. Người giàu thường chê bai đạo đức của người nghèo, nhưng nếu chịu ảnh hưởng của những nguyên nhân ấy, thì chính họ cũng sẽ sa ngã nhanh chóng không kém. Ở một mức độ bần cùng nào đó, trước sức mạnh cám dỗ như vậy, người ta khó giữ vững được phẩm hạnh của mình, nhất là với thanh niên. Với những trường hợp ấy, sự lan truyền của thói xấu là tất yếu và thường nhanh chóng như bệnh truyền nhiễm của cơ thể".

Và ở một chỗ khác:
"Khi các giai cấp thượng đẳng, vì lợi ích của mình, tập trung rất đông người lao động vào một nơi chật hẹp, thì thói xấu bắt đầu lan tràn nhanh chóng khác thường và không thể tránh được. Nếu xét trình độ tôn giáo và đạo đức của các giai cấp bên dưới, thì nhiều khi họ không đáng bị chê trách vì đã sa ngã, cũng như không đáng bị chê trách vì đã trở thành nạn nhân của bệnh thương hàn".20*

Thế là đủ! Alison, con người nửa tư sản, dù quan điểm bị hạn chế, cũng đã cho ta thấy những hậu quả tai hại của các thành phố đối với sự phát triển đạo đức của công nhân. Một tác giả khác, bác sĩ Andrew Ure21*, một nhà tư sản thực thụ, linh hồn của Đồng minh chống đạo luật ngũ cốc, cho ta thấy một khía cạnh khác của những hậu quả ấy. Ông ta nói: đời sống ở các thành phố lớn làm cho các mưu đồ làm loạn nảy nở dễ dàng trong công nhân, và giúp đám bình dân có sức mạnh. Theo ý ông ta, nếu không giáo dục người lao động một cách thích đáng (tức là phục tùng giai cấp tư sản), thì họ sẽ nhìn nhận sự vật một cách phiến diện, theo quan điểm ích kỉ ác độc, và dễ bị bọn mị dân xảo trá lừa bịp; họ còn có thể có thái độ ghen ghét và thù hằn đối với những ân nhân tốt nhất của mình, là những nhà tư bản đạm bạc và tháo vát; chỉ có một nền giáo dục đúng đắn mới cứu vãn nổi tình hình ấy, nếu không, sẽ xảy ra sự phá sản của dân tộc và nhiều tai họa khác, vì không thể tránh khỏi cuộc cách mạng của công nhân. Nhà tư sản của chúng ta lo sợ là phải. Nếu sự tập trung dân số đã làm cho giai cấp có của phồn vinh và phát triển, thì nó còn có ảnh hưởng lớn hơn đối với sự phát triển của công nhân. Công nhân bắt đầu cảm thấy mình - về toàn thể - là một giai cấp; họ đã hiểu rằng đứng riêng lẻ thì mình yếu, nhưng khi đoàn kết lại thì thành một lực lượng mạnh; điều này đã giúp họ tách ra khỏi giai cấp tư sản, những quan niệm và tư tưởng độc lập, đặc trưng cho công nhân và cho hoàn cảnh sinh sống của họ, được hình thành; công nhân bắt đầu hiểu về địa vị bị áp bức của mình, và bắt đầu có tầm quan trọng về mặt xã hội và chính trị. Các thành phố lớn là nơi bắt nguồn của phong trào công nhân: ở đây, công nhân lần đầu tiên đã suy nghĩ về tình cảnh của mình và đấu tranh để thay đổi nó; ở đây, sự đối lập về lợi ích giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản lần đầu đã biểu lộ ra; ở đây, những liên đoàn lao động, phong trào Hiến chương và chủ nghĩa xã hội đã ra đời. Bệnh tật của cơ thể xã hội, vốn là mãn tính ở nông thôn, đã trở thành cấp tính ở các thành phố lớn; và nhờ đó mà thực chất của căn bệnh, và phương pháp cứu chữa, đã được tìm ra. Nếu không có các thành phố lớn, không có sự thúc đẩy của chúng đối với sự phát triển ý thức xã hội, thì công nhân còn xa mới tiến bộ như ngày nay. Hơn nữa, các thành phố lớn còn xóa bỏ những tàn tích cuối cùng của quan hệ gia trưởng giữa thợ và chủ, nền đại công nghiệp cũng góp phần vào việc này, bằng cách làm tăng số lượng công nhân phụ thuộc vào một người tư sản. Giai cấp tư sản thực sự tiếc rẻ điều đó, mà cũng đúng thôi: những quan hệ trước kia hầu như đã đảm bảo cho họ tránh được sự phản kháng của công nhân. Người tư sản có thể bóc lột và đè nén công nhân của mình bao nhiêu tùy thích, và còn có thể hi vọng những người chất phác ấy phục tùng, biết ơn và yêu mến hắn; nếu ngoài việc trả lương, hắn còn tỏ ra ân cần đôi chút, mà làm như vậy hắn chẳng mất gì; hoặc nếu hắn thực hiện vài điều phúc lợi vụn vặt, dường như là hoàn toàn do lòng tốt đặc biệt của hắn, dù tất cả những cái ấy chưa đáng 1/10 cái mà hắn phải làm. Với tư cách một cá nhân riêng lẻ, đặt trong hoàn cảnh không do mình tạo nên, có lẽ người tư sản cũng đã thực hiện phần nào nghĩa vụ của mình; nhưng với tư cách một thành viên của giai cấp cầm quyền, và vì là kẻ cầm quyền mà phải có trách nhiệm về tình cảnh của cả dân tộc, và phải quan tâm đến lợi ích chung; thì người tư sản chẳng làm được việc gì mà địa vị đó buộc hắn phải làm, vả lại hắn còn bóc lột cả dân tộc nhiều hơn nữa, vì lợi ích riêng của mình. Quan hệ gia trưởng đã che đậy địa vị nô lệ của người thợ một cách giả nhân giả nghĩa, khi đó công nhân phải là một cá nhân tầm thường, đã chết về mặt tinh thần, không hiểu biết về lợi ích của bản thân mình. Chỉ khi có sự xa cách giữa anh ta và chủ, khi đó rõ ràng là người chủ chỉ liên hệ với anh ta vì lợi ích riêng, vì theo đuổi lợi nhuận, khi các quan hệ thân ái giả tạo kia không vượt qua được chút thử thách nào, và đã hoàn toàn biến mất; chỉ khi đó, công nhân mới bắt đầu nhận thức được về địa vị và lợi ích của mình, và bắt đầu phát triển độc lập; chỉ khi đó, về tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng, anh ta mới thôi đi theo giai cấp tư sản một cách nô lệ. Có được kết quả này, chủ yếu là nhờ nền đại công nghiệp và các thành phố lớn.

Một yếu tố khác đã có ảnh hưởng quan trọng tới tình hình của công nhân Anh là sự nhập cư của người Ireland, mà ta từng nói tới. Sự nhập cư này, một mặt, như ta đã thấy, quả thật đã hạ thấp trình độ của công nhân Anh, làm cho họ xa lìa văn hóa, và khiến tình cảnh của họ thêm xấu đi; nhưng mặt khác, nó đã đào sâu thêm cái hố ngăn cách giữa công nhân và tư sản, do đó đã đẩy mạnh thêm cuộc khủng hoảng đang tới gần. Vấn đề là căn bệnh xã hội mà nước Anh mắc phải cũng có tiến trình giống như bệnh của cơ thể: nó phát triển theo các qui luật nhất định, có những cơn nguy kịch, mà cơn cuối cùng và nặng nhất sẽ quyết định số phận của người bệnh. Và vì dân tộc Anh không thể tiêu vong trong cơn nguy kịch cuối cùng ấy, mà phải thoát ra, phục hưng và đổi mới; nên ta chỉ có thể vui mừng trước mọi sự việc làm cho tiến trình của căn bệnh ấy nguy kịch thêm. Ngoài ra, sự nhập cư của người Ireland còn góp phần vào việc này, bằng cách đem vào Anh, và truyền vào giai cấp công nhân Anh cái tính hăng say, sôi nổi của người Ireland. Người Ireland và người Anh khác nhau về nhiều mặt, cũng như người Pháp và người Đức vậy; sự tiếp xúc giữa người Ireland bồng bột, dễ xúc động và nóng nảy; với người Anh điềm đạm, tự chủ, biết suy tính đắn đo; rút cục chỉ có thể có lợi cho cả đôi bên. Tính ích kỷ tàn nhẫn của giai cấp tư sản Anh sẽ còn được duy trì lâu hơn nhiều cả trong giai cấp công nhân, nếu nó không bị pha trộn với tính hào hiệp đến mức có thể hi sinh quên mình của người Ireland, vốn là do bản tính giàu tình cảm của họ; và nếu tính lãnh đạm, thuần túy lí tính của người Anh không bị giảm đi, một mặt bởi sự pha trộn dòng máu Ireland, mặt khác bởi sự tiếp xúc thường xuyên với người Ireland.

Khi đã biết những điều nói trên, ta sẽ không còn ngạc nhiên rằng giai cấp công nhân Anh dần trở thành một dân tộc khác hẳn với giai cấp tư sản Anh. Giai cấp tư sản có những điểm giống với tất cả các dân tộc khác trên trái đất, hơn là giống với những công nhân sống ngay cạnh nó. Công nhân nói một thổ ngữ khác, có những tư tưởng và quan niệm khác, có những phong tục và nguyên tắc đạo đức khác, có tôn giáo và đường lối chính trị khác, so với giai cấp tư sản. Hai dân tộc ấy hoàn toàn dị biệt đối với nhau, như là thuộc hai chủng người khác nhau; tới nay, người châu Âu lục địa chúng ta mới biết một dân tộc: giai cấp tư sản. Nhưng chính một dân tộc khác, giai cấp vô sản, lại quan trọng hơn nhiều với tương lai nước Anh22*.

Sau này, ta sẽ còn nói về tính cách xã hội của công nhân Anh, khi nó biểu hiện ra ở những đoàn thể và quan điểm chính trị của họ. Ở đây, ta chỉ bàn tới những kết quả của những nguyên nhân kể trên, trong chừng mực những kết quả ấy có ảnh hưởng đến tính cách cá nhân của công nhân. Trong đời sống hàng ngày, người công nhân đôn hậu hơn người tư sản rất nhiều. Tôi đã nói ở trên, là những người ăn mày thường chỉ cầu xin công nhân, và nói chung, công nhân đã cứu giúp người nghèo nhiều hơn giai cấp tư sản. Sự thật đó, mà ta có thể chứng kiến hàng ngày, cũng được nhiều người xác nhận, trong đó có thầy tu Parkinson ở Manchester. Ông nói như sau:
"Người nghèo cho nhau nhiều hơn là người giàu cho người nghèo. Để chứng minh điều này, tôi có thể viện dẫn một trong những thầy thuốc lớn tuổi nhất, nhiều kinh nghiệm nhất, giỏi quan sát nhất và nhân đạo nhất của chúng ta, bác sĩ Bardsley. Ông đã công khai tuyên bố, là toàn bộ số tiền người nghèo cho nhau hàng năm lớn hơn số tiền người giàu cho người nghèo trong cùng thời gian ấy".23*

Lòng nhân đạo của công nhân còn thể hiện ở nhiều hình thức tốt đẹp khác. Bản thân họ cũng từng phải chịu số phận ngặt nghèo, nên họ cảm thông với những người khổ cực. Đối với họ thì ai cũng là người, còn đối với người tư sản thì công nhân chưa hoàn toàn là người. Thế nên công nhân dễ gần hơn, thân thiện hơn, và không tham tiền như giai cấp có của, dù túng thiếu hơn giai cấp ấy; đối với họ, giá trị của tiền bạc là ở chỗ nó mua được cái gì, còn đối với người tư sản thì tiền có một giá trị đặc hữu, một giá trị thần thánh, làm cho người tư sản trở thành "kẻ kiếm tiền" nhơ nhuốc, ti tiện. Công nhân không hề có tư tưởng sùng bái đồng tiền, không tham lam như người tư sản, kẻ sẵn sàng làm bất cứ gì để kiếm được nhiều tiền hơn, kẻ chỉ có một mục đích trong đời là làm đầy thêm túi tiền của mình. Thế nên so với người tư sản, thì công nhân ít thành kiến hơn nhiều, dễ tiếp thu hiện thực hơn nhiều, và không nhìn mọi thứ qua lăng kính lợi ích cá nhân. Sự thiếu giáo dục giúp công nhân tránh khỏi những thiên kiến tôn giáo; vì không hiểu gì về những vấn đề tôn giáo, nên anh ta chẳng phải nghĩ nát óc về những vấn đề ấy, anh ta rất xa lạ với thứ cuồng tín mà người tư sản mắc phải, nếu anh ta có theo đạo thì chỉ trên lời nói, thậm chí cũng không phải là trong lĩnh vực lí luận; trên thực tế, công nhân chỉ sống vì những lợi ích thế tục, và mong được khá hơn một chút trong thế giới này. Mọi văn sĩ tư sản đều nhất trí là công nhân không có tôn giáo và không đi nhà thờ. Chỉ có người Ireland, một ít người lớn tuổi và người nửa tư sản: cai thợ, đốc công và những người tương tự, là ngoại lệ. Còn đại bộ phận thì hầu như chẳng quan tâm đến tôn giáo; nếu có thì nhiều lắm cũng chỉ là qua lời nói suông, hoặc qua nỗi lo sợ vô căn cứ trước những từ như infidel ("kẻ vô đạo") hoặc kẻ vô thần. Giới tu hành của mọi phái đều bị công nhân rất coi khinh, dù họ chỉ vừa mới mất ảnh hưởng với người lao động, nhưng ngày nay thường chỉ cần nói: "He is a parson!" ("Nó là cố đạo đấy!") là đủ để đuổi một giáo sĩ ra khỏi diễn đàn của những cuộc hội họp công cộng. Sự thiếu sót về giáo dục tôn giáo và về các mặt giáo dục khác, cũng như chính những điều kiện sinh sống, đã khiến cho công nhân khách quan hơn, ít bị ràng buộc bởi những thành kiến và nguyên tắc cũ rích, cố định, so với người tư sản. Người tư sản ngụp đầu trong những thành kiến giai cấp, những nguyên tắc hắn được nhồi nhét từ thuở nhỏ, đối với hắn thì không thể làm khác được; ngay cả khi mang cái vỏ tự do, thực chất hắn vẫn là bảo thủ; lợi ích của hắn gắn liền với chế độ hiện hành, và đối với mọi trào lưu tiến bộ, hắn là người đã chết. Hắn không còn đứng ở hàng đầu của sự phát triển lịch sử, và công nhân thay thế hắn ở chỗ ấy, thoạt đầu là về quyền hạn, và sau này là trên thực tế.

Những điều ấy, cùng với các hoạt động xã hội nảy sinh từ đó của công nhân (ta sẽ nói về các hoạt động ấy sau), tạo nên mặt tích cực trong tính cách của giai cấp này; mặt tiêu cực có thể tổng kết sơ lược, và nó cũng nảy sinh một cách hoàn toàn tự nhiên, từ những nguyên nhân nói trên. Rượu chè, phóng đãng về tình dục, thô bạo, và thiếu tôn trọng quyền sở hữu, đó là những tội chính mà người tư sản buộc cho công nhân. Công nhân uống rượu nhiều là hoàn toàn tự nhiên. Tỉnh trưởng Alison xác nhận rằng ở Glasgow mỗi tối thứ bảy có trên ba vạn công nhân say rượu, con số ấy chắc không phải là phóng đại; cũng ở Glasgow, năm 1830 cứ mười hai nhà, đến năm 1840, cứ mười nhà có một quán rượu; ở Scotland, năm 1823 đã đánh thuế tiêu thụ vào 2.300.000 gallon rượu, năm 1837 là 6.620.000 gallon; ở Anh năm 1823 là 1.976.000 gallon, năm 1837 là 7.875.000 gallon24*. Đạo luật về rượu bia ban hành năm 1830 đã làm cho các quán gọi là jerry-shop, bán rượu bia uống tại chỗ, dễ dàng mọc lên khắp nơi; và cũng làm cho nạn say rượu lan rộng thêm, vì gần như tại cổng mỗi nhà đều có quán rượu. Ở hầu hết các phố đều có vài quán như thế; và ở ngoại ô, nơi nào có hai ba nhà liền nhau, thì chắc chắn có một nhà là jerry-shop. Ngoài ra còn có nhiều hush-shop, là những quán bán rượu lén lút, bán không có giấy phép; và ở ngay trung tâm các thành phố lớn, trong các khu hẻo lánh, ít bị cảnh sát kiểm tra, có nhiều nơi nấu rượu lậu với sản lượng rất lớn. Gaskell, ở tác phẩm nói trên, ước tính là riêng ở Manchester có trên một trăm nơi như vậy, sản xuất hàng năm ít ra là 156.000 gallon. Ngoài ra, ở Manchester còn có trên một nghìn quán rượu, như vậy thì, tính theo tỉ lệ với số nhà cửa, ít ra cũng bằng ở Glasgow. Ở tất cả các thành phố lớn khác, tình hình cũng vậy. Chưa nói đến những hậu quả thường thấy của tệ nghiện rượu, chỉ cần chú ý là, ở những nơi đó, đàn ông, đàn bà đủ mọi lứa tuổi, kể cả trẻ con, thường có cả những bà mẹ bồng con, tiếp xúc với những nạn nhân sa đọa nhất của chế độ tư sản: bọn kẻ cắp, bịp bợm, gái điếm; chỉ cần nhớ là nhiều bà mẹ đã cho đứa con còn bồng trên tay uống rượu; thì không thể chối cãi rằng các nơi đó đã làm bại hoại đạo đức những khách hàng của nó. Nhất là tối Thứ bẩy, lương đã lĩnh rồi, tan tầm cũng sớm hơn ngày thường một chút, tất thảy giai cấp công nhân, từ các khu nhà ổ chuột của họ, đổ ra các phố chính, thì có thể nhìn thấy tất cả cái thô bạo của tệ nghiện rượu. Ở Manchester những tối đó, ít khi tôi ra đường mà không gặp rất nhiều người say rượu đi loạng choạng, hoặc ngã gục trong các rãnh nước. Tối chủ nhật, cảnh tượng ấy thường lặp lại, có điều là bớt ầm ĩ hơn. Khi đã tiêu hết tiền, người nghiện rượu chạy tới tiệm cầm đồ gần nhất - mỗi thành phố lớn đều có nhiều tiệm cầm đồ như vậy, ở Manchester có tới trên sáu mươi, và riêng một phố ở Salford (phố Chapel) đã có từ mười đến mười hai tiệm - để cầm cố mọi thứ còn lại. Đồ đạc, quần áo ngày lễ nếu có, bát đĩa, cứ đến Thứ bảy là một lượng lớn những thứ đó được chuộc về, và tới trước Thứ tư tuần sau, hầu hết chúng sẽ trở lại tiệm cầm đồ; đến khi có chuyện bất ngờ nào đó, làm cho họ không thể chuộc lại nữa, và hết vật này tới vật khác rơi vào tay người cho vay nặng lãi, hoặc đến khi người chủ tiệm không muốn bỏ thêm xu nào để cầm những đồ cũ nát, vô dụng. Ai đã tận mắt nhìn thấy tệ nghiện rượu lan tràn trong công nhân Anh, thì sẽ dễ tin lời huân tước Ashley25*, rằng công nhân đã tiêu hàng năm 25 triệu Bảng để uống rượu. Rất dễ hình dung được tệ nghiện rượu đã làm cho tình cảnh vật chất của công nhân sút đi bao nhiêu, đã có ảnh hưởng tồi tệ ra sao đối với sức khoẻ thể chất và tinh thần của họ, đã phá hoại những quan hệ gia đình đến thế nào. Thực ra các hội chống nghiện rượu có hoạt động nhiều, nhưng vài nghìn "Teatotaller"26 đã là gì so với hàng triệu công nhân? Khi cha Matthew, nhà tuyên truyền chống nghiện rượu người Ireland, đi khắp các thành phố Anh, thì đã có từ ba vạn tới sáu vạn công nhân xin "pledge" (thề), nhưng chưa đầy một tháng sau, đa số những người ấy đã quên lời thề. Nếu cộng xem có bao nhiêu người ở Manchester trong ba, bốn năm gần đây đã xin thề bỏ rượu như thế, sẽ được một con số lớn hơn cả số dân của thành phố ấy, nhưng vẫn không thấy tệ nghiện rượu giảm đi đáng kể.

Một tật xấu lớn khác của nhiều công nhân Anh, bên cạnh chuyện rượu chè vô độ, là tính dâm đãng trong quan hệ nam nữ. Tệ nạn ấy nảy sinh với tính tất yếu sắt đá, không sao tránh khỏi; từ trong tình cảnh của một giai cấp đã bị xã hội bỏ mặc, và phải tự lo cho mình; nhưng lại thiếu hẳn những phương tiện cần thiết, để sử dụng cái tự do ấy sao cho thích đáng. Giai cấp tư sản bắt họ chịu đựng nhiều nặng nhọc và đau khổ, chỉ dành cho họ hai thú vui ấy. Vì vậy, công nhân dốc toàn bộ nhiệt tình vào hai thú vui ấy, để truy hoan vô độ và hỗn loạn, để ít ra cũng được hưởng chút gì của cuộc sống. Khi con người bị đặt vào một hoàn cảnh chỉ đáng dành cho súc vật, thì họ chỉ có thể chọn: vùng lên phản kháng hoặc là thực sự trở thành súc vật. Hơn nữa, khi mà chính giai cấp tư sản, ngay cả những vị đại diện đáng kính của giai cấp ấy, đã trực tiếp góp phần phát triển nạn mại dâm? Trong số bốn vạn gái điếm, mỗi đêm đứng đầy các phố ở London27*, có bao nhiêu người sống nhờ vào giai cấp tư sản đức hạnh? Có bao nhiêu người đã cảm ơn kẻ quyến rũ họ lần đầu tiên, chính là người tư sản, về việc ngày nay, họ phải bán thân cho mỗi khách qua đường, để khỏi chết đói? Chính giai cấp tư sản lại càng ít có quyền chê trách công nhân về thói dâm ô trụy lạc, điều đó chẳng rõ ràng hay sao?

Nói chung, các nhược điểm chính của công nhân là: hưởng lạc vô độ, thiếu lo xa, thiếu tôn trọng trật tự xã hội; tóm lại là thiếu khả năng hi sinh những lạc thú trước mắt, vì những lợi ích xa xôi hơn. Nhưng thế thì có gì lạ? Một giai cấp gồm những người làm lụng cực nhọc, và chỉ được hưởng thụ một phần rất ít, mà lại toàn những thú vui thể xác; họ sao có thể không lao vào các thú vui đó một cách mù quáng và điên loạn? Nếu không ai quan tâm tới việc giáo dục giai cấp ấy, nếu số phận của những thành viên riêng lẻ trong giai cấp ấy tùy thuộc vào đủ thứ may rủi, nếu họ không thể tin vào ngày mai; thì vì lí gì, vì lợi ích gì, mà họ phải lo xa, phải sống cuộc đời "đúng đắn", phải hi sinh những thú vui trước mắt cho những thú vui tương lai, cái thú vui mà thực ra không có gì đảm bảo là họ sẽ được hưởng, trong một hoàn cảnh luôn bấp bênh và thay đổi? Một giai cấp đã phải chịu mọi thiệt thòi của trật tự xã hội, và không được hưởng chút lợi ích gì từ trật tự ấy, một giai cấp đã bị trật tự xã hội đối xử một cách thù hằn; vậy mà còn đòi họ phải tôn trọng trật tự ấy, thì thật quá quắt! Nhưng một khi trật tự xã hội ấy còn tồn tại, thì giai cấp công nhân không thể tránh khỏi nó; và nếu có một công nhân cá biệt nào nổi lên chống lại, thì chính anh ta sẽ phải chịu tai họa lớn nhất. Chính vậy, trật tự xã hội đã khiến cho công nhân hầu như không thể có đời sống gia đình. Trong một gian nhà bẩn thỉu, không có tiện nghi, thậm chí chưa đáng làm chỗ ngủ, đồ đạc tồi tàn, thường không che nổi mưa gió, không được sưởi ấm, thiếu không khí, quá đông người ở; thì không thể có hạnh phúc gia đình. Chồng làm việc cả ngày, vợ và các con lớn thường cũng vậy, họ đều làm ở những nơi khác nhau, chỉ gặp nhau vào sáng sớm và buổi tối, thêm nữa, lại luôn bị rượu chè lôi cuốn; trong hoàn cảnh như vậy, đời sống gia đình sẽ ra sao? Nhưng người công nhân lại không thể tách khỏi gia đình, anh ta phải sống trong gia đình, do đó thường xảy ra bất hòa và cãi cọ trong nhà, gây nên ảnh hưởng rất đồi bại, không những đối với vợ chồng, mà đặc biệt là đối với con cái. Lơ là mọi bổn phận gia đình, nhất là những bổn phận đối với con cái, là hiện tượng rất phổ biến trong công nhân Anh, và chủ yếu là do chế độ xã hội hiện hành gây ra. Thế mà người ta còn muốn những đứa trẻ không ai dạy dỗ, lớn lên trong cảnh trụy lạc mà chính cha mẹ chúng cũng thường mắc phải, sau này sẽ trở thành những người có đạo đức tốt! Những yêu cầu mà người tư sản tự mãn đặt ra cho công nhân quả thật quá ngây thơ!

Biểu hiện rõ rệt và cực đoan nhất của sự coi thường trật tự xã hội là việc phạm tội. Nếu các nguyên nhân làm bại hoại đạo đức của công nhân tác động mạnh mẽ và tập trung hơn bình thường, thì anh ta chắc chắn sẽ phạm tội, cũng như nước đun tới 100 độ C thì phải sôi. Do cách đối xử thô bạo, làm ngu muội con người của giai cấp tư sản; công nhân cũng trở thành một vật vô tri, như là nước; và cũng tất yếu phải chịu sự chi phối của những quy luật tự nhiên, tới khi anh ta mất mọi quyền tự do. Vậy là số tội phạm ở Anh tăng lên cùng với số người vô sản, và dân tộc Anh trở nên nhiều tội phạm nhất thế giới. Qua "những bảng thống kê tội trạng" được Bộ Nội vụ công bố hàng năm, ta thấy số tội phạm ở Anh tăng nhanh đến không thể tưởng tượng nổi. Số vụ bắt giam về tội hình riêng ở Anh và Wales đã là:
Năm        Số vụ
1805        4605
1810        5146
1815        7818
1820        13.710
1825        14.437
1830        18.107
1835        20.731
1840        27.187
1841        27.760
1842        31.309
Nói cách khác, trong 37 năm, số vụ bắt giam đã tăng bẩy lần. Trong số vụ bắt giam năm 1842, riêng Lancashire có 4497 vụ, tức là hơn 14%, và ở Middlesex (bao gồm cả London) có 4049 vụ, tức là hơn 13%. Vậy, ta thấy rằng chỉ riêng hai khu vực có những thành phố lớn, đông đảo dân vô sản, đã có tới trên 1/4 tổng số vụ phạm tội của cả nước, tuy rằng dân số ở đó còn xa mới bằng 1/4 tổng số dân cả nước. Qua các bản thống kê tội trạng, còn có thể thấy rõ là phần lớn các vụ phạm tội rơi vào giai cấp vô sản: năm 1842: 32,35% số tội nhân không biết đọc biết viết; 58,82% biết chút ít; 6,77% đọc, viết khá; 0,22% được học cao; còn 2,34% thì không xác định được trình độ học vấn. Ở Scotland, số vụ phạm tội còn tăng nhanh hơn: năm 1819, có 89 vụ; năm 1837, có 3176 vụ; năm 1842, có 4189 vụ. Ở Lanarkshire, chính tỉnh trưởng Alison làm báo cáo chính thức về vấn đề này; trong ba mươi năm dân số tăng gấp đôi, còn số vụ phạm tội thì cứ 5 năm rưỡi lại tăng gấp đôi, như vậy là số tội phạm tăng nhanh hơn số dân tới sáu lần. Phần lớn các vụ phạm tội, như ở tất cả các nước văn minh khác, là tội vi phạm quyền sở hữu, tức là những tội do thiếu thốn cái này cái khác mà sinh ra, vì chẳng ai đi ăn cắp cái mình đã có. Tỉ lệ giữa số tội vi phạm quyền sở hữu với số dân là 1/7.140 ở Hà Lan, 1/1.804 ở Pháp; ở Anh, vào khoảng thời kì Gaskell viết cuốn sách của ông, là 1/799. Tỉ lệ giữa số tội hành hung người với số dân: ở Hà Lan là 1/28.904, ở Pháp là 1/17.573, ở Anh là 1/23.395; tỉ lệ giữa tổng số vụ phạm tội nói chung với số dân, ở các khu nông nghiệp là 1/1.043, ở các khu công xưởng là 1/84028*; hiện nay, ở toàn nước Anh, tỉ lệ đó gần tới 1/66029*, mà từ khi quyển sách của Gaskell được xuất bản tới nay mới chưa quá mười năm!

Những sự thật ấy đã quá đủ để buộc mỗi người, kể cả người tư sản, phải suy nghĩ về những hậu quả của một tình trạng như vậy. Nếu sự suy đồi về đạo đức và sự phạm tội cứ tăng lên theo tỉ lệ như vậy trong hai mươi năm nữa; và nếu trong hai mươi năm đó, công nghiệp Anh lại sa sút so với các năm trước, thì số vụ phạm tội sẽ chỉ có tăng; thì kết quả sẽ là gì? Ngay lúc này, ta đã thấy xã hội hoàn toàn mục nát; ngay lúc này, ta đã không thể giở một tờ báo nào, mà không thấy những ví dụ rõ nhất về sự lỏng lẻo của mọi quan hệ xã hội. Trong đống báo Anh để ở trước mắt, tôi chọn ngẫu nhiên một số. Đây là tờ "Manchester Guardian", số ra ngày 30 tháng Mười 1844, đăng tin tức của ba ngày. Tờ báo đã không buồn cung cấp tỉ mỉ tin tức về Manchester, mà chỉ chọn những thứ hấp dẫn nhất: trong một nhà máy, công nhân bãi công để đòi tăng lương, nhưng thẩm phán hòa giải đã bắt họ trở lại làm việc; ở Salford có vài đứa trẻ đi ăn cắp, một thương nhân vỡ nợ tìm cách lừa đảo chủ nợ. Có những tin tức tỉ mỉ hơn ở các thành phố lân cận: ở Ashton có hai vụ trộm thường, một vụ phá cửa trộm đồ, một vụ tự sát; ở Bury có một vụ ăn cắp; ở Bolton có hai vụ ăn trộm và một vụ trốn thuế tiêu thụ, ở Leigh có một vụ ăn cắp; ở Oldham có một cuộc bãi công vì vấn đề lương, một vụ trộm, một vụ đánh nhau giữa mấy phụ nữ người Ireland, một người thợ mũ không gia nhập nghiệp đoàn nên bị các đoàn viên của nghiệp đoàn đánh, một bà mẹ bị con đánh; ở Rochdale có một loạt vụ đánh nhau, một vụ đánh cảnh sát, một vụ cướp nhà thờ; ở Stockport có một vụ bất mãn của công nhân về tiền lương, một vụ trộm, một vụ lừa đảo, một vụ đánh nhau, một người chồng đánh vợ; ở Warrington có một vụ ăn cắp, một vụ đánh nhau; ở Wigan có một vụ trộm, một vụ cướp nhà thờ. Tin tức trên các báo London còn tệ hơn nhiều. Ở đây thấy liên tiếp đủ thứ gian lận, trộm cướp, cãi nhau trong gia đình. Tôi tình cờ cầm tờ "Times", số ra ngày 12 tháng Chín 1844, đăng tin tức của một ngày; trong đó có một vụ trộm, một vụ đánh cảnh sát, một vụ cha mẹ bỏ rơi con, một vụ xử cha bỏ rơi con ngoài giá thú, một vụ vợ đầu độc chồng. Trên mọi tờ báo Anh đều có những vụ việc tương tự. Cuộc chiến tranh xã hội ở Anh đang diễn ra kịch liệt. Mỗi người đều bảo vệ mình, vì mình mà đấu tranh chống mọi kẻ khác; mỗi người có làm hại tới những người khác, mà anh ta coi là kẻ thù, hay không; điều này chỉ tùy vào sự tính toán ích kỉ, xem đằng nào có lợi cho mình hơn. Chẳng ai nghĩ tới việc sống hòa thuận với người cạnh mình, mọi tranh chấp đều được giải quyết bằng đe dọa, tự trả thù, hoặc kiện cáo. Tóm lại, mỗi người đều coi người khác như kẻ thù, cần phải gạt khỏi đường đi của mình; hoặc tốt nhất là như một phương tiện, có thể sử dụng cho lợi ích của mình. Và cuộc chiến tranh ấy, như các bảng thống kê tội trạng đã chỉ rõ, mỗi năm lại thêm kịch liệt, gay gắt và tàn khốc; các bên thù địch dần chia thành hai phe lớn đấu tranh với nhau: bên này là giai cấp tư sản, bên kia là giai cấp vô sản. Cuộc chiến tranh của mọi người chống mọi người, và cuộc chiến tranh của giai cấp tư sản chống giai cấp vô sản, không làm ta ngạc nhiên, vì nó chỉ là sự thực hiện triệt để cái nguyên lí của tự do cạnh tranh. Nhưng điều làm ta ngạc nhiên, là giai cấp tư sản vẫn thản nhiên và bàng quan, dù những đám mây bão ngày càng đặc kịt lại trên đầu họ; giai cấp ấy hàng ngày đọc được những chuyện đó trên báo, mà không hề cảm thấy chút lo ngại về những hậu quả của nó, về sự bùng nổ chung của những cái đã tự thể hiện một cách riêng rẽ trong từng vụ phạm tội, chứ chưa nói đến sự căm phẫn đối với chế độ xã hội hiện hành. Chính vì nó là giai cấp tư sản, và với quan điểm của nó, nên nó không hiểu được ngay cả những sự việc, nói gì đến những hậu quả. Thật khó tin là những thành kiến giai cấp và những quan điểm cũ kĩ có thể làm mù quáng toàn bộ một giai cấp đến thế, tôi có thể nói là đến mức điên rồ. Nhưng sự phát triển của dân tộc cứ tiến theo con đường của nó, không phụ thuộc vào việc giai cấp tư sản có thấy điều đó hay không; và một ngày kia, sự phát triển ấy sẽ đem đến những điều ngạc nhiên cho giai cấp có của, mà ngay cả những học giả của họ cũng không thể mơ tới.



-----------------------------
Chú thích
1* Ở đây, cũng như các chỗ khác, khi nói đến xã hội, hiểu theo nghĩa là một tập thể có trách nhiệm, có quyền lợi và nghĩa vụ, thì dĩ nhiên là tôi nói đến bộ phận đang nắm chính quyền trong xã hội, tức là giai cấp lúc ấy đang nắm quyền thống trị về chính trị và xã hội, vì vậy mà phải chịu trách nhiệm về tình cảnh của những người mà nó không cho tham gia chính quyền. Giai cấp thống trị ấy, ở Anh, cũng như các nước văn minh khác, là giai cấp tư sản. Nhưng xã hội, đặc biệt là giai cấp tư sản, có nhiệm vụ bảo vệ, ít nhất là về tính mạng, cho mọi thành viên của xã hội, chẳng hạn như làm thế nào để không ai chết đói; cái đó tôi không cần chứng minh cho các độc giả người Đức của tôi. Nếu tôi viết cho giai cấp tư sản Anh thì hẳn là sẽ khác (Chú thích của Engels cho lần xuất bản năm 1845).

Hiện nay, tình hình nước Đức cũng như vậy. Năm 1886 hạnh phúc, các nhà tư bản của nước Đức chúng ta đã hoàn toàn đạt đến trình độ của nước Anh, ít ra là về phương diện này (Engels viết thêm cho lần xuất bản ở Mỹ năm 1887).

(Năm 1892) Từ năm chục năm nay, mọi cái đã thay đổi biết bao! Ngày nay, có những nhà tư sản Anh đã thừa nhận là xã hội có trách nhiệm đối với các thành viên riêng biệt của nó, nhưng còn những nhà tư sản Đức?!? (Engels viết thêm cho bản tiếng Đức năm 1892).

2* a b Bác sĩ Alison: "Biện pháp bảo trợ người nghèo ở Scotland".

3* Bác sĩ Alison, trong báo cáo đọc tại phiên họp của Hội liên hiệp Britain vì sự Tiến bộ của Khoa học, ở York, tháng Mười 1844.

4* Alison, "Những nguyên lý về dân số" t. II (Chú thích của Engels cho bản in ở Mĩ năm 1887).

5* "Dân cư công nghiệp ở Anh", chương 8.

6 Một dung dịch gồm 10% thuốc phiện và 1% morphine hòa trong rượu, còn có tên là "cồn thuốc phiện" (Chú thích của người dịch).

7* "Report of Commission of Inquiry into the Employment of Children and Young Persons in Mines and Collieries and in the Trades and Manufactures in which Numbers of them work together, not being included under the Terms of the Factories Regulation Act". First and Second Reports. ["Báo cáo của Tiểu ban điều tra về tình hình sử dụng trẻ em và thiếu niên trong các hầm mỏ và mỏ than, cũng như trong các ngành sản xuất và trong các công xưởng có đông trẻ em làm việc nhưng không bị ràng buộc bởi đạo luật hạn chế lao động trong các công xưởng". Bản thứ nhất và thứ hai]. Báo cáo của Grainger nằm trong bản thứ nhất. Thường được trích dưới nhan đề "Báo cáo của Tiểu ban điều tra về lao động trẻ em" ("Children's Employment Commission's Report"). Đó là một trong những báo cáo chính thức tốt nhất, chứa đựng rất nhiều sự kiện có giá trị nhất, nhưng cũng khủng khiếp nhất. Bản thứ nhất công bố năm 1841, bản thứ hai công bố 2 năm sau.

8* "Fifth Annual Report of Reg. Gen. of Births. Deaths and Marriages" ["Bản báo cáo hàng năm thứ 5 của sở đăng ký sinh, tử và kết hôn"].

9* Bác sĩ Cowan, "Thống kê số sinh đẻ và tử vong ở Glasgow" (Chú thích của Engels cho bản in ở Mĩ năm 1887).

10* Xem "Report of Commission of Inquiry into the State of large Towns and populous Districts". first Report, 1844. Appendix ["Báo cáo của Tiểu ban điều tra tình hình các thành phố lớn và các khu đông dân", bản thứ nhất, 1844. Phụ lục].

11* "Báo cáo của Tiểu ban về công xưởng", tập III, báo cáo của bác sĩ Hawkins về Lancashire. Ở đây có dẫn ra bằng chứng của bác sĩ Roberton, "người có uy tín nhất ở Manchester về mặt thống kê".

12 Con số này giữa các bản tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Đức có khác nhau. Bản tiếng Anh và tiếng Đức đều ghi là 77, do đó tổng số tử vong chỉ là 9900 (chứ không phải 10.000 như tác giả đã nêu), còn bản tiếng Việt ghi là 177. Người dịch chọn số 177 vì cho rằng nó chính xác nhất (Chú thích của người dịch).

13 "Trường học quốc dân" (Chú thích của người dịch).

14* "Nghề thủ công và thợ thủ công".

15* "Những nguyên lý về dân số", t. II, tr. 196-197.

16* Sau này, ta sẽ thấy cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản ở Anh đã được hợp pháp hóa nhờ quyền tự do lập hội.

17* "Phong trào Hiến chương", tr. 34 và tiếp theo.

18* Ở đây không biết có nên đưa ra những bằng chứng của những người tư sản có uy tín hay không? Tôi chỉ lấy một ví dụ mà ai cũng có thể dễ dàng tìm thấy trong quyển sách của Adam Smith "Sự giàu có của các dân tộc", t. III, quyển 5, chương 1, tr. 297; lần xuất bản thành 4 tập của McCulloch.

19 "Đương nhiên là" (Chú thích của người dịch).

20* "Những nguyên lý về dân số", t. II, tr. 76 và tiếp theo, tr. 135.

21* "Philosophy of Manufactures", London, 1835 ["Triết học về công xưởng", London, 1835]. Sau đây, ta sẽ còn nói tới cuốn sách nổi tiếng ấy. Những đoạn dẫn ra ở đây lấy ở tr. 406 và các trang tiếp theo.

22* (Năm 1892) Tư tưởng cho rằng nền đại công nghiệp đã chia người Anh thành hai dân tộc khác nhau đã được Disraeli trình bày, như mọi người đều biết, gần như cùng lúc với tôi, trong cuốn tiểu thuyết của ông "Sybil, or the Two Nations" ["Sybil, hay là hai dân tộc"] (Chú thích của Engels cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1892).

23* "On the present Condition of the Labouring Poor in Manchester etc", By the Rev. Rd. Parkinson, Canon of Manchester 3rd. edit. London and Manchester, 1841. Pamphlet ["Về tình cảnh hiện nay của người lao động nghèo ở Manchester v.v.". Sách của thầy tu Parkinson ở Manchester, xuất bản lần thứ 3, London và Manchester, 1841].

24* "Những nguyên lý về dân số".

25* Diễn văn đọc ở Hạ viện ngày 28 tháng Hai 1843.

26 "Người không uống rượu" (Chú thích của người dịch).

27* Tỉnh trưởng Alison, "Những nguyên lý về dân số", t. II.

28* "Dân cư công nghiệp ở Anh", chương 10.

29* Số tội nhân đã thành án (22.733) chia cho số dân (khoảng 15 triệu).
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:06:36 |Xem tất
CÔNG NHÂN CÔNG XƯỞNG THEO NGHĨA HẸP

Bây giờ hãy nghiên cứu tỉ mỉ các bộ phận quan trọng nhất của giai cấp vô sản công nghiệp Anh; căn cứ vào nguyên tắc đã nói ở trên, ta phải bắt đầu từ những công nhân công xưởng, tức là những công nhân mà đạo luật về công xưởng nói tới. Đạo luật ấy đã qui định thời gian làm việc trong các công xưởng dùng sức nước, hoặc sức hơi nước, để kéo sợi hoặc dệt len, tơ, bông hoặc lanh; do đó, đạo luật ấy có hiệu lực đối với các ngành chủ yếu nhất của công nghiệp Anh. Những công nhân ở các ngành đó tạo thành bộ phận lâu đời nhất, đông đảo nhất, có trí tuệ và nghị lực nhất của công nhân Anh; do đó, họ cũng là những công nhân không an phận nhất, và bị giai cấp tư sản thù ghét nhất. Đứng hàng đầu của phong trào công nhân chính là họ, nhất là những công nhân bông sợi; cũng như đứng đầu phong trào chính trị của giai cấp tư sản chính là các ông chủ của họ, các chủ xưởng, nhất là những chủ xưởng ở Lancashire.

Trong "Lời mở đầu", ta đã thấy những người làm việc trong các ngành ấy cũng chính là những người đầu tiên, do sự xuất hiện của máy móc mới, bị tách khỏi những điều kiện sinh hoạt trước kia như thế nào. Bởi vậy, không có gì lạ, khi những kỹ thuật mới, được phát minh liên tiếp sau đó, cũng ảnh hưởng tới họ một cách hết sức sâu sắc và dai dẳng. Lịch sử ngành bông sợi, do Ure1* và Baines2* và những tác giả khác viết, trên mỗi trang đều nói đến những cải tiến mỗi ngày một mới, đại bộ phận những cải tiến ấy cũng đã được áp dụng trong các ngành khác của công nghiệp dệt. Lao động thủ công hầu hết đã bị máy móc thay thế, gần như mọi thao tác đều dùng sức nước hoặc sức hơi nước, và mỗi năm lại có những cải tiến mới hơn.

Dưới một chế độ xã hội được tổ chức hợp lí, thì những cải tiến như thế phải được hoan nghênh; nhưng khi đang có cuộc chiến tranh kịch liệt của mọi người chống mọi người, thì một số ít người quơ tất cả lợi ích về cho mình, và cướp mất tư liệu sinh hoạt của đại đa số. Mỗi cải tiến về máy móc đều cướp mất mẩu bánh mì của công nhân, cải tiến càng lớn thì công nhân thất nghiệp càng đông; do đó, mỗi cải tiến đều gây nên cho một số công nhân những hậu quả như một cuộc khủng hoảng thương nghiệp, tức là thiếu thốn, cùng khổ và phạm tội. Hãy lấy vài ví dụ. Ngay phát minh đầu tiên là máy Jenny, do một công nhân điều khiển, đã có thể sản xuất được ít ra là gấp sáu lần một chiếc xa bình thường, cho nên mỗi máy Jenny mới sẽ làm cho năm người thợ kéo sợi thất nghiệp. Máy sợi con có sức sản xuất lớn hơn máy Jenny nhiều, và cũng chỉ có một công nhân điều khiển, còn cướp mất sinh kế của nhiều người hơn. Máy mule, với cùng sản lượng như thế, còn cần ít công nhân hơn, cũng có tác dụng như vậy; và mỗi lần nó được cải tiến, tức là mỗi lần số ống sợi tăng thêm, thì lại rút bớt một số công nhân. Thế mà số ống trên máy mule đã tăng lên rất mạnh, khiến rất nhiều công nhân thất nghiệp: trước kia mỗi người thợ kéo sợi, cùng với vài đứa trẻ con (lo việc nối sợi) có thể trông coi 600 ống, nhưng bây giờ một mình người ấy có thể làm việc với hai máy mule, có tổng cộng từ 1400 đến 2000 ống, thế là hai người thợ kéo sợi lớn tuổi và một số thợ phụ phải thất nghiệp. Từ khi nhiều xưởng sợi dùng máy sợi tự động, thì vai trò của người thợ kéo sợi hoàn toàn bị máy móc thay thế. Tôi có trong tay một cuốn sách, do một thủ lĩnh có uy tín của phái Hiến chương ở Manchester là James Leach viết3*. Tác giả từng làm việc nhiều năm trong nhiều ngành công nghiệp, đã ở nhiều công xưởng và mỏ than, bản thân tôi thì biết ông là người thành thực, đáng tin và thạo việc. Nhờ địa vị của mình ở trong đảng, ông đã nắm được nhiều tài liệu rất tỉ mỉ về các công xưởng, những tài liệu do chính công nhân thu thập; ông đã làm một vài thống kê, qua đó thấy rằng: ở 35 xưởng, năm 1841 đã thuê ít hơn 1083 thợ kéo sợi, so với năm 1829, dù số ống sợi trong 35 xưởng ấy đã tăng thêm 99.429 cái. Ông nêu ra 5 xưởng không thuê thợ kéo sợi nào, vì ở đấy chỉ dùng máy sợi tự động. Trong khi số ống tăng 10%, thì số thợ kéo sợi lại giảm hơn 60%. Leach nói thêm, từ 1841, đã có thêm nhiều cải tiến, như sử dụng ống sợi hàng đôi (doubledecking), v.v.; kết quả là có vài xưởng, trong 35 xưởng nói trên, đã sa thải một nửa số thợ kéo sợi; trong một xưởng, cách đây không lâu có 80 thợ kéo sợi, giờ chỉ còn 20; những người khác, nếu không bị sa thải, thì cũng buộc phải làm công việc của trẻ con, để ăn lương như trẻ con. Về Stockport, Leach cũng trình bày tình hình như thế: năm 1835 có 800 thợ kéo sợi, năm 1843 chỉ còn 140, dù công nghiệp ở đó đã phát triển khá mạnh trong 8-9 năm qua. Về máy chải, gần đây cũng có những cải tiến, và nó cũng cướp mất sinh kế của nửa số công nhân. Trong một công xưởng đã đặt máy đấu sợi cải tiến, kết quả là trong 8 em gái có 4 em thất nghiệp, tiền công của 4 em còn lại cũng bị giảm từ 8 shilling xuống 7 shilling. Tình hình công nghiệp dệt vải cũng thế. Máy dệt có động cơ dần chiếm đoạt mọi địa bàn của máy dệt tay, vì so với máy dệt tay thì nó sản xuất nhiều hơn gấp bội, và một công nhân có thể trông hai máy, thế nên ở đây cũng có nhiều thợ thất nghiệp. Ở mọi ngành sản xuất công xưởng, ngành kéo sợi lanh và len, ngành chế biến tơ, tình hình cũng như vậy; máy dệt có động cơ đã bắt đầu chiếm đoạt từng bộ phận riêng biệt của nghề dệt len và lanh; chỉ riêng vùng Rochdale, trong ngành dệt nỉ mỏng và các hàng len khác, máy dệt có động cơ được dùng nhiều hơn máy dệt tay. Về việc này, giai cấp tư sản thường trả lời rằng: khi cải tiến máy móc thì chi phí sản xuất sẽ giảm, kết quả là giá sản phẩm hạ xuống, mà giá hạ thì lượng tiêu thụ sẽ tăng, do đó những công nhân thất nghiệp sẽ mau chóng tìm được việc làm trong những công xưởng mới xây dựng. Đương nhiên, giai cấp tư sản hoàn toàn đúng ở một điểm: trong các điều kiện nhất định, có lợi cho sự phát triển nói chung của công nghiệp, thì mỗi lần hạ giá của một hàng hoá được chế tạo bằng nguyên liệu giá rẻ đều làm cho lượng tiêu thụ tăng rất nhiều, dẫn đến việc xây dựng những công xưởng mới; nhưng trừ điểm ấy ra, thì mọi lời của họ đều là nói dối. Họ không để ý tới việc là phải mất nhiều năm, thì kết quả của sự hạ giá mới thể hiện ra, rồi mới có những công xưởng mới. Họ im lặng trước thực tế là do các cải tiến về máy móc, những công việc thực sự nặng nhọc ngày càng được máy làm thay; và lao động của đàn ông chỉ còn đơn giản là trông coi máy; mà việc đó thì phụ nữ yếu sức, kể cả trẻ em, cũng hoàn toàn có thể làm, với tiền công chỉ bằng một nửa hay 1/3; vậy là dù sản xuất có mở rộng, thì công nhân người lớn vẫn ngày càng bị loại ra khỏi công nghiệp, và càng không tìm ra việc làm. Họ làm ngơ trước việc vì có máy móc, mà từng ngành lao động nguyên vẹn đã biến mất, hoặc đã thay đổi quá nhiều, đến nỗi công nhân phải học lại từ đầu; hơn nữa ở đây, họ cố không nói đến cái lí lẽ, mà chính họ thường đưa ra, mỗi khi vấn đề cấm lao động của trẻ em được nhắc tới; ấy là để có được kĩ năng cần thiết, thì phải làm quen với lao động công xưởng từ nhỏ, tức là từ trước mười tuổi4*. Giai cấp tư sản cũng không nói tới quá trình phát triển máy móc vẫn đang diễn ra không ngừng, nên dù công nhân thực có kiếm được việc làm trong ngành lao động mới; thì sự cải tiến máy móc cũng sẽ thải anh ta ra, và hoàn toàn cướp đi lòng tin vào ngày mai của anh ta. Nhưng giai cấp tư sản lại thu được toàn bộ lợi ích của việc phát triển máy móc; vào các năm đầu, khi nhiều máy cũ vẫn còn được dùng, và những cải tiến còn chưa được áp dụng rộng rãi, giai cấp tư sản đã có được cơ hội tốt nhất để làm giàu; nên sẽ là quá nhiều nếu đòi hỏi họ phải nhìn thấy mặt xấu của sự phát triển ấy.

Máy móc được cải tiến thì tiền công giảm, đó là điểm mà giai cấp tư sản bác bỏ kịch liệt, còn công nhân thì nhiều lần khẳng định. Giai cấp tư sản khăng khăng rằng: dù tiền công tính theo sản phẩm có hạ xuống cùng với cải tiến sản xuất, nhưng tiền công hàng tuần nói chung vẫn tăng nhiều hơn giảm, và tình cảnh của công nhân đã tốt lên nhiều hơn xấu đi. Rất khó xem xét vấn đề này tới tận gốc rễ, vì công nhân thường nhấn mạnh vào những ví dụ về tiền công tính theo sản phẩm bị hạ; dù vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, trong các ngành lao động khác nhau, tiền công hàng tuần đã giảm xuống cùng với việc áp dụng máy móc. Những người gọi là "thợ kéo sợi nhỏ" (kéo sợi nhỏ trên máy mule) đúng là có tiền công cao, mỗi tuần 30-40 shilling, đó là vì họ có một công đoàn mạnh để chống việc hạ tiền công, mà lao động của họ cũng cần sự huấn luyện lâu dài. Nhưng người thợ kéo sợi thô, vì phải cạnh tranh với các máy tự động (các máy này không kéo được sợi nhỏ), và công đoàn của họ đã bị hạ gục khi các máy ấy được sử dụng, nên họ phải nhận tiền công rất thấp. Một công nhân kéo sợi loại ấy nói với tôi rằng, anh ta kiếm được mỗi tuần không quá 14 shilling, điều ấy phù hợp với tài liệu của Leach nói rằng, ở nhiều công xưởng khác nhau, công nhân kéo sợi thô mỗi tuần kiếm được không tới 16 shilling rưỡi; một người, cách đây ba năm, mỗi tuần kiếm được 30 shilling, thì bây giờ vất vả lắm mới kiếm được 12 shilling rưỡi, và năm ngoái, tiền công bình quân cũng không vượt quá mức đó. Thực ra tiền công của phụ nữ và trẻ em giảm ít hơn, nhưng đó là vì ngay từ đầu, nó đã không cao rồi. Tôi biết nhiều phụ nữ góa bụa có con nhỏ, làm việc vất vả mà mỗi tuần chỉ kiếm được 8-9 shilling; mà khi đã biết giá của những thứ cần nhất cho đời sống ở Anh, thì phải thừa nhận là số tiền ít ỏi ấy không thể nào đủ nuôi gia đình. Tất cả công nhân đều nhất trí xác nhận rằng: tiền công nói chung đã bị hạ thấp cùng với việc cải tiến máy móc. Giai cấp tư sản công nghiệp nói: nhờ có máy móc mà tình cảnh của giai cấp công nhân đã khá hơn; nhưng tại mỗi cuộc họp của công nhân ở các khu công xưởng, đều có thể khẳng định rằng: chính công nhân lại coi đó là lời nói dối trắng trợn nhất. Nếu đúng là chỉ có tiền lương tương đối, tiền lương tính theo sản phẩm, là bị giảm; còn tiền lương tuyệt đối, tức là tổng số tiền công mà công nhân kiếm được mỗi tuần, vẫn không thay đổi, thì điều đó có nghĩa là gì? Nghĩa là công nhân phải yên lặng nhìn các ngài chủ xưởng nhét đầy túi, hưởng toàn bộ lợi ích mà những cải tiến đem lại, và không chia cho công nhân tí nào. Giai cấp tư sản, trong khi đấu tranh với công nhân, đã quên mất cả những nguyên lí cơ bản nhất của môn Kinh tế Chính trị tư sản. Cái giai cấp ấy, mọi khi thì sùng bái Malthus, giờ thì lại hoảng hốt kêu lên với công nhân: "Không có máy móc thì mấy triệu nhân khẩu thừa của nước Anh sẽ tìm đâu ra việc làm?"5* Nhảm nhí! Cứ như là giai cấp tư sản không biết rõ rằng, nếu không có máy móc và sự phồn thịnh công nghiệp do máy móc tạo nên, thì "mấy triệu người" ấy đã không bao giờ sinh ra và lớn lên! Nếu máy móc có đem lại lợi ích gì đó cho công nhân, thì đó là ở chỗ: nó đã chứng minh cho công nhân thấy sự cần thiết phải cải tạo xã hội, để máy móc làm việc không phải gây hại mà là có lợi cho công nhân. Các ngài tư sản thông thái hãy đi hỏi những người quét đường ở Manchester hoặc ở bất kì đâu (thật ra bây giờ thì không kịp nữa, vì việc ấy cũng có máy móc làm rồi), đi hỏi những người bán muối, bán diêm, bán cam, bán dây giày, v.v. trên phố, và cả những người ăn xin, xem trước đây họ làm gì; sẽ có nhiều người trả lời rằng: họ là công nhân công xưởng, bị máy móc làm thất nghiệp. Ở điều kiện xã hội hiện tại, sự cải tiến máy móc chỉ có thể đẻ ra những hậu quả bất lợi, nhiều khi rất nặng nề, đối với công nhân: mỗi cái máy mới đều mang lại thất nghiệp, túng thiếu, bần cùng; và ở một nước mà hầu như khi nào cũng có "nhân khẩu thừa" như nước Anh, thì trong hầu hết các trường hợp, mất việc làm là điều tệ nhất đối với người lao động. Một cuộc sống không được đảm bảo, do sự phát triển không ngừng của máy móc gây ra, và nạn thất nghiệp kèm theo, đã gây chán nản và u uất như thế nào cho công nhân, mà tình cảnh của họ vốn đã bấp bênh; điều đó không phải nói nữa. Muốn không rơi vào tình trạng tuyệt vọng, công nhân chỉ có hai con đường: hoặc phản kháng giai cấp tư sản cả bên trong và bên ngoài, hoặc rượu chè và đồi bại. Công nhân Anh, có người chọn cái thứ nhất, có người chọn cái thứ hai. Lịch sử giai cấp vô sản Anh đã kể lại hàng trăm cuộc nổi loạn, chống lại cả máy móc và giai cấp tư sản; còn sự suy đồi về đạo đức thì ta đã nói đến rồi, đó đương nhiên chỉ là một hình thức biểu hiện đặc biệt của sự tuyệt vọng mà thôi.

Tình cảnh tồi tệ nhất thuộc về những công nhân phải cạnh tranh với máy móc mới ra đời. Giá của hàng hóa do họ làm ra được tính theo giá của chính hàng hoá ấy, nhưng là do máy làm ra; vì sản xuất bằng máy rẻ hơn sản xuất bằng tay, nên các công nhân phải cạnh tranh với máy móc sẽ có lương thấp nhất. Với công nhân làm việc trên máy cũ, nếu phải cạnh tranh với máy mới hơn, tốt hơn, thì cũng y như thế. Tất nhiên, còn có ai khác sẽ chịu nỗi khó khăn? Chủ xưởng không muốn vứt bỏ máy cũ, nhưng cũng không muốn bị thiệt; vì không kiếm được gì từ cái máy vô tri, nên hắn liền nhằm vào những công nhân đang sống, vật thế mạng của cả xã hội. Trong số những công nhân phải cạnh tranh với máy móc như thế, những người thợ dệt thủ công, của ngành công nghiệp bông sợi, là khổ sở nhất. Tiền lương của họ thấp nhất, mỗi tuần không quá 10 shilling, kể cả khi có đủ việc làm. Máy dệt có động cơ đã chiếm lĩnh hết ngành dệt này tới ngành dệt khác; mà ngành dệt thủ công lại là nơi trú ẩn sau cùng của những công nhân mất việc ở các ngành khác, nên ngành này lúc nào cũng quá thừa người làm. Vì thế, trong lúc bình thường, một người thợ dệt thủ công kiếm được 6-7 shilling mỗi tuần thì đã cho là mình may mắn; mà để có số tiền ấy, anh ta phải ngồi bên khung cửi 14-18 giờ mỗi ngày. Đa số hàng dệt còn cần một nơi ẩm thấp, để sợi ít bị đứt khi dệt; một phần vì thế, và một phần vì công nhân nghèo, không thuê được nhà tốt, nên sàn của những xưởng dệt thủ công thường không được lát ván hay lát đá. Tôi đã đến thăm nhiều thợ dệt thủ công, nhà họ nằm trong những sân và phố tệ nhất, đa số là nhà hầm. Thường thì nửa tá thợ dệt, trong đó một số đã có vợ, cùng ở trong một cottage; có một đến hai phòng làm việc, và một phòng ngủ lớn cho mọi người. Họ hầu như chỉ ăn khoai tây, đôi khi có ít cháo yến mạch, rất ít khi có sữa, hầu như không bao giờ có thịt; họ phần nhiều là người Ireland, hoặc có gốc gác Ireland. Những thợ dệt thủ công cực khổ ấy, mỗi khi có khủng hoảng, đều gặp nạn đầu tiên và thoát nạn sau cùng; lại còn bị giai cấp tư sản dùng làm vũ khí, để chống lại những người công kích chế độ công xưởng! Giai cấp tư sản đắc ý kêu lên: "Hãy xem các thợ dệt ấy sống nghèo khổ thế nào, còn công nhân công xưởng sống sung sướng thế nào, rồi lúc đó hãy phê phán chế độ công xưởng!"6* Cứ như là tình cảnh tồi tệ của thợ dệt thủ công không phải do chính chế độ công xưởng và máy móc của nó mà ra, cứ như là bản thân giai cấp tư sản không biết rõ điều ấy bằng chúng ta! Nhưng việc này có liên quan đến lợi ích của giai cấp tư sản, vì vậy có nói dối mấy câu, hoặc tỏ ra đạo đức giả một chút, thì cũng chẳng sao.

Bây giờ hãy xét kĩ hơn việc các công nhân nam ngày càng bị loại bỏ, do sự sử dụng máy móc. Về kéo sợi cũng như dệt, công việc đứng máy chủ yếu chỉ là nối sợi đứt, mọi việc khác đều do máy làm; việc nối sợi này không cần sức lực, nhưng phải rất khéo tay. Với công việc ấy, đàn ông không những không cần thiết, mà còn không phù hợp bằng phụ nữ và trẻ em, vì bàn tay đàn ông cơ bắp hơn; và công nhân nam hầu như hoàn toàn bị loại khỏi ngành lao động ấy. Thế là cánh tay và bắp thịt bị sức nước và sức hơi nước thay thế, và không nhất thiết phải sử dụng đàn ông nữa; vì phụ nữ và trẻ em không chỉ nhận tiền công thấp hơn, mà như tôi đã nói, lại còn làm việc ấy tốt hơn đàn ông, nên họ chiếm chỗ của đàn ông. Với các xưởng sợi dùng máy sợi con, chỉ có phụ nữ và các bé gái làm; tại các xưởng dùng máy mule, có một người kéo sợi là đàn ông (khi dùng máy sợi tự động thì người ấy trở thành thừa) và mấy người phụ việc để nối sợi, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, có khi là nam thanh niên 18-20 tuổi, thỉnh thoảng là một người thợ kéo sợi cũ đã mất việc7*. Với máy dệt có động cơ thì đa số là nữ 15-20 và trên 20 tuổi, thỉnh thoảng có mấy nam thanh niên, nhưng họ rất ít khi được làm việc tiếp sau 21 tuổi. Ở những xưởng dùng máy kéo sợi thô cũng chỉ thấy nữ, nhiều lắm thì có vài người đàn ông chuyên lau chùi và chuốt máy chải. Ngoài ra, các công xưởng còn thuê một số trẻ em (gọi là doffer) để đặt và tháo ống sợi, mấy người đàn ông làm đốc công, một thợ cơ khí, một thợ máy coi máy hơi nước, thợ mộc, người gác cổng, v.v. Nhưng công việc chủ yếu là do phụ nữ và trẻ em làm. Các chủ xưởng phủ nhận điều đó, năm ngoái họ còn công bố một thống kê tỉ mỉ, để chứng minh là máy móc hoàn toàn không loại bỏ đàn ông. Qua bảng thống kê ấy có thể thấy rõ là, trong số công nhân công xưởng, phụ nữ chiếm hơn một nửa (52%), đàn ông gần 48%, và có quá nửa công nhân trên 18 tuổi. Tới chỗ đó thì ổn cả. Nhưng các ngài chủ xưởng rất cẩn thận, họ không cho ta biết là trong số công nhân trưởng thành có bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ. Đó chính là mấu chốt của vấn đề. Họ còn ngang nhiên ném vào đó cả thợ máy, kĩ sư, thợ mộc, tất cả đàn ông có ít nhiều liên hệ với công xưởng, thậm chí cả nhân viên văn phòng, v.v.; nhưng họ không có can đảm để nói lên toàn bộ sự thật. Những bảng ấy nói chung có đầy những dối trá, xuyên tạc, lừa gạt; những con số trung bình có thể làm vui lòng những ai không thông thạo, và chẳng nói lên được điều gì với những người hiểu biết; nó lờ đi các vấn đề quan trọng nhất, và chỉ chứng minh lòng ích kỉ mù quáng, cùng với sự gian manh, của các chủ xưởng đã làm ra nó. Ta có thể trích dẫn những tư liệu về tuổi tác và giới tính của công nhân, qua bài diễn văn của huân tước Ashley, đọc tại Hạ viện, ngày 15 tháng Ba 1844, để bênh vực cho dự luật về ngày lao động mười giờ; những tư liệu ấy không bị các tài liệu của chủ xưởng bác bỏ, nhưng cũng chỉ đề cập đến một phần của công nghiệp công xưởng nước Anh thôi. Trong 419.590 công nhân công xưởng của Đại Britain (năm 1839), có 192.887 người (gần nửa) dưới 18 tuổi; có 242.296 người là nữ, trong đó có 112.192 người dưới 18 tuổi. Như vậy ta có 80.695 công nhân nam dưới 18 tuổi, còn công nhân nam trưởng thành chỉ có 96.5998 người, hoặc 23%, tức là không tới 1/4 tổng số công nhân. Trong những công xưởng dệt bông, nữ công nhân chiếm 56,25%; ở các xưởng len: 69,5%; với những xưởng lụa: 70,5%; tại các xưởng lanh: 70,5%. Những con số ấy đã đủ chứng minh cho việc công nhân đàn ông bị gạt bỏ; muốn xác minh thì chỉ cần ghé vào bất cứ công xưởng nào. Kết quả là trật tự xã hội hiện tồn tất yếu phải bị đảo lộn; sự đảo lộn ấy, mà công nhân bị buộc phải chịu, đang gây ra cho họ những hậu quả tai hại nhất. Đầu tiên là việc thuê phụ nữ làm việc đã hoàn toàn phá hoại gia đình; vì nếu người vợ ở trong xưởng 12-13 giờ mỗi ngày, và người chồng cũng làm việc ở đó, hay ở nơi khác, trong một thời gian cũng dài như vậy, thì con cái họ sẽ thế nào? Chúng lớn lên như cỏ dại, không ai săn sóc; hoặc mỗi tuần bố mẹ bỏ ra 1-1,5 shilling, gửi chúng cho người giữ trẻ, mà những người này đối xử với chúng ra sao thì cũng dễ hình dung. Vì thế, trong những khu công xưởng, những tai nạn do thiếu chăm sóc trẻ em đã tăng lên đáng sợ. Theo tài liệu của viên dự thẩm thành phố Manchester9* thì trong 9 tháng có 69 trẻ chết cháy và chết bỏng, 56 trẻ chết đuối, 23 trẻ chết vì ngã, 77 trẻ chết vì những tai nạn khác, tất cả là 215 tai nạn chết người10*; còn ở Liverpool, không phải là thành phố công xưởng, thì trong 12 tháng chỉ có 146 tai nạn chết người. Những tai nạn ở các mỏ than không được tính vào số liệu thống kê của cả hai thành phố. Và hãy chú ý là viên dự thẩm Manchester không có trách nhiệm đối với Salford, vì thế dân số của hai khu ấy có thể xem là gần bằng nhau. Hầu như số nào của tờ "Manchester Guardian" cũng đều đưa tin về một hoặc mấy tai nạn bỏng chết người. Những sự kiện ấy tự nó đã rõ ràng, và hoàn toàn xác thực rằng việc người mẹ đi làm là một nguyên nhân làm cho số trẻ tử vong lên cao. Thường chỉ 3-4 ngày sau khi sinh, phụ nữ đã phải trở lại công xưởng, dĩ nhiên là phải để con nhỏ ở nhà; lúc nghỉ, họ vội vàng chạy về cho con ăn, bản thân họ cũng ăn qua loa chút gì đó. Cách cho ăn thế nào thì cũng dễ đoán ra thôi. Huân tước Ashley thuật lại lời nói của mấy nữ công nhân:
"M. H. hai mươi tuổi, có hai con, đứa bé còn đang bú, phải để cho đứa lớn giữ; buổi sáng, mới hơn năm giờ, chị ấy đã vào xưởng, đến tám giờ tối mới về; cả ngày, sữa chảy làm ướt cả áo.

H. V. có ba con, năm giờ sáng thứ hai rời khỏi nhà, bảy giờ tối thứ bảy mới về; về đến nhà là bận con cái, tới ba giờ sáng mới ngủ. Nhiều khi mưa ướt như chuột lột mà vẫn phải làm việc trong tình trạng như thế. Chị ấy nói: 'Vú tôi đau đến chết được, sữa chảy ra làm ướt cả người' ".

Cái chế độ tai tiếng ấy chỉ thúc đẩy người ta dùng ma túy để bắt trẻ con nằm yên, và thực tế là cách ấy rất phổ biến ở các khu công xưởng. Theo ý kiến của bác sĩ Johns, phụ trách đăng ký hộ tịch của khu Manchester, thì thói quen ấy là nguyên nhân chủ yếu của những trường hợp chết người vì chứng co giật, vốn khá thường gặp. Công việc của phụ nữ ở công xưởng không tránh khỏi làm tan rã gia đình; trong xã hội hiện tại, lấy gia đình làm cơ sở, thì sự tan rã ấy, với vợ chồng cũng như con cái, đều gây nên những hậu quả tồi tệ nhất, xét về đạo đức. Người mẹ mà không có thì giờ chăm sóc con, không thể cho đứa con được hưởng sự âu yếm bình thường nhất trong mấy năm đầu, lại rất ít khi nhìn thấy con, thì đối với đứa trẻ, đó không phải là người mẹ thực sự; người mẹ ấy tất yếu sẽ đối xử với con rất dửng dưng, thiếu tình thương, không chăm sóc, coi con như người lạ. Những đứa trẻ lớn lên trong những điều kiện đó, sau này sẽ hoàn toàn không biết đến đời sống gia đình; khi ở trong gia đình do chính chúng xây dựng, chúng cũng không cảm thấy hương vị gia đình, vì chúng đã quá quen với cuộc sống cô độc, điều đó tất nhiên sẽ làm cho gia đình công nhân càng bị phá hoại. Trẻ con đi làm cũng là một nguyên nhân làm tan rã gia đình. Khi chúng kiếm được nhiều tiền hơn so với chi phí mà cha mẹ bỏ ra để nuôi chúng, thì chúng bắt đầu trả cho cha mẹ khoản chi phí ấy, còn lại thì chúng tự giữ lấy mà tiêu. Việc ấy thường xảy ra khi chúng 14-15 tuổi (Power: báo cáo về Leeds, một vài chỗ trong báo cáo ấy; Tufnell: báo cáo về Manchester, tr. 17 và các trang khác trong "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động công xưởng"). Nói tóm lại, trẻ con dần tự lập, coi nhà cha mẹ như quán trọ, nếu không vừa ý với quán ấy thì chúng thường bỏ đi tìm quán khác.

Nhiều khi, việc phụ nữ đi làm ở công xưởng không hoàn toàn phá hoại gia đình, nhưng làm cho nó đảo ngược. Vợ kiếm tiền nuôi gia đình, chồng ở nhà trông con, quét dọn, nấu nướng. Chuyện đó rất phổ biến, riêng Manchester đã có thể có mấy trăm ông chồng nội trợ như vậy. Có thể dễ dàng tưởng tượng sự phẫn nộ chính đáng của công nhân, trước tình trạng là tất cả quan hệ gia đình đã đảo ngược, trong khi mọi quan hệ xã hội khác vẫn y nguyên. Ngay trước mắt tôi là bức thư của một công nhân. Đó là Robert Pounder, ở Baron's Building, Woodhouse, Moorside, thành phố Leeds (để giai cấp tư sản có thể đến tìm anh ta, tôi đưa ra địa chỉ cụ thể), viết cho Oastler. Chưa chắc tôi diễn đạt được một nửa tính chất phác của bức thư ấy khi dịch; nếu gặp những lỗi chính tả còn có thể tìm cách sửa, còn những đặc điểm của thổ ngữ Yorkshire thì hoàn toàn mất đi. Trong bức thư ấy, anh kể về một công nhân khác mà anh quen đang đi tìm việc, rồi gặp một người bạn cũ ở St. Helens, thuộc Lancashire:
"Thưa ông, chính ở đó anh ta đã tìm được hắn, và khi anh ta đến gần túp lều của hắn, ông nghĩ xem anh ta thấy gì? Một căn nhà hầm ẩm thấp, đồ đạc chỉ có hai cái ghế cũ, một cái bàn tròn ba chân, một cái hòm, không có giường, chỉ có một đống rơm cũ ở góc tường, với hai cái khăn trải bẩn thỉu và hai khúc gỗ ở cạnh lò sưởi. Khi người bạn đáng thương của tôi bước vào, chàng Jack nghèo khổ đang ngồi trên khúc gỗ cạnh lò sưởi, ông nghĩ xem hắn đang làm gì? Hắn đang dùng kim khâu để vá tất cho vợ, vừa trông thấy bạn cũ ở cửa, hắn liền muốn giấu đi, nhưng Joe (tên người bạn tôi) đã nhìn thấy hết và nói: "Jack, cậu làm cái quái gì đấy? Vợ cậu đâu? Sao cậu phải làm việc đó?". Chàng Jack đáng thương rất ngượng, nói: "Tớ biết đó không phải việc của mình, nhưng cô vợ tội nghiệp của tớ thì ở công xưởng, năm rưỡi sáng đã phải đến đó làm đến tám giờ tối, về đến nhà thì mệt đến nỗi không làm gì được. Thế nên giúp vợ được việc gì là tớ làm thôi. Tớ thì thất nghiệp đã hơn ba năm rồi, mà cả đời này tớ cũng không tìm được việc làm nữa". Đến đây hắn khóc nức nở và nói: "Đúng thế đấy Joe ạ, ở đây phụ nữ và trẻ con có đầy việc. Nhưng không có việc cho đàn ông. Tìm được việc làm còn khó hơn nhặt được 100 Bảng ở ngoài phố. Nhưng tớ không ngờ rằng cậu hoặc ai khác có thể nhìn thấy tớ đang vá tất cho vợ, vì đó đúng là việc tồi tệ. Nhưng vợ tớ hầu như đứng còn không vững, tớ sợ là vợ mình ốm, thì không biết chúng tớ sẽ ra sao, vì lâu nay vợ tớ đã trở thành đàn ông trong nhà, còn tớ thì thành đàn bà. Joe ạ, công việc này chẳng tốt đẹp gì". Rồi hắn lại khóc rất thương tâm và nói tiếp: "Trước kia có bao giờ như thế này đâu". Joe hỏi: "Nhưng Jack này, lâu nay không có việc làm thì cậu sống thế nào được?"

Jack trả lời: "Joe ạ, cũng gọi là sống tạm được nhưng mà khá vất vả. Cậu biết đấy, hồi mới lấy vợ thì tớ có đủ việc làm; mà cậu cũng biết, trước nay tớ đâu có lười biếng". - "Đúng, cậu không lười biếng". - "Nhà tớ lúc ấy còn nhiều đồ tốt, Mary cũng không phải đi làm, mình tớ kiếm được đủ cho cả hai. Nhưng giờ thì tất cả đều đảo ngược hết: Mary phải đi làm, tớ ở nhà trông con, quét dọn, giặt giũ, nấu ăn, khâu vá. Tội nghiệp vợ tớ, tối về đến nhà là mệt lả, không làm nổi việc gì. Cậu biết đấy Joe ạ, đối với một người không sống quen thế thì thật là khó chịu". - "Đúng, thật không dễ dàng". Và Jack lại khóc, hắn ước gì mình không lấy vợ hoặc không sinh ra trên đời, nhưng khi lấy Mary thì hắn có bao giờ nghĩ là sẽ thế này đâu. Jack nói: "Tớ đã khóc không biết bao nhiêu lần về chuyện này". Thưa ông, sau đó Joe nói với tôi: khi nghe thấy thế, anh ta liền dùng mọi câu chửi mà mình học được trong công xưởng từ hồi nhỏ, để chửi các công xưởng, chủ xưởng và chính phủ".

Có thể nào tưởng tượng ra cái gì điên rồ và phi lí hơn cái tình trạng được mô tả trong bức thư ấy? Cái tình trạng làm cho đàn ông không còn là đàn ông, phụ nữ mất hết nữ tính, nhưng lại không thể làm cho đàn ông có nữ tính thực sự, hay phụ nữ có nam tính thực sự, cái tình trạng làm ô nhục cả hai giới, cũng như nhân cách của mỗi giới, theo kiểu bỉ ổi nhất; nhưng đó lại là hậu quả cuối cùng của nền văn minh đang rất được ca tụng của chúng ta, là kết quả cuối cùng của mọi nỗ lực của mấy trăm thế hệ, để cải thiện tình cảnh của mình và của con cháu mình! Khi thấy những khó nhọc và cố gắng của con người cuối cùng đều trở thành trò cười, thì ta hoặc là phải tuyệt vọng đối với chính nhân loại, cũng như đối với mục tiêu và kết cục của nhân loại; hoặc là phải thừa nhận rằng: từ trước tới nay, loài người đã lạc lối khi đi tìm hạnh phúc. Ta phải thừa nhận rằng: quan hệ giữa hai giới hoàn toàn đảo lộn như vậy, chỉ có thể là vì ngay từ đầu, những quan hệ ấy đã được dựng lên trên cơ sở sai lầm. Nếu việc nữ thống trị nam, do chế độ công xưởng tất yếu tạo ra, là vô nhân đạo; thì việc nam thống trị nữ xưa kia cũng phải là vô nhân đạo. Nếu phụ nữ ngày nay, cũng như nam giới ngày xưa, có thể xây dựng sự thống trị của mình, trên cơ sở là họ làm ra phần lớn hoặc toàn bộ tài sản chung của gia đình; thì sự công hữu tài sản ấy không phải là chân chính và hợp lí, vì một thành viên của gia đình có thể lên mặt, do đã đóng góp phần lớn hơn. Nếu gia đình trong xã hội ngày nay đang ngày càng suy sụp, thì điều đó chỉ chứng minh rằng: sợi dây gắn bó gia đình không phải là tình yêu, mà là lợi ích riêng, ẩn dưới tấm áo công hữu tài sản11*. Khi con cái không chỉ trả tiền ăn cho cha mẹ, như trên đã nói, mà còn phải nuôi cha mẹ thất nghiệp của chúng, thì cũng xuất hiện những quan hệ y như vậy. Trong "Báo cáo về lao động công xưởng", bác sĩ Hawkins chứng thực rằng loại quan hệ ấy rất thường gặp, mà ở Manchester thì điều ấy ai cũng biết. Trong những trường hợp khác, người đàn bà là chủ; còn trong trường hợp này, con gái chính là chủ. Huân tước Ashley trong diễn văn của mình (tại Hạ viện ngày 15 tháng Ba 1844) đã đưa ra một ví dụ như thế: một người mắng hai cô con gái của mình vì đã vào tiệm rượu, thì hai cô nói rằng mình đã chán ngấy việc phải phục tùng rồi: "Thưa ông, ông cút đi cho rảnh, chúng tôi còn phải nuôi ông nữa kia"; cho rằng mình đáng được hưởng chút gì đó từ kết quả lao động của mình, hai cô liền bỏ nhà ra đi, để mặc bố mẹ cho số phận.

Các thiếu nữ lớn lên trong công xưởng cũng không khá hơn phụ nữ đã có chồng. Một người con gái làm việc ở công xưởng từ năm chín tuổi thì tất nhiên không thạo việc nhà, thế nên tất cả nữ công nhân công xưởng đều hoàn toàn không có kinh nghiệm và không biết quản lí nội trợ. Họ không biết may vá, không biết đan, không biết làm bếp, không biết giặt giũ; cả những việc gia đình bình thường nhất, họ cũng không biết, còn việc chăm sóc trẻ em thì họ càng không biết. "Báo cáo của Tiểu ban điều tra về lao động công xưởng" đã nêu ra hàng tá ví dụ để chứng minh việc ấy; còn tác giả bản báo cáo về Lancashire, là bác sĩ Hawkins, thì phát biểu ý kiến như sau ("Báo cáo", tr. 4):
"Các thiếu nữ kết hôn rất sớm mà không suy tính gì. Họ không có khả năng, không có thì giờ, cũng không có dịp để tìm hiểu những trách nhiệm thông thường nhất của người nội trợ; mà dù họ có biết đi nữa, thì sau khi lấy chồng, họ cũng không có thì giờ để thực hiện những trách nhiệm ấy. Người mẹ không nhìn thấy mặt con suốt mười hai tiếng mỗi ngày, người trông nom đứa trẻ là một cô bé hoặc một bà già được người mẹ bỏ tiền ra thuê, trách nhiệm của họ cũng chỉ tương ứng với tiền công. Ngoài ra, nhà ở của công nhân công xưởng thường không phải cái được gọi là nhà (home), mà là một gian hầm, không có dụng cụ bếp núc, giặt giũ, may vá; không có gì tiện nghi và văn minh, không có gì làm cho đời sống gia đình hấp dẫn. Vì thế, và vì những nguyên nhân khác, đặc biệt là để bảo toàn sinh mạng và sức khoẻ cho trẻ em; tôi chỉ có thể hết sức mong muốn và hi vọng rằng, sẽ đến lúc phụ nữ có chồng bị cấm làm việc ở công xưởng".

Về những ví dụ và lời làm chứng riêng biệt; hãy xem "Báo cáo của Tiểu ban điều tra về lao động công xưởng", Cowell, Văn kiện, tr. 37, 38, 39, 72, 77, 50; Tufnell, Văn kiện, tr. 9, 15, 45, 54, và các trang khác.

Nhưng không chỉ có thế. Những hậu quả về đạo đức của việc phụ nữ đi làm ở công xưởng còn tồi tệ hơn nhiều. Sự tập trung đông người trong một xưởng, không phân biệt trai gái già trẻ, và không tránh khỏi việc gần gũi nhau; sự chồng chất nhiều người, vốn không được giáo dục về trí tuệ và đạo đức, trong một chỗ chật hẹp; những cái ấy không thể có tác dụng tốt tới sự phát triển của nữ tính. Chủ xưởng, dù có chú ý đến việc ấy, cũng chỉ can thiệp khi có vụ việc tai tiếng nào đó; còn ảnh hưởng thường xuyên, không rõ rệt của những người phóng đãng hơn đối với những người đạo đức hơn, nhất là những người trẻ; thì chủ xưởng không thể biết rõ, do đó cũng không thể đề phòng. Chính những ảnh hưởng ấy mới là tai hại nhất. Nhiều nhân chứng của Tiểu ban về công xưởng năm 1833 đều nói: thứ ngôn ngữ được dùng trong công xưởng thường là "tục tằn", "thiếu lịch sự", "bỉ ổi", v.v. (Cowell, Văn kiện, tr. 35, 37 và nhiều trang khác). Những sự việc mà ta thấy trên qui mô lớn trong những thành phố lớn, cũng tồn tại ở đây trên qui mô nhỏ. Sự tập trung nhân khẩu luôn có những hậu quả như nhau đối với người ta, dù là trong một thành phố lớn hay một công xưởng nhỏ. Công xưởng càng nhỏ thì càng dễ gần gũi nhau, càng khó tránh sự tiếp xúc, và hậu quả thì không thiếu. Một nhân chứng ở Leicester nói: ông thà cho con gái đi ăn mày chứ không cho nó vào công xưởng, vì đó thực sự là cửa địa ngục, và đại đa số gái điếm trong thành phố đều do công xưởng tạo ra (Power, Văn kiện, tr. 8). Một nhân chứng khác ở Manchester "không chút do dự khẳng định rằng 3/4 nữ công nhân 14-20 tuổi đã không còn trinh tiết" (Cowell, Văn kiện, tr. 57). Ủy viên tiểu ban Cowell nhận định chung là: đạo đức của công nhân công xưởng còn thấp hơn so với đạo đức trung bình của giai cấp công nhân (tr. 82), và bác sĩ Hawkins thì nói ("Báo cáo", tr. 4):
"Khó có thể đánh giá đạo đức chỉ bằng những con số, nhưng nếu tin vào sự quan sát của chính tôi, vào ý kiến chung của những người đã nói chuyện với tôi, cũng như vào ấn tượng chung của toàn bộ bằng chứng mà tôi thu được; thì ảnh hưởng của đời sống công xưởng đối với đạo đức của nữ thanh niên làm cho người ta hết sức chán nản".

Ai cũng hiểu là: chế độ nô lệ công xưởng, nếu không hơn thì cũng bằng với bất kì chế độ nô lệ nào khác, đã trao cho người chủ cái jus primae noctis12. Về mặt này thì chủ xưởng cũng sở hữu luôn thân thể và sắc đẹp của công nhân. Chỉ cần dọa đuổi là đủ để đập tan sự phản kháng của các cô gái, nếu không phải 99% thì cũng 90%; vả lại, bản thân các cô cũng không quí trọng trinh tiết cho lắm. Nếu chủ xưởng đủ thô tục (báo cáo của tiểu ban đã kể lại nhiều trường hợp như vậy), thì công xưởng đồng thời cũng là khuê phòng của hắn; mà dù không phải mọi chủ xưởng đều lợi dụng quyền ấy, thì về bản chất, tình hình của nữ công nhân vẫn không có gì thay đổi. Ở buổi đầu của công nghiệp công xưởng, khi đại đa số chủ xưởng đều là những kẻ mới phất, vô giáo dục, không đếm xỉa gì đến tập tục giả nhân giả nghĩa của xã hội, thì chúng cứ thản nhiên lợi dụng cái quyền "đương nhiên" của mình.

Để đánh giá đúng những hậu quả của lao động công xưởng đối với thể lực của phụ nữ, thì đầu tiên phải xem xét lao động của trẻ em, cũng như các hình thức khác nhau của lao động. Từ khi mới có công nghiệp hiện đại, công xưởng đã thuê trẻ em làm việc, lúc đầu do máy móc nhỏ (về sau máy đã to hơn), nên người làm việc ở máy hầu như toàn là trẻ em; chúng được lấy với số lượng lớn, chủ yếu từ các nhà tế bần, và được các chủ xưởng thuê làm "thợ học việc" trong nhiều năm. Chúng ăn ở và mặc đều như nhau, dĩ nhiên là hoàn toàn trở thành nô lệ của chủ, bị đối xử hết sức tàn bạo và dã man. Ngay từ năm 1796, bác sĩ Percival và Sir Robert Peel (chủ xưởng dệt vải bông, cha của Thủ tướng đương nhiệm) đã nói lên lòng phẫn nộ của dư luận đối với cái chế độ ghê tởm ấy một cách kịch liệt; đến nỗi Nghị viện phải thông qua một đạo luật về thợ học việc vào năm 1802, chấm dứt những tội ác trắng trợn nhất. Dần dần, sự cạnh tranh của những công nhân tự do đã loại bỏ chế độ học việc, các công xưởng được xây dựng ngày càng nhiều ở các thành phố, máy móc đã to lên, chỗ làm việc đã thoáng khí và sạch sẽ hơn. Đồng thời công việc của người lớn và thanh niên cũng nhiều lên, do đó số trẻ em làm việc trong công xưởng đã phần nào giảm đi, và độ tuổi bắt đầu đi làm của chúng cũng cao hơn một chút. Ngày nay người ta rất ít thuê trẻ em 8-9 tuổi trở xuống. Về sau, như ta sẽ thấy, cơ quan lập pháp đã nhiều lần đứng ra bảo vệ trẻ em, chống lại lòng tham của giai cấp tư sản.

Tỉ lệ chết cao trong con cái công nhân, đặc biệt là với công nhân công xưởng, đủ để chứng minh rằng: chúng đã phải sống những năm đầu đời trong tình cảnh rất có hại cho sức khỏe. Những điều kiện ấy, tất nhiên, cũng ảnh hưởng tới những trẻ còn sống, có điều là không mạnh như với những đứa đã chết. Với những trường hợp tốt nhất, chúng cũng làm cho cơ thể dễ nhiễm bệnh, hoặc làm chậm sự phát triển, vì thế sức khỏe kém hơn bình thường. Một đứa trẻ chín tuổi, con công nhân công xưởng, lớn lên trong cảnh nghèo khổ, thiếu thốn mọi thứ, sống dưới điều kiện ẩm thấp và rét mướt, luôn mặc không đủ ấm và nhà ở lại tồi tệ, thì nó còn lâu mới có thể làm việc như một đứa trẻ lớn lên trong hoàn cảnh tốt hơn. Lên chín tuổi nó phải vào công xưởng, mỗi ngày làm việc 6 giờ rưỡi (trước kia là 8 giờ, trước nữa là 12-14 giờ, thậm chí 16 giờ) tới mười ba tuổi, từ đó tới mười tám tuổi thì phải làm 12 giờ mỗi ngày. Những tác nhân làm suy yếu cơ thể vẫn còn đó, mà công việc thì ngày càng nhiều. Cứ cho là một đứa trẻ chín tuổi, kể cả là con công nhân, có thể cố làm việc mỗi ngày 6 giờ rưỡi, với công việc không gây tổn hại trông thấy được đối với sự phát triển của nó; nhưng ở trong bầu không khí ngột ngạt, ẩm thấp, lại thường oi bức của công xưởng, thì dù thế nào cũng không thể không có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe. Trong bất kì hoàn cảnh nào, cũng không thể dung thứ cho việc đem thì giờ, đáng lẽ chỉ dùng để bồi dưỡng thể lực và tinh thần cho trẻ, để hi sinh cho lòng tham của giai cấp tư sản nhẫn tâm; không thể dung thứ cho việc cướp đi trường học và bầu không khí trong lành của trẻ, để các ngài chủ xưởng bòn rút chúng lấy lợi nhuận. Nhưng giai cấp tư sản sẽ nói: nếu chúng tôi không thuê trẻ em làm việc trong các công xưởng, thì chúng vẫn phải sống dưới những điều kiện bất lợi cho sự phát triển của mình. Đúng là thế, nhưng nghĩ kĩ một chút, thì điều ấy nghĩa là gì? Như thế nghĩa là: đầu tiên, giai cấp tư sản đặt con cái công nhân vào các điều kiện tồi tệ; sau đó, họ lợi dụng các điều kiện ấy để kiếm lợi cho mình! Để tự bào chữa, họ viện tới những điều, mà cũng hệt như chế độ công xưởng, đó đều là do chính họ gây ra; họ dùng cái tội mà mình đã mắc ngày hôm qua, để bào chữa cho cái tội khác mà mình đang mắc ngày hôm nay. Nếu không bị đạo luật về công xưởng trói buộc phần nào, thì các nhà tư bản "hảo tâm", "nhân từ" ấy, dựng lên công xưởng chỉ vì phúc lợi của công nhân, sẽ bảo vệ lợi ích của công nhân như thế nào! Hãy xem các chủ xưởng đã làm những gì, trước khi họ bị các viên thanh tra công xưởng sờ gáy. Hãy luận tội họ bằng các chứng cớ được chính họ thừa nhận: Báo cáo của Tiểu ban về công xưởng năm 1833.

Báo cáo của Ủy ban Trung ương nói rằng trẻ em bắt đầu làm ở công xưởng thỉnh thoảng từ năm tuổi, nhiều khi từ sáu tuổi, rất thường gặp từ bảy tuổi, đại bộ phận từ 8-9 tuổi; thời gian lao động thường từ 14-16 giờ một ngày (không kể giờ nghỉ ăn uống); chủ xưởng cho phép bọn quản lí đánh đập và ngược đãi trẻ, chính chúng cũng thường tự tay làm việc đó. Một trường hợp được thuật lại như sau: một chủ xưởng người Scotland cưỡi ngựa đuổi theo một công nhân mười sáu tuổi bỏ trốn, hắn bắt em quay lại và chạy trước ngựa, rồi dùng roi da dài vụt em lia lịa! (Stuart, Văn kiện, tr. 35). Ở các thành phố lớn, nơi công nhân phản kháng mạnh, những trường hợp như thế tất nhiên ít xảy ra hơn. Nhưng ngày lao động dài như vậy vẫn không thỏa mãn lòng tham của bọn tư bản. Mục đích của chúng là dùng mọi biện pháp để làm cho số vốn tiêu vào nhà cửa và máy móc đẻ ra được nhiều lợi nhuận, càng nhiều càng tốt. Vì thế, chủ xưởng thực hiện chế độ lao động ban đêm tàn khốc. Một số thì sử dụng chế độ hai ca, số người của mỗi ca đủ để đảm bảo công việc của cả công xưởng; một ca làm mười hai giờ ban ngày, ca kia làm mười hai giờ ban đêm. Không khó hình dung những hậu quả đối với sức khỏe, không chỉ của trẻ em và thiếu niên, mà còn của người lớn; khi giấc ngủ ban đêm bị lấy đi, và không bù lại được, dù có ngủ bao nhiêu vào ban ngày. Kết quả tất yếu là toàn bộ hệ thần kinh bị kích thích quá sức, rồi suy nhược cơ thể; tệ say rượu và tình dục phóng đãng thì lan tràn. Một chủ xưởng chứng thực: trong hai năm thực hiện chế độ làm đêm ở xưởng của hắn, số con ngoài giá thú tăng gấp đôi, và sự suy đồi đạo đức thì phổ biến, đến nỗi hắn buộc phải đình chỉ việc làm đêm (Tufnell, Văn kiện, tr. 91). Nhiều chủ xưởng khác dã man hơn: họ bắt công nhân làm 30-40 giờ liền, mỗi tuần mấy lần như vậy; đó là vì họ không có công nhân để thay ca hoàn toàn, ở đây, việc thay ca chỉ là thay thế một phần công nhân, để họ được ngủ vài giờ. Báo cáo của ủy ban về hành vi dã man ấy, và những hậu quả của nó, đã vượt quá cả những gì tôi từng biết. Những điều ghê gớm được thuật lại ở đây không thể tìm thấy ở bất kì đâu khác, nhưng như ta sẽ thấy, giai cấp tư sản vẫn luôn đưa những bằng chứng của ủy ban ra để lí giải theo kiểu có lợi cho họ. Những hậu quả của chế độ ấy biểu hiện rất nhanh: các báo cáo viên kể rằng họ gặp nhiều người bị dị tật, mà chắc chắn chỉ là do thời gian lao động quá dài. Thường gặp nhất là việc cột sống và hai chân bị vẹo. Francis Sharp (hội viên Hội phẫu thuật hoàng gia) ở Leeds mô tả như sau:
"Trước khi đến Leeds, tôi chưa bao giờ thấy đoạn dưới của xương đùi bị vẹo một cách kì quái như vậy. Đầu tiên tôi nghĩ đó là bệnh còi xương, nhưng với phần lớn các trường hợp được đăng kí ở bệnh viện, thì bệnh này xuất hiện vào lứa tuổi (8-14 tuổi) mà trẻ em thường không còn bị còi xương nữa, mà chỉ sau khi vào làm ở công xưởng thì chúng mới bắt đầu bị bệnh ấy; và tôi nhanh chóng thay đổi ý kiến. Đến nay, tôi đã thấy gần một trăm trường hợp như thế, và tôi có thể nói rất chắc chắn rằng đó là do lao động quá độ; theo tôi biết thì tất cả bệnh nhân đều là trẻ em làm việc ở công xưởng, chính chúng cũng cho rằng mình mắc bệnh là do nguyên nhân nói trên... Những trường hợp vẹo cột sống, mà hiển nhiên là do phải đứng quá lâu, cũng không dưới ba trăm" (bác sĩ Loudon, Văn kiện, tr. 12, 13).

Bác sĩ Hey ở Leeds, một thầy thuốc nội khoa làm việc 18 năm ở bệnh viện, cũng chứng thực như vậy:
"Vẹo cột sống là tật rất thường gặp ở công nhân công xưởng; trong một số trường hợp, đó chỉ là hậu quả của lao động quá sức; trong một số trường hợp khác, đó lại là kết quả của lao động kéo dài đối với một cơ thể bẩm sinh yếu ớt, hoặc vì bồi bổ kém nên suy nhược... Những dị tật các loại có vẻ thường gặp hơn tật vẹo cột sống: đầu gối cong lõm vào trong, dây chằng thường yếu và nhão, xương dài của chân bị cong; đặc biệt là đầu của các xương ấy bị vẹo và to ra, những bệnh nhân này đều đến từ những công xưởng có ngày lao động quá dài" (bác sĩ Loudon, Văn kiện, tr. 16).

Các bác sĩ phẫu thuật Beaumont và Sharp khi nói đến Bradford cũng xác nhận điểm ấy. Trong báo cáo của các ủy viên Drinkwater, Power và bác sĩ Loudon cũng có nhiều ví dụ về dị tật này; Tufnell và bác sĩ Sir David Barry, những người không chú ý lắm đến hiện tượng ấy, cũng đưa ra những ví dụ cá biệt trong báo cáo của họ (Drinkwater, Văn kiện, ví dụ về hai anh em ở tr. 69, ví dụ về hai anh em ở các tr. 72, 80, 146, 148, 150, tr. 155 và nhiều trang khác; Power, Văn kiện, hai ví dụ ở các tr. 63, 66, 67, ba ví dụ ở tr. 68, hai ví dụ ở tr. 69; trong báo cáo về Leeds tr. 29, 31, 40, 43, 53 và các trang sau; bác sĩ Loudon, Văn kiện, bốn ví dụ ở tr. 4, 7, ở tr. 8 còn nhiều hơn, v.v.; bác sĩ Barry, Văn kiện, tr. 6, 8, 13, 21, 22, 44, ba ví dụ ở tr. 55, v.v.; Tufnell, tr. 5, 16 và các trang khác). Những ủy viên điều tra về Lancashire: Cowell, Tufnell và bác sĩ Hawkins, đã gần như hoàn toàn bỏ qua những hậu quả về sinh lí của chế độ công xưởng, dù về số người tàn tật thì Lancashire nhất định có thể bằng với Yorkshire. Hiếm khi tôi đi qua Manchester mà không gặp 3, 4 người tàn tật, cột sống và chân cong vẹo, hệt như trên kia đã nói; và không chỉ nhìn thoáng qua, tôi còn có thể quan sát họ kĩ càng. Tôi còn quen một người tàn tật, tình hình của anh ta hoàn toàn phù hợp với mô tả của bác sĩ Hey; anh ta bị bệnh ở công xưởng của ông Douglas ở Pendleton, xưởng ấy từng có tiếng xấu trong công nhân vì lao động quá mức, gần đây nó còn tiếp tục hoạt động thâu đêm. Nhìn những người ấy là đoán được ngay nguyên nhân khiến họ mang tật, tất cả đều biểu hiện giống nhau: đầu gối lõm vào và vặn về phía sau một ít, hai chân vòng kiềng, các khớp xương dị dạng và to ra, cột sống thường cong về phía trước hoặc vẹo sang một bên. Nhưng ghê rợn nhất có lẽ là những chủ xưởng dệt lụa nhân từ ở Macclesfield, vì trong các xưởng của họ có những trẻ rất nhỏ làm việc, em nhỏ nhất chỉ mới 5, 6 tuổi. Trong tài liệu bổ sung của ủy viên Tufnell, ta thấy lời chứng của một đốc công tên là Wright (tr. 26); hai chị em gái của y đều vì làm việc mà thành tàn tật đến mức đáng sợ; một lần y đã đếm số người tàn tật trên nhiều phố ở Macclesfield, kể cả mấy phố xây dựng tốt nhất. Y đã thấy 10 người ở phố Townley, 5 ở phố George, 4 ở phố Charlotte, 15 ở Watercots, 3 ở Bank Top, 7 ở phố Lord, 12 ở Mill Lane, 2 ở phố Great George, 2 ở trong nhà tế bần, 1 ở Park Green, 2 ở phố Peckford. Thân nhân của những người tàn tật nhất trí nói rằng tật ấy là hậu quả của lao động quá mức trong các công xưởng lụa. Ở tr. 27 có nói đến trường hợp một em trai tàn tật đến nỗi không leo được cầu thang, và còn mấy em gái bị cong vẹo cột sống và đùi.

Lao động quá mức còn gây nên nhiều tật khác, đặc biệt là tật bàn chân bẹt, mà Sir D. Barry (ở tr. 21, ông đã nêu ra hai trường hợp) và những thầy thuốc nội ngoại khoa ở Leeds cho là rất thường thấy (Loudon, tr. 13, 16, v.v.). Với những trường hợp cơ thể khỏe hơn, được bồi bổ tốt hơn, và nhờ những điều kiện khác, mà các công nhân trẻ chịu đựng được những hậu quả của sự bóc lột dã man ấy; thì ít ra ta vẫn thấy họ bị đau lưng, đau hông, đau chân, sưng khớp, giãn tĩnh mạch, lở loét lớn không lành được ở đùi và bắp chân. Những bệnh ấy hầu như phổ biến trong công nhân. Stuart, Mackintosh và Sir D. Barry đã nêu ra mấy trăm ví dụ trong các báo cáo của mình, thậm chí hầu như họ chưa thấy một công nhân nào không bị một trong những bệnh ấy; trong những báo cáo khác, nhiều thầy thuốc cũng đã xác nhận rằng có xảy ra những hậu quả ấy. Vô số ví dụ trong các báo cáo về Scotland đã nói lên một cách không nghi ngờ gì nữa, rằng việc phải làm 13 giờ mỗi ngày ít ra cũng gây nên những hậu quả như thế, cả với những công nhân 18-22 tuổi, nam cũng như nữ; trong những xưởng lanh ở Dundee và Dunfermline, và trong những xưởng bông tại Glasgow và Lanark đều như thế.

Tất cả những bệnh tật ấy đều là do chính bản chất của lao động công xưởng, loại lao động mà theo các chủ xưởng là rất "nhẹ nhàng", nhưng chính cái "nhẹ nhàng" đó làm suy nhược cơ thể hơn bất kì loại lao động nào khác. Công nhân không phải làm việc nặng, nhưng lúc nào họ cũng phải đứng, không có quyền ngồi. Ai ngồi trên bệ cửa sổ hoặc trên cái giỏ thì sẽ bị phạt; đứng lâu như vậy thì phần trên của cơ thể sẽ luôn đè xuống cột sống, xương chậu và chân, do đó nhất định phải gây ra những hậu quả nói trên. Bản thân công việc thì không đòi hỏi phải đứng liên tục, như ở Nottingham, ít ra người ta cũng bố trí ghế ngồi ở các gian đấu sợi, kết quả là những bệnh tật nói trên đều biến mất, do đó công nhân đã bằng lòng kéo dài ngày lao động. Nhưng trong một công xưởng mà công nhân chỉ làm việc cho người tư sản, và ít quan tâm đến việc làm thế nào cho tốt hơn, thì chắc chắn họ sẽ lợi dụng cơ hội để ngồi nhiều hơn mức độ mà chủ xưởng thấy bằng lòng và có lợi, và để giai cấp tư sản đỡ đi chút thiệt hại vì nguyên liệu bị hư hỏng, thì công nhân buộc phải hi sinh sức khỏe của mình13*. Ngoài ra, đứng lâu như thế, cộng với không khí trong công xưởng thường rất tệ, càng làm cho toàn bộ cơ thể suy nhược trầm trọng; do đó gây nên nhiều bệnh tật khác, có tính chất toàn thân hơn là cục bộ. Không khí trong công xưởng vừa ẩm vừa nóng, thường là nóng quá mức cần thiết; khi tình hình thông gió không rất tốt, thì không khí rất bẩn, ngột ngạt, thiếu ôxi, đầy bụi bặm và mùi hôi của dầu máy, mà dầu máy hầu như bao giờ cũng tràn ra nhầy nhụa, thấm khắp sàn nhà. Vì nóng nên công nhân mặc rất mỏng, nên khi nhiệt độ trong phòng không ôn hòa thì họ rất dễ bị cảm. Ở nơi nóng bức đó, họ rất sợ không khí trong lành; nhiệt lượng của cơ thể giảm sút cùng với sự suy nhược dần của các cơ quan, phải nhờ sức nóng bên ngoài để tự duy trì; thế là chính công nhân lại thấy dễ chịu nhất khi được ở trong bầu không khí công xưởng oi bức, cửa đóng kín mít. Ngoài ra là sự thay đổi nhiệt độ đột ngột, khi công nhân chuyển từ không khí nóng nực của công xưởng sang không khí lạnh giá, ẩm ướt ở ngoài phố, hay khi công nhân gặp mưa mà không có đồ che mưa hoặc không thay được quần áo khô; tất cả những cái ấy cộng lại thường dẫn đến cảm mạo. Nếu chú ý rằng trong tình hình ấy, có lẽ ngoài bắp chân ra thì không có bắp thịt nào phải thực sự hoạt động; nếu chú ý rằng không có cách nào chống lại tác dụng làm suy yếu cơ thể của những nguyên nhân kể trên, vì công nhân không có cơ hội để luyện tập thân thể, phát triển bắp thịt, làm tăng sức mạnh và sức bật của các cơ thêm nữa; vì từ nhỏ, họ đã bị tước đi cơ hội hoạt động ở ngoài trời; thì không ai lấy làm lạ, khi những thầy thuốc hầu như nhất trí khẳng định trong "Báo cáo về Công xưởng" rằng: họ thấy sức đề kháng của công nhân công xưởng đối với các bệnh tật là đặc biệt kém, sức sống của họ nhìn chung là giảm, cả trí lực lẫn thể lực của họ ngày càng yếu. Trước tiên hãy nghe Sir D. Barry:
"Lao động công xưởng đối với công nhân có những ảnh hưởng bất lợi như sau: 1) nhất thiết phải giữ cho vận động thể chất và trí óc của mình phù hợp chính xác với vận động của máy, vốn được phát động bởi một lực đều đặn không ngừng; 2) phải đứng liên tục trong những khoảng thời gian dài quá mức và nối tiếp nhau quá nhanh; 3) bị mất ngủ (do thời gian lao động kéo dài, chân đau và toàn thân khó chịu). Thêm vào đó là nơi làm việc thấp, chật hẹp, bụi bặm hoặc ẩm ướt; không khí bẩn thỉu, oi bức, mồ hôi ra không ngớt. Vì thế, mà những bé trai, trừ một số rất ít, đều rất mau chóng mất đi vẻ hồng hào tươi tắn của tuổi thơ, trở nên xanh xao và gầy gò hơn những cậu bé khác. Ngay cả chú bé học việc của một người thợ dệt thủ công, đi chân đất, đứng trên nền đất của xưởng dệt, trông cũng xinh hơn chúng, vì chú bé ấy thỉnh thoảng còn được ra ngoài trời. Nhưng đứa trẻ làm việc ở công xưởng thì không có lúc nào rỗi rãi, trừ lúc ăn uống, và cũng chỉ có lúc đó thì mới được ra ngoài trời. Tất cả nam công nhân kéo sợi trưởng thành đều xanh xao, gầy gò, mắc chứng chán ăn và khó tiêu; họ đều làm việc ở công xưởng từ nhỏ, trong bọn họ rất ít hoặc không có ai vạm vỡ, thế nên kết luận sau đây là có lí: nghề nghiệp của họ rất có hại cho sự phát triển của cơ thể nam giới. Phụ nữ chịu đựng loại lao động ấy dễ dàng hơn" (điều đó hoàn toàn tự nhiên, nhưng dưới đây ta sẽ thấy, họ cũng có những bệnh nghề nghiệp của họ) (Sir D. Barry, Báo cáo chung).

Power cũng viết như thế:
"Tôi có thể nói dứt khoát rằng chế độ công xưởng ở Bradford đã gây nên nhiều trường hợp tàn tật... ảnh hưởng của lao động quá dài đối với cơ thể không chỉ biểu hiện ở những dị tật rõ rệt, mà còn biểu hiện một cách phổ biến hơn ở việc chậm lớn, bắp thịt mềm nhão, thể chất suy nhược" (Power, Báo cáo, tr. 74).

Tiếp theo, F. Sharp, nhà phẫu thuật14* ở Leeds, đã dẫn ở trên, viết:
"Khi từ Scarborough tới Leeds, tôi thấy ngay rằng trẻ em ở Leeds nói chung xanh xao hơn nhiều, và cơ bắp ít phát triển hơn nhiều, so với trẻ em ở Scarborough và vùng lân cận. Tôi cũng thấy nhiều đứa quá thấp bé so với tuổi của chúng... Tôi đã gặp vô số trường hợp bị tràng nhạc, khó tiêu, bệnh phổi, bệnh đường ruột; là một thầy thuốc, tôi không chút hoài nghi rằng những bệnh ấy là do làm việc ở công xưởng gây nên. Tôi cho rằng lao động quá dài làm suy yếu năng lực thần kinh của cơ thể, tạo ra miếng đất tốt cho nhiều bệnh tật. Nếu không có những người từ nông thôn không ngừng đổ về, thì giống công nhân công xưởng này sẽ sớm bị thoái hóa hoàn toàn".

Beaumont, nhà phẫu thuật ở Bradford, cũng nói như vậy:
"Theo tôi thì chế độ lao động trong các công xưởng ở đây làm cho cơ thể đặc biệt suy nhược, khiến trẻ em rất dễ mắc bệnh truyền nhiễm và các bệnh khác... Tôi chắc chắn rằng, việc thiếu những quy định cần thiết về không khí và sạch sẽ ở các công xưởng là một trong những nguyên nhân chủ yếu; khiến những bệnh, mà tôi thường gặp khi hành nghề, dễ phát sinh hoặc dễ mắc phải".

Bác sĩ William Sharp Jr. cũng chứng thực như thế (Tiểu ban điều tra về công xưởng, Báo cáo thứ 2, năm 1833, chương 2, tr. 23):
"1) Tôi đã có dịp quan sát các tác động của chế độ công xưởng đối với sức khoẻ của trẻ em, trong những trường hợp tốt nhất" (tại công xưởng Wood ở Bradford, xưởng tốt nhất của thành phố này, bác sĩ Sharp làm thầy thuốc của xưởng đó); "2) dù ở trong những điều kiện tốt như vậy, các ảnh hưởng ấy vẫn rõ ràng là rất có hại; 3) trong năm 1832, tôi đã chữa bệnh cho 3/5 trẻ em làm việc trong xưởng Wood; 4) hậu quả tai hại nhất của chế độ ấy biểu hiện ở việc có nhiều người ốm đau và suy nhược, hơn là việc có nhiều người tàn tật; 5) những cái ấy đã được cải thiện nhiều, từ khi ngày lao động của trẻ em ở xưởng Wood rút xuống mười giờ".

Bản thân ủy viên tiểu ban, bác sĩ Loudon, người đã dẫn ra những lời chứng ấy cũng nói như vậy:
"Tôi cho rằng, việc trẻ con bị buộc phải lao động kéo dài một cách phi lí và tàn khốc, và cả người lớn cũng phải làm một lượng công việc mà sức người chưa chắc kham nổi, đã được chứng minh rõ ràng. Kết quả là nhiều người chết sớm, nhiều người mang tật suốt đời; và theo quan điểm sinh lí học, thì có thừa căn cứ để lo ngại cho tương lai của những thế hệ do những người sống sót ấy đẻ ra".

Sau cùng, bác sĩ Hawkins nói về Manchester:
"Tôi cho là hầu hết khách du lịch đều thấy rằng những cư dân Manchester, nhất là công nhân công xưởng, nói chung đều nhỏ bé, gầy yếu và xanh xao. Trong bất kì thành phố nào ở Đại Britain hoặc châu Âu, tôi chưa bao giờ thấy những người có tầm vóc và sắc mặt thua kém rõ rệt so với mức trung bình của cả nước như thế. Những phụ nữ đã kết hôn đều mất hết mọi đặc điểm của phụ nữ Anh một cách đáng kinh ngạc... Tôi phải thừa nhận rằng: những bé trai, bé gái của các công xưởng ở Manchester mà tôi từng khám bệnh, chúng đều tiều tụy và xanh xao; trên khuôn mặt và cử chỉ của chúng không có nét nào sinh động, hoạt bát, vui vẻ vốn có của tuổi trẻ. Trong đó có nhiều đứa nói với tôi: tối thứ bảy và ngày chủ nhật, chúng không muốn đi dạo ngoài trời chút nào, mà chỉ thích ở yên trong nhà".

Thêm một đoạn khác trong báo cáo của bác sĩ Hawkins; đoạn này cố nhiên chỉ có quan hệ một nửa với điều bàn ở đây, nhưng có thể dẫn ra ở đây cũng tốt như ở chỗ khác:
"Không điều độ, phóng đãng, không lo xa; đó là những khuyết điểm chủ yếu của cư dân công xưởng; và dễ thấy rằng những điểm ấy là do những thói quen của chế độ hiện nay sinh ra, và điều đó hầu như là tất yếu. Mọi người đều công nhận rằng chứng khó tiêu, ưu phiền, suy nhược toàn thân là những hiện tượng rất phổ biến trong loại công nhân ấy; sau mười hai giờ lao động đơn điệu, việc muốn tìm chút chất kích thích nào đó quả là hoàn toàn tự nhiên; nhưng rút cục, khi bị những chứng bệnh nói trên, thì họ tất yếu sẽ ngày càng tìm đến rượu mạnh".

Báo cáo đã đưa ra hàng trăm ví dụ để chứng minh cho những lời của các thầy thuốc và các ủy viên tiểu ban.

Cũng với hàng trăm dẫn chứng, báo cáo ấy chứng thực rằng sự phát triển của công nhân trẻ đã bị lao động công xưởng làm chậm lại; chẳng hạn, Cowell đã đưa ra 46 nam thanh niên, cùng mười bẩy tuổi, cùng học một trường chủ nhật; trong đó, 26 người làm việc ở công xưởng nặng trung bình 104,5 pound, 20 người kia cũng là công nhân nhưng không làm việc ở công xưởng, thì nặng trung bình 117,7 pound. Chính một trong những chủ xưởng lớn nhất ở Manchester, một kẻ lãnh đạo các chủ xưởng chống lại công nhân, tên là Robert Hyde Greg, nếu tôi không nhầm, có lần đã nói: nếu tình hình tiếp tục như hiện nay, thì những công nhân công xưởng Lancashire sẽ sớm biến thành một chủng tộc người lùn15*. Một sĩ quan tuyển tân binh nói: công nhân công xưởng rất không phù hợp với quân đội, họ gầy và yếu, thường bị các thầy thuốc từ chối (Tufnell, tr. 59). Ở Manchester ông ta khó kiếm được ai cao 5 foot 8 inch, đại đa số chỉ cao 5 foot 6-7 inch, trong khi ở các khu nông nghiệp thì hầu hết tân binh đều cao 5 foot 8 inch.

Do ảnh hưởng của những điều kiện ấy, những nam công nhân mòn mỏi đi rất nhanh. Đại đa số đến 40 tuổi là không còn làm việc được, chỉ vài người có thể kiên trì đến 45 tuổi, hầu như không ai trụ được đến 50 tuổi. Nguyên nhân mất khả năng lao động không chỉ là suy nhược cơ thể, mà còn là thị lực giảm sút; đấy là hậu quả do làm việc với máy mule, ở đó, công nhân phải luôn chăm chú nhìn một hàng dài những sợi nhỏ song song, do đó cặp mắt lúc nào cũng rất căng thẳng. Trong 1600 công nhân làm việc tại các xưởng ở Harpur và Lanark, chỉ 10 người trên 45 tuổi; trong 22.094 công nhân làm việc tại các xưởng ở Stockport và Manchester, chỉ 143 người trên 45 tuổi. Trong 143 người ấy, có 16 người được ở lại công xưởng là do ân huệ đặc biệt, và có một người chỉ làm công việc của trẻ con. Trong một danh sách gồm 131 thợ kéo sợi nam, chỉ có bẩy người trên 45 tuổi, thế mà cả 131 người ấy đi xin việc ở đâu cũng đều bị từ chối vì "quá lớn tuổi". Trong 50 người thợ kéo sợi bị loại ra ở Bolton, chỉ có 2 người quá 50 tuổi, còn thì bình quân chưa quá 40 tuổi, thế mà họ đều thất nghiệp vì tuổi quá cao! Trong một bức thư gửi huân tước Ashley, một chủ xưởng lớn tên là Ashworth đã thừa nhận: những người thợ kéo sợi, tới gần 40 tuổi, là đã không còn kéo được nhiều sợi như qui định, thế nên "có khi" đã bị đuổi; y gọi những công nhân 40 tuổi là "những người già"16*. Trong báo cáo năm 1833, ủy viên của tiểu ban là Mackintosh nói:
"Dù đã biết trẻ em làm việc trong những điều kiện thế nào, và đã chuẩn bị về tư tưởng, nhưng tôi vẫn khó tin số tuổi mà chính những công nhân già nua ấy nói ra, vì họ già sớm quá".

Nhà phẫu thuật Smellie ở Glasgow, chuyên khám bệnh cho công nhân công xưởng, cũng nói rằng với công nhân thì 40 tuổi đã là già (old age) (Stuart, Văn kiện, tr. 101). Ta thấy những bằng chứng tương tự ở Tufnell, Văn kiện, tr. 3, 9, 15 và Hawkins, Báo cáo, tr. 4, Văn kiện, tr. 14, v.v.. Ở Manchester hiện tượng già sớm ấy của công nhân rất phổ biến, hầu như mọi đàn ông bốn mươi tuổi đều già hơn tuổi thực từ mười đến mười lăm tuổi; còn trong những giai cấp khá giả, thì nam hay nữ, chỉ cần họ không uống rượu quá nhiều thì trông vẫn trẻ.

Ảnh hưởng của lao động công xưởng đối với cơ thể phụ nữ cũng rất đặc biệt. Những dị tật do ngày lao động quá dài gây ra ở phụ nữ còn nghiêm trọng hơn ở nam giới: những biến dạng của xương chậu (một phần do vị trí và sự phát triển không bình thường của chính xương chậu, một phần do sự cong vẹo của phần dưới cột sống) thường là do nguyên nhân ấy sinh ra.
Trong báo cáo của bác sĩ Loudon có nói: "Mặc dù bản thân tôi chưa từng thấy trường hợp biến dạng xương chậu nào, hay mấy chứng bệnh khác; nhưng mỗi thầy thuốc đều phải coi những hiện tượng đó có thể là hậu quả của ngày lao động quá dài của trẻ em; điều ấy đã được những bác sĩ có uy tín rất lớn xác nhận".

Nhiều bà đỡ và thầy thuốc sản khoa chứng thực là nữ công nhân công xưởng đẻ khó hơn phụ nữ khác và thường đẻ non (chẳng hạn, bác sĩ Hawkins, Văn kiện, tr. 11, 13). Ngoài ra, nữ công nhân còn mắc chứng thực suy nhược toàn thân, cái đó là phổ biến trong công nhân công xưởng; và khi có thai, họ vẫn làm việc ở công xưởng đến tận lúc đẻ; điều đó hoàn toàn dễ hiểu, vì họ sợ nếu nghỉ sớm thì chỗ làm của họ sẽ bị người khác chiếm lấy, còn họ thì bị sa thải; và nghỉ sớm còn bị mất lương. Việc nữ công nhân tối hôm trước còn làm việc, sáng hôm sau đã đẻ là rất thường thấy; thậm chí đẻ ngay trong xưởng, bên cạnh máy, cũng không phải hiếm. Nếu các ngài tư sản không thấy điều đó có gì ghê gớm, thì có lẽ vợ họ sẽ đồng ý với tôi rằng: gián tiếp bắt một phụ nữ có thai phải làm mỗi ngày 12-13 giờ (trước kia còn nhiều hơn), mà luôn phải đứng và thường phải cúi, cho đến tận ngày đẻ; đó là một việc vô cùng tàn khốc, một hành vi dã man bỉ ổi. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Khi nữ công nhân được nghỉ hai tuần sau khi đẻ, thì họ rất hài lòng, và coi đó là một thời gian nghỉ dài. Nhiều người mới đẻ được một tuần, thậm chí mới 3-4 ngày, đã trở lại công xưởng, làm đủ cả ngày. Có lần tôi nghe chủ xưởng hỏi người đốc công: "Chị ta còn chưa đến à? - Chưa. - Chị ta đẻ được bao lâu rồi? - Một tuần. - Thế thì chị ta lẽ ra phải quay lại từ lâu rồi. Một chị khác trong trường hợp như thế chỉ ở nhà ba ngày". Thật hoàn toàn dễ hiểu: vì sợ bị sa thải, sợ thất nghiệp, nên nữ công nhân buộc phải trở lại công xưởng, dù họ còn yếu và đau; lợi ích của chủ xưởng không cho phép công nhân nghỉ ốm: công nhân không được ốm, nữ công nhân không được phép nghỉ sau khi đẻ; không thì chủ xưởng sẽ phải dừng máy lại, hoặc đầu óc cao quí của hắn sẽ phải mệt nhọc để tìm những biện pháp giải quyết tạm thời; để khỏi phải làm việc đó, hắn sa thải những công nhân nào ốm đau.

Hãy nghe (Cowell, Văn kiện, tr. 77):
"Một cô gái cảm thấy khó chịu trong người, gần như không thể làm việc tiếp. '- Sao cô ta không xin phép về nhà? - Ô! Thưa ông, về việc này "ông chủ" rất nghiêm khắc: chúng tôi chỉ vắng mặt một phần tư ngày là đã có nguy cơ bị đuổi rồi' ".

Và một dẫn chứng khác (Sir D. Barry, Văn kiện, tr. 44): công nhân Thomas McDurt hơi sốt:
"Anh ta không dám ở nhà, nếu có ở nhà thì cũng không dám nghỉ quá bốn ngày, vì sợ mất việc".

Tình hình ở hầu như mọi công xưởng đều như thế. Lao động của những thiếu nữ, đang ở thời kì phát triển cơ thể, còn gây ra nhiều hiện tượng khác thường. Một số người, nhất là những ai được ăn uống khá, vì không khí nóng bức của công xưởng nên lớn nhanh hơn, và một số thiếu nữ 12-14 tuổi đã phát triển hoàn toàn đầy đủ. Trong tờ "North of England Medical and Surgical Journal", Roberton, người mà tôi từng nhắc đến, được "Báo cáo về công xưởng" gọi là thầy thuốc sản khoa "xuất sắc" ở Manchester, nói rằng: ông đã gặp một bé gái mười một tuổi, không những phát triển hoàn toàn đầy đủ, mà còn đã có thai; và con gái mười lăm tuổi đẻ con không phải là hiếm ở Manchester. Ở trường hợp này, sự nóng bức ở công xưởng có tác dụng như khí hậu nhiệt đới; và cũng như ở khí hậu ấy, người ta lớn quá sớm thì tuổi già và sức yếu cũng đến quá sớm. Nhưng cũng thường thấy sự phát triển của cơ thể phụ nữ bị chậm: ngực nở nang muộn hoặc hoàn toàn không có, Cowell dẫn ra những ví dụ như thế ở tr. 35; kinh nguyệt nhiều khi tới 17-18 tuổi, có khi hai mươi tuổi, mới bắt đầu có, thường là hoàn toàn không có (bác sĩ Hawkins, Văn kiện, tr. 11; bác sĩ Loudon, Văn kiện, tr. 14 và các trang khác; Sir D. Barry, Văn kiện, tr. 5 và các trang khác). Kinh nguyệt thường không đều, lại kèm theo chứng đau dữ dội và khó chịu, nhất là chứng thiếu máu rất phổ biến; đó là điều mà tất cả các báo cáo y học đều nhất trí chứng minh.

Những phụ nữ như vậy, đặc biệt là khi đang có thai mà vẫn phải làm việc, không thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh. Theo những báo cáo, nhất là báo cáo về Manchester, thì những đứa trẻ đó đều rất yếu; chỉ một mình Barry cho là chúng khỏe mạnh, nhưng ông cũng nói rằng: ở Scotland, nơi ông kiểm tra, hầu như không có phụ nữ đã kết hôn nào làm việc ở công xưởng; hơn nữa, phần lớn những công xưởng ở đó, trừ khu vực Glasgow ra, thì đều nằm ở nông thôn, điều đó rất tốt cho sức khoẻ của trẻ em. Ở những vùng phụ cận Manchester, hầu hết con công nhân đều trông hồng hào và hớn hở, còn con công nhân ở trong thành phố thì xanh xao và còm cõi. Nhưng đến chín tuổi thì sắc mặt hồng hào đột nhiên biến mất, vì khi ấy trẻ em bị đưa vào công xưởng; chẳng bao lâu sau thì không còn phân biệt được trẻ nông thôn với những trẻ thành phố nữa.

Ngoài ra, trong lao động công xưởng còn có những ngành đặc biệt hại cho sức khỏe. Ví dụ, ở những công xưởng kéo sợi bông và lanh, không khí thường dày đặc bụi xơ; làm cho công nhân, nhất là những ai ở phân xưởng chải và phân xưởng chải xơ, dễ mắc bệnh phổi. Một số người chịu được thứ bụi xơ ấy, một số thì không. Nhưng công nhân không được lựa chọn, anh ta tìm được việc ở bộ phận nào thì phải ở đấy, bất kể điều đó có tốt cho phổi của anh hay không. Hít thứ bụi ấy vào phổi thì có những hậu quả phổ biến là khạc ra máu, khó thở, thở khò khè, đau ngực, ho, mất ngủ, tóm lại là các triệu chứng của bệnh hen; nặng nhất thì biến thành bệnh lao (xem Stuart, tr. 13, 70, 101; Mackintosh, tr. 24 và các trang khác; Báo cáo của Power về Nottingham và Leeds; Cowell, tr. 33 và các trang khác; Barry, tr. 12: năm trường hợp trong một công xưởng, tr. 17, 44, 52, 60 và các trang khác, và trong báo cáo của ông; Loudon, tr. 13, v.v. và v.v.). Đặc biệt có hại là việc kéo sợi lanh bằng phương pháp ẩm, do thiếu nữ và trẻ em làm. Nước từ các ống sợi bắn vào người họ, nên quần áo họ lúc nào cũng ướt đẫm ở mặt trước, và mặt đất lúc nào cũng đọng nước. Ở các phân xưởng sợi của công xưởng kéo sợi bông thì cũng thế, dù ở mức độ nhẹ hơn, và hậu quả là cảm mạo thường xuyên và bệnh phổi. Giọng khàn khàn, the thé là đặc điểm chung cho tất cả công nhân công xưởng, nhưng nặng nhất là thợ kéo sợi bằng phương pháp ẩm và thợ đấu sợi. Stuart, Mackintosh và Sir D. Barry đều dùng những lời gay gắt nhất để nói về tác hại của loại công việc ấy, cũng như việc hầu hết chủ xưởng không quan tâm tới sức khỏe của những thiếu nữ thực hiện công việc đó. Một hậu quả khác của việc kéo sợi lanh là việc vai biến dạng đặc biệt, xương bả vai bên phải nhô ra trước, do bản chất của công việc ấy gây ra. Việc kéo sợi lanh cũng giống như việc kéo sợi bông với máy sợi con, thường gây nên các bệnh ở xương bánh chè, vì phải dùng đầu gối để giữ các cọc sợi khi nối sợi đứt. Làm hai loại công việc ấy, công nhân phải luôn cúi xuống, và máy lại đặt quá thấp, nên cơ thể phát triển không đầy đủ. Tôi từng làm trong một công xưởng sợi bông ở Manchester, theo tôi nhớ thì trong các phân xưởng dùng máy sợi con, không một cô gái nào có vóc người cao và cân đối; họ đều thấp bé, cằn cỗi, thân hình rất khó coi. Ngoài những bệnh và dị tật ấy, công nhân còn bị những thương tổn khác nữa. Làm việc cùng máy móc thường gây ra nhiều tai nạn ít nhiều nghiêm trọng, kết quả là công nhân ít nhiều mất năng lực lao động. Thường gặp nhất là bị mất một đốt ngón tay, trường hợp cả ngón tay, cả bàn tay hoặc cả cánh tay bị bánh xe nghiến nát thì ít thấy hơn. Sau khi bị thương, kể cả với vết thương nhẹ, người ta thường chết vì bị uốn ván. Ở Manchester, ngoài những người bị dị tật, ta còn thấy một số rất lớn người cụt chân tay; người này mất một nửa hoặc cả cánh tay, người kia mất một bàn chân, người khác mất một nửa chân; cứ như là sống giữa một toán thương binh từ chiến trận trở về. Nhưng chỗ nguy hiểm nhất trên máy là những dây cua-roa truyền động lực từ trục đến các máy, nhất là khi chúng có những khóa nối, nhưng bây giờ đã ít có. Ai bị dây cua-roa ngoắc phải thì trong nháy mắt đã bị kéo đi, bị quật lên trần nhà hoặc xuống sàn nhà, với một lực mạnh đến nỗi hầu như chẳng còn cái xương nào nguyên vẹn, và chết ngay lập tức. Từ 12 tháng Sáu đến 3 tháng Tám 1844, tờ "Manchester Guardian" đã đưa tin về những tai nạn nghiêm trọng như sau (những tai nạn nhẹ thì báo không nói đến): 12 tháng Sáu, một em trai ở Manchester bị máy nghiến nát một cánh tay, rồi chết vì bị uốn ván; 15 tháng Sáu, một thiếu niên ở Saddleworth bị bánh xe cuốn đi rồi đập chết, thi thể nát vụn; 29 tháng Sáu, ở gần Manchester, một thanh niên làm trong xưởng chế tạo máy ở Green Acres Moor, bị rơi xuống một phiến đá mài, gãy hai xương sườn và bị thương nặng toàn thân; 24 tháng Bảy, một thiếu nữ ở Oldham chết vì bị dây cua-roa cuốn đi năm mươi vòng, không còn cái xương nào nguyên vẹn; 27 tháng Bảy, một cô gái ở Manchester ngã vào máy bật bông (cái máy đầu tiên nhận bông thô), bị thương và chết; 3 tháng Tám, một công nhân tiện ống chỉ ở Dukinfield chết vì bị dây cua-roa cuốn, gãy hết các xương sườn. Chỉ trong năm 1843, số người bị thương và tàn tật do máy gây ra, đến điều trị ở bệnh viện Manchester là 962, còn số người bị các tai nạn khác điều trị ở bệnh viện là 2426; vậy là cứ năm tai nạn do những nguyên nhân khác gây nên, thì có hai tai nạn do máy. Đó là chưa kể các tai nạn xảy ra ở Salford, và những người được thầy thuốc tư điều trị. Khi bị tai nạn, nếu nạn nhân không mất năng lực lao động, chủ xưởng cùng lắm cũng chỉ trả tiền cho thầy thuốc; trong khi điều trị mà vẫn có lương thì rất hiếm; nếu công nhân không còn làm việc được, thì chủ xưởng cũng không quan tâm đến việc công nhân ấy sau này sẽ ra sao.

Về vấn đề này, báo cáo về công xưởng nói: trong bất kì trường hợp nào, chủ xưởng vẫn phải chịu trách nhiệm; bởi vì trẻ em không biết giữ gìn bản thân, còn người lớn thì đã tự biết đề phòng vì lợi ích của họ. Nhưng báo cáo ấy là do những người tư sản viết, nên họ không tránh khỏi việc tự mâu thuẫn, để rồi lại tung ra những câu vô nghĩa đủ loại, nói về "sơ suất đáng trách" (culpable temerity) của công nhân. Nói thế cũng chẳng thay đổi được gì. Thực chất của sự việc là thế này: nếu trẻ em không thể giữ gìn bản thân thì phải cấm việc thuê trẻ em lao động; nếu người lớn thường không giữ gìn cẩn thận, thì hoặc là họ cũng giống trẻ con, tức là trình độ nhận thức của họ còn thấp, nên họ không hoàn toàn hiểu được mối nguy hiểm; ai phải chịu trách nhiệm về việc đó, nếu không phải là giai cấp tư sản, kẻ đã đặt họ vào hoàn cảnh không thể học tập và phát triển? Hoặc là tại máy móc được xếp đặt không tốt, lẽ ra phải có thêm rào chắn hay lan can quanh máy, đó cũng là trách nhiệm của giai cấp tư sản; hoặc là có những động cơ khác chi phối công nhân còn mãnh liệt hơn cả mối đe dọa của những nguy hiểm đó: vì muốn kiếm thêm ít tiền, anh ta phải làm vội và không có thì giờ để cẩn thận, v.v.; cả ở trường hợp ấy, giai cấp tư sản vẫn phải chịu trách nhiệm. Nhiều tai nạn xảy ra do công nhân lau chùi máy khi máy còn chạy. Tại sao? Vì người tư sản bắt công nhân lau chùi máy trong giờ nghỉ, khi máy dừng chạy, còn công nhân tất nhiên là không muốn cắt xén chút thời gian nghỉ nào của họ. Đối với anh ta mỗi giờ nghỉ đều quý báu, đến nỗi anh ta thà liều mạng mỗi tuần hai lần, chứ không muốn hi sinh giờ nghỉ ấy cho người tư sản. Nếu chủ xưởng dành một phần thời gian lao động để lau chùi máy, thì sẽ không có công nhân nào phải làm việc đó khi máy đang chạy. Tóm lại, trong mọi trường hợp tai nạn, phân tích đến cùng thì trách nhiệm vẫn thuộc về chủ xưởng; ít ra cũng phải đòi họ chu cấp suốt đời cho công nhân mất sức lao động, với trường hợp công nhân bị chết thì phải chu cấp cho gia đình nạn nhân. Ở buổi đầu của thời kì phát triển công nghiệp, tỉ lệ tai nạn còn cao hơn ngày nay nhiều, vì hồi đó máy móc xấu hơn, nhỏ hơn, đặt sát nhau hơn, và hầu như không có gì che chắn. Nhưng, như những tài liệu nói trên đã chứng tỏ, số tai nạn hiện nay vẫn rất nhiều, khiến người ta phải suy nghĩ một cách nghiêm túc về sự thật là: chỉ vì lợi ích của một giai cấp, mà bao nhiêu người đã bị dị tật hoặc tàn phế; và bao nhiêu công nhân cần cù đã phải chịu đói khổ, vì một tai nạn xảy ra trong khi phục vụ giai cấp tư sản, và lại do tội lỗi của giai cấp ấy.

Lòng tham bỉ ổi của giai cấp tư sản đã tạo nên bao nhiêu bệnh tật! Phụ nữ mất khả năng sinh đẻ, trẻ con tàn tật, đàn ông yếu đuối xanh xao, bao con người bị vắt kiệt, toàn bộ nhiều thế hệ bị tàn phá, bệnh tật và ốm yếu; chỉ để giai cấp tư sản nhét cho đầy túi! Và khi đọc đến từng việc tàn bạo dã man, như trẻ em bị đốc công kéo dậy từ trên giường, thân thể trần truồng, tay cầm quần áo, bị đẩy vào công xưởng bằng đấm đá (ví dụ: Stuart, tr. 39 và các trang khác); và giấc ngủ của bọn trẻ bị đập tan bằng những quả đấm như thế nào; trong khi làm việc chúng lại gục xuống ngủ như thế nào; một đứa trẻ đáng thương đã thiếp đi, ngay khi máy vừa dừng chạy, bị đốc công quát gọi, nó giật mình tỉnh dậy, cứ nhắm mắt mà lặp lại những thao tác thường ngày; khi đọc thấy những đứa trẻ kiệt sức đến nỗi không đi về nhà được, nấp trốn dưới đống len trong phòng sấy mà ngủ, và phải dùng đến roi da thì mới đuổi được chúng ra khỏi xưởng; khi thấy hàng trăm đứa trẻ, hàng ngày về tới nhà là mệt, buồn ngủ và chán ăn, đến nỗi không nuốt nổi bữa tối, và cha mẹ chúng thấy chúng thiếp đi khi đang quì trước giường để cầu nguyện; khi đọc thấy tất cả những điều ấy, và hàng trăm sự việc đê tiện ghê gớm khác, trong một báo cáo mà mọi bằng chứng đều được đưa ra có tuyên thệ, và được xác nhận bởi nhiều nhân chứng, mà chính các ủy viên đã thừa nhận là đáng tin; khi nhớ rằng đó là một báo cáo của "Đảng tự do", một báo cáo của giai cấp tư sản, để bác bỏ báo cáo trước đó của đảng Tory, và chứng minh tấm lòng trong sạch của các chủ xưởng; khi nhớ rằng chính những ủy viên tiểu ban đều đứng về phía giai cấp tư sản, họ bất đắc dĩ phải ghi lại tất cả những chứng cớ ấy; thì lẽ nào lại không tức giận và căm thù cái giai cấp tự vỗ ngực là từ bi và vị tha, mà thực ra chỉ có một khát vọng, là nhét đầy túi à tout prix17. Nhưng bây giờ hãy nghe chính giai cấp tư sản nói, qua cái mồm của tên đầy tớ mà họ đã cử ra: bác sĩ Ure.

Trong cuốn "Triết học về công xưởng", tr. 277 và các trang sau, ông ta viết: có người nói với công nhân rằng tiền lương của họ không tương xứng với sự hi sinh của họ, như thế là người ta đã phá hoại quan hệ tốt giữa chủ và thợ. Lẽ ra công nhân nên cố gắng biểu hiện sự chăm chỉ và tận tụy với công việc của mình, nên vui mừng đối với những thành công của chủ, như vậy họ có thể trở thành đốc công, quản lí, cuối cùng thậm chí có thể trở thành cổ đông, do đó (ôi! Thật khôn khéo, nói ngây thơ như chim bồ câu gù gù vậy!) "họ sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường về nhân công"! "Nếu không có các gián đoạn và xung đột quá khích, do quan điểm sai lầm của công nhân gây ra, thì chế độ công xưởng còn phát triển mau chóng và hữu ích hơn nữa". Sau đó là một đoạn ca thán dài về sự bướng bỉnh của công nhân, và khi nói đến một cuộc bãi công của những công nhân lương cao nhất, công nhân kéo sợi nhỏ, thì ông ta thốt ra những câu ngây thơ như sau:
"Đúng, chính tiền lương cao của họ đã khiến họ có thể duy trì một ủy ban được trả lương, và đã nuông chiều họ, làm cho họ mắc chứng căng thẳng thần kinh, do ăn uống quá tẩm bổ và quá kích thích đối với loại công việc của họ!" (tr. 298).

Hãy nghe tay tư sản ấy mô tả lao động của trẻ em:
"Trong nhiều tháng, tôi đã tham quan nhiều công xưởng ở Manchester và vùng phụ cận, đã đột xuất tới thăm nhiều xưởng kéo sợi, ở nhiều thời điểm trong ngày, lại thường đi một mình; và tôi chưa từng thấy một đứa trẻ bị ngược đãi, bị nhục hình hay tâm lí không tốt. Tất cả chúng đều vui vẻ (cheerful), nhanh nhẹn, thấy thích thú (taking pleasure) với sự hoạt động nhẹ nhàng của cơ bắp, và có đầy đủ tính hoạt bát tự nhiên của lứa tuổi chúng. Cảnh tượng sản xuất không gây ra trong lòng tôi chút cảm giác buồn rầu nào; trái lại, nó luôn làm cho tôi thấy phấn chấn. Nhìn chúng nối sợi đứt nhanh như thế nào mỗi khi bộ ống sợi lùi lại, và sau khi cho các ngón tay nhỏ nhắn của mình hoạt động trong vài giây, chúng đã đùa nghịch với mọi tư thế trong mấy giây rỗi rãi, đến khi công việc lên sợi hay tháo chỉ lại sẵn sàng; cảnh tượng ấy thật khiến người ta khoan khoái (delightful). Công việc của những chú bé hoạt bát (lively) ấy trông như một thứ trò chơi, vì đã quen nên chúng làm rất dễ dàng và khéo léo. Chính chúng cũng có ý thức về sự khéo léo của mình, và rất thích khoe ra cho người ta thấy. Không hề có dấu vết của sự mệt mỏi do làm việc, vì cứ ra khỏi xưởng là chúng chơi đùa nhảy nhót trên một sân chơi gần nhất, như là những đứa trẻ vừa tan học" (tr.310).

Đương nhiên rồi! Cứ như là vận động bắp thịt một chút không phải là nhu cầu bức thiết của một cơ thể đã bị công việc làm cho cứng đờ và mệt lử! Nhưng lẽ ra tác giả nên chờ một chút, xem sự kích thích trong chốc lát ấy có mất đi ngay chỉ sau mấy phút hay không. Hơn nữa, ông ta chỉ có thể nhìn thấy thế vào buổi trưa, đó là khi các em mới làm việc được 5-6 giờ, chứ không phải là vào buổi tối! Còn về sức khỏe của công nhân, thì tay tư sản ấy, vì muốn chứng minh là tình hình rất tốt, nên đã viện đến, theo một cách hết sức trơ trẽn, báo cáo năm 1833, cái báo cáo mà tôi đã trích dẫn cả nghìn lần. Ông ta lấy vài câu đã bị cắt xén và tách riêng ra, để cố chứng tỏ rằng trong công nhân không có dấu vết nào của bệnh tràng nhạc, và chế độ công xưởng làm cho công nhân tránh khỏi các bệnh cấp tính (cái đó thì đúng, nhưng thay vào đó, chế độ công xưởng lại đem đến cho công nhân các bệnh kinh niên, về điểm này thì đương nhiên là tác giả im lặng). Để hiểu xem ngài Ure đáng kính của chúng ta đã nói dối công chúng Anh một cách vô sỉ như thế nào, thì nên biết là báo cáo này gồm có ba quyển dày khổ lớn, và một người tư sản Anh bụng phệ thì không bao giờ nghĩ đến việc nghiên cứu nó cẩn thận. Hãy nghe ý kiến của ông ta về đạo luật công xưởng, do phái tư sản tự do công bố năm 1833; mà sau đây ta sẽ thấy, đạo luật ấy chỉ bắt chủ xưởng chịu những hạn chế nhỏ nhất. Thế mà với ông ta thì đạo luật ấy, nhất là điều khoản phổ cập giáo dục, là một biện pháp phi lí và độc đoán, chống lại chủ xưởng. Ngài Ure nói: đạo luật ấy đã đuổi tất cả trẻ em dưới 12 tuổi ra đường, và kết quả là gì? Bị gạt khỏi những công việc nhẹ nhàng và bổ ích, các em bây giờ không được tiếp thu một sự giáo dục nào; bị đuổi từ xưởng kéo sợi ấm áp ra ngoài thế giới lạnh giá, chúng chỉ sống được nhờ ăn xin và ăn cắp; cuộc sống ấy thực là bi thảm, ngược với tình cảnh không ngừng được cải thiện của chúng ở công xưởng và trường học chủ nhật! Đạo luật ấy, dưới cái mặt nạ bác ái, đã làm tăng nỗi đau khổ của người nghèo; và nếu không làm đình trệ hoàn toàn, thì nó cũng gây trở ngại rất lớn cho công việc hữu ích của những chủ xưởng tốt bụng (tr. 404, 406 và các trang sau).

Những tác dụng tai hại của chế độ công xưởng đã được người ta chú ý từ lâu. Ta từng nói đến đạo luật về thợ học việc năm 1802. Sau đó, khoảng năm 1817, một chủ xưởng ở New Lanark (Scotland) là Robert Owen, về sau trở thành người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội Anh, đã bắt đầu gửi những đơn thỉnh nguyện và bản điều trần, kêu gọi chính phủ dùng pháp luật để bảo vệ sức khỏe của công nhân, nhất là trẻ em. Sir Robert Peel đã quá cố, và nhiều nhà từ thiện khác, đã ủng hộ ông; họ lần lượt đòi chính phủ thông qua những đạo luật về công xưởng năm 1819, 1825 và 1831; hai đạo luật trước về cơ bản là không có ai tuân thủ, đạo luật thứ ba thì người ta chỉ tuân thủ phần nào. Đạo luật năm 1831, theo đề nghị của Sir J. C. Hobhouse, đã cấm các xưởng bông sử dụng công nhân dưới 21 tuổi làm việc đêm từ bảy giờ rưỡi tối đến năm giờ rưỡi sáng, ngoài ra còn qui định: trong bất kì công xưởng nào, thời gian làm việc của công nhân dưới 18 tuổi là không quá 12 giờ mỗi ngày, riêng thứ bẩy là không quá 9 giờ. Nhưng công nhân, vì sợ bị sa thải, nên không dám ra làm chứng chống lại chủ của mình; thế là đạo luật ấy không giúp công nhân được bao nhiêu. Trong những thành phố lớn, công nhân khó bảo hơn, thì các chủ xưởng lớn đã thống nhất tuân thủ đạo luật này; nhưng ở đó cũng có không ít người, hệt như những chủ xưởng ở nông thôn, không bận tâm đến luật đó. Bấy giờ, trong công nhân, đã có phong trào đòi dự luật mười giờ, tức là một đạo luật qui định thời gian lao động của công nhân dưới 18 tuổi là không quá 10 giờ mỗi ngày. Các công liên đã tuyên truyền để yêu cầu ấy trở thành yêu cầu phổ biến của toàn thể cư dân công xưởng, còn phái bác ái của đảng Tory, hồi ấy do Michael Sadler cầm đầu, đã nắm lấy kế hoạch ấy và đưa ra thảo luận ở Nghị viện. Sadler đã đạt được mục đích, là cử một tiểu ban của Nghị viện đi điều tra về chế độ công xưởng; tiểu ban này đã trình báo cáo trong kì họp Nghị viện năm 1832. Báo cáo ấy có tính thiên vị rõ rệt, do những kẻ thù công khai của chế độ công xưởng thảo ra, để phục vụ lợi ích bè phái. Sadler đã để nhiệt tình cao quí của mình dẫn dắt tới những nhận định rất sai lạc và bị xuyên tạc đi quá nhiều; do cách đặt vấn đề của bản thân, nên từ những nhân chứng, ông đã rút ra các câu trả lời dù là xác thực, nhưng sự thực ấy đã bị xuyên tạc và bóp méo. Các chủ xưởng thì điên tiết, vì báo cáo đã mô tả họ như những con ác quỉ, liền yêu cầu một cuộc điều tra chính thức; họ hiểu rằng một báo cáo chân thực lúc này chỉ có lợi cho họ, họ biết là đảng Whig, lúc đó đang cầm quyền, bao gồm những người tư sản thực thụ, có quan hệ tốt với họ, và có nguyên tắc là phản đối sự hạn chế công nghiệp. Quả nhiên, họ đã có được một tiểu ban hoàn toàn gồm những người tư sản tự do, báo cáo của tiểu ban này chính là báo cáo mà tôi thường trích dẫn. Báo cáo ấy gần với sự thật hơn một chút, so với báo cáo của tiểu ban Sadler, nhưng lại xa rời sự thật theo hướng ngược lại. Trang nào cũng tỏ ý đồng tình với chủ xưởng, nghi ngờ báo cáo của Sadler; thù ghét những hành động độc lập của công nhân, cũng như những ai ủng hộ dự luật mười giờ. Không chỗ nào thừa nhận công nhân có quyền sống một cuộc sống của con người, có quyền hoạt động độc lập, và quyền có quan điểm riêng. Nó trách công nhân rằng: khi tuyên truyền cho dự luật mười giờ, họ không chỉ nghĩ cho con em họ, mà còn cho bản thân họ; nó gọi những công nhân tuyên truyền là mị dân, nham hiểm, có ác ý, v.v.; tóm lại, nó đứng về phía giai cấp tư sản. Nhưng báo cáo ấy vẫn không thể bào chữa cho chủ xưởng, nó cũng phải thú nhận là có rất nhiều việc xấu xa do bọn họ gây ra; thậm chí xem báo cáo ấy thì thấy rằng: việc cổ động cho dự luật mười giờ, sự oán hận của công nhân đối với chủ xưởng, và những lời nặng nề nhất mà tiểu ban Sadler dành cho họ, đều là hoàn toàn chính đáng. Sự khác nhau chỉ là: báo cáo của Sadler lên án bọn chủ xưởng về những hành động tàn khốc công khai, không che đậy; còn báo cáo này lại cho thấy rằng những hành động ấy thường được che đậy bằng cái mặt nạ văn minh và nhân đạo. Ví dụ bác sĩ Hawkins, ủy viên điều tra về y tế ở Lancashire, đã kiên quyết ủng hộ dự luật mười giờ ngay từ mấy dòng đầu trong báo cáo của ông! Ủy viên Mackintosh nói: báo cáo của ông chưa phải là toàn bộ sự thực, vì rất khó thuyết phục công nhân ra làm chứng chống lại chủ; vả lại, các chủ xưởng, do sự đấu tranh của công nhân, đã buộc phải nhượng bộ nhiều hơn; khi bị kiểm tra, họ thường đã có chuẩn bị: cho quét dọn công xưởng, cho máy chạy chậm lại, v.v. Đặc biệt ở Lancashire, họ dùng kế này: đưa bọn đốc công giả làm "công nhân" ra trước tiểu ban, để chúng "chứng thực" về lòng nhân đạo của chủ xưởng, ảnh hưởng tốt của lao động đối với sức khỏe, sự thờ ơ, thậm chí là chán ghét, của công nhân đối với dự luật mười giờ. Nhưng chúng không còn là công nhân thực sự nữa, mà là những kẻ đã phản bội giai cấp mình, đã vì chút lương cao mà phục vụ giai cấp tư sản, đã chống lại công nhân để bảo vệ lợi ích của bọn tư bản. Lợi ích của chúng cũng là lợi ích của giai cấp tư sản, thế nên chúng bị công nhân căm ghét hơn cả chủ xưởng. Dù vậy, báo cáo ấy vẫn nói lên, một cách hoàn toàn đầy đủ, sự tàn bạo đến vô sỉ của giai cấp tư sản công nghiệp đối với công nhân; và sự bỉ ổi của chế độ bóc lột công nghiệp, với tất cả tính vô nhân đạo của nó. Còn gì đáng phẫn nộ hơn khi so sánh hai điều: một bên là bao nhiêu bệnh tật do lao động quá sức gây ra, như báo cáo đã nêu; bên kia là thứ kinh tế chính trị lạnh lùng, chi li của bọn chủ xưởng, những kẻ đó cố dùng những con số ấy để chứng minh rằng: nếu không cho phép họ mỗi năm biến hàng loạt trẻ em thành tàn tật, thì cả nước Anh sẽ phải cùng phá sản với họ! Có lẽ chỉ những lời bậy bạ vô sỉ của Ure, mà tôi đã trích dẫn, mới có thể làm cho người ta phẫn nộ hơn, nếu những lời ấy không lố bịch đến thế.

Kết quả của báo cáo ấy là đạo luật về công xưởng năm 1833, cấm thuê trẻ con dưới 9 tuổi làm việc (trừ những xưởng lụa); qui định thời gian lao động: với trẻ 9-13 tuổi là 48 giờ mỗi tuần và không quá 9 giờ mỗi ngày, với thiếu niên 14-18 tuổi là 69 giờ mỗi tuần và không quá 12 giờ mỗi ngày; mỗi ngày phải có ít nhất là một giờ rưỡi để nghỉ ăn uống; cấm thuê công nhân dưới 18 tuổi làm đêm. Đạo luật ấy cũng bắt tất cả trẻ em dưới 14 tuổi phải đi học hai giờ mỗi ngày, chủ xưởng sẽ bị phạt nếu thuê những trẻ chưa có giấy chứng nhận đi học do giáo viên cấp, và giấy chứng nhận tuổi do bác sĩ cấp. Đổi lại, chủ xưởng có quyền lấy 1 penny từ lương hàng tuần của trẻ để trả cho giáo viên. Ngoài ra còn có những thầy thuốc và thanh tra công xưởng, họ có quyền vào công xưởng bất kì lúc nào, để nghe công nhân tuyên thệ và làm chứng; họ có trách nhiệm truy tố những chủ xưởng phạm luật trước tòa án hòa giải. Đó là đạo luật mà bác sĩ Ure đã đả kích không tiếc lời!

Nhờ đạo luật ấy, đặc biệt là việc bổ nhiệm các thanh tra, nên ngày lao động bình quân chỉ còn 12-13 giờ, và trẻ em đã được thay bằng người lớn trong phạm vi có thể. Vì thế mà những sự việc kinh sợ nhất đã hầu như hoàn toàn biến mất, dị tật chỉ còn xảy ra trên những cơ thể hết sức yếu, và những hậu quả của lao động công xưởng nói chung đã bớt lộ liễu. Dù vậy, trong báo cáo về công xưởng, vẫn có đủ chứng cớ nói lên rằng: cả trong những công xưởng và ở những công nhân làm việc 12-13 giờ mỗi ngày, theo qui định trong đạo luật của ngài J. C. Hobhouse, vẫn luôn xuất hiện những chứng bệnh không nặng lắm: sưng mắt cá; yếu và đau ở chân, hông và cột sống; giãn tĩnh mạch; lở loét ở chân tay; toàn thân suy nhược, đặc biệt là vùng bụng; nôn ọe, chán ăn, có khi lại đói cồn cào, khó tiêu; chứng u uất; các bệnh phổi, do bụi và không khí xấu của công xưởng gây ra, v.v. và v.v. Về mặt này, nên chú ý đặc biệt tới những báo cáo ở Glasgow và Manchester. Những bệnh ấy vẫn còn sau khi có đạo luật năm 1833, và đến nay chúng vẫn tiếp tục phá hoại sức khỏe của giai cấp công nhân. Người ta chỉ quan tâm đến việc khoác một cái áo văn minh giả nhân giả nghĩa, lên lòng tham lợi nhuận thô bỉ của giai cấp tư sản; dùng luật pháp để không cho chủ xưởng gây ra những việc tệ hại quá lộ liễu, giúp họ có thêm lí do để lừa bịp và tự mãn về cái chủ nghĩa nhân đạo giả dối của họ, thế thôi. Nếu ngày nay lại cử một tiểu ban mới để điều tra về công xưởng, thì họ sẽ thấy tình hình phần lớn vẫn như xưa. Còn việc phổ cập giáo dục, mà đạo luật đề ra nhưng không có chuẩn bị trước, thì chưa có tác dụng, vì chính phủ không đồng thời nghĩ cách xây dựng những trường tốt. Các chủ xưởng thuê vài công nhân mất năng lực lao động làm giáo viên, trông coi lũ trẻ hai giờ mỗi ngày, cho rằng thế là đúng theo pháp luật; nhưng bọn trẻ không học được gì. Ngay cả những báo cáo của các thanh tra công xưởng, dù chỉ hạn chế ở mức thi hành phận sự, tức là kiểm tra xem chủ xưởng có tuân theo đạo luật về công xưởng hay không; cũng đưa ra đủ tài liệu để chứng tỏ rằng, những điều tệ hại nói trên vẫn tiếp tục tồn tại, như một tất yếu. Các thanh tra Horner và Saunders, trong những báo cáo tháng Mười và tháng Chạp 1843 của họ, nói rằng: trong các ngành không dùng trẻ em hoặc có thể thay chúng bằng người lớn thất nghiệp, nhiều chủ xưởng vẫn bắt công nhân làm mỗi ngày 14-16 giờ, và hơn nữa. Trong số công nhân của các ngành ấy, có rất nhiều người chỉ vừa mới vượt quá tuổi được pháp luật bảo hộ. Nhiều chủ xưởng khác cố ý phạm luật: họ rút ngắn giờ nghỉ, bắt trẻ em làm việc quá thời gian pháp luật cho phép, sẵn sàng ra tòa chịu phạt, vì tiền phạt chẳng đáng là bao so với món lợi mà họ thu được từ việc phạm luật đó. Nhất là hiện tại, khi đang kinh doanh rất tốt, thì chủ xưởng càng bị cám dỗ mạnh.

Nhưng việc cổ động cho dự luật mười giờ trong công nhân không dừng lại. Năm 1839, việc ấy lại trở nên sôi nổi, khi huân tước Ashley thay Sadler đã quá cố ở Hạ viện, và ở ngoài Nghị viện là Richard Oastler, hai người đều thuộc đảng Tory. Nhất là Oastler luôn cổ động trong những khu công nhân, đã nổi tiếng từ khi Sadler còn sống, và được công nhân đặc biệt yêu mến. Họ gọi ông là "ông vua già tốt bụng" của họ, "ông vua của trẻ em công xưởng"; ở trong tất cả các khu công xưởng, đứa trẻ nào cũng biết ông, cũng kính trọng ông, và chúng luôn tham gia đoàn người chào đón ông, mỗi khi ông đến một thành phố. Oastler kiên quyết phản đối đạo luật mới về người nghèo; do đó, ông bị một người của đảng Whig tên là Thornhill đưa vào nhà tù nợ, vì ông từng làm quản lí ở trang trại của hắn, và nợ hắn một món tiền. Người của đảng Whig đã nhiều lần nói là sẽ trả nợ và bảo lãnh cho ông, chỉ cần ông đừng công kích đạo luật về người nghèo nữa. Nhưng vô ích! Ông cứ ở tù, và hàng tuần còn phát hành những tờ "Fleet Papers"18 chống chế độ công xưởng và đạo luật về người nghèo.

Chính phủ của đảng Tory, lên nắm quyền năm 1841, lại chú ý đến các đạo luật về công xưởng. Bộ trưởng Nội vụ, Sir James Graham, năm 1843 đã đưa ra một dự luật giảm ngày lao động của trẻ em xuống 6 giờ rưỡi, và tăng cường phổ cập giáo dục; điểm chủ yếu của dự luật này là yêu cầu lập những trường học tốt hơn. Tuy nhiên, dự luật ấy không được thông qua do sự cuồng tín của những người biệt giáo (những người phản đối giáo hội Anh): dù việc phổ cập giáo dục không bắt con em những người biệt giáo phải học chương trình giáo dục tôn giáo, nhưng nhà trường lại chịu sự kiểm soát của giáo hội chính thức, và vì kinh thánh là sách đọc cho mọi người, nên tôn giáo đã trở thành cơ sở của toàn bộ nền giáo dục; và những người biệt giáo thấy đó là nguy hiểm cho mình. Bọn chủ xưởng, nói chung là người của Đảng tự do, đều ủng hộ họ; công nhân thì bất lực vì bị chia rẽ về vấn đề giáo hội. Phe phản đối dự luật, dù không được ủng hộ ở những thành phố công xưởng lớn như Salford và Stockport; dù ở những thành phố khác như Manchester, vì sợ công nhân phản đối, nên họ chỉ công kích vài điểm của dự luật; nhưng họ vẫn thu được gần hai triệu chữ kí ủng hộ, đủ để ép Graham phải rút lại dự luật. Năm sau, Graham đã bỏ đi những điều khoản về nhà trường, và thay cho các ý kiến trước kia, ông chỉ đề nghị giảm thời gian lao động của trẻ 8-13 tuổi xuống mỗi ngày 6 giờ rưỡi, để cho chúng hoàn toàn nghỉ cả buổi sáng hoặc buổi chiều; giảm ngày lao động của thiếu niên 13-18 tuổi và toàn bộ nữ công nhân xuống 12 giờ; ngoài ra, ông còn đề nghị áp dụng một số hạn chế, để chủ xưởng không thể thực hiện những trò lách luật, mà trước nay thường xảy ra. Ông vừa đưa ra dự thảo ấy, thì việc cổ động cho dự luật mười giờ lại lên cao hơn bao giờ hết. Oastler, được bạn bè giúp đỡ và công nhân quyên góp, đã trả hết nợ và được ra tù; ông dốc toàn lực vào phong trào ấy. Số người ủng hộ dự luật mười giờ ở Hạ viện tăng lên, hàng loạt đơn thỉnh nguyện từ khắp nơi gửi về, đã đem đến cho dự luật sự ủng hộ mới. Ngày 19 tháng Ba 1844, với đa số là 179/170 phiếu, huân tước Ashley đã thành công với việc thông qua một nghị quyết qui định rằng: từ "đêm" trong đạo luật về công xưởng có nghĩa là "từ sáu giờ chiều tới sáu giờ sáng hôm sau"; vậy, việc cấm làm đêm cũng có nghĩa là ngày lao động không thể vượt quá mười hai giờ, tính cả giờ nghỉ; và thực tế chỉ là mười giờ, nếu không tính giờ nghỉ. Nhưng Nội các không đồng ý như vậy. Sir James Graham liền dọa từ chức khỏi Nội các, và trong lần biểu quyết sau đó về một điều khoản của dự luật, Hạ viện, với đa số rất nhỏ, đã bác bỏ cả ngày lao động mười giờ lẫn ngày lao động mười hai giờ! Graham và Peel liền tuyên bố là sẽ đưa ra một dự luật mới, nếu lại không được thông qua thì hai ông sẽ từ chức. Đó vốn là bản dự luật mười hai giờ cũ, chỉ sửa đổi hình thức một chút; và chính cái Hạ viện ấy, hồi tháng Ba đã bác bỏ những điểm chính của dự luật, thì bây giờ, vào tháng Năm, lại thông qua nó, với nguyên văn không thay đổi tí gì! Lí do là đa số những người ủng hộ dự luật mười giờ đều thuộc đảng Tory, họ thà để dự luật đổ chứ không muốn Nội các đổ. Nhưng vô luận vì cớ gì, việc biểu quyết tiền hậu bất nhất ấy của Hạ viện đã làm cho nó bị công nhân khinh rẻ hết mức, và chủ trương cần cải tổ Hạ viện của phái Hiến chương đã được chứng minh rõ rệt. Ba hạ nghị sĩ, trước kia bỏ phiếu phản đối Nội các, sau đó lại ủng hộ nó, vì thế mà đã cứu vãn được nó. Trong mọi lần bỏ phiếu, đa số trong phái đối lập đều ủng hộ Nội các, còn hầu hết những ai thuộc đảng cầm quyền thì lại phản đối Nội các19*. Vậy là đề nghị trước kia của Graham về ngày lao động 6 giờ rưỡi cho trẻ em, và 12 giờ cho các loại công nhân khác, đã có hiệu lực pháp lí; do đó, và do các hạn chế về việc bắt công nhân làm thêm để bù vào những trường hợp chậm trễ (hỏng máy, hoặc nước đóng băng, hoặc vì hạn hán mà không có đủ nước), cùng với vài hạn chế nhỏ khác, nên ngày lao động hầu như không thể dài quá 12 giờ. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì nữa, trong tương lai rất gần, dự luật mười giờ sẽ được thông qua. Đương nhiên là hầu hết các chủ xưởng phản đối nó, chưa chắc đã tìm nổi mười người ủng hộ trong số họ; họ dùng mọi thủ đoạn, bất kể chính đáng hay không, để chống lại dự luật đáng ghét ấy; nhưng điều đó chẳng giúp ích gì cho họ, mà chỉ đào sâu thêm lòng căm thù của công nhân đối với họ. Dù gì thì dự luật ấy cũng sẽ được thông qua. Công nhân muốn cái gì thì họ có thể giành được cái ấy, và mùa xuân năm ngoái, họ đã tỏ rõ là họ muốn có dự luật mười giờ. Các luận cứ kinh tế chính trị của chủ xưởng là "đạo luật mười giờ sẽ làm tăng chi phí sản xuất, do đó công nghiệp Anh sẽ không thể cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, vì thế tiền lương nhất định sẽ giảm, v.v."; đương nhiên, các luận cứ ấy đúng một nửa, nhưng điều đó chỉ chứng minh rằng: sức mạnh của công nghiệp Anh chỉ được duy trì nhờ việc đối xử dã man với công nhân, việc hủy hoại sức khỏe của người lao động; và sự suy đồi về các mặt xã hội, thể chất, tinh thần của cả nhiều thế hệ. Dĩ nhiên, nếu vấn đề không tiến xa hơn dự luật mười giờ, thì nước Anh có lẽ sẽ lụi tàn; nhưng đạo luật ấy tất yếu sẽ kéo theo nhiều biện pháp khác, các biện pháp đó nhất định sẽ làm cho nước Anh đi theo con đường hoàn toàn khác với con đường mà trước nay nó vẫn đi, thế nên đạo luật ấy là một sự tiến bộ.

Bây giờ hãy chuyển sang một mặt khác của chế độ công xưởng, mà những hậu quả của nó không dễ khắc phục bằng pháp luật, nếu so với các bệnh tật mà chế độ ấy gây ra. Ta đã nói khái quát về tính chất của lao động công xưởng, và cũng đã đủ tỉ mỉ, để từ đó có thể rút ra những kết luận lớn hơn. Trông coi máy, nối sợi đứt; những việc đó không đòi hỏi trí óc của công nhân, nhưng nó cũng ngăn cản họ suy nghĩ về những việc khác. Ta còn thấy thứ lao động ấy không cần tới sự gắng sức của các bắp thịt, và không cho phép hoạt động thể lực tự do. Thế nên đó không phải là lao động chân chính, mà là thứ công việc đơn điệu nguy hại nhất và làm cho người ta mệt mỏi nhất. Công nhân công xưởng buộc phải phá hoại toàn bộ thể lực và trí lực của mình, trong thứ công việc máy móc ấy; sứ mệnh của anh ta là phải chịu sự buồn chán suốt ngày này qua ngày khác, từ năm lên tám tuổi. Ngoài ra, anh ta không được lơ đễnh chút nào: máy chạy cả ngày; bánh xe, dây cua-roa, ống sợi suốt ngày kêu rầm rầm bên tai; chỉ nghỉ một tí là tên đốc công cầm sổ phạt đã lập tức xuất hiện sau lưng. Cái hình phạt tự chôn sống trong công xưởng, lúc nào cũng phải theo dõi cái máy làm việc không biết mệt ấy, là sự tra tấn tàn khốc nhất đối với công nhân. Nó làm cho công nhân suy nhược tột độ, về thể xác cũng như tinh thần. Quả là khó nghĩ ra được cách nào khác làm cho người ta ngu muội, hơn là lao động công xưởng; tuy nhiên, công nhân công xưởng không những vẫn giữ được lí trí của mình, mà còn làm cho nó sắc sảo hơn người khác; đó chỉ là vì họ đã vùng lên, chống lại vận mệnh của mình, chống lại giai cấp tư sản; đó là tình cảm và tư tưởng duy nhất mà họ còn giữ được trong tình cảnh lao động ấy. Nếu sự phẫn nộ đối với giai cấp tư sản còn chưa trở thành tình cảm mạnh nhất, thì công nhân ắt sẽ uống rượu và làm những việc mà người ta hay gọi là suy đồi. Theo bác sĩ Hawkins, ủy viên chính thức của tiểu ban, thì chỉ riêng việc thể lực suy yếu và những bệnh tật do chế độ công xưởng gây ra đã đủ làm cho công nhân tất yếu rơi vào cảnh trụy lạc. Hơn thế nữa, cái tất yếu ấy còn tăng thêm, nhờ sự suy nhược về tinh thần, và tất cả những điều kiện làm cho từng công nhân bị trụy lạc, mà ta đã nói đến ở trên! Thế nên không có gì lạ khi ở những thành phố công xưởng, nạn nghiện rượu và tình dục thái quá đã đạt đến qui mô mà tôi từng mô tả20*.

Thêm nữa, xiềng xích nô lệ mà giai cấp tư sản dùng để trói buộc giai cấp vô sản thì không ở đâu rõ rệt bằng chế độ công xưởng. Ở đây, mọi tự do, cả về pháp luật cũng như thực tế, đều không còn nữa. Công nhân phải đến xưởng từ năm giờ rưỡi sáng. Chậm vài phút thì bị phạt; chậm mười phút thì không được phép vào cho đến hết giờ nghỉ ăn sáng, vậy là anh ta mất 1/4 ngày công (mặc dù trong mười hai giờ, anh ta chỉ không làm việc có hai giờ rưỡi). Việc ăn, uống, ngủ của anh ta đều phải theo mệnh lệnh. Cả thời gian đi vệ sinh cũng giảm đến mức tối thiểu. Dù anh ta đi từ nhà đến xưởng mất nửa giờ hay một giờ, chủ xưởng cũng chẳng quan tâm. Tiếng chuông chuyên chế luôn lôi anh ta khỏi giấc ngủ, bữa sáng, hay bữa trưa. Khi đã ở trong xưởng thì tình hình thế nào? Ở đây, chủ xưởng là nhà lập pháp tuyệt đối. Hắn ban hành qui chế công xưởng theo ý muốn, và sửa đổi, bổ sung tùy thích; dù nó có gồm cả những điều phi lí nhất, thì tòa án vẫn nói với công nhân rằng:
"Các anh làm chủ bản thân mình mà, nếu các anh không thích thì không ai bắt các anh kí hợp đồng, nhưng bây giờ các anh đã tự nguyện kí hợp đồng ấy rồi, thì các anh phải thực hiện nó".

Thế là công nhân còn phải chịu sự chế nhạo của tên thẩm phán hòa giải, mà chính hắn cũng thuộc giai cấp tư sản; và sự chế nhạo của pháp luật, cũng do giai cấp tư sản đặt ra. Việc kết án như vậy rất thường gặp. Tháng Mười 1844, công nhân xưởng Kennedy ở Manchester bãi công. Chủ xưởng liền kiện họ, dựa theo một qui chế đã niêm yết trong xưởng: không cho phép hai công nhân trở lên, trong cùng một phân xưởng, đồng thời bỏ việc! Tòa án cho là chủ xưởng đúng, lấy câu nói đã dẫn ở trên để trả lời công nhân (báo "Manchester Guardian", số ra ngày 30 tháng Mười). Những qui chế của công xưởng thường như thế nào, hãy xem: 1) cổng ra vào xưởng sẽ đóng sau khi bắt đầu làm việc 10 phút, và không ai được vào nữa, cho tới trước bữa sáng; ai vắng mặt trong thời gian ấy thì bị phạt 3 penny cho mỗi máy mà người ấy trông coi; 2) trong thời gian khác, công nhân dệt (dùng máy có động cơ), nếu vắng mặt khi máy đang chạy thì bị phạt mỗi máy, mỗi giờ 3 penny; trong thời gian làm việc, ai rời phân xưởng mà không được đốc công cho phép thì bị phạt 3 penny; 3) công nhân dệt không tự mang kéo tới thì bị phạt mỗi ngày 1 penny; 4) các thứ như con thoi, bàn chải, bình dầu, bánh xe, kính cửa sổ, v.v. nếu hỏng hoặc vỡ thì công nhân dệt phải đền; 5) công nhân dệt không được bỏ việc nếu không báo trước một tuần; chủ xưởng có thể sa thải bất kì công nhân nào, vì làm việc hoặc cư xử không tốt, mà không cần báo trước; 6) công nhân nào bị bắt quả tang nói chuyện, hát hoặc huýt sáo miệng thì bị phạt 6 penny; rời khỏi chỗ của mình trong khi làm việc cũng bị phạt 6 penny21*. Tôi có trong tay một qui chế khác, theo đó thì ai đến chậm ba phút bị trừ 1/4 giờ công, đến chậm hai mươi phút thì bị trừ 1/4 ngày công; ai vắng mặt trước bữa sáng, vào ngày thứ hai thì bị phạt 1 shilling, vào những ngày khác thì bị phạt 6 penny, v.v. và v.v. Đó là qui chế của xưởng Phoenix, phố Jersey, Manchester. Có người nói là những qui chế như thế là cần thiết, để đảm bảo cho các thao tác khác nhau có thể phối hợp tốt, trong một công xưởng lớn có thiết bị đầy đủ; rằng ở đây cũng như ở quân đội, kỉ luật nghiêm ngặt đó là cần thiết. Có thể, nhưng một chế độ xã hội không tồn tại được, mà không có sự thống trị bạo ngược ô nhục ấy, thì nên gọi là gì? Hoặc là lấy mục đích để bào chữa cho thủ đoạn, hoặc là lấy sự ti tiện của thủ đoạn để chứng minh rằng mục đích là ti tiện. Ai đã đi lính, dù trong thời gian ngắn, đều biết thế nào là sống dưới kỉ luật quân sự. Thế mà những công nhân ấy, cả tinh thần và thể xác, đã bị buộc phải sống dưới ngọn roi, từ năm lên chín tuổi đến lúc chết. Họ còn bị nô dịch hơn cả những người da đen ở Mĩ, vì họ bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Thế mà người ta vẫn đòi họ sống, suy nghĩ và cảm giác như con người! Đúng, họ chỉ có thể sống như thế, khi họ nghiến răng căm thù những kẻ áp bức họ, căm thù cái chế độ làm cho họ rơi vào tình cảnh ấy, và biến họ thành những cái máy! Nhưng còn có việc nhục nhã hơn: theo lời chứng thực phổ biến của công nhân, có nhiều chủ xưởng dùng những biện pháp tàn bạo nhẫn tâm nhất, để kiếm thêm tiền phạt từ công nhân; cướp giật từng xu của những người vô sản xác xơ, để tăng thêm lợi nhuận của chúng. Leach cũng xác nhận: buổi sáng, khi đến xưởng, công nhân thường thấy đồng hồ của xưởng nhanh lên mười lăm phút, do đó cổng đã khóa và họ không vào được; trong khi đó, tên nhân viên văn phòng, tay cầm sổ phạt, đi qua các phân xưởng và ghi lại một số lớn công nhân vắng mặt. Một lần, chính Leach đã thấy 95 công nhân đứng ngoài xưởng như thế; đồng hồ của xưởng này thì buổi tối chậm mười lăm phút, buổi sáng nhanh mười lăm phút so với đồng hồ thành phố. Báo cáo về công xưởng cũng thuật lại những việc tương tự. Có xưởng, sau khi bắt đầu làm việc thì quay ngược kim đồng hồ, thế nên thời gian lao động dài hơn so với qui định, nhưng công nhân thì không được thêm tí tiền công nào. Có xưởng bắt công nhân làm thêm tới mười lăm phút. Một xưởng khác lại có một đồng hồ thường, và một đồng hồ máy, đo số vòng quay của trục chính. Khi máy chạy chậm thì người ta làm việc theo đồng hồ máy, cho đến lúc máy quay đủ số vòng đã định trong mười hai giờ; nếu máy chạy nhanh và đạt số vòng quay định mức trước thời gian qui định, thì công nhân vẫn phải làm đủ mười hai giờ. Một nhân chứng nói thêm rằng: ông ta quen vài cô gái kiếm được đồng lương khá do làm thêm giờ, nhưng họ thà làm điếm chứ không muốn chịu cái chế độ bạo ngược ấy (Drinkwater, Văn kiện, tr. 80). Trở lại vấn đề tiền phạt, Leach kể: ông nhiều lần thấy các nữ công nhân có thai gần đẻ, vì ngồi nghỉ một lát trong thời gian làm việc mà bị phạt 6 penny. Sự phạt tiền do làm không tốt cũng được tùy tiện thi hành: sản phẩm chỉ được kiểm tra khi đã ở kho, và viên quản lí kiểm tra xong thì ghi khoản phạt vào sổ, thậm chí không cần gọi công nhân đến; mãi đến lúc đốc công trả lương thì công nhân mới biết là mình bị phạt, lúc ấy thì sản phẩm có lẽ đã được bán đi, hoặc ít nhất cũng đã được cất đi. Leach dẫn ra một bản ghi phạt tiền dài tới mười foot, tổng tiền phạt là 35 Bảng 17 shilling 10 penny. Ông nói rằng ở công xưởng có bản ghi phạt ấy, có một viên quản lí vừa mới nhận việc đã bị sa thải vì biên phạt ít quá, làm cho thu nhập của xưởng mỗi tuần giảm đi 5 Bảng ("Những sự thực không thể bác bỏ", tr. 13-17). Nhắc lại một lần nữa: tôi cho Leach là một người hoàn toàn đáng tin và không biết nói dối.

Về nhiều mặt khác, công nhân cũng là nô lệ của chủ. Nếu lão chủ giàu có thích vợ hoặc con gái công nhân, thì y chỉ cần ra lệnh hoặc ra hiệu là họ phải vâng lời. Khi muốn có người kí tên vào đơn thỉnh nguyện để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, thì y chỉ cần chuyển đơn thỉnh nguyện ấy vào công xưởng của mình. Khi muốn đưa ai đó vào Nghị viện, thì y gọi tất cả các công nhân có quyền bầu cử đi bỏ phiếu, và họ phải bỏ phiếu cho người tư sản, dù muốn hay không. Khi muốn giành đa số trong một cuộc hội họp công cộng, thì y cho tan việc sớm nửa giờ, và cho công nhân ngồi ngay gần diễn đàn, để dễ kiểm soát được họ.

Còn hai biện pháp nữa để đặc biệt tăng cường sự nô dịch của chủ xưởng đối với công nhân, đó là truck-system và cottage-system. Công nhân gọi việc trả lương bằng hàng hoá là truck, và cách ấy trước kia rất thịnh hành ở Anh. "Để tiện lợi cho công nhân, và giúp họ khỏi bị tiểu thương nâng giá cao", chủ xưởng đã mở một cửa hàng riêng, bán đủ các thứ. Và để không cho công nhân đến các cửa hàng khác bán rẻ hơn, vì giá hàng trong tommy-shop22 thường đắt hơn 25-30% so với ở ngoài; thì người ta không trả lương bằng tiền mặt, mà bằng một cái phiếu mua hàng, chỉ có giá trị ở cửa hàng của công xưởng. Chế độ tai tiếng ấy đã gây công phẫn rộng khắp, dẫn đến việc công bố Truck Act năm 1831, theo đạo luật này thì việc trả lương bằng hàng hóa cho đa số công nhân là vô hiệu lực và phi pháp, ai thực hiện sẽ bị phạt tiền. Nhưng cũng như đa số các đạo luật ở Anh, nó chỉ có hiệu lực thực tế ở vài địa phương. Tất nhiên, ở các thành phố thì luật ấy được chấp hành tương đối đầy đủ, nhưng ở nông thôn thì truck-system vẫn nở rộ, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngay cả ở thành phố như Leicester, chế độ ấy cũng phổ biến. Tôi có hàng chục bản án về việc vi phạm luật ấy, từ tháng Mười một 1843 đến tháng Sáu 1844; chúng một phần được đăng trên báo "Manchester Guardian", phần khác được đăng trên báo "Northern Star". Đương nhiên, chế độ ấy bây giờ không được áp dụng công khai như trước nữa; công nhân phần lớn được lĩnh tiền mặt, nhưng chủ xưởng vẫn có đủ cách để bắt công nhân mua hàng ở cửa hàng của xưởng, chứ không ở chỗ khác. Thế nên rất khó tóm được loại chủ xưởng phạm pháp ấy; chỉ cần trả tiền tận tay cho công nhân, chúng có thể che giấu tội lỗi của mình, dưới sự bảo vệ của chính pháp luật. Báo "Northern Star", số ra ngày 27 tháng Tư 1844, đăng bức thư của một công nhân ở Holmfirth, gần Huddersfield thuộc Yorkshire; nó nói đến một chủ xưởng tên là Bowers:23
"Người ta sẽ kinh ngạc ngay khi thấy cái truck-system chết tiệt ấy lại có thể tồn tại với qui mô lớn như ở Holmfirth, mà không ai có đủ can đảm để chấm dứt sự lạm dụng ấy. Rất nhiều thợ dệt thủ công thật thà đã chịu khổ sở vì nó. Đó là một trong bao nhiêu ví dụ về hành động của phái mậu dịch tự do24* đáng kính. Có một chủ xưởng đối xử tàn ác với những thợ dệt của y; đến nỗi cả khu gần đấy, ai cũng nguyền rủa hắn. Một tấm hàng dệt trị giá 34-36 shilling, y chỉ trả 20 shilling bằng tiền mặt, còn lại thì trả bằng dạ hoặc quần áo may sẵn, định giá đắt hơn ở những cửa hàng khác 40-50%, mà thường là những hàng đã mục. Nhưng báo "Mercury"25* của phái mậu dịch tự do nói: 'công nhân không bị bắt phải nhận hàng hóa, điều đó hoàn toàn tùy ý họ'. Ôi, đúng, nhưng họ không nhận thì phải chết đói. Nếu muốn lấy trên 20 shilling bằng tiền mặt, thì khi lấy sợi, họ phải chờ 8-14 ngày; nếu lấy 20 shilling cùng với hàng hóa, thì họ luôn có đủ sợi cho mình. Tự do buôn bán là thế đấy. Huân tước Brougham nói: 'khi còn trẻ thì ta phải để dành một chút, để tới lúc già thì khỏi phải đi xin cứu tế'. Chúng tôi có thể để dành những thứ hàng mục nát ấy ư? Nếu lời ấy không phải là của một huân tước, thì phải nghĩ là đầu óc con người ấy cũng mục nát, như những hàng hóa mà người ta trả cho lao động của chúng tôi. Hồi các báo còn xuất bản phi pháp, không nộp tiền đăng kí; thì còn nhiều người tố cáo việc ấy với cảnh sát ở Holmfirth, có những người như Blyth, Eastwood, v.v.; nhưng bây giờ họ đi đâu mất cả? Nhưng bây giờ tình hình đã khác: chủ xưởng của chúng tôi đã thành người thuộc phái mậu dịch tự do ngoan đạo rồi, mỗi chủ nhật y đến nhà thờ hai lần, và rất thành tâm đọc theo linh mục: 'Chúng con đã không làm những việc lẽ ra nên làm, và đã làm những việc lẽ ra không nên làm; chúng con không đáng được cứu vớt; nhưng hỡi đức Chúa từ bi, xin Người tha thứ cho chúng con' (lời cầu nguyện ở nhà thờ Anh). Vâng, tha thứ cho chúng con, để đến ngày mai, chúng con lại trả lương cho thợ dệt của chúng con bằng hàng hóa mục nát".

Cottage-system thoạt nhìn thì ít có hại hơn nhiều, và diễn ra dưới hình thức ít khó chịu hơn nhiều, dù tác dụng nô dịch công nhân của nó không kém gì truck-system. Ở nông thôn, gần công xưởng, thường thiếu nhà ở cho công nhân. Thế nên chủ xưởng thường phải xây nhà, và y rất vui lòng làm vậy, vì vốn đầu tư cho việc đó sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn. Nếu những người cho công nhân thuê nhà hàng năm thu lãi bình quân bằng 6% tiền vốn, thì có thể tính là nhà đó sẽ đem lại cho chủ xưởng món lợi gấp đôi; vì chỉ cần công xưởng không đóng cửa là y vẫn có người thuê nhà, mà những người thuê nhà ấy luôn trả tiền đúng hạn. Vậy, y không phải chịu hai loại thiệt hại chủ yếu mà các chủ nhà khác có thể phải chịu: đó là việc những cottage trống không, và việc không thu được tiền. Mà tiền thuê nhà thì đã bao gồm cả những thiệt hại có thể xảy ra ấy, thế nên nếu chủ xưởng lấy tiền thuê bằng các chủ nhà khác, thì nó có thể lấy từ công nhân một món lợi bằng 12-14% tiền vốn. Chủ xưởng cho công nhân thuê nhà đã kiếm lợi hơn, thậm chí gấp đôi, so với những người cạnh tranh, đồng thời khiến những người ấy không thể cạnh tranh với y; đương nhiên, thế đã là bất công rồi. Lấy món lợi ấy từ túi tiền của giai cấp không có tí gì, phải quí từng xu, thì là bất công gấp đôi; nhưng với chủ xưởng, việc ấy đã thành thói quen: toàn bộ tài sản của y là bòn rút từ công nhân. Nhưng sự bất công ấy trở thành đê tiện, khi chủ xưởng lấy việc dọa sa thải để bắt công nhân phải thuê nhà của y, phải trả tiền thuê cao hơn bình thường, thậm chí phải trả tiền cho những căn nhà mà họ không ở; những việc đó rất thường xảy ra! Báo "Sun"26* của Đảng tự do đã trích dẫn báo "Halifax Guardian", và xác nhận: ở Ashton-under-Lyne, Oldham, Rochdale, v.v., nhiều chủ xưởng bắt hàng trăm công nhân trả tiền thuê nhà, dù họ có ở hay không. Cottage-system rất phổ biến ở nông thôn, nó đã tạo ra các xóm thợ hoàn chỉnh; và vì thường có rất ít hoặc không có cạnh tranh, nên chủ xưởng có thể không tính tiền thuê theo thị trường, mà là theo ý thích. Khi có xung đột với công nhân, thì cái cottage-system ấy đem lại cho chủ xưởng quyền lực to lớn đến thế nào! Nếu công nhân bãi công thì y chỉ cần đuổi họ ra khỏi nhà, và thời hạn dời đi chỉ có một tuần. Quá kì hạn ấy, công nhân không chỉ không có cái ăn, mà còn không có nhà ở; họ biến thành những người lang thang, và theo sự khoan hồng của pháp luật, thì họ sẽ bị tống giam một tháng.

Đó là chế độ công xưởng qua mô tả của tôi, với mức độ chi tiết mà khuôn khổ cuốn sách cho phép, và với sự khách quan cao nhất có thể, khi mô tả những sự tích anh hùng của giai cấp tư sản, trong cuộc đấu tranh của nó, chống lại công nhân tay không tấc sắt; những việc mà khi nói tới nó, không ai có thể dửng dưng, vì dửng dưng là tội ác. Hãy so sánh tình cảnh của người Anh tự do năm 1845, với các nông nô Sachsen năm 1145, chịu sự áp bức của bọn quí tộc Normans. Nông nô là glebae adscriptus ("bị trói buộc vào ruộng đất"); công nhân tự do cũng bị trói buộc như vậy vào cottage-system. Nông nô phải hiến cho chủ cái jus primae noctis ("quyền hưởng đêm đầu tiên"); công nhân tự do phải hiến cho chủ, không chỉ cái quyền ấy, mà còn cả cái quyền hưởng mọi đêm nữa. Nông nô không có quyền sở hữu tài sản, mọi cái họ kiếm được có thể bị chủ lấy đi; công nhân tự do cũng không có tài sản, anh ta không có được nó là vì cạnh tranh. Chủ xưởng đã làm những việc mà chính người Normans cũng không làm; hàng ngày, thông qua truck-system, y giành quyền quản lí cả những thứ mà công nhân cần nhất cho đời sống. Quan hệ giữa nông nô và lãnh chúa được qui định bằng pháp luật và phong tục, chúng được người ta tuân thủ, vì phù hợp với tập quán; quan hệ giữa công nhân tự do và chủ cũng được pháp luật qui định, nhưng chúng không được tuân thủ, vì không phù hợp với tập tục, cũng như với lợi ích của chủ. Lãnh chúa không thể bắt nông nô tách rời ruộng đất, không thể bán nông nô mà không bán ruộng đất, vì hầu hết ruộng đất đều là thái ấp, không thể mua bán, mà lúc đó cũng chưa có tư bản, vậy là nông nô hầu như không thể bị bán; giai cấp tư sản hiện đại thì bắt công nhân phải tự bán mình. Nông nô là nô lệ của mảnh đất mà họ chôn rau cắt rốn; công nhân là nô lệ của những tư liệu sinh hoạt cần thiết nhất, và của đồng tiền mà họ dùng để mua nó; cả hai đều là nô lệ của sự vật. Sự tồn tại của nông nô được trật tự xã hội phong kiến đảm bảo, vì ở đó, mỗi người đều có vị trí nhất định; sự tồn tại của công nhân tự do thì không được đảm bảo, vì họ chỉ có vị trí nhất định trong xã hội khi mà giai cấp tư sản cần họ, không thì họ bị bỏ mặc, như là không tồn tại trên đời. Nông nô hi sinh vì chủ trong thời chiến; công nhân công xưởng hi sinh vì chủ trong thời bình. Chủ của nông nô là một kẻ dã man, hắn coi nông nô như súc vật; chủ của công nhân là một kẻ văn minh, hắn coi công nhân như cái máy. Tóm lại thì tình cảnh của hai loại người ấy giống nhau về cơ bản; nếu có bên nào tệ hơn một chút, thì đó là công nhân tự do. Họ đều là nô lệ, chỉ khác là: sự nô dịch đối với loại thứ nhất là rõ ràng, công khai, không che đậy; còn sự nô dịch đối với loại thứ hai thì được che đậy một cách xảo quyệt, với chính họ và những người khác; đó là chế độ nô lệ có tính đạo đức giả, nó tồi hơn chế độ nô lệ cũ. Những nhà từ thiện thuộc đảng Tory đã đúng khi gọi những công nhân công xưởng là white slaves, "các nô lệ da trắng". Nhưng chế độ nô lệ đạo đức giả và được che đậy ấy đã thừa nhận quyền tự do, ít ra là ở cửa miệng; nó phải cúi đầu trước dư luận yêu chuộng tự do, và do đó, so với chế độ nô lệ cũ, nó là một sự tiến bộ lịch sử; ít ra thì nguyên tắc tự do đã được thừa nhận, và những người bị áp bức đã quan tâm đến việc: làm thế nào để nguyên tắc ấy được thực hiện.

Sau cùng, để kết luận, là vài đoạn trong một bài thơ, nói lên cách nhìn của bản thân công nhân về chế độ công xưởng. Bài thơ do Edward P. Mead ở Birmingham viết, và đã diễn đạt được một cách đúng đắn tâm trạng phổ biến trong công nhân27.
Trên đời này có một tên vua dữ.
Không hiền lành như truyền thuyết nói đâu
Hắn làm bao nô lệ da trắng rơi đầu.
Tên vua ấy chính là Hơi nước.

Nó có một tay, tay bằng sắt,
Dù chỉ có một cánh tay thôi.
Nhưng sức mạnh không ai địch nổi
Có thể gieo tai hoạ cho triệu người.

Như tổ phụ hắn là Moloch,
Gieo đau thương và tàn khốc nơi nơi.
Ghê gớm thực! Ruột gan đầy lửa bốc
Khát máu trẻ con, ăn cả thịt người.

Lũ mục sư của hắn hung tàn,
Khát máu người và rất đỗi tham lam,
Chuyên thống trị bằng bàn tay sắt,
Hút máu tươi đem đúc lấy tiền vàng.

Bọn quỷ sứ đạp nhân quyền nhân loại,
Để thờ thần ác quái là vàng,
Khổ nhục của đàn bà khiến chúng hân hoan,
Và nước mắt đàn ông làm chúng sướng.

Tiếng rên xiết của kẻ nghèo giãy chết,
Chúng cho là âm nhạc nghe sướng tai;
Xương trắng cụ già, con trẻ, gái, trai,
Địa ngục của vua Hơi đầy rẫy.

Địa ngục chính ở thế gian này,
Hơi nước khắp nơi gieo chết chóc
Làm linh hồn lẫn thể xác người ta
Bị hủy hoại tiêu ma một lúc.

Đả đảo vua Hơi, tên vua hung ác!
Muôn triệu người lao động đứng lên!
Hãy trói chặt bàn tay nó lại
Cứu nhân dân khỏi hoạ diệt vong!

Dân chúng ta đùng đùng phẫn nộ,
Vứt xuống vực sâu lũ kí sinh đê tiện
Bụng nứt vàng, tay bê bết máu tươi,
Cùng với hung thần của chúng đi thôi28*






------------------------------
Chú thích
1* "The Cotton Manufacture of Great Britain". By Dr. A. Ure. 1836 [Bác sĩ A. Ure, "Công nghiệp bông sợi của Đại Britain", 1836].

2* "History of the Cotton Manufacture of Great Britain". By E. Baines, Esq. [E. Baines. "Lịch sử công nghiệp bông sợi của Đại Britain"].

3* "Stubborn Facts from the Factories", By a Manchester Operative. Published and dedicated to the Working Classes by Wm. Rashleigh. M. P. London, Ollivier, 1844, p. 28 ff. ["Những sự thực không thể bác bỏ về các công xưởng, do một công nhân ở Manchester vạch ra". Do nghị sĩ W. Rashleigh xuất bản và tặng giai cấp công nhân, London, Ollivier, 1844, tr. 28 và các tr. sau].

4* Hãy xem mấy chỗ trong "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động công xưởng" (Chú thích của Engels trong bản in ở Mĩ năm 1887).

5* Chẳng hạn ông Symons đã đặt câu hỏi như thế trong cuốn sách "Nghề thủ công và thợ thủ công".

6* Hãy xem, chẳng hạn, bác sĩ Ure, với tác phẩm "Triết học về công xưởng" của ông ta.

7* "Tình hình tiền lương ở một số ngành của công nghiệp dệt bông ở Lancashire rất rắc rối: mấy trăm nam thanh niên 20-30 tuổi, làm thợ phụ nối sợi đứt, hoặc các việc khác, nhiều nhất chỉ được 8-9 shilling một tuần; thế mà một đứa trẻ 13 tuổi trong cùng xưởng ấy lại được 5 shilling, và các thiếu nữ 16-20 tuổi thì được 10-12 shilling một tuần". Báo cáo của viên thanh tra công xưởng L. Horner, tháng Mười 1844.

8 Giữa các bản tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Đức có khác biệt nhỏ về con số ở câu này và câu trước. Ở đây người dịch lấy số liệu của bản tiếng Anh, vì cho rằng nó chính xác nhất (Chú thích của người dịch).

9* Theo tài liệu của tiểu ban điều tra về lao động công xưởng, báo cáo của bác sĩ Hawkins, tr. 3 (Chú thích của Engels trong bản in ở Mĩ năm 1887).

10* Năm 1843, trong những tai nạn mà bệnh viện Manchester ghi được, có 189 - một trăm tám mươi chín! - vụ bỏng. Có bao nhiêu người chết thì không nói rõ.

11* Về số phụ nữ đã kết hôn làm việc trong công xưởng, thì qua tài liệu của chính các chủ xưởng, ta có thể thấy: trong 412 công xưởng ở Lancashire, có 10.721 phụ nữ đã kết hôn làm việc; trong số chồng họ, chỉ có 5314 người cũng làm việc trong công xưởng; 3927 người làm công việc khác, 821 người không có việc làm, còn 659 người thì không rõ. Như vậy có thể thấy rằng mỗi công xưởng đều có hai hoặc ba ông chồng phải sống nhờ vào lao động của vợ.

12 "quyền hưởng đêm đầu tiên" (Chú thích của người dịch).

13* Trong phân xưởng kéo sợi của một công xưởng ở Leeds, người ta đã đặt ghế ngồi (Drinkwater, Văn kiện, tr. 80).

14* Những nhà phẫu thuật (surgeons) cũng có kiến thức y học không kém những thầy thuốc nội khoa (physicians), thế nên họ không chỉ chuyên về nghiệp vụ phẫu thuật, mà còn làm công việc chữa bệnh nói chung. Do nhiều nguyên nhân, người ta còn thích tìm đến họ, hơn là đến các bác sĩ nội khoa.

15* Câu này không phải trích trong báo cáo về công xưởng.

16* Những sự thực đó đều được trích dẫn trong bài diễn văn của huân tước Ashley (đọc tại phiên họp của Hạ viện ngày 15 tháng Ba 1844).

17 "với bất kì giá nào" (Chú thích của người dịch).

18 ("Bút kí Fleet") Đây là tuần báo được viết dưới dạng một tập thư tín, do Oastler xuất bản trong nhà giam những người mắc nợ ở Fleet, từ 1841 đến 1844 (Chú thích của người dịch).

19* Người ta biết rằng trong cùng kì họp ấy, khi thảo luận vấn đề đường, Hạ viện lại làm một việc khó coi: đầu tiên nó phản đối Nội các, sau đó, do việc dùng "cái roi chính phủ", nó lại ủng hộ Nội các.

20* Hãy nghe lời của một quan tòa có thẩm quyền: "Nếu kết hợp ảnh hưởng xấu của người Ireland với lao động không ngừng của toàn thể công nhân công nghiệp bông sợi, thì ta sẽ ít lấy làm lạ về sự trụy lạc đáng sợ của họ. Lao động kiệt sức kéo dài, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, nhất định không làm cho người ta phát triển được về trí lực và đạo đức. Vòng quay đơn điệu của cái khổ dịch (drudgery) vô tận, ở đó, một vài động tác máy móc được lặp đi lặp lại không ngừng; nó thực giống như cực hình của Sisyphus: sự nặng nề của lao động, hệt như các tảng đá lớn, liên tục rơi vào các công nhân đã mệt lử. Trong điều kiện hoạt động liên tục của một vài bắp thịt, thì đầu óc không thể thu nhận tri thức, cũng không thể suy nghĩ; trí tuệ thì kém đi, nhưng mặt thô lỗ trong tính người lại phát triển mạnh. Trói buộc người ta vào thứ lao dịch như thế cũng có nghĩa là bồi dưỡng thú tính cho họ. Họ dần trở nên thờ ơ với mọi thứ, họ vứt bỏ hết những khát vọng và thói quen của con người. Họ coi nhẹ những tiện nghi và niềm vui cao thượng của cuộc sống; họ sống trong tình cảnh nghèo khổ bẩn thỉu, thiếu ăn, và đem chút tiền lương cuối cùng của họ ra tiêu xài phung phí" (Bác sĩ James Ph. Kay, "Tình cảnh tinh thần và vật chất của giai cấp công nhân công nghiệp bông sợi ở Manchester", xuất bản lần thứ hai, 1832).

21* "Những sự thực không thể bác bỏ", tr. 9 và các trang sau.

22 "cửa hàng của công xưởng" (Chú thích của người dịch).

23 Trong nguyên bản, bức thư dưới đây được Engels trích nguyên văn, kể cả các lỗi chính tả (Chú thích của người dịch).

24* Đây là những người ủng hộ Đồng minh chống đạo luật ngũ cốc.

25* Đây là nói tới tờ báo "Leeds Mercury" của phái tư sản cấp tiến.

26* Tờ "Sun" (nhật báo xuất bản ở London), số ra cuối tháng Mười một 1844.

27 Nguyên văn bài thơ được đăng trên tờ "The Northern Star", số 274, ngày 11 tháng Hai 1843, còn có thêm hai khổ thơ nữa (Chú thích của người dịch).

28* Tôi không có đủ thì giờ và giấy mực, để nói tỉ mỉ về những phản hồi của các chủ xưởng trước những lời kết tội họ, trong mười hai năm qua. Không gì dạy bảo được loại người ấy, vì lợi ích riêng đã làm lóa mắt họ. Một số ý kiến của họ, tôi đã bác bỏ ở phần trên, thế nên ở đây, tôi chỉ nói thêm chút ít:

Bạn tới Manchester và muốn nghiên cứu tình hình sinh hoạt ở Anh. Hẳn là bạn sẽ được làm quen với một số nhân vật "đáng kính". Bạn đề ra vài ý kiến về tình cảnh của công nhân. Bạn sẽ được gặp các chủ xưởng lớn nhất thuộc Đảng tự do: Robert Hyde Greg, Edmund Ashworth, Thomas Ashton, v.v. Bạn nói ý muốn của mình với họ. Chủ xưởng hiểu ý bạn, họ biết nên làm gì. Họ đưa bạn đến công xưởng của họ ở nông thôn: với ông Greg thì là Quarry Bank ở Cheshire; với ông Ashworth sẽ là Turton, gần Bolton; ông Ashton lại đưa bạn đến Hyde. Họ dẫn bạn vào những tòa nhà được trang bị rất tốt, có thể có cả thiết bị thông gió nữa. Họ nhắc bạn lưu ý tới các phân xưởng cao rộng, thoáng khí, các máy móc đẹp, và công nhân trông rất khỏe mạnh. Họ mời bạn một bữa sáng thịnh soạn, rồi mời bạn đi xem chỗ ở của công nhân. Họ đưa bạn đến những cottage trông còn mới, sạch sẽ, dễ coi; họ cũng đi cùng bạn vào nhà này, nhà nọ. Tất nhiên, họ chỉ đưa bạn đến nhà của các đốc công, thợ cơ khí, v.v., để bạn xem "những gia đình chỉ sống dựa vào công xưởng". Trong những cottage khác, bạn có thể thấy là chỉ có vợ và con đi làm ở xưởng, còn chồng thì ngồi vá tất. Vì chủ xưởng ở ngay đó, nên bạn không tiện hỏi những câu quá thiếu tế nhị; hình như công nhân có lương khá, sinh hoạt dễ chịu, tương đối khỏe mạnh nhờ không khí ở nông thôn. Bạn bắt đầu từ bỏ các ý niệm của mình về sự nghèo khổ và đói khát, coi đó chỉ là cường điệu. Nhưng còn việc cottage-system biến công nhân thành nô lệ ra sao, và gần đó còn có một tommy-shop, thì bạn không hề biết; công nhân không thể cho bạn thấy là họ căm ghét chủ xưởng như thế nào, vì chủ xưởng ở ngay cạnh bạn; chủ xưởng còn xây cả trường học, nhà thờ, phòng đọc sách, v.v. Nhưng họ dùng nhà trường để dạy cho trẻ em phục tùng kỉ luật, phòng đọc sách chỉ có những sách báo bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, họ sa thải những công nhân nào đọc sách báo của phái Hiến chương và phái xã hội chủ nghĩa; tất cả những cái ấy họ đều giấu bạn. Bạn thấy các quan hệ gia trưởng dễ chịu; thấy đời sống của các đốc công; thấy giai cấp tư sản hứa hẹn với công nhân những gì, nếu về mặt tinh thần, công nhân cũng chịu trở thành nô lệ của chúng. Chủ xưởng từ lâu đã coi "công xưởng nông thôn" là tôn chỉ hoạt động; vì ở nông thôn, những tai hại của chế độ công xưởng, nhất là về sức khỏe, đã được giảm đi, nhờ không khí trong lành và môi trường xung quanh; và vì ở nông thôn, sự nô dịch của chế độ gia trưởng đối với công nhân được duy trì lâu nhất. Bác sĩ Ure đã hết lời ca tụng việc ấy. Nhưng khốn khổ cho công nhân, nếu họ lại muốn suy nghĩ độc lập, và trở thành những người theo phái Hiến chương; sự yêu mến và săn sóc như cha mẹ, mà chủ xưởng dành cho họ, sẽ tiêu tan trong chốc lát. Nếu muốn tới các khu công nhân ở Manchester, để xem những ảnh hưởng của chế độ công xưởng ở một thành phố công xưởng; thì bạn phải đợi lâu mới được các nhà tư sản giàu có giúp đỡ! Các ngài ấy không biết tình cảnh và mong muốn của công nhân là gì. Họ không muốn biết những điều đó, vì họ sợ phải thấy những việc làm cho họ không yên lòng, thậm chí còn bắt họ phải hành động trái với lợi ích của mình. Nhưng việc đó không quan trọng: công nhân muốn gì thì họ sẽ có được cái ấy, bằng sức mạnh của chính họ.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1345

Bài viết

0

Bạn bè

5167

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 8-1-2019 08:07:08 |Xem tất
NHỮNG NGÀNH LAO ĐỘNG KHÁC

Ta buộc phải dừng lại khá lâu để mô tả chế độ công xưởng, vì nó là sản vật hoàn toàn mới của thời đại công nghiệp. Với công nhân ở các ngành khác, thì có thể nói ngắn hơn nhiều; vì tình cảnh của giai cấp vô sản công nghiệp nói chung, hay là chế độ công xưởng nói riêng, vẫn phù hợp hoàn toàn hoặc phần nào, với tình hình của những ngành ấy. Do đó, ta chỉ cần tìm hiểu xem chế độ công xưởng đã thâm nhập vào các ngành khác tới mức nào, và mỗi ngành ấy có các đặc điểm riêng gì.

Bốn ngành lao động chịu sự kiểm soát của đạo luật về công xưởng đều thuộc lĩnh vực sản xuất vật liệu may mặc. Bây giờ, tốt nhất là bắt đầu từ các công nhân nhận nguyên liệu từ các công xưởng của bốn ngành ấy. Đầu tiên là những công nhân dệt kim ở Nottingham, Derby và Leicester. Khi nhắc tới họ, "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em" nói: vì ngày lao động kéo quá dài (do tiền công thấp), cộng thêm việc phải ngồi suốt ngày và mắt luôn phải nhìn chăm chú (do tính chất của công việc) nên toàn bộ cơ thể đều suy yếu, nhất là thị lực. Buổi tối, nếu không có ánh sáng rất mạnh thì không thể làm việc, do đó công nhân thường dùng các quả cầu pha lê để tập trung ánh sáng, việc đó rất hại mắt. Hầu hết công nhân đến bốn mươi tuổi đã phải đeo kính. Trẻ em thì chuyên đánh ống chỉ và khâu viền, ốm đau thường xuyên và vóc người rất yếu. Từ 6-8 tuổi, chúng đã phải làm mỗi ngày 10-12 giờ, trong những phòng nhỏ hẹp, ngột ngạt. Rất nhiều trẻ bị công việc làm cho yếu ớt, đến nỗi không làm nổi những công việc trong nhà bình thường nhất; còn ít tuổi mà đã phải đeo kính, vì bị cận thị. Các ủy viên thấy khá nhiều trẻ có triệu chứng tràng nhạc; còn chủ xưởng thường không chịu thuê những thiếu nữ đã từng làm việc này, viện cớ là sức khỏe của họ kém quá. Báo cáo gọi tình cảnh của bọn trẻ ấy là "điều sỉ nhục với một nước theo Thiên chúa giáo" và hi vọng là công việc của chúng sẽ được pháp luật bảo hộ (Grainger, "Báo cáo", phụ lục, phần I, tr. F 15, §§ 132-142). Báo cáo về công xưởng nói thêm: ở Leicester, lương của công nhân dệt kim là thấp nhất. Mỗi ngày họ phải làm 16-18 giờ, mà mỗi tuần chỉ được 6 shilling, phải rất cố gắng mới kiếm nổi 7 shilling. Trước kia họ kiếm được 20-21 shilling, nhưng việc sử dụng máy dệt cỡ lớn đã đánh sụt tiền lương của họ; đại đa số công nhân còn làm việc với các máy dệt giản đơn cũ, phải cạnh tranh vất vả với các máy đã được cải tiến. Như vậy, ở đây, mỗi bước tiến của công nghệ là một bước lùi của tình cảnh công nhân! Power, ủy viên của tiểu ban nói: dù sao đi nữa, các công nhân dệt kim vẫn thấy tự hào vì họ còn được tự do; bữa ăn, giấc ngủ, công việc của họ không bị tiếng chuông công xưởng chi phối. Tình hình tiền lương hiện tại của họ không tốt hơn chút nào so với năm 1833, khi tiểu ban về công xưởng viết báo cáo. Đó là do sự cạnh tranh của các công nhân dệt kim Sachsen, những người đang sống trong cảnh bữa đói bữa no, gây ra. Sự cạnh tranh ấy đã đánh bại người Anh, không chỉ trên tất cả các thị trường nước ngoài, mà còn ngay tại thị trường nước Anh, xét về phương diện hàng dệt loại thường. Các công nhân dệt kim Đức yêu nước lẽ nào lại không vui mừng, khi thấy rằng việc mình chịu đói cũng có thể làm cho những người anh em ở nước Anh không có cái ăn, hay sao? Lẽ nào họ lại không nhịn đói một cách tự hào và vui vẻ, khi danh dự của nước Đức yêu cầu họ chỉ được ăn lửng dạ, dành niềm vinh quang lớn hơn cho công nghiệp Đức, hay sao? Ôi, cạnh tranh và "ganh đua giữa các nước" thật đẹp đẽ biết chừng nào! Tờ "Morning Chronicle", lại là tờ báo của Đảng tự do, của giai cấp tư sản par excellence1; tháng Chạp 1843, đã đăng mấy bức thư của một công nhân dệt kim ở Hinckley, mô tả tình cảnh của các đồng nghiệp của mình. Anh ta nói tới 50 gia đình, tất cả 321 người, chỉ sống nhờ vào 109 máy dệt, mỗi máy bình quân mỗi tuần kiếm được 5 shilling 2 penny, mỗi gia đình kiếm được bình quân mỗi tuần 11 shilling 4 penny. Trong đó, tiền nhà, tiền thuê máy, tiền than, dầu đèn, xà phòng, kim dệt, tổng cộng đã là 5 shilling 10 penny rồi; mỗi người một ngày chỉ có 1 penny rưỡi dùng vào việc ăn uống, còn may mặc thì chẳng có đồng nào.
Anh công nhân dệt kim ấy viết: "Từ trước đến nay, chưa hề có ai trông thấy, nghe thấy, hay hiểu được một nửa nỗi khốn khổ mà những con người đáng thương ấy phải chịu đựng".

Họ hoàn toàn không có nệm giường; nếu có, cũng chỉ đủ cho một nửa số người. Trẻ con quần áo rách bươm, chân đất, chạy đi chạy lại. Đàn ông sụt sùi nước mắt, nói rằng: đã từ lâu lắm rồi họ không được ăn thịt, họ hầu như đã quên mất mùi vị thịt rồi. Cuối cùng, một số người làm việc cả vào chủ nhật, dù dư luận không dung thứ điều ấy, còn tiếng máy dệt vang xa khắp cả khu xung quanh.
Một người trong số họ nói: "Các người cứ nhìn con cái tôi thì sẽ hiểu. Nghèo đói buộc tôi phải làm vậy. Tôi không thể giương mắt nhìn con mình kêu đói mà không dùng biện pháp lương thiện cuối cùng, để kiếm miếng bánh. Thứ hai trước, tôi dậy từ hai giờ sáng, làm việc đến gần nửa đêm; những ngày khác thì tôi làm từ 6 giờ sáng đến tận 11-12 giờ khuya. Nhưng tôi không chịu đựng nổi nữa, tôi không muốn tự mình chui vào quan tài. Vì vậy, mỗi tối, tôi chỉ làm việc đến 10 giờ; vào chủ nhật, tôi làm bù lại số thời gian đã mất đó".

Từ năm 1833 trở đi, ở Leicester, Derby, và Nottingham, tiền lương chưa có nơi nào tăng cả; tệ nhất là ở Leicester, vì truck-system vẫn còn phổ biến, như đã nói ở trên. Vì thế không có gì lạ, mỗi khi công nhân vùng dậy, thì công nhân dệt kim ở đó đều tham gia rất tích cực; vì đứng máy chủ yếu là nam giới, nên việc đó càng mạnh mẽ và nhiệt tình hơn.

Vùng công nhân dệt kim ở cũng là trung tâm của ngành sản xuất đăng-ten. Trong ba tỉnh nói trên, có tất cả 2760 máy đăng-ten; tất cả các miền khác của nước Anh thì chỉ có 786 máy. Do phân công lao động chặt chẽ, việc sản xuất đăng-ten trở nên vô cùng phức tạp, chia thành rất nhiều ngành nhỏ. Đầu tiên là cuộn chỉ vào ống, việc này là của những thiếu nữ (winder) 14 tuổi trở lên; sau đó đem các ống đó lắp vào máy, rồi luồn chỉ qua các lỗ nhỏ (mỗi máy bình quân có chừng 1800 lỗ nhỏ như thế), rồi lại kéo sợi chỉ đến chỗ qui định, việc này là của các em trai (threader) 8 tuổi trở lên; sau đó mới đến lượt công nhân sản xuất đăng-ten. Đăng-ten lấy từ máy ra là những tấm dài, rộng, do các em rất bé rút các sợi chỉ nối liền, chia tấm đăng-ten ra thành từng mảnh riêng; việc ấy gọi là running, hay drawing lace, những em bé ấy được gọi là lace-runner. Sau đó là đăng-ten thành phẩm, có thể đem bán. Winder (thợ đánh ống) cũng như threader (thợ luồn chỉ) đều không có giờ làm nhất định, mỗi khi chỉ trên máy hết là cần tới họ; vì công việc kéo dài suốt đêm, nên họ có thể bị gọi đến nhà máy hoặc phân xưởng của thợ đăng-ten bất kì lúc nào. Công việc không qui củ, thường phải làm đêm, dẫn đến lối sống không bình thường; tất cả những cái ấy gây ra rất nhiều tác hại về thể xác và tinh thần, nhất là việc quan hệ nam nữ hỗn loạn từ tuổi nhỏ, như các nhân chứng đã nhất trí vạch ra. Công việc còn rất hại cho mắt: dù chưa phát hiện bệnh kinh niên phổ biến ở các thợ luồn chỉ, nhưng bệnh sưng mắt thì rất thường gặp; việc luồn chỉ dễ gây đau mắt, chảy nước mắt và mờ mắt một thời gian v.v. Còn về các thợ đánh ống, thì người ta đã xác nhận là công việc của họ rất hại cho thị lực; gây ra viêm giác mạc thường xuyên, và thường bị đục thủy tinh thể. Công việc của bản thân các thợ đăng-ten rất nặng nhọc, vì các máy được chế ra ngày càng lớn; các máy hiện nay hầu như đều cần ba công nhân nam điều khiển; họ luân phiên nhau, cứ bốn giờ lại đổi một lần. Máy chạy suốt 24 giờ, vậy là mỗi người làm 8 giờ. Từ đó có thể thấy vì sao các thợ đánh ống và thợ luồn chỉ thường phải làm đêm: không thể để máy dừng lâu quá. Để luồn chỉ qua 1800 lỗ, cần ba đứa trẻ làm trong hai giờ. Có một số máy chạy bằng hơi nước, nó gạt bỏ lao động của đàn ông. "Báo cáo của Tiểu ban điều tra về lao động trẻ em" thì chỉ nói đến việc gọi trẻ em đến làm ở "xưởng đăng-ten", do đó có thể cho rằng: hiện nay, hoặc là các công nhân làm đăng-ten đã bị chuyển đến các xưởng lớn, hoặc là sức hơi nước đã được dùng rộng rãi để sản xuất đăng-ten. Hai việc đó đều cho thấy là chế độ công xưởng đã được mở rộng thêm. Hại cho sức khỏe nhất là công việc của lace-runner, rút chỉ từ những tấm đăng-ten; đó phần lớn là các bé bẩy tuổi, thậm chí 4-5 tuổi. Ủy viên Grainger còn thấy một đứa bé hai tuổi làm việc ấy. Phải chăm chú nhìn xem, trong đường thêu đăng-ten chằng chịt, sợi nào đó cần dùng kim khều ra; việc đó đặc biệt hại mắt, nhất là khi thường phải làm liên tục 14-16 giờ. Như vậy, trong trường hợp tốt nhất, họ cũng bị cận thị nặng; còn trong trường hợp xấu nhất, rất thường thấy, thì họ bị mù vĩnh viễn, do đục thủy tinh thể. Ngoài ra, vì thường phải làm việc ở tư thế cúi, nên khi trẻ lớn lên thì cơ thể rất yếu, ngực lép, và vì tiêu hoá không tốt mà bị tràng nhạc; các em nữ rất thường bị rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục, cột sống cong vẹo cũng phổ biến, thế nên "cứ nhìn dáng đi là có thể nhận ra em nào làm lace-runner". Việc thêu đăng-ten, với mắt cũng như với toàn cơ thể, đều có hậu quả như thế. Những chuyên gia y tế làm chứng đã nhất trí rằng: sức khỏe của tất cả trẻ em chuyên sản xuất đăng-ten đã bị tổn hại nặng nề: chúng đều xanh xao, yếu ớt, dễ bị bệnh; chúng thấp bé hơn hẳn so với tuổi; sức đề kháng cũng kém hẳn các trẻ khác. Bệnh tật mà chúng thường bị là suy nhược toàn thân, hay bị ngất; đau ở đầu, hai bên sườn, lưng, thắt lưng; tim đập mạnh, nôn ọe, chán ăn, cột sống cong vẹo, tràng nhạc và lao phổi. Công việc ấy luôn hủy hoại cơ thể phụ nữ đặc biệt nghiêm trọng; có rất nhiều ý kiến về việc họ bị thiếu máu, khó đẻ và sẩy thai (Grainger, nhiều chỗ trong "Báo cáo"). Chính Grainger đã báo cáo với tiểu ban điều tra về lao động trẻ em rằng: lũ trẻ thường mặc đồ tồi tàn, rách rưới, ăn uống rất kém, phần lớn chỉ có bánh mì và nước chè, thường mấy tháng liền không được ăn thịt; về tình hình đạo đức của trẻ thì ông nói như sau:
"Tất cả cư dân Nottingham: cảnh sát, tu sĩ, chủ xưởng, công nhân và cha mẹ của các đứa trẻ ấy, đều nhất trí rằng: chế độ lao động hiện nay là miếng đất tốt nhất để sinh ra hiện tượng đạo đức suy đồi. Thợ luồn chỉ phần lớn là con trai, thợ đánh ống phần lớn là con gái, chúng thường bị gọi cùng một lúc đến công xưởng giữa đêm khuya; vì cha mẹ chúng không thể biết là chúng phải làm ở đó bao lâu, nên chúng có cơ hội rất tốt để cùng nhau làm trò bậy bạ, xong việc thì rủ nhau đi chơi. Tình hình ấy đã góp phần rất lớn làm cho hiện tượng đạo đức bại hoại phát triển; mà theo ý kiến của mọi người, thì ở Nottingham, hiện tượng ấy đã đạt tới mức hết sức đáng sợ. Bên cạnh những tác hại trực tiếp đối với trẻ, hiện tượng hết sức phi tự nhiên ấy còn phá hoại sự an ninh và nền nếp trong gia đình của các trẻ đó".

Một ngành sản xuất đăng-ten khác, móc đăng-ten bằng que, phát triển ở các vùng nông nghiệp: Northampton, Oxford, Bedford, Buckingham; chủ yếu là trẻ em và thiếu niên làm, tất cả chúng đều phàn nàn về ăn uống kham khổ, rất ít khi có thịt. Bản thân công việc thì rất hại cho sức khỏe. Chúng phải làm trong các phòng nhỏ hẹp, bí hơi, ẩm thấp; luôn phải ngồi cúi gập trên bộ que móc. Để đỡ cơ thể của mình trong tư thế gò bó ấy, các em nữ đều phải mặc áo lót có độn một tấm gỗ; vì chúng thường bắt đầu làm việc từ tuổi rất nhỏ, lúc đó xương còn rất mềm, nên loại áo lót ấy đã làm cho xương lồng ngực và xương sườn hoàn toàn bị sai vị trí, dẫn đến lép ngực. Vì không khí chỗ làm việc rất xấu, và khi làm việc lại phải luôn ngồi, nên đại đa số những thiếu nữ ấy đều bị rối loạn tiêu hóa; và sau khi chịu đựng sự giày vò ác nghiệt (severest) của bệnh ấy, thì chúng chết vì lao phổi. Chúng hầu như không được giáo dục chút nào, về mặt đạo đức lại càng không, chúng còn thích làm điệu; do đó tình hình đạo đức của chúng rất kém, nạn mại dâm trong chúng hầu như đã trở thành một bệnh dịch ("Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em", báo cáo của Burns).

Đó là cái giá mà xã hội đã phải trả để cho các bà tư sản ăn diện được hưởng cái thú dùng đăng-ten! Đó chẳng phải là cái giá rất rẻ sao? Chỉ có vài nghìn công nhân bị hỏng mắt, một vài đứa con gái của những người vô sản bị lao phổi; một thế hệ dân đen bị suy yếu, thế hệ đó lại truyền cái suy yếu ấy cho con cháu của nó, cũng vẫn là dân đen thôi; điều đó có quan trọng gì? Không, chẳng quan trọng gì! Giai cấp tư sản Anh của chúng ta thờ ơ vứt báo cáo của tiểu ban điều tra của chính phủ ra một bên, và tiếp tục dùng đăng-ten để trang sức cho vợ con như cũ. Sự phớt tỉnh của người tư sản Anh thật là tuyệt.

Một số lớn công nhân Lancashire, Derbyshire và miền Tây Scotland làm việc ở các xưởng in hoa. Trong nền công nghiệp nước Anh, không có ngành nào mà sự phát triển kĩ thuật lại đạt được kết quả rực rỡ như vậy, nhưng cũng không có ngành nào mà sự phát triển ấy lại làm cho tình cảnh của công nhân tồi tệ đến thế. Việc sử dụng hơi nước để quay các trục lăn có khắc hoa, và việc tìm ra cách để trục lăn đó in một lần được 4-6 màu, đã hoàn toàn gạt bỏ lao động thủ công; y như việc sử dụng máy móc đã gạt bỏ lao động thủ công khỏi công nghiệp dệt và kéo sợi bông. Nhưng số công nhân bị những phát minh mới ấy gạt bỏ ở các công xưởng in hoa so với ở các công xưởng dệt bông thì còn nhiều gấp bội. Ở đây, một người lớn dùng máy, cùng với một đứa trẻ giúp việc, có thể ngang với 200 công nhân làm việc bằng tay. Một máy mỗi phút có thể làm ra 28 yard (80 foot) vải hoa. Kết quả là tình cảnh của công nhân in hoa rất tệ. Trong đơn thỉnh cầu của họ gửi Hạ viện có nói: năm 1842, Lancashire, Derbyshire và Chester đã sản xuất 11 triệu tấm vải hoa; trong đó, 10 vạn tấm hoàn toàn in bằng tay, 90 vạn tấm được in một phần bằng máy và phần khác bằng tay, 10 triệu tấm hoàn toàn in bằng máy; với từ 1-6 màu in. Vì đa số máy móc gần đây mới được áp dụng, lại luôn được cải tiến, nên số công nhân in hoa thủ công luôn nhiều hơn mức đòi hỏi của sản xuất; trong đó, rất nhiều người (trong đơn nói rõ là 1/4 tổng số) bị đói vì hoàn toàn không có việc làm, số còn lại thì bình quân mỗi tuần cũng chỉ 1-2 ngày là có việc, nhiều nhất là ba ngày, tiền lương lại thấp. Leach xác nhận: trong một công xưởng in hoa (Deeply Dale, gần Bury, ở Lancashire), công nhân in hoa thủ công bình quân kiếm được không quá 5 shilling một tuần ("Những sự thực không thể bác bỏ", tr. 47); ông cũng biết rất chắc rằng, tiền lương của công nhân in hoa bằng máy khá cao. Vậy là ngành in hoa đã hoàn toàn gia nhập chế độ công xưởng, nhưng không phải chịu những hạn chế của pháp luật đối với chế độ ấy. Ngành ấy lại sản xuất những hàng thời trang, nên không có thời gian lao động cố định. Khi hàng đặt ít thì họ chỉ làm nửa thì giờ; khi có mẫu hàng nào được hoan nghênh, bán chạy, thì công xưởng làm việc tới 10-12 giờ đêm, có khi suốt đêm. Ở Manchester, gần nhà tôi, có một xưởng in hoa. Nhiều lần khá khuya, khi về nhà, tôi còn thấy đèn sáng trong xưởng; tôi lại thường nghe nói rằng: ở đó, bọn trẻ phải làm việc quá lâu, nên chúng hay tìm cơ hội để nghỉ hoặc ngủ một tí, trên bậc thềm đá hoặc trong một góc ở phòng ngoài. Tôi không có tài liệu xác thực về việc này, nếu có, tôi đã nêu tên xưởng ấy. "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em" chỉ nói qua về tình cảnh của công nhân ngành ấy, theo đó thì: ở Anh, ít ra lũ trẻ phần lớn còn được ăn và mặc khá tốt (điều này cũng tương đối, dĩ nhiên là tùy theo số tiền cha mẹ chúng kiếm được), nhưng chúng lại chẳng được giáo dục chút nào, và về đạo đức thì chẳng ra sao. Chỉ cần hiểu rằng bọn trẻ ấy sống dưới chế độ công xưởng, và liên hệ với những điều đã nói về chế độ ấy là đủ; bây giờ có thể nói sang vấn đề khác.

Về các công nhân khác trong ngành sản xuất hàng may mặc, ta chỉ nói thêm chút ít. Công việc của thợ tẩy trắng rất hại cho sức khỏe, vì họ luôn phải hít khí Clo, một chất độc cho phổi. Công việc của thợ nhuộm ít hại hơn, nhiều khi còn lợi sức khỏe, vì nó đòi hỏi dùng sức toàn thân. Vấn đề tiền lương của họ hầu như không được nói tới, điều đó chứng tỏ rằng tiền lương ấy không thấp hơn mức trung bình, nếu không thì họ đã kêu ca rồi. Vì hàng nhung sợi bông được tiêu thụ mạnh, nên số thợ xén nhung khá đông, có tới 3-4 nghìn người gián tiếp bị điêu đứng vì chế độ công xưởng. Hàng do máy dệt thủ công sản xuất trước đây thì không đều lắm, nên cần thợ lành nghề xén từng hàng chỉ cho đều. Từ khi dệt bằng máy hơi nước, các hàng chỉ đều tăm tắp, sợi ngang hoàn toàn song song với nhau, nên việc xén không còn đòi hỏi nhiều kĩ xảo. Các công nhân bị máy móc làm cho thất nghiệp đã đổ xô vào việc ấy, và vì cạnh tranh nên tiền lương hạ xuống. Các chủ xưởng thì thấy hoàn toàn có thể thuê phụ nữ và trẻ em đi xén nhung, do đó tiền lương hạ xuống mức của phụ nữ và trẻ em, hàng trăm người đàn ông bị đào thải hẳn. Giới chủ còn thấy: để công nhân làm ở xưởng thì rẻ hơn là để họ làm tại xưởng riêng của họ, vì khi công nhân làm ở xưởng riêng thì chủ xưởng phải gián tiếp trả tiền thuê các xưởng ấy. Từ đó, gác xép của nhiều cottage, trước đây dùng làm xưởng xén, nay thì bỏ trống hoặc dùng để ở; các thợ xén nhung thì mất quyền tự do chọn giờ làm việc, và phải tuân theo tiếng chuông công xưởng. Một thợ xén nhung trạc 45 tuổi nói với tôi rằng: ông vẫn nhớ cái thời mình kiếm được 8 penny mỗi yard, còn ngày nay là 1 penny; thật vậy, dù có thể xén nhanh hơn vì máy dệt ra sợi rất đều, nhưng cũng khó mà làm được gấp đôi mức ngày xưa, thế nên lương của ông đã giảm đi hơn 3/4 so với trước. Leach đã lập một bảng so sánh tiền công của nhiều loại hàng dệt, giữa năm 1827 và năm 1843 ("Những sự thực không thể bác bỏ", tr. 35). Theo đó, năm 1827, thợ xén nhung được 4 penny, 2 1/4 penny, 2 3/4 penny, 1 penny mỗi yard; năm 1843 thì tương ứng chỉ còn 1 1/2 penny, 3/4 penny, 1 penny, 3/8 penny. Theo Leach, tiền lương bình quân mỗi tuần năm 1827 là 1 Bảng 6 shilling 6 penny, 1 Bảng 2 shilling 6 penny, 1 Bảng, 1 Bảng 6 shilling 6 penny; tới năm 1843 thì tương ứng chỉ còn 10 shilling 6 penny, 7 shilling 6 penny, 6 shilling 8 penny, 10 shilling; và còn hàng trăm công nhân khác thậm chí không kiếm được mức lương thấp nhất ở đó. Về các thợ dệt thủ công trong công nghiệp bông vải sợi, thì ta đã nói tới rồi. Các loại hàng dệt khác hầu như hoàn toàn do thợ dệt thủ công làm, họ cũng bị điêu đứng như các thợ xén nhung; do những công nhân ở các ngành khác, bị máy móc làm thất nghiệp nên đổ xô sang; ngoài ra, hệt như công nhân công xưởng, nếu họ làm không tốt thì bị phạt một cách tàn nhẫn. Ví dụ công nhân dệt lụa. Một trong những chủ xưởng dệt lụa lớn nhất nước Anh là Brocklehurst đã lấy vài bảng thống kê trong sổ sách của ông ta để trình lên tiểu ban nghị viện; theo đó thì năm 1821, ông ta đã trả tiền công cho các loại công việc là 30 shilling, 14 shilling, 3 1/2 shilling, 3/4 shilling, 1 1/2 shilling, 10 shilling; đến năm 1831 thì tương ứng chỉ còn 9 shilling, 7 1/2 shilling, 2 1/4 shilling, 1/3 shilling, 1/2 shilling, 6 1/4 shilling, dù ở ngành này máy móc chưa được cải tiến chút nào. Những việc ông Brocklehurst đã làm có thể coi là tiêu chuẩn cho cả nước Anh. Còn công nhân dệt ở xưởng ấy, năm 1821, sau khi trừ mọi khoản khấu hao, thì được mỗi tuần 16 1/2 shilling; đến năm 1831 chỉ còn 6 shilling. Từ đó đến nay, tiền lương còn giảm hơn nữa: năm 1831, một loại hàng dệt (gọi là single sarsnets) có tiền công là 4 penny mỗi yard, tới năm 1843 chỉ còn 2 1/2 penny, và rất nhiều thợ dệt ở nông thôn chỉ có việc làm nếu lấy tiền công là 1 1/2-2 penny mỗi yard. Ngoài ra còn có các khoản khấu trừ vào tiền công nữa. Mỗi thợ dệt khi nhận sợi thì cũng nhận một tấm các ghi ngày giờ giao sản phẩm, nếu ốm không làm việc được thì trong ba ngày phải báo cho văn phòng biết, nếu không thì dù có ốm thật cũng bị trừ tiền; phải chờ lấy sợi nên bị muộn thì cũng bị trừ tiền; nếu có sai sót (ví dụ: dùng nhiều sợi hơn qui định trên một chiều dài nhất định, v.v.) thì bị trừ không dưới một nửa tiền công; nếu không giao hàng đúng hạn thì cứ mỗi yard bị trừ một penny. Các khoản khấu trừ ghi trên tấm các ấy đã làm cho tiền lương giảm rất nhiều; ví dụ, có một người nhận hàng, cứ một tuần hai lần đến Leigh (Lancashire) để lấy sản phẩm; mỗi lần như thế, ông ta mang về cho chủ xưởng một món tiền phạt, ít nhất 15 Bảng. Chính ông ta đã nói thế, và đó vẫn được coi là một trong những người khoan dung nhất. Trước kia, vấn đề ấy là do tòa án trọng tài giải quyết, nhưng ai mà đòi xin tòa án giải quyết thì thường bị sa thải ngay, nên tục lệ đó dần mất hẳn; bây giờ, chủ xưởng có thể hoàn toàn làm theo ý muốn; y vừa là nguyên cáo, vừa là nhân chứng, vừa là quan tòa, vừa là nhà lập pháp, vừa là người hành pháp, tất cả trong một. Nếu công nhân kiện tới thẩm phán hòa giải thì sẽ được trả lời: "Các anh đã nhận tấm các ấy tức là các anh đã kí giao kèo rồi, các anh phải thi hành giao kèo", y như với công nhân công xưởng. Ngoài ra, chủ xưởng còn bắt công nhân phải kí vào một văn tự, ghi rõ là anh ta "đồng ý chịu khấu trừ". Nếu anh ta phản đối, thì lập tức các chủ xưởng trong toàn thành phố đều biết ngay anh ta, như Leach nói, là một kẻ
"không chịu phục tùng trật tự và luật lệ được qui định trên tấm các; dám cả gan nghi ngờ về trí tuệ của những người, mà anh ta phải biết rằng họ là bề trên của anh ta trong xã hội" ("Những sự thực không thể bác bỏ", tr. 37-40).

Dĩ nhiên, các công nhân dệt đều hoàn toàn tự do, chủ xưởng không hề bắt họ phải lĩnh sợi và tấm các của hắn; và theo lối nói vắn tắt và rõ ràng của Leach, thì chủ xưởng chỉ nói với công nhân rằng:
"Nếu không muốn bị rán ở trong chảo mỡ của tôi, thì các anh có thể đi vào trong lửa" (If you don't like to be frizzled in my frying-pan, you can take a walk into the fire).

Các công nhân dệt lụa ở London, nhất là Spitalfield, từ lâu đã sa vào cảnh khốn khổ cùng cực có tính chu kì, và họ vẫn chưa có lí gì để thỏa mãn về tình cảnh hiện nay của mình; bằng chứng là việc họ hết sức tích cực tham gia tất cả các cuộc đấu tranh của công nhân Anh, nhất là ở London. Sự cực khổ của họ là nguyên nhân bùng phát của một trận dịch sốt ở phía đông London, điều đó dẫn đến việc thành lập một tiểu ban điều tra về tình hình vệ sinh của giai cấp công nhân. Tuy vậy, báo cáo mới nhất của bệnh viện sốt London cho thấy rằng bệnh sốt ấy vẫn hoành hành dữ dội như trước.

Sau dệt may, ngành quan trọng thứ hai của công nghiệp Anh là chế tạo đồ kim loại. Trung tâm của nó là Birmingham, với nhiều loại sản phẩm tinh vi; là Sheffield, chuyên sản xuất dao kéo; và Staffordshire, nhất là Wolverhampton, chuyên làm các loại hàng giản đơn như khóa, đinh, v.v. Ta sẽ mô tả tình cảnh của công nhân ngành ấy, bắt đầu với Birmingham. Ở đó, cũng như ở hầu hết các địa phương làm đồ kim loại, tổ chức sản xuất vẫn còn một số đặc điểm của thủ công nghiệp thời xưa. Vẫn có những thợ cả, cùng với thợ học việc của mình, làm việc trong xưởng riêng tại nhà họ; khi cần dùng máy hơi nước thì họ đến làm ở một công xưởng lớn, xưởng ấy được chia thành nhiều gian nhỏ, mỗi thợ cả thuê một gian; mỗi gian còn có dây cua-roa, truyền lực từ động cơ hơi nước để chạy máy. Léon Faucher (tác giả nhiều bài báo nói về tình cảnh công nhân Anh, đăng trên tạp chí "Revue des deux Mondes"; những bài ấy chứng tỏ rằng tác giả ít ra cũng đã nghiên cứu vấn đề, và chúng chắc chắn còn khá hơn, so với những cái mà người Anh hay người Đức đã viết, về vấn đề ấy) đã gọi cách tổ chức sản xuất ấy là démecratie industrielle2, để đối lập nó với nền sản xuất lớn của Lancashire và Yorkshire. Ông còn nói rằng: kiểu tổ chức ấy không có lợi mấy, đối với thợ cả cũng như thợ bạn. Nhận xét ấy hoàn toàn đúng: cùng một món lợi nhuận, ở trường hợp khác thì chỉ thuộc về một chủ xưởng lớn, giờ đây do cạnh tranh nên nó bị chia nhỏ cho nhiều thợ cả, vì vậy việc kinh doanh của các thợ cả ấy không khá lên được. Xu hướng tập trung tư bản thường kìm hãm họ: cứ một người phát tài thì mười người khác phá sản, và một trăm người khác nữa gặp khốn khó hơn trước; vì áp lực cạnh tranh, khi mà người phát tài kia có thể bán hàng với giá rẻ hơn. Và khi phải cạnh tranh với các nhà tư bản lớn, thì dĩ nhiên là các thợ cả phải vất vả lắm mới sống nổi. Các thợ học việc thì như ta sẽ thấy, họ sống với thợ cả ít ra cũng khổ như với chủ xưởng, có khác là sau này họ cũng sẽ trở thành thợ cả, do đó họ được độc lập ít nhiều; có thể nói là họ cũng bị giai cấp tư sản bóc lột, nhưng không trực tiếp như ở công xưởng. Vậy các thợ cả ấy không phải là người vô sản thực thụ, vì họ ít nhiều vẫn sống nhờ lao động của thợ học việc, và cái họ bán ra không phải là lao động, mà là sản phẩm; nhưng họ cũng không phải là người tư bản thực thụ, vì họ sống chủ yếu bằng lao động của bản thân. Địa vị lưng chừng, độc đáo ấy của công nhân Birmingham là lí do của việc họ rất ít tham gia, một cách toàn bộ và công khai, vào phong trào công nhân Anh. Birmingham là một thành phố cấp tiến về chính trị, nhưng không kiên quyết ủng hộ phong trào Hiến chương. Nhưng ở đây cũng có nhiều nhà tư bản sở hữu các công xưởng lớn, tại đó, chế độ công xưởng đã được thiết lập vững chắc; sự phân công lao động hết sức tinh tế (như trong ngành sản xuất kim), và việc dùng sức hơi nước, khiến các chủ xưởng có thể thuê rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Thế nên cũng có thể thấy ở đây (theo "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em") những chuyện mà báo cáo về công xưởng đã nói tới nhiều lần: phụ nữ có thai phải làm việc đến tận ngày đẻ, và không biết thu xếp việc nhà; con cái không được săn sóc, nên lạnh nhạt và chán ghét cuộc sống gia đình, đạo đức sa sút; đàn ông bị loại bỏ, máy móc không ngừng cải tiến, trẻ con tự lập quá sớm, chồng phải sống nhờ vào vợ con, v.v., và v.v. Theo như báo cáo thì lũ trẻ đói khát, rách rưới. Có một nửa số trẻ không biết ăn no là thế nào; nhiều đứa một ngày chỉ ăn một penny bánh mì, hoặc chẳng được ăn gì trước bữa trưa; thậm chí có đứa còn không được ăn gì ăn từ tám giờ sáng đến tận bẩy giờ tối. Quần áo chúng thường không đủ che thân; nhiều đứa thậm chí vẫn đi chân trần vào mùa đông. Do đó, chúng đều bé nhỏ, yếu ớt so với tuổi; rất ít đứa phát triển tốt. Nếu chú ý rằng, trong khi các phương tiện bồi dưỡng sức khỏe thì thiếu thốn như thế, mà chúng lại phải lao động nặng nhọc kéo dài, trong những căn phòng ngột ngạt; thì sẽ chẳng ngạc nhiên khi thấy số đàn ông có thể tham gia quân đội ở Birmingham lại ít như thế.
Một y sĩ tuyển tân binh nói: "Các công nhân đều bé nhỏ, gầy gò và thể lực rất kém; có nhiều người bị cong vẹo lồng ngực hoặc cột sống".

Theo lời của một hạ sĩ quan tuyển tân binh, đàn ông Birmingham thấp bé hơn so với bất kì địa phương nào khác: thường chỉ cao 5 foot 4-5 inch; trong 613 tân binh tòng quân, chỉ 238 người đủ tiêu chuẩn. Về giáo dục thì xin độc giả quay lại xem các dẫn chứng và thí dụ đã nêu ở trên, về đời sống ở các khu vực làm đồ kim loại. Hơn nữa, theo "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em" thì ở Birmingham có quá nửa số trẻ 5-15 tuổi không được đi học, số trẻ đi học thì luôn thay đổi, thế nên muốn cho chúng chút ít giáo dục kha khá cũng không được; tất cả trẻ đều bỏ học rất sớm để đi làm. Qua báo cáo còn có thể thấy, những giáo viên ở đó là người thế nào. Một nữ giáo viên, khi được hỏi có dạy đạo đức không, đã trả lời: "Không, học phí chỉ có ba penny mỗi tuần, thì không thể đòi hỏi như vậy". Một số giáo viên không hiểu "dạy đạo đức" là gì, số khác thì cho rằng giáo dục đạo đức cho trẻ không phải là việc của họ. Chỉ có một nữ giáo viên nói: tuy mình không dạy đạo đức, nhưng gắng sức truyền cho trẻ những nguyên tắc tốt đẹp; khi nói câu đó, bà ta đã mắc lỗi văn phạm. Một ủy viên nói: lớp học thường ồn ào, lộn xộn. Do đó, trình độ đạo đức của trẻ em rất tệ: một nửa số tội phạm là dưới 15 tuổi; chỉ trong một năm, đã có 90 trẻ mười tuổi bị kết án, trong đó 44 đứa phạm tội hình sự. Theo các ủy viên tiểu ban, thì quan hệ tình dục hỗn loạn, ngay từ tuổi rất nhỏ, hầu như là hiện tượng phổ biến (Grainger, "Báo cáo" và Văn kiện).

Tình hình Staffordshire còn tệ hơn. Ở đấy sản xuất đồ sắt giản đơn, mà ngành này thì không thể tiến hành phân công lao động tỉ mỉ (trừ một số ít việc), cũng không thể dùng hơi nước hay máy móc. Thế nên ở Wolverhampton, Willenhall, Bilston, Sedgeley, Wednesfield, Darlaston, Dudley, Walsall, Wednesbury, v.v. có khá ít công xưởng, nhưng các lò rèn nhỏ thì rất nhiều; ở các lò ấy, một thợ cả làm việc với một vài thợ học việc, những người học việc này phải phục vụ thợ cả tới năm 21 tuổi. Tình cảnh của thợ cả gần giống như ở Birmingham, còn thợ học việc thì phần lớn là tệ hơn nhiều. Họ hầu như chỉ được ăn thịt của các con vật bị bệnh hoặc bị chết: thịt ôi, cá ươn, thịt bê chết non, thịt lợn chết trong toa xe lửa. Không chỉ các thợ cả, mà các chủ xưởng lớn, có tới 30-40 thợ học việc, cũng làm như vậy. Tình hình ấy hầu như phổ biến ở Wolverhampton, hậu quả tự nhiên của nó là bệnh đường ruột rất thường xuyên, và các bệnh khác nữa. Ngoài ra, bọn trẻ ít khi được ăn no, và ngoài bộ đồ lao động, chúng không có quần áo gì khác; đó là một nguyên nhân khiến chúng không đi học ở các trường chủ nhật. Chỗ ở tồi tàn và bẩn thỉu, đến mức trở thành nguồn phát sinh bệnh tật; dù về cơ bản thì công việc không hại cho sức khỏe, nhưng lũ trẻ vẫn rất bé nhỏ, khẳng khiu, yếu đuối; nhiều khi chúng còn bị tàn tật ghê gớm do lao động. Như ở Willenhall, có rất nhiều người vì thường làm việc ở máy rèn đinh ốc, nên bị gù lưng và vẹo một bên đầu gối, gọi là "chân quặt" (hind-leg), như vậy hai chân thành hình chữ K; ngoài ra còn có ít nhất 1/3 công nhân bị chứng thoát vị. Ở đây cũng như Wolverhampton, tuổi dậy thì của con gái (vì con gái cũng làm việc ở lò rèn!) cũng như con trai thường rất muộn, có khi phải tới 19 tuổi. Ở thành phố Sedgeley và vùng lân cận, hầu như chuyên sản xuất đinh, người ta phải sống và làm việc trong những gian lều tồi tàn như chuồng súc vật, bẩn thỉu quá sức tưởng tượng. Con gái và con trai từ 10-12 tuổi đã phải quai búa, đến khi nào có thể làm ra 1000 cái đinh mỗi ngày, chúng mới được coi là thợ thật sự. Làm 1200 chiếc đinh thì được 5 3/4 penny. Cần 12 nhát búa để làm ra 1 cái đinh, và vì cái búa nặng 1 1/4 pound, nên công nhân phải nhấc lên 18000 pound mới kiếm nổi chút tiền lương khốn nạn ấy. Trong điều kiện lao động vất vả mà lại bị thiếu ăn, cơ thể bọn trẻ dĩ nhiên là phát triển không tốt, bé nhỏ, yếu đuối; tài liệu của tiểu ban đã chứng thực điều ấy. Về tình hình giáo dục ở khu ấy, chúng tôi đã cung cấp một số tư liệu. Trình độ giáo dục ở đây thấp đến mức không tưởng tượng được: một nửa số trẻ thậm chí không đến trường học chủ nhật, số còn lại dù có đến thì cũng rất chểnh mảng; so với các khu khác, số trẻ biết đọc rất ít, biết viết lại càng ít. Dĩ nhiên, vì chính khoảng từ 7-10 tuổi, đúng vào tuổi đi học phù hợp nhất, thì chúng lại bắt đầu phải đi làm; còn thầy giáo ở trường chủ nhật toàn là thợ rèn hoặc thợ mỏ, họ thường chỉ biết đọc vài ba chữ, thậm chí không viết nổi tên mình. Trình độ đạo đức thì phù hợp với trình độ giáo dục. Ủy viên Horne dẫn ra nhiều ví dụ chứng tỏ rằng: ở Willenhall, công nhân chẳng có ý niệm gì về đạo đức. Ông thấy rằng: con cái nói chung không có ý thức về bổn phận với cha mẹ, cũng không có tình cảm kính yêu với họ. Chúng gần như không biết suy nghĩ về những gì mình nói, chúng u mê đần độn đến nỗi thường cho là mình được đối xử tốt và sống dễ chịu; trong khi chúng phải làm việc 12-14 giờ một ngày, ăn đói mặc rách, bị đánh đập đến nỗi mấy ngày sau còn thấy đau. Chúng không biết đến lối sống nào khác, ngoài việc lao động cực khổ từ sáng đến tối, tới khi được phép nghỉ; chúng không hiểu được câu hỏi "có mệt hay không?", chưa ai từng hỏi chúng câu đó (Horne, "Báo cáo" và Văn kiện).

Ở Sheffield tiền lương khá hơn, thế nên tình cảnh bề ngoài của công nhân cũng vậy. Nhưng ở đây cũng cần chỉ ra vài ngành lao động cực kì hại cho sức khỏe. Một số thao tác buộc công nhân phải thường lấy ngực đè lên dụng cụ, việc đó thường dẫn đến lao phổi; một số thao tác khác, chẳng hạn như sản xuất giũa, lại ngăn cản sự phát triển chung của cơ thể, gây ra các bệnh đường ruột; việc gọt xương (làm cán dao) gây ra nhức đầu, hoàng đản, nhiều bé gái làm việc ấy thì mắc chứng thiếu máu. Nhưng hại sức khỏe nhất là việc mài lưỡi dao và răng dĩa: nó chắc chắn làm cho công nhân chết sớm, đặc biệt là khi mài bằng đá khô. Cái hại ấy một phần vì phải đứng khom lưng, do đó ngực và dạ dày thường bị ép; nhưng chủ yếu là vì rất nhiều bụi kim loại li ti sắc cạnh, bay đầy trong không khí mỗi khi mài, không thể không hít phải chúng. Thợ mài đá khô trung bình rất khó sống đến 35 tuổi, thợ mài đá ướt cũng rất ít ai sống đến quá 45 tuổi. Bác sĩ Knight ở Sheffield nói:
"Để người ta phần nào hiểu được tác hại của công việc ấy, tôi phải nói rằng: trong giới thợ mài, những người nghiện rượu nặng nhất lại sống lâu nhất, vì họ làm việc ít hơn so với những người khác. Ở Sheffield, tổng cộng có chừng 2500 thợ mài; trong số ấy có độ 150 người (80 đàn ông, 70 em bé) mài răng dĩa, họ thường chết ở tuổi 28-32. Thợ mài dao cạo, dù bằng đá khô hay đá ướt, đều chết ở 40-45 tuổi; còn thợ mài dao ăn bằng đá ướt thì 40-50 tuổi là chết".

Ông mô tả diễn biến chứng bệnh của họ, gọi là bệnh suyễn của thợ mài, như sau:
"Họ thường bắt đầu làm việc từ mười bốn tuổi, nếu cơ thể khỏe mạnh thì trước hai mươi tuổi, họ chẳng thấy gì đặc biệt khó chịu; sau đó, những triệu chứng đặc thù của bệnh ấy bắt đầu hiện ra: khi họ leo dốc hay lên cầu thang, chỉ gắng sức một ít là đã bị khó thở; để giảm bớt chứng khó thở ngày càng nặng ấy, họ phải vươn vai cao lên, phải luôn cúi về phía trước, và hình như chỉ đứng khom lưng như lúc làm việc thì mới thấy dễ chịu; da mặt họ dần thành vàng ệch, và có vẻ âu sầu; họ phàn nàn về việc bị tức ngực, giọng họ trở nên khản đặc; họ ho mạnh, tiếng ho nghe như phát ra từ một thùng gỗ; có những khi họ khạc ra nhiều bụi, hoặc lẫn với đờm, hoặc kết thành những cục tròn hay hình trụ, có một màng đờm mỏng bao quanh. Sau đó là ho ra máu, khó nằm ngửa, đổ mồ hôi trộm ban đêm, đau bụng đi ngoài, sút cân cực nhanh, cùng với mọi triệu chứng quen thuộc của lao phổi; cứ như vậy, họ khổ sở hàng tháng, thậm chí hàng năm, không thể làm việc để nuôi mình và gia đình, cuối cùng là chết. Tôi phải nói thêm rằng: đến nay, mọi cố gắng để phòng và chữa bệnh suyễn của thợ mài đều hoàn toàn thất bại".

Đó là những điều mà bác sĩ Knight viết mười năm trước. Từ đó, số thợ mài tăng lên, và độ dữ dội của bệnh ấy cũng vậy; dù vài biện pháp phòng bệnh, như che kín đá mài và dùng luồng gió để hút bụi, đã được thực hiện. Việc ấy ít nhất đã phần nào thành công, nhưng chính các thợ mài lại không muốn dùng các thiết bị ấy, thậm chí có nơi họ còn phá bỏ chúng; họ sợ rằng việc đó sẽ thu hút thêm nhiều thợ vào nghề này, rồi tiền lương của họ sẽ giảm, họ thà "sống cuộc đời ngắn ngủi, nhưng khoan khoái". Với các thợ mài có triệu chứng đầu tiên của bệnh suyễn, đến chỗ mình khám bệnh, bác sĩ Knight thường nói: trở lại với nghề mài nghĩa là đi vào chỗ chết. Nhưng vô ích: đã làm thợ mài là chẳng còn hi vọng gì, như là đã bán mình cho quỉ. Trình độ giáo dục ở Sheffield rất thấp. Một linh mục có nhiều kinh nghiệm trong việc thống kê giáo dục cho rằng: trong 16500 trẻ ở tuổi đi học thuộc giai cấp công nhân, không quá 6500 đứa biết đọc. Lí do là cứ tới bẩy tuổi, muộn nhất là mười hai tuổi, thì chúng bị đưa ra khỏi trường học; còn các giáo viên thì chẳng ra gì (trong đó có một tên ăn cắp đã bị bắt quả tang, ra tù thì không biết làm gì kiếm sống, nên mới đi dạy học!). Tình hình trụy lạc đạo đức trong thanh niên ở Sheffield hình như ghê gớm hơn bất kì đâu (nhưng thật khó nói là thành phố nào đoạt giải nhất về mặt ấy, khi đọc báo cáo thì thấy nơi nào cũng đáng được nhất cả). Cứ chủ nhật là bọn thanh niên lang thang ngoài phố cả ngày, chơi sấp ngửa hay thúc cho chó cắn lộn nhau; chúng thường la cà ở quán rượu, ngồi với tình nhân ở đó đến tận đêm khuya, rồi từng cặp đi dạo chơi ở những chỗ hẻo lánh. Một ủy viên tiểu ban thấy trong một quán rượu nhỏ có 40-50 thiếu niên trai gái hầu hết dưới 17 tuổi, mỗi chàng ngồi bên bạn gái của mình. Một số chơi bài, số khác ca hát nhảy múa; tất cả đều uống rượu. Một số gái điếm chuyên nghiệp cũng ngồi đấy. Thế nên chẳng có gì lạ khi tất cả những nhân chứng đều nói: quan hệ tình dục bừa bãi quá sớm và nạn mại dâm là hết sức phổ biến ở Sheffield, cả với thiếu niên 14-15 tuổi. Hành vi phạm tội hết sức liều lĩnh và dã man là chuyện thường. Một năm trước khi ủy viên tiểu ban tới, ở Sheffield đã bắt được một bọn âm mưu đốt thành phố, chủ yếu là thanh niên; chúng được trang bị đầy đủ chất đốt và giáo dài. Dưới đây ta sẽ thấy là phong trào công nhân ở Sheffield cũng mang tính chất không kiềm chế được như thế (Symons, "Báo cáo" và Văn kiện).

Ngoài những trung tâm công nghiệp kim khí chủ yếu ấy, còn có các xưởng kim găm ở Warrington (Lancashire), công nhân ở đây, nhất là trẻ em, cũng hết sức cùng khổ, bại hoại đạo đức và dốt nát; và mấy nhà máy đinh ở vùng cận Wigan (Lancashire) và miền Đông Scotland. Những báo cáo về mấy khu vực ấy hầu như hoàn toàn phù hợp với những báo cáo về Staffordshire.

Trong công nghiệp kim khí, chỉ còn một ngành mà ta chưa nói tới, đó là chế tạo máy. Ngành này chủ yếu có ở các khu công xưởng, nhất là Lancashire. Đặc điểm của ngành đó là dùng máy móc để chế tạo máy móc, như vậy là nó phá hủy nốt chỗ nương thân cuối cùng của những công nhân bị gạt bỏ khỏi các ngành khác, đây là việc chế tạo ra chính những cái máy sẽ thay thế và đào thải họ. Những máy bào, máy khoan; máy làm đinh vít, bánh xe, ốc, v.v., và các máy tiện đã loại bỏ hàng loạt công nhân; những người ấy xưa kia có lương cao và luôn có việc làm, bây giờ bị thất nghiệp; có thể gặp hàng đoàn người như thế ở Manchester.

Bây giờ ta nói đến một khu công nghiệp ở phía Bắc khu làm đồ sắt Staffordshire, với ngành sản xuất đồ gốm (potteries); có trung tâm là Stoke, bao gồm Henley, Burslem, Lane End, Lane Delph, Etruria, Coleridge, Langport, Tunstall, Golden Hill, tất cả có 6 vạn dân. "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em" viết: ở vài ngành sản xuất đồ gốm, trẻ em được làm việc nhẹ trong những phòng ấm và rộng; ở một vài ngành khác, thì chúng không được ăn no mặc ấm, lại phải làm việc vất vả. Nhiều đứa kêu ca: "Tôi không được ăn no, thường chỉ có khoai tây chấm muối, chẳng bao giờ có thịt và bánh mì; tôi không được đi học, không có quần áo nào khác để thay. - Trưa nay chẳng có gì ăn, ở nhà tôi chưa bao giờ được ăn bữa trưa; thức ăn thường chỉ là khoai tây chấm muối, đôi khi có bánh mì. - Quần áo tôi mặc trên người là tất cả những thứ tôi có; tôi không có quần áo ngày lễ". Có những đứa trẻ gọi là mould-runner, công việc của chúng đặc biệt hại cho sức khỏe, đó là đem đồ gốm còn ở trong khuôn đến nhà phơi, khi đồ gốm khô thì đem khuôn rỗng về xưởng. Thế là chúng phải chạy đi chạy lại suốt ngày, mang các thứ quá nặng so với tuổi; mà phải làm ở nơi nhiệt độ cao, nên chúng càng mệt mỏi. Những trẻ ấy, hầu như không trừ đứa nào, đều gầy gò, xanh xao, yếu đuối, bé nhỏ, thân hình khó coi; chúng hầu hết đều mắc bệnh đường ruột, bị nôn mửa, chán ăn, nhiều đứa chết vì lao phổi. Những đứa trẻ quay bánh xe (jigger), do đó cũng được gọi là jigger, hầu hết cũng yếu đuối như vậy. Nhưng có hại nhất là việc đem sản phẩm ngâm vào nước men chứa nhiều chì, và thường có thêm nhiều thạch tín, rồi dùng tay không để lấy những đồ vừa ngâm trong nước men ấy ra. Bàn tay và quần áo của những công nhân ấy, đàn ông và trẻ em, luôn nhầy nhụa nước men; da tay họ bở ra, và vì phải thường xuyên cầm những vật xù xì, da dễ bị rách, nên ngón tay bị chảy máu, luôn làm cho những chất độc ấy rất dễ xâm nhập vào cơ thể. Kết quả là những cơn đau dữ dội và những bệnh nghiêm trọng về ruột và dạ dày: táo bón dai dẳng, đau bụng; có khi là lao phổi, trẻ con thì thường bị động kinh. Đàn ông thường bị liệt cơ bàn tay, colica pictorum3, và liệt hoàn toàn các chi. Một nhân chứng nói: hai chú bé làm cùng anh ta đã chết vì bị co giật khi đang làm việc. Một nhân chứng khác, hồi nhỏ đã phụ việc ở thùng tráng men trong hai năm, thì nói: đầu tiên anh ta bị đau dụng dữ dội, sau đó bị co giật, phải nằm liệt giường hai tháng; từ đấy về sau thì bị co giật ngày càng nhiều, bây giờ hàng ngày đều lên cơn, thường từ 10-20 cơn mỗi ngày. Nửa thân bên phải của anh ta đã bị liệt, và bác sĩ nói rằng anh ta sẽ không bao giờ sử dụng được tay phải và chân phải nữa. Ở bể tráng men của một công xưởng nọ, có bốn người đàn ông, họ đều bị động kinh và đau bụng dữ dội; và mười một bé trai, trong đó cũng có mấy đứa bị động kinh. Tóm lại, cái bệnh ghê gớm ấy là hậu quả tự nhiên của việc tráng men, và cũng là để làm giàu thêm cho giai cấp tư sản! Ở chỗ đánh bóng đồ gốm, không khí tràn ngập bụi đá li ti, hít phải nó cũng có hại hệt như những thợ mài ở Sheffield phải hít bụi thép. Họ bị khó thở, không thể nằm xuống, đau họng, ho dữ dội, giọng nói yếu nên gần như không ai nghe thấy. Họ cũng bị lao phổi mà chết. Trong khu làm đồ gốm này có khá nhiều trường học, trẻ em lẽ ra có thể đi học, nhưng chúng lại phải làm ở công xưởng từ tuổi nhỏ, và ngày làm việc lại quá dài (thường là mười hai giờ, có khi còn hơn), thế nên chúng không thể tới trường; trong số trẻ mà ủy viên tiểu ban đã kiểm tra, có tới 3/4 không biết đọc cũng như viết, và cả khu ấy chìm trong nạn dốt nát nghiêm trọng. Có những trẻ đã học trường chủ nhật nhiều năm rồi, mà không phân biệt được các chữ cái. Không chỉ giáo dục tri thức, mà cả giáo dục đạo đức và giáo dục tôn giáo cũng ở trình độ rất thấp (Scriven, "Báo cáo" và Văn kiện).

Trong ngành sản xuất thủy tinh có những việc hình như không có hại lắm với người lớn, nhưng trẻ em thì chịu không nổi. Lao động nặng nhọc, thời gian làm việc thất thường, hay phải làm đêm, nhất là nhiệt độ cao (37-54 độ C) ở nơi làm việc; tất cả những cái ấy làm cho lũ trẻ suy yếu toàn thân, hay bị bệnh, phát triển kém; đặc biệt là bệnh đau mắt, đau dạ dày, viêm phế quản và thấp khớp. Rất nhiều trẻ xanh xao, mắt đỏ, nhiều khi không nhìn thấy gì suốt mấy tuần; bị buồn nôn dữ dội, ọe mửa, ho, cảm lạnh và thấp khớp. Khi lấy sản phẩm từ trong lò ra, bọn trẻ buộc phải làm việc ở nhiệt độ rất cao, tới mức những mảnh ván dưới chân chúng cũng bốc cháy. Công nhân thổi thủy tinh thường chết rất sớm vì bị kiệt sức và lao phổi (Leifchild, "Báo cáo", phụ lục, phần II, tr. L2, §§ 11, 12; Franks, "Báo cáo", phụ lục, phần II, tr. K7, § 48; Tancred, Văn kiện, phụ lục, phần II, tr. 176, v.v.; tất cả đều trong "Báo cáo của tiểu ban điều tra về lao động trẻ em").

Báo cáo đã chứng minh về đại thể rằng chế độ công xưởng dần thâm nhập không ngừng vào mọi ngành công nghiệp; điều đó đặc biệt lộ rõ ở việc sử dụng lao động của phụ nữ và trẻ em. Tôi cho rằng không cần nói về mọi biểu hiện của sự tiến bộ kĩ thuật, cũng như việc loại bỏ công nhân nam. Chỉ cần hiểu biết công nghiệp đôi chút, là người ta có thể tự bổ sung ngay những điều tôi chưa nói tới; khuôn khổ cuốn sách này không cho phép tôi nói tỉ mỉ về vấn đề đó của phương thức sản xuất hiện đại, còn kết quả thì tôi đã nói sơ qua, khi bàn về chế độ công xưởng. Ở đâu cũng dùng máy móc, do đó mà di tích cuối cùng của sự độc lập của công nhân đã bị phá bỏ. Ở đâu gia đình cũng bị phá hoại, do phụ nữ và trẻ em phải làm việc ở các công xưởng; hoặc quan hệ gia đình bị đảo lộn, khi người đàn ông mất việc phải ở nhà, sống nhờ vợ con. Ở đâu cũng thấy, vì sự tất yếu phải sử dụng máy móc, mà bọn đại tư bản đã nắm được mọi xí nghiệp, và cả vận mệnh của công nhân. Tài sản ngày càng tập trung một cách không thể ngăn chặn, sự phân chia xã hội thành đại tư bản và công nhân vô sản ngày càng rõ, và sự phát triển công nghiệp của cả nước đang tiến rất nhanh đến một cuộc khủng hoảng không thể tránh khỏi.

Ở trên tôi đã nói: về mặt thủ công nghiệp, thế lực của tư bản, và đôi khi cả sự phân công lao động, đã loại bỏ giai cấp tiểu tư sản; và thay vào đó bằng những nhà tư bản lớn và những công nhân vô sản. Không còn nhiều điều để nói về những thợ thủ công ấy, vì mọi thứ có liên quan tới họ đều đã được nhắc đến khi bàn về giai cấp vô sản công nghiệp nói chung; từ khi cách mạng công nghiệp bắt đầu tới nay, thì phương pháp làm việc ở đây, và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe công nhân, đều biến đổi rất ít. Nhưng sự tiếp xúc thường xuyên với công nhân công nghiệp thực thụ, sự áp bức của bọn đại tư bản (nó còn nặng nề hơn nhiều so với sự áp bức của thợ cả, vì thợ bạn vẫn còn có quan hệ cá nhân với thợ cả), ảnh hưởng của các thành phố lớn và tình hình tiền lương hạ; tất cả những cái ấy đã khiến hầu hết các thợ thủ công tham gia phong trào công nhân một cách tích cực. Ta sẽ sớm nói tới điều này; bây giờ hãy xét tới một loại công nhân ở London, họ đặc biệt đáng chú ý vì đang chịu sự bóc lột cực kì dã man của giai cấp tư sản tham lam. Ở đây tôi muốn nói tới những cô làm hàng thời trang và những cô thợ may.

Điều kì lạ là chính việc chế tạo đồ trang sức cho các bà tư sản lại gây ra những hậu quả cực kì bi thảm cho sức khỏe của những công nhân làm việc ấy. Ta đã thấy điều đó khi nói về ngành sản xuất đăng-ten, còn ở đây lại có những chứng cớ mới, trong các cửa hàng thời trang ở London. Ở đó thuê rất nhiều thiếu nữ trẻ, tất cả gần 15.000 người, phần nhiều từ nông thôn ra; họ đều ăn ngủ ở nhà chủ, do đó đã trở thành nô lệ hoàn toàn của chủ. Vào mùa thời trang, khoảng bốn tháng trong một năm; ngay ở những cửa hàng tốt nhất, thời gian lao động cũng lên đến 15 giờ một ngày, và khi có hàng đặt gấp thì tới 18 giờ. Nhưng trong đa số các cửa hàng, thời gian lao động ở thời kì ấy không có qui tắc gì cả; đến nỗi trong 24 giờ, những cô gái ấy không bao giờ có quá sáu giờ nghỉ; mà thường chỉ được ba, bốn giờ, có khi chỉ hai giờ. Như thế, nếu không phải làm thâu đêm (mà trên thực tế thường ngược lại), thì họ cũng phải làm 19-22 giờ mỗi ngày! Tới khi mệt quá, tay không còn cầm nổi kim, thì công việc của họ mới tạm ngưng. Đã có trường hợp: chín ngày liền, những con người đáng thương ấy không được thay đồ, chỉ có thể tranh thủ thời gian ngả mình chốc lát trên chiếc đệm; người ta cho họ các thức ăn đã thái nhỏ, để họ nuốt cho thật nhanh. Tóm lại, những cô gái khốn khổ ấy phải sống như nô lệ, dưới sự đe dọa của cái roi tinh thần, đó là nguy cơ bị sa thải; họ bị buộc phải làm việc nặng nhọc triền miên, những việc mà ngay cả một người đàn ông khỏe mạnh còn không chịu nổi, nói gì đến những cô gái yếu đuối 14-20 tuổi. Ngoài ra, không khí ngột ngạt trong xưởng và tại nơi ở, việc thường phải ngồi gò lưng gập ngực, thức ăn tồi và khó tiêu, nhưng hơn hết là việc lao động quá dài và thiếu không khí trong lành; tất cả những cái ấy đã phá hoại sức khỏe của các cô gái một cách cực kì ghê gớm. Rất mau chóng, họ thấy mệt mỏi, kiệt sức, suy nhược, chán ăn, đau vai, đau lưng, đau hông, nhất là đau đầu; sau đó là cột sống bị vẹo, hai vai nhô cao và biến dạng, gầy gò; sưng mắt, chảy nước mắt và đau mắt, cận thị; ho, ngực lép, khó thở và đủ thứ bệnh phụ nữ. Có nhiều trường hợp, mắt bị tổn thương nặng tới mức mù hẳn, thị lực hoàn toàn bị phá hoại; nhưng nếu mắt còn đủ khỏe để tiếp tục làm việc, thì bệnh lao phổi cũng sẽ kết thúc cuộc đời bi thảm, ngắn ngủi của các cô thợ làm hàng thời trang ấy. Với cả những người đã rời bỏ công việc ấy tương đối sớm, thường cũng không bao giờ khôi phục được hoàn toàn sức khỏe; họ đau ốm luôn, nhất là sau khi lấy chồng, và sinh ra những đứa con cũng ốm yếu. Mọi thầy thuốc mà tiểu ban điều tra về lao động trẻ em đã hỏi, đều nhất trí rằng: không thể nghĩ ra một cách sống nào khác có thể làm tổn hại sức khỏe, và làm cho người ta chết sớm, như cuộc sống của những cô làm hàng thời trang.

Nói chung, những cô thợ may ở London cũng bị bóc lột tàn khốc như thế, chỉ ít trực tiếp hơn. Công việc của những cô gái may áo lót rất nặng nhọc, vất vả, và hại mắt. Tiền lương của họ ra sao? Tôi không rõ, nhưng tôi biết rằng người thầu khoán chịu trách nhiệm về số vật liệu phát ra, và phân phối công việc cho các nữ công nhân, nhận được 1 1/2 penny cho mỗi sản phẩm. Trong đó, ít nhất 1/2 penny là phần của y, cô thợ may đáng thương kia chỉ được nhiều nhất là 1 penny. Những cô gái làm cra-vat mỗi ngày phải làm 16 giờ, một tuần chỉ được 4 1/2 shilling4*. Nhưng những cô gái may áo sơ-mi mới là cực khổ nhất, chỉ được 1 1/2 penny cho mỗi chiếc áo sơ-mi loại thường. Trước đây họ được 2-3 penny, nhưng từ khi nhà tế bần St. Pancras, do những người tư sản cấp tiến quản lí, lấy công là 1 1/2 penny một chiếc, thì các cô thợ may đáng thương kia cũng buộc phải nhận giá ấy. Với loại áo sơ-mi vải mỏng thêu hoa, mỗi ngày họ phải làm mười tám giờ mới xong một chiếc, và được trả 6 penny. Vậy, theo các nữ công nhân và các thầu khoán, thì dù phải làm việc căng thẳng suốt từ sáng sớm đến đêm khuya, những cô thợ may ấy mỗi tuần chỉ được không quá 2 1/2-3 shilling tiền công! Nhưng dã man bỉ ổi nhất là việc bắt các cô gái ấy phải kí quĩ một phần giá trị vật liệu mà họ được nhận, tất nhiên họ chỉ còn cách đem một phần vật liệu ấy đi cầm cố (người chủ cũng biết rõ điều đó), để sau này đi chuộc lại, và chịu lỗ một ít; nếu không chuộc lại được thì họ sẽ bị đưa ra thẩm phán hòa giải: tháng Mười một 1843, đã có một cô bị như thế. Tháng Tám 1844, lại có một thiếu nữ bất hạnh rơi vào trường hợp ấy, vì chẳng biết làm sao, phải nhảy xuống kênh tự tử. Những cô thợ may ấy thường sống ở những gác xép nhỏ hẹp, hết sức nghèo khổ, và còn chật ních người; vào mùa đông, nguồn sưởi ấm gần như duy nhất chính là hơi nóng tự nhiên, tỏa ra từ cơ thể của những người sống ở đó. Tại đây, họ còng lưng xuống làm việc, may suốt từ 4-5 giờ sáng tới tận nửa đêm; chỉ vài năm là sức khỏe của họ bị phá hoại hoàn toàn, tuổi còn trẻ mà đã sắp lìa đời, ngay cả những nhu cầu bức thiết nhất cũng không được thỏa mãn5*; trong khi đó thì ở dưới đường phố, những cỗ xe lộng lẫy của bọn đại tư bản chạy vun vút, và có lẽ gần đâu đấy, một tên công tử bột khốn nạn nào đó đã thua bạc, với số tiền mà các cô thợ ấy có làm cả năm cũng không kiếm được.

Tình cảnh giai cấp vô sản công nghiệp Anh là vậy. Nhìn vào đâu, ta cũng thấy cảnh bần cùng thường xuyên hoặc tạm thời, bệnh tật do điều kiện sống hoặc tính chất của bản thân lao động gây ra, và sự bại hoại đạo đức; ở đâu cũng thấy con người dần bị hủy hoại không ngừng, về tinh thần cũng như thể xác. Lẽ nào tình trạng ấy lại có thể kéo dài mãi sao?

Không, nó không thể và sẽ không kéo dài. Công nhân, chiếm đại đa số trong nhân dân, không muốn như thế. Hãy nghe xem bản thân họ nói gì về tình trạng ấy.


------------------------------
Chú thích
1 "chính cống" (Chú thích của người dịch).

2 "nền dân chủ công nghiệp" (Chú thích của người dịch) .

3 "bệnh nghề nghiệp của thợ nhuộm" (Chú thích của người dịch).

4* Xem "Weekly Dispatch", ngày 17 tháng Ba 1844.

5* Thomas Hood là người có tài nhất trong các nhà thơ trào phúng của nước Anh hiện nay, và như mọi nhà thơ trào phúng khác, là người giàu lòng nhân đạo, song chẳng có chút nghị lực tinh thần nào; đầu năm 1844, khi những bài viết mô tả tình cảnh khổ sở của các cô thợ may có đầy trên các báo, ông đã viết một bài thơ rất hay: "The Song of the Shirt" ("Bài ca áo sơ-mi"). Bài thơ ấy đã làm cho các cô con gái tư sản rơi bao nhiêu nước mắt cảm thương nhưng vô ích. Vì khuôn khổ cuốn sách có hạn, tôi không thể chép bài thơ đó vào đây. Nó được đăng lần đầu trên báo "Punch", sau đó thì có mặt trên khắp các báo. Bây giờ thì tờ báo nào cũng bàn luận về tình cảnh những cô thợ may, thế nên không cần trích dẫn riêng nữa.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký


Đóng

Tin tiêu điểmTrước /1 Sau

Lưu trữ|Mobile|học kế toán trưởng|biareview|dự án vinhomes gardenia|chung cư vinhomes metropolis|phương pháp khởi nghiệp tinh gọn|chiến lược hoạch định marketing|xây dựng phát triển thương hiệu|văn hóa phồn thực phương đông|chân lý triết học phương tây|tâm lý học hành vi cá nhân|phạm trù nguyên lý siêu hình học|hệ thống tín ngưỡng hầu đồng|quản trị kinh doanh như thế nào|bài học làm giàu thành công|kỹ năng công tác truyền thông|tư tưởng chính trị khổng tử|nhập môn kinh tế học tân cổ điển|chủ nghĩa tự do hiện đại|tổ chức tôn giáo hiện sinh|mô hình ý tưởng startup|sách hay luân lý nho giáo|quan điểm nghệ thuật cải lương|triết lý phật học cơ bản|kiến thức phân tích tài chính|sơ đồ quy trình SIPOC|khái niệm so sánh benchmarking là gì|giáo trình định nghĩa logic học|lý thuyết tư duy phê phán|lập kế hoạch quảng cáo hiệu quả|lịch sử trường phái Marxist|câu chuyện doanh nhân thành đạt|lý luận lãnh đạo cấp độ|thiết kế ma trận yếu tố nội bộ|tổng quan nguyên tắc giao tiếp|học thuyết nghiên cứu âm dương ngũ hành|tuyên ngôn phong trào dân chủ|định luật thông điệp pr|đăng ký công ty đại chúng|mở bán vinhomes trần duy hưng|vinhomes green bay|bảng giá vinhomes skylake|vinhomes riverside|vinhomes central park|vinhomes ocean park|du doan xo so|Đồng Tâm Info. + Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung do thành viên đăng tải . + Truy cập website này nghĩa là bạn đã chấp nhận Quy định của Diễn đàn! + Mọi vấn đề xin liên hệ email: dinhhhsb00961@gmail.com Contact to Administrator : Hà Hải Định (01629201076;) DMCA.com Protection Status

GMT+7, 22-3-2019 13:40 , Processed in 0.093568 second(s), 26 queries .


Powered by X2.5

Lên trên