Đồng Tâm

 Quên mật khẩu
 Đăng ký
Xem: 6238|Trả lời: 49

Kinh Dịch - NGÔ TẤT TỐ dịch và chú giải

[Lấy địa chỉ]

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:23:30 |Xem tất
1. LAI LỊCH CỦA KINH DỊCH

Cứ như Tiên nho - từ Hán nho đến Minh nho, đã nói thì Kinh Dịch bắt đầu ra đời từ vua Phục Hy, một ông vua về đời thần thoại trong sử Tàu, cũng gọi Bào Hy, không biết cách đây mấy nghìn hay mấy vạn năm. Lúc ấy Hoàng Hà có con long mã(1) hiện hình lưng nó có khoáy thành đám, từ một đến chín, vua ấy coi những khoáy đó, mà hiểu được lẽ biến hoá của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch ra thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền, tức là “vạch lẻ”, đế làm phù hiệu cho khí Dương, và một nét đứt, tức là “vạch chẵn” để làm phù hiệu cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là hai Nghi. Trên mỗi Nghi thêm một nét nữa, thành ra bốn cái “hai vạch”, gọi là bốn Tượng. Trên mỗi Tượng lại thêm một vạch nữa, thành ra tám cái “ba vạch”, gọi là tám Quẻ(2). Sau cùng, vua ấy lại đem Quẻ nọ chồng lên Quẻ kia, điên đảo khắp lượt, thành ra sáu mươi tư cái “sáu vạch”, gọi là sáu mươi tư Quẻ(3).
Từ đời Phục Hy đến cuối nhà Thương, Kinh Dịch vẫn chỉ là một mớ vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu chữ nghĩa gì cả(4).
Sang đầu nhà Chu (Trước lịch Tây độ hơn nghìn năm), Văn vương mới đem những quẻ của Phục Hy mà đặt từng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ để nói về sự lành dữ của cả quẻ, như chữ 元亨利貞(nguyên hanh lợi trinh) ở quẻ Kiền, hay chữ 元亨利 牛匕, 莓之貞(nguyễn hanh lợi tẫn mã chi trinh) ở quẻ Khôn v.v…

Lời đó vẫn gọi Lời Quẻ 卦辭[quái từ) hay Lời Thoán 彖辭 (thoán từ)(5).
Kế đó, Cơ Đán, tức Chu công, con trai thứ Văn vương, lại theo số vạch của các quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một hào, và dưới mỗi hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào, như câu 初九:潜龍勿用(7) (Sơ Cửu: tiềm long vật dụng) hay câu 九二:見龍在田(Cửu Nhị: hiện long tại điền), trong quẻ Kiền và câu 初六:履霜堅冰至 (Sơ Lục lý sương kiên băng chí) hay câu 六三:含章可貞…(Lục Tam: Hàm chương khả trinh) trong quẻ Khôn… Lời đó vẫn gọi Lời Hào (文辭 Hào từ) vì nó phần nhiều đều căn cứ vào hình tượng của các hào, cho nên cũng gọi Lời Tượng (象辭 Tượng từ).
Tiếp đến Khổng tử lại soạn ra sáu thứ nữa, là: Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Thoán truyện có hai thiên: Thượng Thoán và Hạ Thoán; Tượng truyện có hai thiên: Thượng Tượng và Hạ Tượng; Hệ từ cũng có hai thiên: Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên, Tiên nho gọi là “Thập dực” (mười cảnh).

Sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩa Kinh Dịch rộng thêm, nhưng mỗi thứ có một tính cách.
Thoán truyện thích Lời Quẻ của vua Văn, tức là những câu dưới chữ “Lời Thoán nói rằng”.
Tượng truyện thích hình tượng của các quẻ và các hào, tức là những câu dưới chữ “Lời Tượng nói rằng”; thích chung cả quẻ gọi là Đại Tượng, thích riêng từng hào gọi là Tiểu Tượng.
Văn ngôn chuyên thích hai quẻ Kiền, Khôn.
Hệ từ nói về đại thể, phàm lệ của Kinh Dịch và công phu cùng ý nghĩa trong việc làm Kinh Dịch của Văn vương Chu công.
Thuyết quái nói về đức nghiệp, pháp tượng và sự biến hoá của tám quẻ.
Tự quái nói về những cớ tại sao quẻ này lại để ở dưới quẻ kia.
Tạp quái nói về những ý vụn vặt của các quẻ.

Những thiên của Khổng tử, trước vẫn tách riêng, không phụ hẳn vào lời quẻ, lời hào của Văn vương Chu công. Đến đời Hán, Phi Trực mới đem Thoán truyện, Tượng truyện và Văn ngôn thuộc về quẻ Kiền hợp với Kinh Dịch của Văn vương Chu công, để thay vào lời chú thích. Rồi, Trịnh Huyền lại sáp nhập nốt những câu Văn ngôn của quẻ Khôn và Thoán truyện, Tượng truyện của các quẻ kia. Từ đó bảy thiên Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn mới xen vào trong các quẻ. Còn ba thiên kia thì để phụ riêng ở cuối sách. Tới đời Tống, Chu Hy làm sách Chu Dịch bản nghĩa đã sắp đặt lại như cũ, nhưng mà người ta không theo. Những bản được thịnh hành trong hồi gần đây, vẫn là thể tài của bọn Phí Trực, Trịnh Huyền.
Nay nói chính văn Kinh Dịch, tức là gồm cả: vạch quẻ của Phục Hy, lời quẻ của Văn vương, lời hào của Chu công, và Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái và Tạp quái của Khổng tử.
Đó là theo lời tựa truyền của Tiên nho mà thuật ra, để độc giả biết qua lai lịch Kinh Dịch là vậy.

Bài viết liên quan

Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:24:14 |Xem tất
2. KHÁI LUẬT CỦA KINH DỊCH

Dù sao mặc lòng, Kinh Dịch vẫn là một cuốn sách lạ trong văn học giới của nhân loại. Thể tài sách này không giống một cuôĩi sách nào. Bởi vì cái gốc của nó chỉ là một nét vạch ngang, do một nét vạch ngang, đảo điên xoay xoả thành một bộ sách, vậy mà hầu hết chi tiết ở trong, đều có thể thống luật lệ nhất định, chứ không lộn xộn. Trước khi đọc, phải viết qua loa những thể thông luật lệ ấy, thì sau mới dễ nhận hiểu. Vậy nay, theo sự kê cứu của Tiên nho, nêu qua ít điều quan hệ trong những thể thống luật lệ đó, như sau:
Quẻ. - Quẻ có hai thứ: Một là quẻ đơn, tức là tám quẻ: Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, mỗi quẻ có ba nét ngang, Chu Hy gọi là “quẻ ba vạch”. Hai là quẻ kép, tức là sáu mươi tư quẻ do tám quẻ đơn đắp đổi chồng nhau mà thành ra, như quẻ Hàm, quẻ Hằng, quẻ Đại tráng, quẻ Gia nhân. các quẻ này mỗi quẻ có sáu nét ngang, Chu Hy gọi là “quẻ sáu vạch”. Cả hai thứ đó, trong sách đều gọi là quẻ (卦 quái), thật ra, tính chất rất không giống nhau, quẻ đơn là những yếu tố làm nên quẻ kép, mà quẻ kép thì là hợp thể của hai quẻ đơn chồng nhau.

Hào. - Hào là vạch ngang của quẻ kép, mỗi quẻ sáu vạch, tức là sáu hào. Thứ tự bắt đầu từ dưới kể lên, dưới nhất là hào Đầu, đến hào Hai, đến hào Ba, đến hào Tư, đến hào Năm, cuối cùng là hào Trên. Hào cũng chia làm hai thứ: Những hào thuộc nét ngang liền, là hào Dương; những hào thuộc nét ngang đứt, là hào Âm. Ví như quẻ Chuân, do hai quẻ Chấn, Khảm hợp lại mà thành ra, thì hào Đầu, hào Năm là Dương, hào Hai, hào Ba, hào Tư, hào Trên là Âm. Ở lời Kinh, hào Dương gọi là hào Chín, hào Âm gọi là hào Sáu. Ví như quẻ Chuân: hào Đầu gọi hào Chín Đầu (初九 Sơ Cửu), hào Hai gọi hào Sáu Hai (六 二 Lục Nhị) v.v… Sở dĩ gọi vậy, - theo Tiên nho - là vì khí Dương số bảy là trẻ, số chín là già, khí Âm số tám là trẻ, số sáu là già, già thì biến đổi, chứ trẻ thì chưa biến đổi, Kinh Dịch chú trọng ở sự biến đổi, cho nên mới lấy số Chín làm tên hào Dương và lấy số Sáu làm tên hào Âm.
Tính của quẻ và các hào. - Tám quẻ đơn, mỗi quẻ đều có tính riêng, đại khái, tính Kiền thì mạnh, tính Khôn thì thuận, tính Chấn thì động, tính Tôn là nhún, tính cấn hay đậu, tính Đoái hay đẹp lòng, tính Ly có khi thì sáng, có khi là trông rỗng, tính Khảm có khi là hiểm, có khi là đầy đặc. Vậy ở sách này, nói mạnh là chỉ về Kiền, nói thuận là chỉ về Khôn, nói động là chỉ về Chấn, nói nhún là chỉ về Tốn, nói đậu là chỉ về cấn, nói đẹp lòng là chỉ về Đoái, nói sáng hay trông rỗng là chỉ về Ly, nói hiểm hay đầy đặc là chỉ về Khảm. - Còn hào, thì hào Dương tất nhiên cứng mạnh thích động và hay đi lên, hào Âm tất nhiên mềm yếu thích tĩnh và hay đi xuống. Vậy ở sách này, nói cứng là chỉ về hào Dương, nói mềm là chỉ về hào Âm.

Tượng của quẻ và hào. - Tám quẻ đơn đều làm biểu hiện cho các vật ở vũ trụ, mỗi quẻ là hình tượng của một hoặc nhiều vật. Ví như Kiền là tượng trời, lại là tượng con rồng; Khôn là tượng đất, lại là tượng con trâu; Chấn là tượng tiếng sấm, lại là tượng cái cây; Khảm là tượng nước, lại là tượng mây, tượng mưa; Tôn là tượng gió; Ly là tượng lửa; cấn là tượng núi; Đoái là tượng chầm… Đó là nói qua, sau đây đọc đến các quẻ sẽ thấy rõ hơn. Còn hào, tự nó không có tượng riêng, vì không chuyên hình dung cho vật gì, nhưng khi đã hợp nhau lại thành quẻ, thì cũng có khi có tượng. Ví như hào giữa quẻ Khảm là tượng “đầy đặc”, bởi vì hào ấy là nét ngang liền, đứng giữa hai nét ngang đứt, giống như một vật đặc giữa; hay như hào giữa quẻ Ly là tượng “trống rỗng bên trong”, bởi vì hào này là nét ngang đứt, đứng giữa hai nét ngang liền, giống như một vật rỗng ruột vậy.
Sự áp dụng của hào và quẻ. - Trong Kinh Dịch phần của Văn vương Chu công chú trọng ở sự bói toán, phần của Khổng Tử chú trọng ở cách tu thân xử thế của từng người, đó là điều rất rõ rệt. Dù là việc bói toán, dù là cách tu thân xử thế, cũng đều phải lấy nhân sự làm căn cứ, vì vậy, người ta mới chia mỗi quẻ ra làm ba thứ: thì, ngôi và người.

Thì là thời kỳ. Trong sáu mươi tư quẻ kép, mỗi quẻ là một thời kỳ. Ví như quẻ Thái tức là thời kỳ hanh thái, quẻ Bĩ tức là thời kỳ bế tắc v.v… Trong mỗi quẻ, hào Đầu là đầu thời kỳ, hào Trên là cuôl thời kỳ, còn các hào giữa, cố nhiên là giữa thời kỳ. Đó là nói về đại khái, chính ra một quẻ có khi không chỉ về một thời kỳ mà chỉ về một công cuộc, ví như các quẻ Tốn, ích, Tỵ, Tụng v.v… Nhưng về nghĩa này rất ít.
Ngôi là thứ tự của các hào. Mỗi quẻ sáu hào, tức là sáu ngôi. Theo lời chú thích của Tiên nho, nhất là lời chú thích của Trình Di và Chu Hy, thì trong một quẻ, hào Đầu là ngôi thứ dân, hào Hai là ngôi tư mục, hào Ba là ngôi quan Khanh, quan Đại phu, hào Tư là ngôi đại thần, hào Năm là ngôi vua, hào Trên là ngôi các vị lão thành. Đấy cũng là nói đại khái mà thôi, không phải các quẻ đều đúng lệ đó.
Tất cả các ngôi, đều có nhiều hạng tương phán với nhau, ví như chính và không chính, giữa và không giữa, có ứng và không ứng. Hào Dương mà ở ngôi lẻ, tức là ngôi Đầu, ngôi Ba, ngôi Năm; hào Âm mà ở ngôi chẵn, tức là ngôi Hai, ngôi Tư, ngôi Trên, thế là được chỗ chính; trái lại, nếu hào Dương mà ở ngôi chẵn, hào Âm mà ở ngôi lẻ thì là bất chính. Trong mỗi quẻ, chỉ có hào Hai hào Năm là giữa, vì một quẻ kép do hai quẻ đơn hợp lại, mà hào Hai là giữa quẻ (đơn) dưới, hào Năm thì ở giữa quẻ (đơn) trên. Còn các hào khác đều là không giữa.
Ứng là hào nọ ứng với hào kia, như làm ngoại viện cho nhau. Trong một quẻ (kép), hào Đầu ứng với hào Tư, hào Hai ứng với hào Năm, hào Ba ứng với hào Trên, thường lệ như thế. Nhưng phải một hào là Dương, một hào là Âm, mới là có ứng. Nếu hai hào cùng một loại, ví như hào Đầu là hào Dương, hào Tư cũng là hào Dương, hào Hai là hào Âm, hào Năm cũng là hào Âm… thì là không ứng. Vậy nói “chính giữa có ứng” tức là hào Âm ở ngôi Hai mà trên ngôi Năm là hào Dương, hay hào Dương ở ngôi Năm mà dưới ngôi Hai là hào Âm.
Trên đây là lệ nhất định.
Người là bản thân kẻ xem bói, nói rộng ra thì là bản thân kẻ ở địa vị nào, trong thời kỳ nào, ví như hào Đầu quẻ Bĩ tức là thứ dân trong đời bĩ tắc, hào Năm quẻ Thái thì là ông vua trong đời hanh thái v.v… Người có hai hạng quân tử và tiểu nhân, hay là đàn ông và đàn bà. Tiên nho cho rằng: Hào Dương là quân tử hay đàn ông, hào Âm là tiểu nhân hay đàn bà. Hào Dương ở ngôi Dương, tức là quân tử được ngôi, hào Âm ở ngôi chẵn, tức là tiểu nhân biết điều, trái lại, hào Dương ở ngôi chẵn, thì là quân tử không ngôi, hào Âm ở ngôi lẻ, thì là tiểu nhân càn bậy. Lệ này cũng là thuộc về phần nhiều, không phải hết thảy như thế.

Tượng và Chiêm. - Theo ý Chu Hy, một hào thường hàm hai thứ, là Tượng và Chiêm. Tượng là hình tượng, Chiêm là lời đoán. Ví như hào Chín Đầu của quẻ Kiền có câu: “rồng lặn chớ dùng”, thì: “rồng lặn” là tượng, vì Kiền là tượng con rồng, mà ngôi Đầu là chỗ rất thấp, tức là tượng của sự lặn; “chớ dùng” là chiêm, vì nó là lời khuyên của người ta. Tượng thì tuỳ quẻ tuỳ hào mà hình dung ra, không có nhất định. Còn chiêm đại để chia làm hai loại, hay dở. Về mặt hay, hay nhất là nguyền cát (cả tốt) đến cát hanh (tốt và hanh thông), đến cát (tốt), đến hanh (hanh thông), đến lợi (lợi về sự gì), đến vô hối (không ăn năn), đến vô cữu (không lỗi); về mặt dở, dở nhất là hung (dữ), đến lệ (nguy), đến vô du lợi (không lợi về sự gì), đến lận (đáng thẹn tiếc) đến hữu cữu (có lỗi), đến hữu hối (có ăn năn). Đem tính chất của lời Chiêm mà phân tích ra, thì thấy nặng nhẹ khác nhau như vậy. Trong sáu tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào, nhiều hào có Tượng mà không có Chiêm, cũng nhiều hào có Chiêm mà không có Tượng, không phải hào nào cũng đủ cả hai thứ đó.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:25:19 |Xem tất
THỨ TỰ TÁM QUẺ CỦA PHỤC HY

八外袋柄儀
Sau đây sáu mươi tư quẻ cũng theo lẽ đó. Những dấu đen trắng ở đây, không phải là phép chiêm đoán. Muốn cho dễ hiểu, hãy làm như thế để ngụ ý thôi. Thứ tự sáu mươi tư quẻ sau này cũng vậy.
Khổng An Quốc nói rằng: “Hà đồ là khi họ Phục Hy(8) làm vua thiên hạ, có con long mã hiện ở sông Đà, họ ấy bèn bắt chước cái vằn của nó để vạch ra tám quẻ. Lạc thư là khi vua Vũ(9) chữa được nước lụt, có con rùa thần đội vằn, trên lưng có số tới chín, vua Vũ bèn nhân đó mà xếp thứ tự thành ra chín loài.

Lưu Hâm nói rằng: họ Phục Hy nối trời làm vua, nhận đồ sông Hà mà vạch ra nét, đó là tám quẻ. Vua Vũ chữa được nước lụt, trời ban cho thư sông Lạc, vua ấy bắt chước thư đó xếp thành từng loại. Đó là chín chù.
Quan Lãng nói rằng: Nét của Hà đồ: bảy trước, sáu sau, tám ở tả, chín ở hữu. Nét của Lạc thư: chín trước, một sau, ba ở tả, bảy ở hữu, bốn ở phía tả đàng trước, hai ở phía hữu đàng trước, tám ở phía tả đằng sau, sáu ở phía hữu đàng sau.
Thiệu Ung nói rằng: Tròn là hình sao, số của lịch kỷ(3) có lẽ gây từ đó chăng? Vuông là hình đất, những cách chia châu(10), đặt “tỉnh”(11) có lẽ phỏng theo đó chăng?
Bởi vì tròn là số của Hà đồ, vuông là nét của Lạc thư, cho nên vua Hy, vua Văn(12), nhân đó mà làm Kinh Dịch, vua Vũ, ông Cơ(13), theo đó mà làm ra thiên Hồng phạm.
Chu Hy nói rằng: Trong khoảng trời đất, chỉ có một vật là khí; chia ra làm hai, thì là âm, dương; năm hành gây dựng, muốn vật trước sau, đều bị cai quản ở đó. Cho nên ngôi của Hà đồ, một và sáu cùng tông(14) mà ở về Bắc, hai và bảy làm bạn mà ở về Nam, ba và tám đồng đạo mà ở về Đông, bốn với chín thành lứa mà ở về Tây, năm và mười(1) giữ lẫn cho nhau mà ở chính giữa. Nghĩa là cái số của nó, chẳng qua chỉ có một âm, một dương, một lẻ, một chẵn, để làm gấp đôi năm hành mà thôi.

Gọi là trời, tức là khí dương nhẹ trong, ngôi ở bên trên; gọi là đất, tức là khí âm nặng đục, ngôi ở phía dưới. Số dương lẻ, cho nên một, ba, năm, bảy, chín, đều thuộc về trời, đó là số của trời có năm. Số âm chẩn, cho nên hai, bốn, sáu, tám, mười, đều thuộc về đất, đó là số của đất có năm. Số của trời và số của đất, đàng nào theo loại đàng ấy, mà cũng tìm nhau. Ngôi “Năm” tương đắc với nhau là thế.
Trời lấy số một mà sinh hành Thuỷ, đất lấy số sáu mà làm cho thành(2); đất lấy số hai mà sinh hành Hoả, trời lấy số bảy mà làm cho thành; trời lấy số ba mà sinh hành Mộc, đất lấy số tám mà làm cho thành; đất lấy số bốn mà sinh hành Kim, trời lấy số chín mà làm cho thành, trời lấy số năm mà sinh hành Thổ, đất lấy số mười mà làm cho thành. Đó là “các số đều có hợp nhau”.
Chất năm số lẻ thành ra hai nhăm, chất năm số chẵn thành ra ba mươi. Hợp cả hai số thành năm mươi nhăm, tức là toàn số của đồ sông Hà. Đó là ý của Phu tử và thuyết của Chư Nho.
Đến như Lạc thư, tuy là Phu tử chưa từng nói tới, nhưng tượng và thuyết của nó đã có đủ ở trên đây.
Có người hỏi rằng: Tại sao ngôi và số của Hà đồ Lạc thư lại không giống nhau?
Đáp rằng: Hà đồ dùng năm số Sinh(15) tóm năm số Thành(16) cùng ở một phương, ấy là nêu cái toàn hình để bảo người ta mà nói về thể của số thường. Lạc thư dùng năm số lẻ tóm bốn số chẵn, mà số nào ở riêng chỗ của số ấy, đó là chủ về “dương để tóm âm” mà gây cái dụng của sô biến.
Lại hỏi: Tại sao Hà đồ Lạc thư đều cho số năm ở giữa?

Đáp rằng: Các số lúc đầu, chỉ là một âm một dương mà thôi. Tượng của Dương tròn, tròn thì đường kính một phần, chu vi ba phần; tượng của Âm vuông, vuông thì đường kính một phần, chu vi bốn phần. Chu vi ba phần thì lấy số một làm “một”(1), cho nên nhân với một Dương mà thành ra ba. Chu vi bốn phần thì lấy số hai làm “một”(2) cho nên nhân với một Âm mà thành ra hai. Đó là nhân ba với trời, nhân hai với đất vậy. Hai và ba hợp lại, thì thành ra năm, vì vậy Hà đồ Lạc thư đều lấy số năm làm giữa. Nhưng mà Hà đồ thì lấy số sinh làm chủ, cho nên ở giữa phải năm, cho đủ tượng của năm số sinh; một chấm ở dưới là tượng số một của trời, một chấm ở trên là tượng số hai của đất, một chấm phía tả là tượng số ba của trời, một chấm phía hữu là tượng số bốn của đất, một chấm chính giữa là tượng số năm của trời. Lạc thư thì lấy số lẻ làm chủ, cho nên ở giữa phải năm, cho đủ các tượng của năm số lẻ; một chấm ở dưới, cũng tượng số một của trời, một chấm phía tả cũng tượng số ba của trời, một chấm chính giữa cũng tượng số năm của trời, một chấm phía hữu là tượng số bảy của trời, một chấm ở trên thì tượng số chín của trời. Số và ngôi của hai thứ đó ba chỗ giống nhau, hai chỗ khác nhau, là vì Dương không thể đổi mà Âm thì có thể đổi, số “thành” tuy thuộc về Dương, nhưng cũng là Âm của số “sinh” vậy.
Lại hỏi: “Năm” ở chính giữa, đành là tượng của năm số, thế thì cái số của nó ra sao?
Đáp rằng: Nói về số, thì suốt trong một “đồ” đều có những số tích thực có thể ghi chép, nhưng một, hai, ba, bốn của Hà đồ, đều ở bên ngoài phương chốn của năm tượng, và sáu, bảy, tám, chín thì lại nhân có số năm mà được cái số của nó để phủ bên ngoài số Sinh; một, ba, bảy, chín của Lạc thư cũng đều ở phía ngoài phương chốn của năm tượng, mà hai, bốn, sáu, tám, lại số nào nhân loại số ấy để phụ vào cạnh số lẻ. Bởi vì ở trong là chủ mà ở ngoài là khách, ở giữa là vua, mà ở cạnh là tôi, đều có ngành ngọn, không thể trái lẫn.
Lại hỏi: Bên nhiều, bên ít là cớ làm sao?
Đáp rằng: Hà đồ chủ về hoàn toàn, nên nó cùng cực đến số mười, mà ngôi lẻ ngôi chẵn của nó đều xét về sự tích thực, thì sau mới thấy chẵn thừa mà lẻ thiếu. Lạc thư chủ về biến đổi, nên nó cùng cực đến số chín mà ngôi vị và thực chất của nó, đều lẻ thừa mà chẵn thiếu(3) ắt đều để trống chỗ giữa rồi sau số của Âm Dương mới đều hai mươi.

Lại hỏi: Thứ tự của nó không giống nhau sao?
Đáp rằng: Hà đồ nói về thứ tự sinh ra, thì bắt đầu từ dưới lên trên, đến tả, đến hữu, vào giữa, rồi lại bắt đầu từ dưới; nói về thứ tự vận hành, thì bắt đầu từ Đông, đến Nam, đến giữa, đến Tây, đến Bắc theo phía tả mà xoay một vòng, rồi lại bắt đầu từ Đông; trong các số Sinh ở trong; số Dương ở dưới về phía tả, số âm ở trên về phía hữu, trong các số Thành ở ngoài: số Âm ở dưới về phía tả, số Dương ở trên về phía hữu: Thứ tự của Lạc thư thì số Dương bắt đầu từ Bắc đến Đông, đến giữa, đến Tây, đến Nam; số Âm bắt đầu từ Tây Nam, đến Đông Nam, đến Tây Bắc đến Đông Bắc: hợp lại mà nói thì bắt đầu từ Bắc đến Tây Nam, đến Đông, đến Đông Bắc, cuối cùng ở Nam. Còn sự vận hành của nó, thì Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, theo phía hữu mà xoay một vòng, rồi Thổ lại khắc Thuỷ. Hai thứ đều có thuyết cả.
Lại hỏi: Tại sao những số bảy, tám, chín, sáu, của hai thứ lại không giống nhau?
Đáp rằng: Các số sáu, bảy, tám, chín, của Hà đồ đã phụ ở ngoài số Sinh rồi, đấy là phần chính của Âm Dương, già, trẻ, tiến, lui, thừa, thiếu. Số chín của nó tức là mấy số một, ba, năm trong số Sinh tích lại mà thành ra, cho nên nó phải từ Bắc sang Đông, từ Đông sang Tây, để làm cho thành khía ngoài của số bốn; số sáu của nó tức là hai số hai, bốn trong số Sinh tích lại mà thành ra, cho nên nó phải từ Nam sang Tây, từ Tây sang Bắc để làm cho thành phía ngoài của số một; số bảy tức là số chín từ Tây sang Nam, số tám tức là số sáu từ Bắc sang Đông. Đó lại là sự biến đổi của các số Âm Dương, già, trẻ đắp đổi ở “nhà” của nhau(1); Lạc thư ngang dọc mười lăm, mà bảy, tám, chín, sáu, đắp đổi tiêu, lớn, bỏ trống số năm, chia sẻ số mười, mà số một ngậm số chín, số hai ngậm số tám, số ba ngậm số bảy, số bốn ngậm số sáu, thì năm, ba lộn góp, tới đâu cũng gặp số hợp(2), vì vậy mà sự biến hoá vô cùng mới thành ra sự mầu nhiệm.

Lại hỏi: Thế thì Thánh nhân bắt chước hai cái hình ấy ra sao?
Đáp rằng: Hà đồ thì bỏ trống giữa, Lạc thư thì tóm thực tượng: Hà đồ bỏ trông số năm và số mười, đó là Thái cực: số lẻ hai mươi, số chẩn hai mươi, ấy là hai Nghi, lấy một, hai, ba, bốn làm năm, sáu, bảy, tám, đó là bốn Tượng., chia số “hợp” của bốn phương để làm Kiền, Khôn, Ly, Khảm, bù chỗ trông của bốn góc để làm Đoái, Chấn, Tôn, Càn, đó là tám quẻ(17).
Thực tượng của Lạc thư thì: một là Ngũ hành, hai là Ngũ tự, ba là Bát chính, bốn là Ngũ kỷ, năm là Hoàng cực, sáu là Tam đức, bảy là Kê nghi, tám là Thứ trưng, chín là Phúc cực(18). Ngôi và số của nó càng rõ rệt lắm.

Lại hỏi: Lạc thư mà nếu bỏ trông số năm ở giữa, thì tức cũng hai mươi, cũng là hai Nghi; chiều ngang là Thái cực: lẻ, chẵn đều chiều dọc, đều mười lăm, có thể đắp đổi làm ra bảy, tám, chín, sáu, cũng là bốn Tượng; bốn phương chính để làm Kiền, Khôn, Ly, Khảm bốn góc chéo để làm Đoài, Chấn, Tôn, Cấn thì cũng tức là tám quẻ. Hà đồ một, sáu là Thuỷ; hai, bảy là Hoả; ba, tám là Mộc; bốn, chín là Kim; năm mười là Thổ, thì vẫn là năm Hành của thiên Hồng phạm, mà số năm mươi nhăm lại là “mục con” của chín “chù”(19). Thế thì Lạc thư vẫn có thể làm ra Kinh Dịch, mà Hà đồ cũng có thể làm Hồng phạm, biết đâu “đồ” không là “thư”, “thư” không là đỗ!
Đáp rằng: Thời đại tuy có trước sau, số mục tuy có nhiều ít, nhưng lý của nó thì chỉ có một. Có điều Kinh Dịch, là vua Phục Hy được Hà đồ trước, không cần đợi đến Lạc thư, thiên Hồng phạm thì do vua Đại Vũ được riêng ở Lạc thư không cần khảo lại ở Hà đồ. Vả lại, đem Hà đồ bỏ trông số mười, tức là số bốn nhăm của Lạc thư, bỏ trông số năm tức là số năm mươi của phép đại diễn(20), cộng năm với mười, là số ngang dọc mười lăm của Lạc thư, đem năm nhân mười, đem mười nhân năm, lại đều là số của phép đại diễn, Lạc thư thì năm lại tự ngậm năm, thì được mười, cũng thông nhau với số của phép đại diễn, cộng năm với mười, thì được mười lăm, cũng thông nhau với số của Hà đồ. Nếu rõ lẽ đó, thì dù ngang, chéo, cong, thẳng không cách nào không thông. Hà đồ với Lạc thư há có trước, sau, kia, nọ khác nhau?

Cho Hà đồ Lạc thư là không đủ tin, từ ông Âu Dương(21) trở lại đã có thuyết ấy. Nhưng mà ở thiên Cố mệnh(15) thiên Hệ từ và sách Luận ngữ đều có nói thế cả, và cái số trong hai đồ của Chư nho truyền lại, tuy có na ná giống nhau, nhưng không sai trái với nhau, tính xuôi, suy ngược, ngang dọc, cong thẳng, đều có phép tắc rõ ràng, không thể phá bỏ đi được. Cũng như Hà đồ từ số một của trời đến số mười của đất hợp lại thành số năm nhăm của trời đất, thì Kinh Dịch chính do ở đó mà ra; Lạc thư từ thứ một đến thứ chín hợp lại mà đủ số của chín chù, thì thiên Hồng phạm vẫn do ở đó mà ra. Thiên Hệ từ tuy không nói rõ vua Phục Hy nhận Hà đồ để làm Kinh Dịch, nhưng mà ở đó có nói những việc “ngửa xem, cúi xét, nghiệm gần, nghiệm xa”, thì biết đâu rằng Hà đồ không phải một việc trong các việc đó? Đại để nguyên do chế tác của thánh nhân, không phải chỉ có một điều, song cái khuôn khổ của pháp tượng, chắc phải có chỗ rất quan hệ. Như đời hồng mông, khoảng giữa trời đất, khí của Âm Dương dẫu đều có tượng, nhưng mà chưa từng có số. Đến khi Hà đồ hiện ra, rồi sau cái số năm nhăm, hoặc lẻ, hoặc chẵn, hoặc sinh, hoặc thành, rõ ràng có thể trông thấy, cái đó, là để mở mang trí riêng của thánh nhân, không thể đem ví với những khí tượng mênh mang. Vì vậy, thánh nhân “ngửa lên mà xem, cúi xuống mà xét, gần nghiệm ở mình, xa nghiệm ở vật” tới đó mà sau những sự Âm Dương chẵn lẻ của hai Nghi, bốn Tượng, tám Quẻ có thể nói rõ ra được. Thiên Hệ từ nói về nguyên do thánh nhân làm ra Kinh Dịch, tuy là không phải một điều, nhưng bảo nhờ có Hà đồ rồi sau việc làm Kinh Dịch mới quyết cũng không hại gì.

Cổ nhân làm ra Kinh Dịch, khéo léo không thể nói xiết được. Số của Thái Dương là chín, số của Thiếu Âm là tám, số của Thiếu Dương là bảy, số của Thái Âm là sáu, lúc trước không biết những cái số ấy, làm sao lại thế! Nguyên là tất cả chỉ có mười số, Thái Dương ở ngôi một, trừ đi số của bản thân, thì còn chín số, Thiếu Âm ở ngôi hai, trừ đi số của bản thân thì còn tám số; Thiếu Dương ở ngôi ba, trừ đi số của bản thân thì còn bảy số. Thái Âm ở ngôi bốn, trừ đi số của bản thân thì còn sáu số. Chỗ đó từ xưa chưa ai nhận thấy.
Thiên Hệ từ nói rằng: “Dịch có Thái cực, sinh ra hai Nghi, hai Nghi sinh ra bốn Tượng, bốn Tượng sinh ra tám quẻ”. Thiệu tử(22) chua rằng: “Một chia làm hai, hai chia làm bốn, bốn chia làm tám”. Truyện Thuyết quái nói: “Dịch tức là cách tính ngược. Thiệu tử chua rằng: “Kiền một, Đoái hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn năm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám, đều được những quẻ chưa sinh, như kể ngược thứ tự của bốn mùa vậy”.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:26:08 |Xem tất
THỨ TỰ TÁM QUẺ CỦA PHỤC HY

八外袋柄儀
Sau đây sáu mươi tư quẻ cũng theo lẽ đó. Những dấu đen trắng ở đây, không phải là phép chiêm đoán. Muốn cho dễ hiểu, hãy làm như thế để ngụ ý thôi. Thứ tự sáu mươi tư quẻ sau này cũng vậy.
LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO
Chu Hy nói rằng: “Thái cực là tên của bầu “Tượng số chưa hình hiện mà ly lẽ đã có đu, và là mục của đám hình khí đã đú, mà lý lẽ không có mầm nhú”, ở Hà đồ Lạc thư, nó đều là tượng trống rỗng ở giữa.

Thái cực tách ra, mới sinh một lẻ một chẵn; thành ra hai cái “một vạch” ấy là hai Nghi, số của nó thì Âm một, mà Dương hai, ở Hà đồ Lạc thư, là chẵn với lẻ. Phía trên hai Nghi, mỗi đàng lại sinh thêm ra một chẵn và một lẻ nữa, thành ra bôĩi cái “hai vạch” ấy là bốn Tượng, ngôi của nó là: Thái Dương một, Thiếu Âm hai, Thiếu Dương ba, Thái Âm bốn; số của nó thì: Thái Dương chín, Thiếu Âm tám, Thiếu Dương bảy, Thái Âm sáu; nói về Hà đồ, thì sáu là số một được số năm, bảy là số hai được số năm, tám là số ba được số năm, chín là số bốn được số năm; nói về Lạc thư thì: chín là số thừa của mười trừ một, tám là số thừa của mười trừ hai, bảy là số thừa của mười trừ ba, sáu là số thừa của mười trừ bốn. Phía trên bốn Tượng, mỗi thứ lại sinh thêm một chẵn và một lẻ nữa, thành ra tám cái “ba vạch”, thế là ba Tài(23) tạm đủ, mà có cái tên tám Quẻ; ngôi của nó là: Kiền một, Đoái hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn năm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám; ở Hà đồ thì Kiền, Khôn, Ly, Khảm ở bốn chỗ thực(24). Đoái, Chấn, Tốn, Cấn ở bốn chỗ(3); ở Lạc thư thì Kiền, Khôn, Ly, Khảm ở giữa bốn phương; Đoái, Chấn, Tốn, cấn ở ra bốn góc.
Có người hỏi rằng: “Dịch có Thái cực, sinh ra hai Nghi, hai Nghi sinh ra bốn Tượng, bốn Tượng sinh ra tám quái”. Thế là thế nào?

Đáp rằng: Chữ Thái cực đó là nói về sự “vạch quẻ”(1). Trước khi còn chưa vạch quẻ, Thái cực chỉ là cái nghĩa một bầu hỗn độn, ỗ trong bao hàm các thứ Âm, Dương, mềm, cứng, lẻ chẵn, không gì không có. Tới khi vạch ra một lẻ một chẵn, ấy là sinh ra hai Nghi. Rồi trên vạch lẻ, thêm một vạch lẻ, đó là Dương ở trong Dương; trên vạch lẻ thêm một vạch chẵn, đó là Âm ở trong Dương; trên vạch chẵn thêm một vạch lẻ, đó là Dương ở trong Âm; trên vạch chẵn thêm một vạch chẵn, đó là Âm ở trong Âm, ấy là bốn Tượng. Trên một Tượng có hai quái; mỗi Tượng lại thêm một lẻ một chẵn, thế là tám Quẻ.
Có người nói: Một vạch là Nghi, hai vạch là Tượng, ba vạch là Quẻ. Bốn Tượng như Xuân, Hạ, Thu, Đông; Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ; Đông, Tây, Nam, Bắc, không gì mà không thể suy ra.
PHƯƠNG VỊ TÁM QUÁI CỦA PHỤC HY
Truyện Thuyết Quái nói: “Trời đất định ngôi, núi chầm thông khí, sấm gió xát nhau, nước lửa không bắn nhau, tám quái mài nhau. Kể cái đi rồi là thuận, biết cái sắp tới là nghịch”. Thiệu tử nói rằng: Kiền nam, Khôn bắc, Ly đông, Khảm tây, Chấn đông bắc, Đoái đông nam, Tôn tây nam, Cấn tây bắc; từ Chấn đến Kiền là thuận, từ Tôn đến Khôn là nghịch. Phương vị của sáu tư quẻ sau đây cũng theo lẽ đó.

LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO
Thiệu tử nói rằng: Kiền Khôn dọc mà sáu con(25) ngang, đó là gốc của Kinh Dịch. Lại nói: Chấn mới giao Âm mà Dương sinh, Têín mới tiêu Dương mà Âm sinh(2). Đoái là trưởng của Dương, Cấn là trưởng của Âm; Cấn, Đoái là Âm ở trời; Tốn, Cấn là Dương ở đất, cho nên Chấn, Đoái trên Âm mà dưới Dương, Tốn Cấn trên Dương mà dưới Âm. “Trời” là nói về sự bắt đầu sinh ra, cho nên Âm ở trên mà Dương ở dưới, ấy là cái nghĩa giao thái. “Đất” là nói về sự đã thành, cho nên Dương ở trên mà Âm ở dưới, ấy là cái ngôi tôn ty(3), Kiền Khôn định ngôi trên dưới, Khảm Ly hay cửa tả hữu. Đó là cái chỗ trời đất khép ngõ, nhật nguyệt ra vào, mùa Xuân mùa Hạ, mùa Thu mùa Đông, tuần hôi(4), tuần sóc(5), tuần huyền(26), tuần vọng(2), ngày đêm dài ngắn, đường đi dôi rụt(3), gì gì cũng bởi ở đó(27). Lại nói: Tiết này nói rõ tám quái của Phục Hy. “Tám quái mài nhau” nghĩa là tám quái mài lẫn với nhau mà thành ra sáu tư quẻ. “Kể sự đi rồi là thuận” ví như đi theo với trời, tức là xoay về phía tả, đều là những quẻ đã sinh, cho nên gọi là “kể cái đi rồi”. “Biết cái sắp tới là nghịch”, ví như đi ngược với trời, tức là đi về phía hữu, đều là những quẻ chưa sinh, cho nên gọi là “biết cái sắp tới”. Ôi, số của Dịch do cách xoay ngược mà ra, cho nên tiết này giải thẳng ý của hình vẽ.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:27:11 |Xem tất
THỨ TỰ SÁU MƯƠI QUẺ CỦA PHỤC HY

Hình vẽ thứ tự tám quẻ trên đây, tức như trong Hệ từ truyện nói rằng: “Tám quái thành hàng”, hình này nhân đó mà chồng thêm lên, cho nên ba vạch ở dưới, tức là tám quẻ của hình vẽ trước, ba vạch ở trên thì đều theo đúng thứ tự của nó mà chồng thêm lên, và những quẻ dưới cũng đều diễn ra làm tám. Nếu theo từng hào(28) mà sinh dần dần, thì tức như lời Thiệu tử đã nói: “Tám chia làm mười sáu, mười sáu chia làm ba hai, ba hai chia làm sáu tư” vậy. Coi đó còn thấy sự mầu nhiệm của phép Tượng tự nhiên vậy.

LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO
Chu Hy nói rằng: “Dịch có Thái cực sinh ra hai Nghi, hai Nghi sinh ra bốn Tượng, bốn Tượng sinh ra tám Quẻ” tiết đó chính là
Khổng Tử phát minh hình thể thứ tự tự nhiên trong việc “vạch quẻ” của Phục Hy, rất là thiết yếu. Những mà giải thuyết xưa nay, chỉ có hai ông Khang Tiết, Minh Đạo hiểu được, cho nên Khang Tiết nói rằng: “Một chia làm hai, hai chia làm bốn, bốn chia làm mười sáu, mười sáu chia làm ba hai, ba hai chia làm sáu tư, cũng như rễ thì có gốc, gốc thì có cành, cành lớn càng ít, cành nhỏ càng nhiều”; mà ông Minh Đạo thì cho nó là một cách gia bội. Hai ông phát minh lời của Khổng Tử, lại có thể gọi là thiết yếu vậy. Bởi vì nếu lấy Hà đồ Lạc thư mà nói, thì Thái cực là Tượng bỏ trông ở giữa, hai Nghi là Tượng Âm, Dương, lẻ, chẵn, bốn Tượng tức là Hà đồ một hợp với sáu, hai hợp với bảy, ba hợp với tám, bốn hợp với chín. Lạc thư một ngậm chín, hai ngậm tám, ba ngậm bảy, bốn ngậm sáu; tám quẻ là bốn số thực, bốn số hư của Hà đồ, và bốn ngôi chính, bốn ngôi góc của Lạc thư vậy. Lấy quẻ mà nói, thì Thái cực là toàn thể của bầu “Tượng số chưa ra hình”, hai Nghi thì là dương mà là Âm, số Dương một mà số Âm hai; bốn Tượng là: ở trên vạch Dương sinh thêm một vạch Dương nữa thành = gọi là Thái Dương, sinh thêm một vạch Âm nữa thành gọi là Thiếu Âm, và trên vạch Âm sinh thêm một vạch Dương thành gọi là Thiếu Dương, sinh thêm một vạch Âm nữa cũng thành = = gọi là Thái Âm. Bốn Tượng đã dựng, thì Thái Dương ở ngôi một ngậm số chín, Thiếu Âm ở ngôi hai mà ngậm số tám, Thiếu Dương ở ngôi ba mà ngậm số bảy, Thái Âm ở ngôi bốn mà ngậm số sáu, những số sáu, bảy, tám, chín do đó mà định ra. Tám quẻ, tức là ở trên Thái Dương sinh thêm một vạch Dương nữa thành = mà gọi là Kiền, sinh thêm một vạch Âm nữa thành == mà gọi là Đoái; ở trên Thiếu Âm sinh thêm một vạch Dương nữa thành EE mà gọi là Ly, sinh thêm một vạch Âm nữa thành E= mà gọi là Chấn; ở trên Thiếu Dương sinh thêm một vạch Dương nữa thành = gọi là Tốn, sinh thêm một vạch Âm nữa thành H gọi là Khảm, ở trên Thái Âm sinh thêm một vạch Dương nữa thành == gọi là Cấn, sinh thêm một vạch Âm nữa thành 三=mà gọi là Khôn. Thuyết “Tiên thiên của Thiệu Khang Tiết nói rằng: “Kiền một, Đoái hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn năm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám, tức là ý thế. Đến như ở trên tám quẻ, lại đều sinh thêm một Âm một Dương, thành mười sáu cái “bốn vạch”, trong kinh tuy không nói rõ, nhưng Thiệu tử nói: “bốn chia làm mười sáu, là chỉ về đó. Rồi các cái “bốn vạch”, mỗi cái lại thêm một Âm và một Dương nữa, thành ba hai cái “năm vạch”, Thiệu tử bảo mười sáu chia làm ba hai là vậy. Và trên các cái năm vạch, môi cái lại thêm một Âm và một Dương nữa, thành sáu tư cái “sáu vạch”. Tám quẻ chồng lẫn lên nhau, lại đều được những thứ tự: Kiền một, Đoái hai, Ly ba, Chấn bốn, Tôn năm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám, coi hình vẽ trên có thể thấy rõ.

Trong khoảng trời đất, gì cũng là sự mầu nhiệm của Thái cực Âm Dương, Thánh nhân ngửa xem cúi xét, nghiệm xa nghiệm gần, chỉn có hiểu ngầm một cách cao tột trong lòng. Cho nên từ thủa hai Nghi chưa chia, mù mịt một bầu Thái cực, nhưng lẽ hai Nghi, bốn Tượng, sáu mươi tư quẻ cũng đã rõ ràng ở trong. Thái cực chia ra hai Nghi, thì Thái cực vẫn là Thái cực, hai nghi vẫn là hai Nghi; hai Nghi chia bốn Tượng, thì hai Nghi lại là Thái cực, mà bốn Tượng lại là hai Nghi. Theo đó mà suy: bốn rồi tám, tám rồi mười sáu, mười sáu rồi ba hai, ba hai rồi sáu tư, cho đến trăm, nghìn, vạn, ức vô cùng, tuy là hiện ở hình vạch, như có cái trước cái sau và do nhân vi mà ra, nhưng mà cái hình định sẵn, cái thể thành sẵn thì vẫn có đủ trong đám hồn nhiên, không cần nghĩ ngợi tác vi một mảy chút nào ở trong đó cả
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:28:27 |Xem tất
PHƯƠNG VỊ SÁU MƯƠI TƯ QUẺ CỦA PHỤC HY

Các thuyết về bốn hình vẽ trên đây, đều do họ Thiệu(29) vẽ ra. Đó là họ Thiệu học được của Lý (chi tai) Đĩnh Chi, Đĩnh Chi học được của Mục (Tu) Bá Trưởng, Bá Trưởng học được của ông Hy Di Trần (Đoàn) Đồ Nam ở Hoạ Sơn, vẫn gọi môn học Tiên thiên.
Trong hình vẽ này, chỗ xếp vuông là: Kiền hết giữa ngọ, Khôn hết giữa tý, Ly hết giữa mão, Khảm hết giữa dậu, Dương sinh trong tý, chót ở trong ngọ, Âm sinh trong ngọ, chót ở trong tý, Dương ở về Nam, Âm ở về Bắc; chỗ xếp vuông là: Kiền bắt đầu ở Tây Bắc, Khôn cùng tận ở Đông Nam, Dương ở về Bắc, Âm ở về Nam. Hai cách xếp đặt đó, tức là độ số Âm Dương đối nhau, tròn mà ở ngoài là Dương, vuông mà ở trong là Âm; tròn thì động mà là trời, vuông thì tĩnh mà là đất.

LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO
Thiệu tử nói rằng: Thái cực đã chia, hai Nghi dựng rồi(1) dương giao lên với Âm, Âm giao xuống với Dương, mà bốn Tượng sinh ra(30); Dương giao với Âm, Âm giao với Dương sinh ra bốn Tượng của trời; cứng giao với mềm, mềm giao với cứng, sinh ra bốn Tượng của đất(1).
Tám quẻ cọ nhau mà sau muốn vật mới sinh ra.
Cho nên một chia làm hai, hai chia làm bốn, bốn chia làm tám, tám chia làm mười sáu, mười sáu chia làm ba hai, ba hai chia làm sáu tư, như rễ có gốc, gốc có cành, càng lớn càng ít, càng nhỏ càng nhiều. Cho nên Kiền dùng để chia, Khôn dùng để hợp, Chấn dùng để làm cho lớn lên, Tốn dùng để làm cho tiêu đi. Lớn thì phải chia, chia thì phải tiêu, tiêu thì phải hợp. Kiền, Khôn là ngôi nhất định, Chấn, Tôn là cuộc giao hợp thứ nhất; Đoái, Ly, Khảm, Cấn là cuộc giao hợp thứ hai. Cho nên Chấn Dương ít mà Âm còn nhiều; Tốn Âm ít mà Dương còn nhiều; Đoái, Ly, Dương nhiều hơn Khảm, Cấn Âm nhiều hơn.
Lại nói: Trước khi Vô cực, Âm ở trong Dương: sau khi có Tượng, Dương tách với Âm, Âm là mẹ của Dương, Dương là cha của Âm, cho nên mẹ chửa con trai cả thành ra quẻ Phục, cha sinh con gái cả thành ra quẻ Cấn; vì vậy Dương khởi ở quẻ Phục, Âm khởi ở quẻ Cấn.
Lại nói: Dương ở trong Âm, đi ngược, Âm ở trong Dương, đi ngược, Dương ở trong Dương, Âm ở trong Âm, thì đều đi xuôi(2).Đó là cái lẽ chân thật cùng tột, theo hình vẽ trên mà xét, có thể thấy được(31).
… Lại nói: “từ quẻ Phục đến quẻ Kiền, tất cả một trăm mười hai hào Dương; từ quẻ Cấn đến quẻ Khôn tất cả tám mươi hào Dương: từ quẻ Cấn đến quẻ Khôn tất cả một trăm mười hai hào Âm; từ quẻ Phục đến quẻ Kiền, tất cả tám mươi hào Âm(32).
Lại nói: Khảm Ly là giới hạn của Âm Dương, cho nên Ly ngang vào Dần. Khảm ngang vào Thân, mà số của nó vẫn thường vượt qua. Đó là Âm Dương thừa ra, nhưng cái dụng số thì chẳng hề quá mực giữa(2).

Chu tử nói rằng: Hình vẽ tròn, Kiền ở phương Nam, Khôn ở phương Bắc; hình vẽ vuông, Khôn ở phương Nam, Kiền ở phương Bắc. Ngôi Kiền hợp nhiều vạch Dương, ngôi Khôn hợp nhiều vạch Âm. Đó là Âm Dương theo loại mà tụ, đều có pháp tượng tự nhiên.
Lại nói: Hình vẽ tròn giống trời, một đường xuôi và một đường ngược, trong cuộc lưu hành vẫn có đăng đôi. Như tám quẻ cung Chấn đôl với tám quẻ cung Tốn v.v… Hình vẽ vuông giống đất, có đường ngược không có đường xuôi. Trong ngôi nhất định cũng có đăng đôi, - bốn góc đôi nhau. - Như tám quẻ cung Kiền đối với tám quẻ cung Khôn v.v… Đó là sự khác nhau của hình vẽ vuông và hình vẽ tròn.
Hình vẽ tròn giống trời, nghĩa là trời tròn mà xoay, bao bọc ngoài đất. Hình vẽ vuông giống đất, nghĩa là đất vuông mà đứng im, bị nhốt trong trời. Hình vẽ tròn là đạo trời, có Âm có Dương;
hình vẽ vuông là đạo đất, có cứng có mềm. Chấn, Ly, Đoái, Kiền là phần Dương của trời, phần cứng của đất, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn là phần Âm của trời, phần mềm của đất. Đạo đất phải theo đạo trời, đem cái cứng mềm của đất, ứng với Âm Dương của trời, vẫn cùng một lẽ. Có điều, ở trời thì một đường xuôi, một đường ngược, khí của các quẻ nhờ đó mà vận hành; ở đất chỉ có đường ngược, vạch của các quẻ nhờ đó mà làm nên, thế thôi.

Có người hỏi Thiệu tử nói rằng: “Cái học Tiên thiên tức là tâm pháp(3). Hình vẽ đều bắt đầu từ giữa. Muốn “hoá”(4), muốn việc đều do trong bụng sinh ra”, như thế là nghĩa làm sao?
Đáp rằng: ở trong hình vẽ, chỗ trắng là Thái cực, ba hai quẻ Âm, ba hai quẻ Dương là hai Nghi; mười sáu quẻ Âm, mười sáu quẻ Dương là bốn Tượng, tám quẻ Âm tám quẻ Dương là tám Quái. Lại nói: “Muốn vật muốn hoá đều tự trong đó trôi ra”. Đó là tâm pháp bắt đầu từ giữa(1).
Lại hỏi: “Hình vẽ dù không có chữ, ta nói suốt ngày vẫn cũng không lìa nó câu ay là thế nào?
Đáp rằng: Hình vẽ Tiên thiên nay vẽ ra đó là nói về cuộc vận hành một năm. Nếu lớn ra, mười hai vạn chín nghìn sáu trăm năm của cổ kim chỉ là cái vòng ấy, mà nhỏ lại, mười hai giờ trong một ngày cũng chỉ là cái vòng ấy, đều từ quẻ Phục tính đi… Nói về một tháng, thì từ Khôn đến Chấn, là trăng mới mọc, tức ngày mồng ba; đến Đoái là trăng thượng huyền, tức ngày mồng tám; đến Kiền, là trăng tuần vọng, tức ngày mười lăm; đến Tốn là trăng mới khuyết; tức ngày mười tám; đến Cấn, là trăng hạ huyền, tức ngày hai ba; đến Khôn, là trăng tuần hồi, tức ngày ba mươi… Một ngày có vận một ngày, một năm có vận một năm, lớn thì đầu chót của trời đất, nhỏ thì sống thác của người và vật, xa thì cuộc thay đổi của đời xưa đời nay, đều không ra ngoài vành ấy và chỉ là lẽ đầy vơi, tiêu, lớn mà thôi.

Chữ Dịch chua là biến đổi lại chua là giao đổi, đó là cái nghĩa truyền đổi, cứ coi hình vẽ Tiên thiên thì thấy: Một vạch Âm ở phía Đông thì đôl với một vạch Dương ở phía Tây. Bởi vì cả một phía Đông vốn đều là Dương, cả một phía Tây vốn đều là Âm; vạch Âm ở phía Đông nguyên đều ở phía Tây sang, vạch Dương ở phía Tây nguyên đều ở phía Đông lại; quẻ Cấn ở phía Tây là năm vạch Dương từ phía Đông sang; quẻ Phục ở phía Đông là năm vạch Âm ở phía Tây lại, truyền đổi lẫn nhau mà thành sự biến đổi của Dịch. Tuy có nhiều cách, nhưng đó là cuộc biến đổi thứ nhất…
Trong Dương có Âm, trong Âm có Dương, Đông Tây giao dịch, mỗi chỗ đều có đối nhau. Thật ra, không phải là cái này đi mà cái kia lại, chỉ là tượng nó như thế. Thánh nhân lúc đầu cũng không nghĩ tính như vậy, chỉ là vạch một nét Âm, vạch một nét Dương, mỗi cái lại sinh ra hai cái nữa: trên một vạch Dương lại sinh ra một vạch Dương và một vạch Âm, trên một vạch Âm lại sinh ra một vạch Âm và một vạch Dương. Chỉ cứ như thế mà đi, từ một ra hai; hai ra bốn, bốn ra tám, tám ra mười sáu, mười sáu ra ba hai, ba hai ra sáu tư, thành rồi, thì liền chỉnh tề như thế. Đó đều là những sự mầu nhiệm bản nhiên của trời đất, chỉ mượn qua tay thánh nhân vạch ra…

Lại khi đáp Diệp Vĩnh Khanh, Chu Hy có nói: Theo thuyết Tiên thiên, trước hết nên đem sáu mươi tư quẻ làm hình vẽ ngang, thì Chấn, Tôn, Phục, cấn vừa ở chính giữa. Trước hãy từ Chấn và Phục đi lùi đến Kiền, rồi lại từ Tốn và cấn đi xuôi đến Khôn thì thành hình tròn, mà Xuân, Hạ, Thu, Đông, hối, sóc, huyền, vọng, ngày, đêm, sớm, tối, đều có thứ tự, đó là đại ý của việc làm ra hình vẽ.
Lại nữa: một trăm chín mươi hai hào phía tả đều thuộc về Dương; một trăm chín mươi hai hào phía hữu đều thuộc về Âm, ấy là vì sự đối vọng, truyền đổi với nhau mà thành hình ấy. Nếu không bắt đầu từ giữa đi ra hai đầu, mà chỉ từ đầu đến đuôi, thì những loại ấy đều không thể thông. Thử dùng ý đó mà suy, tự nhiên thấy rõ.
Hình vẽ Tiên thiên vốn của Phục Hy, không phải Khang Tiết chế ra. Tuy nó không có lời lẽ gì cả, nhưng mà cai quát rất rộng, ở trong Kinh Dịch ngày nay, không có một chữ hay một nghĩa nào mà không do đó trôi ra.

THỨ Tự TÁM QUẺ CỦA VĂN VƯƠNG
Kiển cha
Khôn mẹ
Đoá
Ly Ton
Cấn
Khảm
Chấn
Chản
con
trai
lớn
Tôn
con
gâi
lởn
Ly
con
gái
nhỡ
Đoái
con
gái
nhỏ
Được
hào
đẩu
của
Khôn
Được
hảo
giứa
của
Khèn
Được
hảo
Trên
của
Khôn
c&n Khảm
con con
Hình vẽ trên đây thấy ở Thuyết quái

LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO
Thiệu tử nói rằng: Khôn tìm Kiền, được hào Chín Đầu(1) của nó mà thành ra Chấn, cho nên nói rằng: “Tìm một lần mà được con trai”. Kiền tìm ở Khôn, được hào Sáu Đầu(33) của nó mà thành ra Tốn, cho nên nói rằng: “Tìm một lần mà được con gái”(3) Khôn tìm đến lần thứ hai, được hào Chín Hai của Kiền mà thành ra Khảm, cho nên nói rằng: “Tìm hai lần mà được con trai”. Kiền tìm đến lần thứ hai, được hào Sáu Hai của Khôn mà thành ra Ly, cho nên nói rằng: “Tìm hai lần mà được con gái”. Khôn tìm đến lần thứ ba, được hào Chín Ba của Kiền mà thành ra Cấn, cho nên nói rằng: “Ba lần tìm mà được con trai”. Kiền tìm đến lần thứ ba, được hào Sáu Ba của Khôn mà thành ra Đoái, cho nên nói rằng: “Ba lần tìm mà được con gái”(4). Lại nói: “Kiền tìm ở Khôn mà được con gái, Khôn tìm ở Kiền mà được con trai. Lúc đầu vạch quẻ không phải như thế. Chỉ là sau khi vạch quẻ, thì thấy có những Tượng ấy.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:29:16 |Xem tất
PHƯƠNG VỊ TÁM QUẺ CỦA VÃN VƯƠNG

Hình vẽ trên đây thấy ở Thuyết quái Thiệu tử nói rằng: Đây là tám quẻ của Văn vương, tức là cái ngôi đi vào chỗ dùng và là cái học hậu thiên.
LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO
Thiệu tử nói rằng: Cùng tột thay, việc làm Kinh Dịch của Văn vương! Nó được sự dùng của trời đất chăng? Cho nên Kiền, Khôn giao nhau mà thành quẻ Thái, Khảm, Ly giao nhau mà thành quẻ Ký tế, Kiền sinh ở Tý, Khôn sinh ở Ngọ, Khảm trót ở Dần, Ly trót ở Thân, để ứng với thì giờ của trời; đặt Kiền ở Tây Bắc, lui Khôn về Tây Nam, trai lớn làm việc mà gái lớn thay mẹ, Khảm Ly được ngôi mà Đoái Cấn sánh đôi, để ứng với phương hướng của đất, phép của vương giả đủ hết ở đó(1)
Lại nói: Dịch tức là ý một Âm một Dương. Chấn Đoái là cuộc bắt đầu giao nhau, cho nên nó nhằm vào ngôi sớm tôi. Khảm Ly là cuộc giao nhau đã trót cho nên nó nhằm vào ngôi Tý Ngọ. Tôn Cấn không giao nhau, mà Âm Dương hãy còn lẫn lộn, cho nên ở nơi hơi lệch trong chỗ “dùng”; Kiền Khôn thì là thuần Âm thuần Dương, cho nên nó nhằm vào ngôi “bất dụng”.
Lại nói: Đoái, Ly, Tôn được phần Dương nhiều, Cấn, Khảm, Chấn được phần Âm nhiều, cho nên mới là chỗ “dùng” của trời đất. Kiền là cực Dương, Khôn là cực Âm, cho nên không có chỗ dùng.
Lại nói: Chấn Đoái ngang mà sáu quẻ nữa thì dọc, đó là chỗ dùng của Dịch(1).

HÌNH VẼ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC QUẺ
quẻ một so Âm Vu từ hai què Phục, cấn mà lại
Quải
Đ. hữu
Tiểu quá Giải
Chấn
Minh
Tiểu súc
Thăng


Đồng nhân
3
Quán Tấn cấn Mông Di
Tuy Kiển Khảm Truân
Đại tráng Nhu Đoài Cách Đại quá
Đại súc Khuê Ly Đỉnh
Trung phu Gia nhân Tốn
Vô vọng Tụng
Cổ ích Phệ hạp Bi Tổn Tỉnh Tuỳ Kỹ tế Tiết
Hằng Phong Quy muội
Thái
Độn
Bĩ Tiệm Lữ Hoàn Vị tế
Hàm Khốn
Thăng Giải Khảm Tiểu quá Kiến
Độn Tụng
Đỉnh Vô vọng
Đại quá
Mông
Quẻ Ô Dương đều từ quẻ
Câu Đông nhân Lý Tiểu súc Đại hữu
Tấn
Quải

Cấu Đổng nhân Lý Tiếu súc Quảỉ Đại hữu Phục sư Khiêm Dự Ty
Trở lên có chín hình vẽ Kinh Dịch, có Kinh Dịch của Phục Hy, có Kinh Dịch của Văn vương Chu công, có Kinh Dịch của Khổng Tử. Từ Phục Hy về trước đều không có chữ, chỉ có nét vẽ, rất nên xem kỹ, thì có thể thấy cái ý rễ gốc tinh vi của việc làm ra Kinh
Dịch. Từ Văn vương trở xuống mới có văn tự, tức sách Chu Dịch ngày nay, nhưng mà kẻ đọc cũng nên theo các bản văn suy ngẫm, không thể nhận thuyết của Khổng Tử làm thuyết của Văn vương.

LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO
Chu Hy nói rằng: Thái cực hai Nghi, bốn Tượng, tám Quẻ là phép vạch quẻ của Phục Hy. Trong thiên Thuyết quái, từ câu:天 地定位 (Thiên địa định vị) đến câu 坤以藏矣 (Khôn dĩ tàng hĩ) là để thấy ngôi tám Quẻ của Phục Hy vạch ra; từ câu 帝出乎震 (Đề xuất hồ Chấn) trở xuống là lời Văn vương tựa theo những quẻ của Phục Hy đã làm thành mà suy cho rộng nghĩa loài của nó. Như thuyết “cứng lại, mềm tiến” cũng là tựa theo sau khi các quẻ đã thành, dùng ý giải ra, cho rõ quẻ này do ở quẻ kia mà ra, không phải đích thật trước có quẻ kia mà sau mới có quẻ ấy. Lời chua đời xưa nói là quẻ Bí do ở quẻ Thái mà ra, tiên nho đã có công kích, cho rằng: Kiền Khôn hợp nhau thì thành quẻ Thái, há lại có lẽ quẻ Thái biến đổi thành ra quẻ Bĩ? Nhưng không biết rằng: Nếu bàn về việc vạch Quẻ của Phục Hy thì sáu tư quẻ đủ trong một lúc, dẫu đến Kiền Khôn cũng không có lẽ sinh ra các quẻ; còn nếu theo thuyết của Văn vương Khổng tử thì dọc, ngang, cong, thẳng, sinh đi, sinh lại, thế nào không được? Cốt ở xem được hoạt bát, không câu nệ, thì không cái gì không thông(34).
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:30:49 |Xem tất
PHÉP BÓI BẰNG CỎ THI

Chọn chỗ đất sạch làm nhà chứa cỏ thi, cửa ngảnh về Nam. Giữa nhà kê một chiếc giường.
(Chiếc giường chiều dài chừng năm thước, chiều rộng chừng ba thước. Đừng để gần bức vách quá).
Cỏ thi năm chục cây, bọc bằng lụa màu đỏ nhạt, đựng trong chiếc túi màu đen, cho vào hộp, đặt ở phía bắc chiếc giường.
(Hộp bằng ống tre, hoặc bằng gỗ rắn, hay vải sơn, hình tròn, đường kính độ ba tấc, chiều dài bằng chiều dài cỏ thi, một nửa làm đáy, một nửa làm nắp, dưới hộp có hòm làm giá, cho khỏi lăn nghiêng).
Đặt chiếc khay gỗ ở phía nam cái hộp, dé về phía bắc cái giường hai phân.
(Khay bằng ván gỗ, bề cao một thước, bề dài vừa suốt cái giường, trong khay chia làm hai ô lớn, ô nọ cách ô kia một thước, phía tây ô lớn làm ba ô nhỏ, mỗi ô cách nhau năm tấc, dưới khay có chân ngang, đặt nghiêng trên một chiếc án).

Đặt một lò hương ở phía nam chiếc khay, một hộp hương ở phía nam cái lò, hàng ngày thắp hương cung kính, sắp bói thì phải quét rửa lau chùi: để một chiếc nghiên rửa sạch, có rót nước, một cây bút, một thoi mực, một miếng ván sơn vàng ở phía đông lò hương. Trên phía Đông, người bói trai khiết, đội mũ mặc áo, ngảnh mặt về Bắc, rửa tay đốt hương cúng lễ.
(Nếu sai người khác bói hộ, thì chủ nhân đốt hương xong rồi lui xuống một chút, đứng ngảnh về Bắc, kẻ bói tiến lên trước giường đứng hơi dé về Tây, ngảnh mặt về Nam, nhận lấy việc bói. Chủ nhân thuật thẳng việc mình định xem, kề bói vâng lời. Chủ nhân quanh về phía hữu, đứng ngảnh về Tây, kẻ bói cũng quay về phía hữu, đứng ngảnh về Bắc).
Hai tay bưng lấy nắp hộp, đặt xuống phía Nam cái khay, phía bắc lò hương. Lấy cỏ thi ở trong hộp ra, tháo túi, cởi bọc, đặt ở phía đông chiếc hộp. Tất cả năm chục cây, cầm bằng hai tay, hơ trên lò hương, khấn rằng:假爾泰筵有常, 假爾泰筵有常!某 (官姓名)今以某 事未知i否, 爰質所疑于神于靈, 吉凶得失, 悔吝憂虞, 惟爾 有神, 尚明告之 Giả nhĩ Thái phệ hữu thường, giả nhĩ Thái phệ hữu thường! mỗ (quan tính danh) kim dĩ mề sự vị tri khả phủ, viên chất sở nghi vu thần ưu linh, cát hung đắc thất, hối lận ưu ngu, duy nhĩ hữu thần, thượng minh cáo chi. (Mượn mày đồ bói lớn tính không thay đổi. Mượn mày đồ bói lớn tính không thay đổi. Mỗ (quan tước -hoặc chức nghiệp - họ và tên) vì việc (chi đó) chưa biết nên chăng, phải đem điều nghi ngờ ấy hỏi đấng thần linh. Lành hay dữ, được hay mất, hối tiếc hay lo sợ, người có thiêng liêng hãy bảo cho rõ).
Rồi dùng tay phải nhặt lấy một thẻ (tức một sợi cỏ thi) trả lại trong hộp.
Rồi lấy cả hai tay chia đôi bốn mươi chín thẻ, để vào hai chiếc ô lớn tả hữu cái khay.
(Đây là dinh thứ nhất. Nghi lễ bảo là chia ra làm hai, để hình dung hai Nghi).
Rồi tay trái cầm lấy những thẻ ở chiếc ô lớn phía tả, tay phải nhặt lấy một thẻ ở chiếc ô lớn phía hữu cài vào khe ngón tay út tay trái.
(Đây là dinh thứ hai, Nghi lễ bảo là: treo một thẻ để hình dung tam tài).
Rồi dùng tay phải đếm “bốn chiếc một” những thẻ cầm ở tay trái.
(Đây là dinh thứ ba, Nghi lễ gọi là đếm bằng số bốn để hình dung tứ thời).
Rồi trả lại những thẻ còn thừa, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, và kẹp nó vào khe ngón vô danh tay trái(35).
(Đây là nửa dinh thứ tư. Nghi lễ bảo là ra số lẻ về chỗ kẹp để hình dung tháng thuận).
Rồi dùng tay phải trả lại những thẻ đã đếm vào chiếc ô lớn phía tả cái khay, cầm lấy những thẻ ở chiếc ô lớn phía hữu cái khay và dùng tay trái đếm “bốn chiếc một”.
(Đây là nửa dinh thứ ba).
Rồi lại trả lại những thẻ còn thừa như trước và giắt vào khe ngón giữa tay trái.
(Đây là nửa dinh thứ tư. Nghi lễ bảo là giắt lần thứ hai để hình dung hai lần thuận. Nhưng thẻ còn thừa trong lần biến đổi thứ nhất, tay tả một thì tay hữu phải ba, tay tả hai tay hữu cũng hai, tay tả ba, tay hữu phải một, tay tả bốn, tay hữu cũng bốn. Kể suốt cả một lần “cài” không năm thẻ thì chín thẻ. Nắm thế được một lần bốn là số lẻ, chín thẻ được hai lần bốn là số chẵn. Lẻ thì ba mà chẵn thì một).
Rồi dùng tay phải trả lại những thẻ đã đếm vào chiếc ô lớn phía hữu, và nhập những thẻ trong một lần “cài” hai lần kẹp ở bàn tay trái làm một, đặt lên ô nhỏ thứ nhất trong cái khay.
(Thứ tự ô nhỏ kể từ chiếc ô phía Đông trở đi).
Đó là một lần biến. Lại dùng hai tay nhập những cỏ thi ở hai ô lớn tả hữu làm một.
(Bây giờ còn 44 thẻ hoặc 40 thẻ).
Lại làm bốn dinh như nghi thức lần biến thứ nhất, và đặt những thẻ cài kẹp vào ô nhỏ thứ hai trong cái khay. Đấy là hai lần biến.
(Những thẻ còn thừa trong lần biến thứ hai: tay tả một tay hữu phải ba; tay tả hai, tay hữu phải một; tay tả ba, tay hữu phải bốn, tay tả bốn, tay hữu phải ba. Kể suốt số thể trong một lần cài, không bốn thì tám. Bốn được một lần bốn là số lẻ, tám được hai lần bốn là số chẵn. Lẻ chẵn đều được số hai trong số bốn).
Rồi lại lấy những cỏ thi ở hai ô lớn tả hữu nhập lại làm một.
(Bây giờ còn 40 thẻ hoặc 36 thẻ hay 32 thẻ).
Lại làm bốn dinh như nghi thức lần biến thứ hai, và để những thẻ cài kẹp vào chiếc ô nhỏ thứ ba trong chiếc khay. Đó là lần biến thứ ba.
(Số thẻ còn thừa của lần biến thứ ba cũng như lần biến thứ hai).
Xong ba lần biến, mới coi số thẻ cài kẹp và số thẻ đếm qua của mỗi lần mà vạch từng hào vào mảnh ván.
Số thẻ cài kẹp, năm và bốn là lẻ, chín và tám là chẵn. Cài kẹp là ba số lẻ, hết 13 thẻ, thì số đếm qua còn 26 thẻ, là hào Lão Dương, đánh dấu bằng… vẫn gọi là “trùng”. Cài kẹp hai lẻ một chẵn, cộng 17 thẻ, thì số đếm qua còn 32 thẻ, là hào Thiếu Âm, đánh dấu bằng… vẫn gọi là “triết”. Cài kẹp hai chẵn một lẻ, cộng 21 thẻ thì số đếm qua còn 28 thẻ là hào Thiếu Dương, đánh dấu bằng - vẫn gọi là “đạo”. Cài kẹp là ba số chẵn, cộng 25 thẻ, thì số đếm qua còn 24 thẻ, là hào Lão Âm, đánh dấu bằng X, vẫn gọi là “giao”.
Như thế, cứ ba lần biến thì thành một hào.
(Thứ nhất, thứ tư, thứ bảy, thứ mười, thứ mười ba, thứ mười sáu, sáu lần biến đó giống nhau, có điều từ lần thứ ba trở đi thì không khấn nữa, chỉ dùng 49 sợi cỏ thi mà thôi. Các lần thứ năm, thứ tám, thứ mười một, thứ mười bốn và thứ mười bảy đều giống như lần thứ hai, các lần thứ sáu, thứ chín, thứ mười hai, thứ mười lăm, thứ mười tám, thì giống như lần thứ ba).

Tất cả mười tám lần biến thì thành một quẻ. Xét sự biến đổi trong quẻ, để xem việc dữ hay lành.
Bói xong, lại bọc cỏ thi, đựng vào túi, cho vào hộp, đậy nắp lại, thu xếp bút, nghiên, mực, ván, rồi lại thắp hương cúng lễ lần nữa.
Nếu nhờ người bói hộ, thì chủ nhân thắp hương, vái kẻ bói giúp rồi lui(1).
DỊCH THUYẾT CƯƠNG LĨNH
Trình Di nói rằng: Việc của đấng thượng thiên, không tiếng không hơi, cái thể của nó gọi là Dịch, cái lý của nó gọi là Đạo, cái dụng của nó thì gọi là Thần.
Âm Dương khép ngỏ tức là dịch, một khép một ngỏ gọi là biến.
Gọi là Dịch mới có lý, nếu như xếp đặt nhất định thì có lý gì? Cuộc biến đổi của trời đất, Âm Dương cũng như hai thớt cối xay, lên xuống, đầy vơi, cứng mềm, chưa từng dừng nghỉ. Dương thường đầy, Âm thường thiếu, cho nên mới không đều nhau. Ví như cối xay đã quay, răng nó phải không bằng nhau; đã không bằng nhau thì sẽ sinh hàng vạn sự biến đổi.
Trong Kinh Dịch chỉ nói về lẽ giáo giở, đi lại, lên xuống.
Làm Kinh Dịch từ trời đất tôl sáng, cho đến cây cỏ sâu bọ nhỏ nhặt, không gì không hợp.
Trương Hoành Trung hỏi: Có phải nghĩa của Kinh Dịch vốn khởi ở Số hay không? Đáp rằng: Bảo nghĩa khởi ra sự số thì sai. Có Lý rồi mới có Tượng, có Tượng rồi mới có Số. Kinh Dịch nhân Tượng để biết Số, hễ hiểu được nghĩa của nó, thì số sẽ ở bên trong, ắt muốn xét cho cùng cực sự tinh vi của Tượng, biết cho hết từng hào hot của số, đó là tìm dòng theo ngọn, cách đó chỉ có những nhà thuật số vẫn chuộng, không phải là việc mà kẻ nho giả nên cần. Nó là cái học của bọn Quản Lộ, Quách Phác vậy.
Lại nói: Lý là vật vô hình, cho nên nhân Tượng để tỏ Lý, Lý hiện ở Lời, thì có thể do Lời mà biết Tượng. Vì vậy nói rằng: “Hiểu được nghĩa của nó, thì Số sẽ ở bên trong”.
Xem Dịch cần phải biết thời. Tất cả sáu hào ai ai cũng có thể dùng, ông thánh có chỗ dùng của ông thánh, ông hiền có chỗ dùng của ông hiền, người thường có chỗ dùng của người thường, kẻ học có chỗ dùng của kẻ học, vua có chỗ dùng của vua, tôi có chỗ dùng của tôi, không đâu không thông.
Xem Dịch hãy nên xem thời, rồi mới xem đến tài của từng hào. Trong một hào thường có bao hàm mấy ý, thánh nhân thường thích những ý trọng hơn mà làm ra lời; có điều gì mà trong Kinh Dịch nói đến đã nhiều, thì lấy những điều chưa từng nói đến, cũng không cần, phải việc trọng; lại cũng có khi chỉ nói về thời, không nói về tài các hào. Những điều ấy, đều nên lâm thời tham khảo. Phải trước xem quẻ, rồi mới xem được lời “hệ”.

Chu Hy nói rằng: Lúc đầu thánh nhân làm Dịch chỉ là ngửa xem cúi xét, thấy rằng: đầy khoảng trời đất, không cái gì không phải là lẽ một Âm một Dương; có lẽ ấy thì có Tượng ấy, có Tượng thì Số của nó tự ở bên trong. Chẳng những Hà đồ, Lạc thư như thế, mà cái gọi là Số kia, chỉ là những chỗ chia hạn, chừng mực của khi; được Dương thì lẻ, được Âm thì chẵn, các vật đều thế. Hà đồ, Lạc thư là thứ khéo hơn rõ hơn mà thôi. Vì vậy, thánh nhân nhân đó mà vạch ra Quẻ. Lúc mới chỉ là vạch một vạch lẻ để hình dung khí Dương, vạch một vạch chẵn, để hình dung khí Âm mà thôi. Nhưng hễ có hai thì liền có bốn, hễ có bốn thì liền có tám, lại theo đó mà gấp lên liền thành mười sáu. Đó là trong đám không có mầm nhú, mà số vô cùng đã đủ; không đợi xếp đặt mà thế vẫn không thể thôi. Quẻ vạch đã lập, liền có lành dữ vì là Âm Dương đi lại giao thác ở trong. Thời của nó thì có tiêu đi, lớn lên khác nhau: cái lớn lên là chủ, cái tiêu đi là khách; việc của nó hoặc có nên chăng khác nhau, cái nên là thiện, cái chăng là ác. Theo chỗ chủ khách thiện ác mà phân biệt thì sự lành, dữ sẽ rõ. Vì vậy nói rằng: Tám Quẻ định sự lành dữ. Sự lành dữ đã quyết định không sai, thì dùng nó để dựng các việc, nghiệp lớn sẽ từ đó sinh ra. Đó là thánh nhân làm ra Kinh Dịch, dạy dân xem bói, để mở cái ngu của thiên hạ, để định cái chí của thiên hạ, để làm nên các việc của thiên hạ, là thế. Có điều từ Phục Hy về trước chỉ có sáu vạch, chưa có văn tự truyền được; rồi đến Văn vương Chu công mới đèo thêm lời, cho nên nói rằng: “Thánh nhân đặt quái xem Tượng, đèo Lời vào để tỏ lành dữ”. Đó là khi Quẻ chưa vạch, nhân xem pháp tượng tự nhiên của trời đất mà vạch ra; đến lúc Quẻ đã vạch rồi, thì quẻ nào riêng có Tượng của quẻ ấy. Tượng nghĩa là có chỗ giống giống, cho nên thánh nhân mới theo tượng đó mà đặt ra tên. Nói về sự tiến lui của hào, thì như quẻ Bác, quẻ Phục v.v… nói về sự hệt giống của hình, thì như quẻ Đỉnh quẻ Tỉnh v.v… Đấy là Phục Hy theo chỗ hoàn toàn của hình thể các quẻ mà lập cái tên như thế. Văn vương coi hình tượng của quái thể mà làm Thoán tử. Chu công coi sự biến đổi của quái hào, mà làm Hào tử, cái Tượng của sự lành dữ lại càng rõ rệt.
Đại để đạo trong gầm trời chỉ là thiện ác mà thôi. Có điều cái ngôi của người ta ở phải khác nhau, cái thời của người ta gặp phải không giống nhau, mà cái cơ của nó rất nhỏ, chỉ vì người trong thiên hạ không thể hiểu thấu, cho nên thánh nhân dùng phép bói toán đó để dạy người, khiến cho người ta lúc bình cư thì xem Tượng ngẫm lời, lúc hành động thì xem sự biến đổi mà ngẫm Lời chiêm đoán, không bị mê muội trong đường phải trái được mất. Bởi vậy, sách này nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu đều dùng. Câu nói trong sách - của các đời đó - tuy không giống nhau, lời nói trong sách - của các đời đó - tuy không thấy hết, nhưng đều do quan Thái bốc coi giữ để dùng vào việc bói toán. Coi như họ Tả đã chép, lại càng có thể thấy chỗ cổ nhân dùng Dịch. Bởi vì gọi là tượng chỉ là mượn những vật mà mọi người cùng biết, để hình dung lý của các việc, khiến cho người ta biết sự nên bỏ, nên lấy mà thôi. Cho nên từ Phục Hy đến Văn vương Chu công, tuy là do sơ lược đến tường tận, mà cái gọi là công dụng của việc xem bói thì vẫn có một. Nghĩa là trong cách xem bói kia vẫn có cái lý dùng để xử trí việc này. Cho nên phương pháp của nó dường như thô thiển, nhưng theo sự hiền ngu của từng người, thảy đều gặp được chỗ dùng. Bởi vì Văn vương tuy là có Tượng nhất định, có Lời nhất định, nhưng cũng đều là nói trông chỗ này phải xử như thế, không hề gắn chặt vào các vật. Cho nên mỗi quẻ mỗi hào đều đủ bao bọc những việc vô cùng, không thể chỉ lấy một việc chỉ định.
Ở trong hào quẻ, cũng có chỗ chỉ mọi việc, như “lợi kiến hầu” “lợi dụng tế tự”, v.v… ngoài ra đều không chỉ về một việc mà nói. Vì vậy, mới thấy công dụng của Kinh Dịch không gì không cai quát, không gì không lan khắp, chỉ xem người ta dùng nó ra sao mà thôi.
Đến đấng Phu Tử(36) mới thuần theo lý mà nói, tuy rằng vị tất đã là bản ý của vua Hy vua Văn, nhưng mà theo việc nói lý, cũng là như thế. Có điều không thể lấy thuyết của Phu tử làm thuyết của Văn vương.

Trong khoảng trời đất còn có cái gì? Chỉ là hai chữ Âm Dương mà thôi. Bất kỳ việc gì, đều không thể nào lìa nó. Hãy coi trong thân thể mình: hễ mở mắt ra, chẳng Âm thì Dương, khít khịt trong đó, không thể bám được vật khác. Chẳng là nhân thì là nghĩa, chẳng là cứng thì là mềm. Tự mình muốn làm thẳng lên là Dương, hễ mà thu lại lùi lại là Âm; ý tứ hễ động là Dương, hễ im là Âm. Chưa cần coi đến sự khác, chỉ trong một cái động và một cái im cũng đã là Âm Dương rồi. Phục Hy nhân đó mới vạch ra Quẻ để bảo người ta.
Nhưng nếu chỉ nói một Âm một Dương, lại chưa đủ để cai quát mọi lẽ. Vì vậy mới lại xoay xoả làm sáu tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào. Lúc đầu chỉ là rất nhiều quẻ, hào, về sau thánh nhân lại đèo thêm rất nhiều lời ở dưới. Như ở sách khác, thì phải nguyên có việc ấy, mới nói ra cái lẽ ấy, Kinh Dịch thì là chưa có việc ấy, trước đã mượn sần nói ở trong đó.
Lại nói: Âm Dương là khí, hễ có khí ấy thì có lý ấy, hễ có lý ấy thì có khí ấy. Muốn việc muốn vật ở gầm trời, cái gì không ở lý ấy mà ra? Cái gì không ở Âm Dương mà ra?
Dịch chỉ là Âm Dương xoay xoả, giao đổi thay đổi. Trang tử bảo “Dịch để nói về Âm Dương” không phải không có sở kiến. Ví như lẻ, chẵn cứng mềm, chỉ là Âm Dương làm ra cuộc thay đổi.
Dịch là Âm Dương co duỗi, tuỳ thời biến đổi. Cổ kim vẫn có cuộc khép ngỏ lớn, cuộc khép ngỏ nhỏ. Những người ngày nay nói về Kinh Dịch đều không có chỗ sờ sà. Thánh nhân thì theo sáu mươi tư quẻ mà thay đổi đi, cho đến cái chỗ sở dĩ làm Âm Dương, làm cổ kim, cũng là lẽ ấy.
Dương Quý Sơn đến nhà Thiềm Quý Lỗ ở Hoàng đình, Quý Lỗ hỏi về Kinh Dịch, Quý Sơn lấy tờ giấy vẽ cái vòng tròn, dùng mực bôi đen một nửa và nói: “Đó tức là Dịch

Câu đó rất hay. Dịch chỉ là một Âm một Dương làm ra rất nhiều kiểu.
Có người hỏi rằng: “Lời ở dưới quẻ là lời Thoán,Tả truyện cho làm lời Do M là cớ làm sao?”
Đáp rằng: “Đó chỉ là lời Thoán, cho nên Khổng tử có nói: “Bậc trí giả xem trong lời Thoán, thì đã nghĩ được quá nửa”. Ví như 元 亨利貞(nguyên hanh lợi trinh) là lời của Văn vương đèo ở dưới quẻ để biết sự lành dữ của một quẻ. Trong sách Âm ngữ của họ Lục gọi là kinh Thoán. Từ chữ 大哉乾元[Đại tai kiền nguyên) trở xuống là lời của Khổng tử thích kinh, cũng gọi là Thoán, và vẫn bảo là Thoán truyện. Còn những lời ở dưới hào như câu 潜龍勿 用(Tiềm long vật dụng), thì là lời của chu công đèo vào để đoán sự lành dữ của một hào; những câu天行健君子以自强不息 (Thiền hành kiện quân tử dĩ tự cường bất tức) vẫn gọi là truyện Đại tượng; những câu 潜龍勿用陽在下也(Tiềm long, vật dụng Dương tại hạ dã) vẫn gọi là truyện Tiểu tượng, đều là lời của Khổng tử làm ra. Từ câu 天尊地卑(Thiên tôn địa ty) trở xuống là truyện Hệ từ của Khổng tử thuật ra, bàn góp về những đại thể, phàm lệ của cả cuốn Dịch, nó không phụ vào lời kinh mà tự chia làm Thượng hệ, Hạ hệ. Tả thị gọi là lời Do M Chữ M (do) theo ở chữ 系(hệ) ngờ rằng cũng là nói về Hệ từ (繁辭).Hệ từ nghĩa là dưới quẻ có đèo lời vào.
Kinh Dịch có Tượng, lấy những Tượng ấy phải có chỗ theo. Tuy những tượng ấy, chỉ có chỗ dùng, không phải cẩu thả đặt ra ngụ ngôn, nhưng các nhà nho trong hai đời Hán(1) cứ muốn xét cùng chỗ “theo” của nó, đã là vướng mắc không thông; rồi tự Vương Bật trở đi, những muốn suy hết chỗ “dùng” của nó, lại thành sơ lược mà không có căn cứ. Cả hai điều đó đều là cái lỗi “chỉ thiên một bề, không biết chừa chỗ nghi ngờ”. Hãy lấy một mặt mà bàn, thì Kiền là ngựa, Khôn là trâu, thiên Thuyết quái đã có nói rõ: ngựa là giống mạnh, trâu là giống thuận, trong loài vật vẫn có lẽ thường; đến như theo văn quách quẻ, như quẻ Chuân có nói đến ngựa mà không có hình Kiền, quẻ Ly có nói đến trâu mà không có hình Khôn, rồi sáu rồng trong quẻ Kiền, có người ngờ là quẻ Chấn; ngựa cái ở quẻ Khôn, thì bảo nên trở lại quẻ Kiền, đó đều là sự không thể hiểu được. Cho nên Hán nho tìm ở Thuyết quái không được, thì bèn cùng nhau đặt ra những thứ hộ thể biến quái, những phép “ngũ hành nạp giới phi phục”, và lấy làm may khi được thấy nó ngẫu nhiên đúng hợp. Thuyết của họ tuy là tường tận, nhưng mà những chỗ không thông vẫn không thể thông, còn chỗ thông được thì lại phụ hội xuyên tạc, không có cái vẻ tự nhiên; dẫu rằng có một hai chỗ vừa đúng, không cần phải đợi nói khéo, nhưng nó, trên thì không quan hệ đến nguồn gốc của nghĩa lý, dưới thì không giúp đỡ gì cho sự răn dạy về nhân sự, thế thì can gì lại phải khổ lòng nhọc sức cô tìm cho được!

Cho nên Vương Bật nói rằng: “Nghĩa của nó nếu có ứng với sự “mạnh”, thì cứ gì Kiền mới là ngựa? Hào của nó nếu có hợp với sự “thuận” thì cứ gì Khôn mới là trâu? “ Trình tử cũng nói: “Lý là một vật vô hình, nên phải mượn “Tượng” làm cho rõ nghĩa”. Phá cái lỗi cố chấp vơ vẩn của Tiên nho mà mở phương pháp ngẫm “Lời” ngẫm “Chiêm” cho hậu học, như thế là cùng tột rồi. Nhưng mà xem ý hai người, thì lại giống như điều cho sự “lấy Tượng” của Kinh Dịch, không phải tự đâu mà ra, chỉ như lôi tỷ hứng của Kinh Thi và cách xý dụ của Mạnh Tử mà thôi. Thế thì Thuyết quái làm ra, là không dính gì đến Kinh Dịch, mà câu “gần nghiệm ở mình mình, xa nghiệm ở loài vật” cũng là lời thừa.
Vì vậy, ngờ các thuyết đó nói chưa hết ý, nhân trộm bàn rằng: Sự “lấy Tượng” vẫn là phải tự chỗ nào, mà những thuyết ấy đã có đủ ở quan Thái bốc, có điều bây giờ không thể kê cứu được nữa, thì đành hãy bỏ thiếu đó mà chỉ theo Tượng trong lời để tìm lấy ý trong Tượng, khiến cho đủ làm dạy răn và quyết định sự lành dữ như lời họ Vương, thầy Trình và sách Bản nghĩa của ta đã nói, cũng được, không cần cố tìm cho được cái chỗ Tượng ở đâu ra, nhưng cũng không thể đặt ra giả thiết mà vội quên hẳn chỗ đó.
Phục Hy vạch tám Quẻ, chỉ có mấy nét, bao quát hết lẽ muốn vật gầm trời. Kẻ học hiểu được ở Lời thì nông, hiểu được ở Tượng thì sâu. Vương Phụ Tự và Trình Y Xuyên đều không tin Tượng, nhưng nay không dám nói thế, chỉ nói không được trông thấy cái đó. Hãy cứ theo Tượng mà nói, thì khỏi xuyên tạc.
Tượng của Dịch hình như cũng có ba thứ: Có thứ do nét của nó tự nhiên sẵn có, như nét lẻ là Tượng khí Dương, nét chẵn là Tượng khí Âm… Có thứ đích thực bắt chước hình tượng các vật, như Kiền Khôn và sáu con lấy trời, đất, sấm, gió làm Tượng v.v… Có thứ chỉ là thánh nhân tự ý lấy hình này để tỏ nghĩa kia, như ngựa trắng có cánh, chở quỷ một xe v.v…
Coi Dịch nên tựa chắc vào Tượng mà coi thì nhiều ý vị, nếu chỉ coi nó bằng cách trông không, thì chẳng có ý tứ gì.
Đành rằng nói được cái lý của nó, thì Tượng số sẽ ở bên trong, nhưng theo dòng mà coi, phải thấy Tượng Số đích đáng ở đâu trước đã, thì khi nói Lý mới khỏi chạy chệch. Nếu không thế, việc mà không có thực chứng, thì cái Lý suông dễ sai.

Trong đời Thượng cổ, lòng dân tôi tăm, không biết lành dữ ở đâu, cho nên thánh nhân làm Dịch, dạy họ bói toán, lành thì làm, dữ thì tránh, đó là cái lôi “mở mang các việc” Hệ từ nói “để thông chí thiên hạ, để định nghiệp thiên hạ, để đoán sự nghi ngờ của thiên hạ” là chỉ chỗ đó.
Lúc đầu chỉ có “Chiêm”(37) mà không có chữ, giống như phép độn Hoả châu lâm(1), ngày nay, chỉ dùng hào mà không dùng lời - đủ biết cổ nhân xem bói, không phải đợi lời mà sau mới biết lành dữ. Đến Khổng lại sợ người ta không biết tại sao mà thế, cho nên lại phải lần theo từng hào mà giải “Hào này sở dĩ lành, vì nó trung chính, hào kia sở dĩ dữ, vì nó không đáng ngôi”, nói rõ như thế để cho người ta dễ hiểu mà thôi. Đến như Văn ngôn, thì lại theo ở bên trong phát minh ra các đạo lý, không phải bản ý thánh nhân(38) như thế. Hễ biết chỗ đó, thì mới có thể học Dịch.
Thánh nhân trong một bộ Dịch, đều là mượn chuyện hư không đặt ra. Vì các công dụng trong thiên hạ, nếu nói thẳng thì chỉ dùng được một việc mà thôi, chỉ có cách nói bằng Tượng, thì lúc bói toán, bao nhiêu việc thiện, có thể ứng vào được cả.
Dịch vốn là sách bói toán, người sau cho là nó chỉ dùng được trong việc bói toán. Đến Vương Bật mới dùng thuyết của Lão tử, Trang tử mà giải, về sau người ta lại cho là sách nói lý, không cho là sách bói toán, như vậy cũng sai. Tưởng rằng trong khi Phục Hy bắt đầu vạch Quẻ, ngẫu nhiên nhận thấy một là Dương, hai là Âm, bèn theo đó mà vạch phóng ra, trong đó chỉ là Dương thì lành mà Âm là dữ, không có chữ nghĩa gì hết. Sau đó Văn vương thấy thê không thể hiểu được, cho nên mới làm lời Thoán; rồi hoặc có kẻ xem nhằm cái hào, không thể hiểu được, cho nên Chu công mới làm lời hào; và vẫn không thế hiểu được, Khổng tử mới phải làm ra thập đức(2), đều giải cái ý lúc đầu. Ngày nay người ta không xem hào quẻ, mà chỉ xem lời Hệ, cũng như không coi sách luật mà chỉ coi những tự lệ của sách luật vậy, hiểu làm sao được? Ngày nay phải nhận nó là sách bói toán mà coi mới được. Nếu không thế, thì không thể coi Kinh Dịch.

Kinh Dịch chỉ là vì việc bói toán mà đặt ra, cho nên sách Chu Lễ mới nói rõ rằng quan Thái bốc giữ ba thứ Dịch, tức sách Liên sơn, sách Qui tàng và sách Chu Dịch, cổ nhân về quan bói toán, lập ra tất cả mấy người. Nhà Tần cách đời cổ chưa xa, nên sách Chu Dịch nhờ về bói toán mà không bị đốt. Những người đời nay hễ nói Dịch là thứ sách bói toán, thì cho là làm nhục Kinh Dịch; thấy Phu tử nói rất nhiều đạo lý, lại cho Dịch là sách nói đạo lý. Họ không biết rằng: Khi nói lành dữ hôi lận(39) đều là có lý, mà cái lý dạy người, không đâu không có. Ngày nay sở dĩ khó lý hội là vì đã mất cái phép bói toán. Như quan Thái bốc coi về pháp ba Kinh Dịch, tức là Liên sơn, Qui tàng, Chu Dịch, đó là vẫn riêng có phép lý hội Chu Dịch; nay chỉ thấy có hai thiên Thượng kinh, Hạ kinh và đều không thấy có mấy nỗi phép. Vì vậy mới khó lý hội. Ngày nay người ta lại bảo “thánh nhân nói lý, mà ở trong đó nhân thể có thuyết bói toán”, sau khi thánh nhân nói lý, còn nói việc bói toán đó làm gì?
Kinh Dịch chỉ cho người ta bói toán để quyết định sự nghi hoặc. Nếu theo đạo lý nên làm, vẫn là cứ làm; nếu theo đạo lý mà không nên làm, tự nhiên không thể làm được; thế thì cần gì mà còn phải xem? Là vì có khi cùng trong một việc mà hoặc là lành hoặc là dữ, hay là có thể xử trí hai cách khác nhau. Bởi vậy không thể không xem.
Học giả ngày nay kiêng nói Kinh Dịch vì sự bói toán làm ra, cần nói nó vì nghĩa lý mà làm ra. Nếu quả vì nghĩa lý mà làm ra, thì sao không nói luôn bằng văn tự, như các cách Đại học, Trung dung nói về nghĩa lý để dạy người, còn vẽ tám quẻ làm gì?
Hào Dương phần nhiều lành, hào Âm phần nhiều dữ, lại xem ngôi chỗ của nó đã ở ra sao. Trong Kinh Dịch, đại khái Dương thì lành mà Âm thì dữ. Gián hoặc cũng có Dương dữ mà Âm lành là tại cớ gì? Bởi vì có việc nên làm, cũng có việc không nên làm, nếu nên làm mà không làm, không nên làm mà cứ làm, dù Dương cũng hung.
Trong Kinh Dịch, chỉ có “trinh cát”, chưa có chỗ nào không “trinh” mà “cát”, chỉ nói “lợi trinh”, chưa từng nói “lợi bất trinh”. Ví như xem được quẻ Kiền, vẫn là tốt lắm, nhưng mà ở dưới lại nói “lợi trinh”. Nghĩa là ngay thẳng chính đính thì lợi, không ngay thẳng chính đính thì không lợi. Bước đầu của chí lý, chí giáo của thánh nhân, ngụ ở trong đó. Đại để nó là thứ sách vì hạng quân tử mà làm ra, không phải là của mà bọn tiểu nhân trộm hoặc có thể lấy trộm mà dùng. Trương Hoành Cừ nói: “Kinh Dịch chỉ mưu tính cho quân tử, không mưu tính cho tiểu nhân”, phải lắm.

Chữ “lợi” trong Kinh Dịch, phần nhiều vì người xem mà đặt ra. Như “lợi sang sông lớn”, tức là lợi cho việc đi thuyền; “lợi có sự đi” tức là lợi cho việc lên đường; “lợi về tế tự” “lợi về hưởng tự” là bói việc cúng được tốt; “săn được ba con cáo”, “săn được ba bậc” là bói việc săn bắn được tốt; “công dùng hưởng của thiên tử”, là bói việc triều cận được tốt; “lợi dụng tước hầu” là bói việc lập vua được tốt; “lợi về dời nước” là bói việc thiên đô được tốt; “lợi về xâm phạt”, là bói việc xâm phạt được tốt v.v…
Ngày nay đọc Dịch, nên chia ra làm ba bậc mà coi. Dịch của Phục Hy, chưa có rất nhiều câu nói của Thoán, Tượng, Văn ngôn, mới có thể thấy bản ý của Dịch chỉ cốt dùng về việc bói. Phục Hy vạch Quẻ đâu có rất nhiều văn tự ngôn ngữ? Chỉ là Quẻ ấy thì có Tượng ấy, như Kiền có Tượng của Kiền, Khôn có Tượng của Khôn mà thôi. - Ngày nay người ta nói về Kinh Dịch, có khi chưa hiểu Tượng của Kiền Khôn, đã nói Lý của Kiền Khôn, vì vậy mà họ đã nói một cách không có tình lý gì hết. - Đến Văn vương Chu công chia ra làm sáu tư quẻ, thêm vào những chữ “Kiền nguyên hanh lợi trinh” “Khôn nguyên hanh lợi tẫn mã chi trinh”w đã không phải ý của Phục Hy, đã là Văn vương Chu công tự nói một thứ đạo lý rồi, nhưng cũng còn là theo chỗ của người ta xem mà nói, như xem được quẻ Kiền là rất hanh thông mà lợi cho kẻ ngay thẳng chính đính thế thời. Rồi đến Khổng tử hệ Dịch(2) làm ra các thiên Thoán Tượng Văn ngôn, thì cho nguyền, hanh, lợi, trinh, là bốn đức tánh của Kiền, lại không là Dịch của Văn vương nữa.

(1) Coi lời giải nghĩa ở hai quẻ Kiền Khôn dưới đây.
(2) Chữ hệ 繁 có nghĩa là buộc là treo là đèo. Hệ Dịch (繁易) nghĩa là đèo thêm lời nói vào các hào quẻ của Kinh Dịch.
Trộm ngờ hào quẻ Kinh Dịch vốn là chỉ vì người bói toán sự lành dữ, mà trong có đủ những lời dạy răn. Đến khi các thiên Thoán, Tượng, Văn ngôn làm ra, mới nhân cái ý lành dữ dạy răn đó, suy cho rộng thêm mà nói về mặt nghĩa lý của nó, cho được rõ ra. Người đời sau chỉ thấy những phần nghĩa lý của Khổng tử nói, mà không suy tìm bản ý của Văn vương Chu công, nhân đó mới cho bói toán là việc đáng bỉ, không chịu nói tới, mà cái của họ đã nói lại càng xa với sự thực thường dùng trong hàng ngày, đại để đều là gò gập, quanh co, lệch về một mặt, không còn những cái mầu nhiệm của sự bao hàm, cai quản, lan khắp các khúc, thông hết các cạnh nữa; nếu chỉ như thế, thì thánh nhân có thể làm hẳn một cuố sách khác, nói rõ nghĩa lý để dạy đời sau, cần gì phải mượn quái tượng mà làm những lời hiểm sâu ẩn tối ấy chi? Cho nên nay muốn: hễ đọc quẻ nào hào nào, cũng như xem bói mà được quẻ ấy, hào ấy, phải giữ sao cho lòng mình trông không, cố tìm cho biết nghĩa lời chỉ về cái gì, để mà quyết định những điều lành dữ nên chăng; rồi sau xét đến cái Tượng của nó tại sao mà thế, để tìm cái lẽ tại sao mà thế, và đem suy ra việc làm; khiến cho trên từ các đấng vương công, dưới đến những kẻ dân thứ, trong việc sửa mình trị nước, đều có thể dùng. Trộm nghĩ cứ tìm như thế, hình như mới được ý sót của ba vị thánh nhân.

Kinh Dịch của Khổng Tử, không phải là Kinh Dịch của Văn vương, Kinh Dịch của Văn vương, không phải là Kinh Dịch của Phục Hy, Dịch truyện của Y Xuyên, tự nhiên phải là Kinh Dịch của họ Trình, cho nên kẻ học phải theo thứ tự của Kinh Dịch đời xưa, trước hết hãy đọc bản văn, thì dễ thấy rõ bản chỉ của nó.
Coi Dịch phải coi khi chưa vạch Quẻ về trước, hình dạng thế nào, rồi theo trong đó mà xem, bao nhiêu quẻ Hào Tượng số của nó không phải bỗng không bịa ra, mà đều là phải như thế. Khi chưa vạch Quẻ về trước, nó vẫn im lặng không động, giống như cái “trung”, trong khi mừng giận, thương, vui chưa phát, chỉ là một vật rất rỗng rất tĩnh mà thôi. Hốt nhiên trong chỗ rất rỗng rất tĩnh, lại có cái Tượng, mới nói ra rất nhiều đạo lý về những Tượng Số lành dữ, cho nên Kinh Lễ nói rằng: “Khiết tĩnh tinh vi, là giáo hoá của Kinh Dịch”. Bởi vì Dịch là thứ sách do sự hư không làm ra. Kinh Thư thật có chính sự mưu mô ấy mới làm ra sách ấy; Kinh Thi thật có nhân tình, phong tục ấy mới làm ra thơ ấy; còn Kinh Dịch thì không có việc đã qua ấy, chỉ là do sự hư không mà là ra. Trước khi chưa có hào vạch, ở Kinh Dịch thì là một lẽ hồn nhiên, ở người ta tức là tấm lòng im lặng như tờ; đến khi đã có hào vạch, mới thấy hào ấy là thế nào, hào kia là thế nào, nhưng mà vẫn là theo trong những cái rất rỗng rất tĩnh, làm ra rất nhiều Tượng Số, vì vậy nó mới linh thiêng.

Kinh Dịch phải xem bằng cách xoay xoả, việc trong thiên hạ, gì cũng do đó mà ra. Thiện ác, phải, trái, được, lỗi, cho đến co, duỗi, tiêu, lớn, thịnh suy, không cái gì không bởi ở đó. Trước đời Phục Hy chưa biết xem xét ra sao; đến khi Phục Hy đem hai cái Âm Dương vạch ra thành Quẻ để bảo người ta, khiến cho người ta xem xét lành, dữ, hoạ, phúc, một vạch là Dương, hai vạch là Âm, một vạch là chẩn, hai vạch là lẻ, bèn thành tám quẻ, lại xoay xoả thêm làm sáu tư quẻ, ba trăm sáu mươi tư hào, Văn vương lại làm lời Thoán để thích rõ nghĩa của nó, cũng là cái lẽ Âm Dương tiêu lớn, thịnh suy, co duỗi mà thôi. Thánh nhân sở dĩ vẫn học, là học chỗ đó.
Kinh Dịch rất khó xem. Nó là thứ sách rộng lớn, đầy đủ, bao hàm muốn lý, không gì không có. Kỳ thực nó chỉ là sách bói toán, bất tất chỉ nói về lý, Tượng Số cũng có thể nói, không nên câu nệ một mặt. Gần đây tôi xem Kinh Dịch, thấy rằng thánh nhân không phải vất vả bao nhiêu, chỉ vì đời sau một mực tự ý thêm bớt, muốn làm một thuyết, gượng thông với nghĩa của nó, vì vậy ý nghĩa của sách thánh nhân càng thấy không rõ.

Vả lại chú giải Kinh Dịch, chỉ thêm chữ hi(40) để đón ý tứ là được. Ngày nay người ta chú giải Kinh Dịch, lại thêm những chữ thực(2) vào, đó là mượn nó nói ý mình rồi; lại sợ còn có thuyết khác có thể phá thuyết của mình, họ bèn thêm thắt ra một thuyết nữa để tự bênh vực, nói nghìn, nói vạn, với Kinh Dịch, hoàn toàn không ăn thua gì.
Sách này vốn là một vật khó xem, không thể nói bằng cách tiểu xảo, cũng không nói bằng câu to lớn.
Kinh Dịch khó xem không như sách khác. Kinh Dịch nói về vật nào, không phải thật là vật ấy, như nói rồng không phải thật là con rồng. Sách khác thì nói thế nào là thật thế ấy, hiếu đễ thì là hiếu đễ, nhân thì là nhân.
Trong Kinh Dịch nhiều chỗ không sao hiểu được.
Kinh Dịch khó xem, không ngôn ngữ nào có thể hình dung ra được. Bởi vì lời hào chỉ là nói cái bóng tượng, mà ở trong đó, không gì không có.
Xem Kinh Dịch phải bốn ngày xem một quẻ - một ngày xem lời Quẻ và lời Thoán lời Tượng, hai ngày xem sáu hào; và một ngày xem gồm tất cả - mới tinh tường.
Hoà Tĩnh học Kinh Dịch, mỗi ngày chỉ xem một hào. Nhưng, sự vật đó kết thành một mảnh, hễ động thì động cả mảnh, xem riêng từng hào sao được?

Trước hết phải theo hai quẻ Kiền Khôn xem lấy bản ý cái đã, thì ở đàng sau đều có đường thông.
Kinh Dịch đại khái muốn cho người ta sợ hãi tu tỉnh. Nay học Kinh Dịch, không phải đợi khi gặp việc mà xem mới có răn sợ. Chỉ cốt những lúc bình cư, ngẫm những đạo lý của nó đã nói, so với địa vị của mình đương ở, thì nên thế nào. Cho nên nói rằng: “Lúc ở yên thì xem Tượng mà ngẫm Lời của nó, lúc hành động thì xem sự biến đổi mà ngẫm lời chiêm đoán của nó”. Khổng Tử gọi rằng “học Dịch” chính là những lúc bình cư, thường thường học luôn. Như vậy, có thể tưởng thấy sự đọc Dịch của thánh nhân, khác với sự đọc Dịch của người thường, và có thể tưởng thấy trong lòng thánh nhân đã lần về Lý của Dịch, không bị che lấp mảy may, vì vậy mới nói có thế không có lôi lớn.
Hỏi rằng: Kinh Dịch nên đọc thế nào?
Đáp rằng: Chỉ nên giữ cho lòng mình trông rỗng(1), để tìm ý nghĩa của nó, không nên giữ ý kiến riêng của mình. Đọc các sách khác cũng vậy.

Hỏi rằng: Đọc Dịch chưa được ngấm nghía tràn khắp, là sao?
Đáp rằng: Chỗ đó cần phải giữ cho lòng mình trông rỗng, sáng sủa, êm ả, yên lặng, tự nhiên đạo lý lưu thông, mới bao quát được rất nhiều nghĩa lý. Vì Dịch không như Kinh Thi, Kinh Thư, nó là thứ sách nói hết sự lý vô cùng, vô tận của thiên hạ đời sau, chỉ một hai chữ đã là một cái đạo lý. Lại nữa, người ta cần phải từng trải rất nhiều sự biến đổi ở gầm trời, thì đọc Kinh Dịch mới biết mỗi chỗ đều có một lẽ tinh vi ngay thẳng. Nay đã chưa từng trải hết, nếu như trong lòng không thực trống rỗng, sáng sủa, êm ả, yên lặng, thì còn hiểu làm sao được? Cái đó tự mình không thể không gắng… Nay chưa từng trải nhiều việc, gom góp đạo lý của nó chưa được, đã đọc Kinh Dịch, rút lại vẫn không được chỗ thụ dụng của nó. Khổng Tử về già mà thích Kinh Dịch, đủ thấy sách này, rút lại chưa thể lý hội.
Hỏi rằng: Sách Chu Dịch Bản nghĩa sao lại chuyên lấy bói toán làm chủ?

Đáp rằng: Hãy nên đọc kỹ chính văn, đừng xem chú giải. Bởi vì Kinh Dịch đời xưa, các thiên Thoán Tượng Văn ngôn, mỗi thứ ở riêng một nơi, đến Vương Bật mới hợp làm một. Các nhà nho đời sau, không dám thay đổi, nay khó đọc trọn. Hãy nên đọc kỹ chính văn, lâu rồi tự nhiên sẽ hiểu.
Đọc Dịch trước hết, xem sách Bản nghĩa của mỗ(41), rồi coi Trình truyện(3) để cùng tham khảo. Nếu như chưa đọc sách khác, mà coi thuyết của mỗ trước, thì lại dễ hiểu, vì rằng chưa bị thuyết khác làm cho chìm đắm.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:33:31 |Xem tất
CHU DỊCH THƯỢNG KINH


周易上經
GIẢI NGHĨA
Chu Dịch. - Chu là tên triều đại, Dịch là tên sách. Những Quẻ của nó do ở Phục Hy vạch ra, có nghĩa giao dịch, biến dịch, cho nên mới gọi là Dịch. Còn lời của nó thì do Văn vương Chu công đèo vào, cho nên mới đặt chữ Chu ở trên. Bởi nó giản mậu, trọng đại, cho nên chia làm hai thiên Thượng, Hạ. Kinh là vạch của Phục Hy, lời của Văn vương, với mười thiên truyện của Khổng tử làm ra, tất cả mười hai thiên. Đời trung gian, sách này đã bị chư nho làm loạn, đến đời gần đây, họ Triều mới chữa lỗi đó, nhưng mà chưa được hết thảy hợp với cổ văn, họ Lã lại sửa lại, làm hai cuốn Kinh, mười cuốn truyện, bèn khôi phục được cái cũ của họ Khổng.

(Bản nghĩa của Chu Hy)
QUẺ KIỀN
Kiền trên Kiền dưới
LỜI KINH
乾元亨利貞.
Dịch âm. - Kiền nguyền hanh lợi trinh.
Dịch nghĩa. - Kiền: đầu cả, hanh thông, lợi tốt, chính bền.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đời Thượng cổ thánh nhân bắt đầu vạch ra tám Quẻ, đạo của ba Tài đủ rồi, nhân đó lại trùng điệp lên cho hết các sự biến đổi của gầm trời. Cho nên, sáu vạch thành một quẻ, hai hình Kiền thì là quẻ Kiền. Kiền tức là trời, chữ “trời” chỉ về hình thể của trời, chữ “kiền” chỉ về tính tình của trời. Kiền nghĩa là mạnh, mạnh mà không nghỉ gọi là Kiền. Ôi! Trời gộp lại, là Đạo, cái mà “trời cũng không thể sai trái” đó vậy; nếu nói tách ra, thì về phần hình thể gọi là Trời, về phần chủ tể gọi là Đế, về phần công dụng gọi là Quỷ thần, về phần diệu dụng gọi là Thần, về phần tính tình, gọi là Kiền. Kiền là đầu muốn vật, cho nên là Trời, là Dương, là cha, là vua. Nguyên, hanh, lợi, trinh là bốn đức tính: nguyên là muốn vật bắt đầu, hanh là muốn vật lớn lên, lợi là muốn vật được thoả, trinh là muốn vật đã thành. Chỉ Kiền và Khôn có bốn đức tính ấy, còn ở Quẻ khác thì nó tuỳ việc mà thay đổi đi. Cho nên nguyên là chuyên làm những điều thiện lớn; lợi thì chủ về những sự chính bền; thể của hanh, trinh, việc nào xứng với việc ấy. ý nghĩa của bốn đức tính rộng thật, lớn thật.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Sáu vạch là Quẻ của Phục Hy vạch ra, nét là lẻ, số của khí Dương, chữ Kiền là mạnh, tính của khí Dương. Chữ Kiền, trong bản chú là tên Quẻ ba nét (quẻ đơn) dưới là quẻ trong, trên là quẻ ngoài. Chữ Kiền trong Kinh văn là tên quẻ sáu nét (quẻ kép). Phục Hy ngửa xem, cúi xét, thấy Âm Dương có số lẻ chẵn, cho nên vạch một nét lẻ để hình dung khí Dương, vạch một nét chẵn để hình dung khí Âm; thấy một Âm một Dương lại có cái tượng sinh ra một Âm và một Dương nữa, cho nên từ dưới kể lên, gấp hai lần nữa, mà làm ba nét, cho thành tám Quẻ; thấy tính của khí Dương thì mạnh, mà thành cái hình lớn nhất là Trời, cho nên những quẻ có ba nét lẻ, đặt tên là Kiền mà sánh với Trời. Ba nét đủ rồi, tám Quẻ thành rồi, lại gấp thêm ba lần nữa cho thành sáu nét, mà trên tám Quẻ, mỗi Quẻ lại thêm vào tám Quẻ nữa, cho thành sáu mươi tư Quẻ.
Quẻ này sáu nét đều lẻ, trên dưới đều Kiền, thì là Dương đến thuần tuý, mạnh đến cùng tột, cho nên cái tên là Kiền, cái tượng là trời, đều không thể đổi.
Nguyên, hanh, lợi, trinh là lời của Văn vương đèo vào, để đoán sự lành dữ của một quẻ, vẫn gọi là Thoán. Nguyền nghĩa là cả, hanh nghĩa là thông, lợi nghĩa là nên, trinh nghĩa là chính đính mà bền vững. Văn vương cho rằng: Đạo Kiền cả thông mà rất chính đính, cho nên khi bói, hễ được quẻ ấy mà cả sáu hào không biến, thì sự “chiêm” đó sẽ được cả thông mà ắt lợi về đường chính đính bền vững, mới có thể giữ được trọn vẹn về sau. Đó là một cái tinh ý của thánh nhân sở dĩ làm ra Kinh Dịch để dạy người ta bói toán, mà lại có thể “mở mang các vật, làm nên các việc”. Quẻ khác cũng theo như thế mà suy.
Lời bàn của tiên nho. - Hồ Vân Phong nói rằng: Sách Liên sơn của nhà Hạ bắt đầu bằng quẻ Cấn, sách Qui tàng của nhà Thương bắt đầu bằng quẻ Khôn, Kinh Dịch của vua Văn vương thì bắt đầu bằng quẻ Kiền. Kinh Dịch vì sự nêu rõ phận cả (phận vị vua tôi) mà làm ra, xem hình tiên thiên vẽ ngang. Kiền ở số một mà hình tiên thiên vẽ tròn. Bản nghĩa nói rằng: “Nét là lẻ, số của khí Dương”, đó là theo Tượng mà nói; “Kiền nghĩa là mạnh, tính của khí Dương” đó là theo Lý mà nói. Trình tử nói rằng: “Rất nhỏ là Lý, rất rõ là Tượng”. Chu tử lại theo Số và Tính mà phát minh thêm. Trong đời Phục Hy, có nét quẻ Kiền, chưa có những chữ “nguyên, hanh, lợi, trình” tưởng rằng lúc ấy người nào xem được quẻ này, theo Tượng của sáu nét kia mà xét cũng đã tự biết có lẽ “nguyên, hanh, lợi, trinh” rồi.
Lại rằng: Bốn chữ “nguyên, hanh, lợi, trinh”, các nhà đều giải làm bốn đức tính, riêng sách Bản nghĩa cho là lời “chiêm”, cho nên bói được quẻ này mà cả sáu hào không biến thì lấy đâu đó mà đoán. Xét như trong sách khải mông, thì chẳng những sáu hào không biến, mới đoán như thế, quẻ Kiền biến đi ba hào, hay là ba hào quẻ khác biến sang quẻ Kiền, cũng lấy câu đó mà đoán. Cả thông và rất chính, ấy là gốc của trời đất. Nhưng cả thông mà lại ắt phải chính bền, ấy là lẽ đương nhiên của nhân sự. Kiền là quẻ thứ nhất trong Kinh Dịch, bói được quẻ ấy tuy là việc vẫn cả thông, nhưng nếu mà không chính đính bền vững, thì cũng không thể giữ được trọn vẹn về sau, huông chi quẻ khác. Cho nên lời Thoán trong sáu tư quẻ Kinh Dịch, thì ba tư quẻ có nói đến “trinh”. Thế thì không trinh vẫn không có thể xem bói.
Hồ Song Hồ nói rằng: Sáu mươi tư quẻ đầu là Kiền, thứ hai là Khôn, ấy là theo ngôi trời đất, bày rõ cái phận vua tôi, trên dưới, để làm giềng môl cho đạo người. Nay coi những chữ “lợi trinh” “an trinh cát” trong các lời Thoán của hai quẻ Kiền, Khôn, có thể thấy rõ cái lòng Văn vương. Rút lại lời Thoán chỉ là những lời quyết đoán của việc xem bói, phần nhiều cũng theo hình tượng và sự biẽn đối của các quẻ đại đẽ đẽu là nhân lời chiêm đế ngụ việc dạy đời. Như nói “lợi trinh” không nói “lợi bất trinh”, nói “trinh cát” không nói “bất trinh cát” v.v… Phép của thánh nhân tuy có bốn, giáo của thánh nhân chỉ có một. Một đó là gì? Tức là “trinh” vậy.
LỜI KINH
九二:見龍在田, 利見大人
Dịch âm: Sơ cửu: Tiềm long vật dụng.
Dịch nghĩa: Hào Chín Đầu: Rồng lặn chớ dùng.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Dì. - Hào dưới là Đầu, Chín là số Dương đã thịnh, cho nên dùng để đặt tên hào Dương. Lý vốn là vật vô hình, nên phải mượn Tượng làm cho rõ nghĩa. Kiền lấy con rồng làm Tượng, rồng là loài vật thiêng liêng biến hoá không thể lường được, cho nên dùng để hình dung sự biến hoá của đạo Kiền, sự tiêu tức của khí Dương và sự tiến lui của thánh nhân. Hào Chín Đầu ở dưới một quẻ, là đầu các vật, khí Dương đương sinh, thánh nhân còn trong hàn vi, cũng như rồng còn lặn hụp, chưa thể tự ra làm việc, phải náu kín để đợi thời.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Chín Đầu là tên hào Dương ở dưới một quẻ. Phàm lúc vạch ra các quẻ, đều phải tự dưới lên trên, cho nên lấy hào dưới nhất làm hào Đầu. số Dương chín là già, mà bảy là trẻ, già thì biến đổi, trẻ không biến đổi, cho nên mới gọi hào Dương là Chín. “Rồng lặn chớ dùng” là lời Chu công đèo vào, để đoán sự tốt xấu của một quẻ, vẫn gọi nó là lời Hào. Lặn tức là nấp, rồng tức là vật thuộc Dương. Khí Dương đầu tiên còn ở bậc dưới, chưa thể thi thố việc gì, cho nên tượng nó là con rồng lặn, lời chiêm của nó thì là “chớ dùng”. Phàm gặp quẻ Kiền mà hào này biến, thì xem Tượng đó mà ngẫm vào lời “chiêm” kia. Các hào theo đó mà suy.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Kinh Dịch cũng như cái gương, vật gì đến cũng soi được. Như nói “rồng lặn” chỉ là có cái tượng ấy, tự thiên tử đến thứ nhân, người nào đến cũng “xử” được. Khổng tử bảo: “Có đức con rồng mà còn ẩn nấp, không đổi đời, không nên danh”, tức là chỉ thiết vào việc mà nói. Nhưng kẻ biết xem, thì dẫu thuyết của Khổng tử cũng vẫn linh hoạt, và vẫn không đâu không thông; kẻ không biết xem, thì dù thuyết của Văn vương Chu công cũng là lời chết.
Hào Chín Đầu của quẻ Kiền, chỉ là hình tượng “Khí Dương ẩn nấp”, và là lời chiêm “chưa thể phát dụng” mà thôi. Nếu như để ngay một người “không đổi đời, không nên danh, ẩn mà chưa hiện, làm mà chưa nên” ngồi vào trong đó thì là lời chết mất rồi. Bằng như hiểu được bản ý quẻ này, dù gặp thời ấy, ở ngôi ấy, làm người ấy, cũng không hại gì.
LỜI KINH
初九:潜龍勿用.
Dịch âm. - Cửu nhị: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Hai: Rồng hiện ở ruộng, lợi về sự thấy người lớn.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Ruộng là lớp trên mặt đất, xuất hiện ở trên mặt đất, thì đức đã tỏ, lợi về sự được thấy ông vua có đức lớn để thi hành đạo thuật của mình; ông vua chúa cũng lợi về sự được thấy bề tôi có đức lớn để làm thành công nghiệp của mình; người trong thiên hạ thì lợi về sự thấy người đức lớn, để gội hơn huệ của họ. Ông vua đức lớn tức hào Chín Năm. Kiền Khôn là quẻ thuần tuý, không phân biệt cứng mềm, mà lấy cái đức giống nhau để ứng với nhau(42).
Bản nghĩa của Chu Hy. - “Hai” là kể từ dưới lên, nhằm hào thứ hai, sau đây theo đó mà suy. Hào Chín Hai này cứng mạnh trung chính(43), ra khỏi chỗ lặn, lìa khỏi chỗ ẩn, ơn huệ lan tới người ta, người ta được thấy là lợi. Cho nên tượng nó là con rồng hiện ở ruộng, lời chiêm của nó thì là lợi về sự thấy người lớn. Hào Chín Hai tuy chưa được ngôi(3) mà cái đức của người lớn đã tỏ, người thường không thể đương nổi, cho nên khi bói gặp hào này biến, chỉ là lợi về sự thấy người ấy. Nghĩa là cũng chỉ vào hạng người lớn ở ngôi dưới vậy. Đó là dùng hào và lời chiêm cùng làm chủ khách của nhau, ấy là một cái lệ riêng.

Nếu mà có đức “rồng hiện” thì là lợi về sự thấy người lớn ở hào Chín Năm trên đó.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Trong quẻ Kiền, hào khác, kẻ xem có thể coi là chính mình, riêng hào Chín Hai và hào Chín Năm thì không thể cho là nói về mình. Hai câu “lợi về sự thấy người lớn”(4) trước giờ người ta đều giải không thông. Hào Chín Hai có hình bóng gì? Sao lại bắt thấy người lớn? Xét ra, hễ xem được hai hào ấy thì có thể thấy người lớn. Người lớn không cần chỉ về vua chúa, kẻ xem không đương nổi rồng hiện rồng bay, thì kẻ xem là khách, lợi về sự thấy người lớn ấy. Người lớn tức là rồng hiện, rồng bay, người có đức của hào Chín Hai và hào Chín Năm vậy. Còn chữ rồng lặn(5) và chữ quân (6) thì kẻ xem tự mình đương lấy.
LỜI KINH
九三:君子終日乾乾夕惕若, 厲!无咎
Dịch âm. - Cửu tam: Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược Lệ, vô cữu.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Ba; Đấng quân tử trọn ngày săng sắc(1) tối đường rùng rợn. Nguy! Không lỗi.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Chín Ba tuy là ngôi của người(44) nhưng đã ở trên thể dưới(45), chưa lìa khỏi bậc dưới mà được tôn hiển… Suốt ngày đến tôl, không dám trễ nải và vẫn nơm nớp lo sợ, thì dù ở chỗ hiểm nghèo cũng không có lỗi. Kẻ ở ngôi dưới mà đức làm vua đã rõ(46), thiên hạ sắp sửa theo về, đủ thấy là đáng lo sợ. Tuy là nói về việc thánh nhân, nhưng nếu không đặt ra ý răn dỗ, thì còn lấy gì làm sự dạy người? Đó là cái nghĩa làm ra Kinh Dịch.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Chín là hào Dương, Ba là ngôi Dương, đã hai lần cứng(47), lại không chính giữa, ở trên bậc dưới, ấy là chỗ hiểm nghèo. Nhưng tính nó cứng mạnh, có cái hình tượng có thể săng sắc sợ gắng, cho nên lời chiêm của nó như thế. Chữ quân tử chỉ về kẻ xem. ý nói: nếu biết lo sợ như thế thì dù ở chỗ hiểm nghèo, cũng không có lỗi.
Lời bàn của tiên nho. Chu Hy nói rằng: Hỏi rằng: Hào Chín Ba không nói tượng là cớ làm sao? Đáp rằng: Chín Ba là hào Dương, tính cứng, không được chính giữa, ở trên bậc dưới, có cái hình tượng sức mạnh nhọc khổ, không thể nói bằng con rồng, cho nên chỉ nói săng sắc, rùng rợn. Nghĩa là nó có hình tượng săng sắc sợ gắng vậy.
Họ Vương nói rằng: Phàm nói không lỗi, đều là đáng lẽ có lỗi, xử được phải cách thì không có lỗi.
LỜI KINH
九陳或躍在淵, 无咎
Dịch âm. - Cửu Tứ: Hoặc dược lại uyên, vô cữu.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Tư: Hoặc nhảy ở vực, không lỗi.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Vực là chỗ của rồng ồ. Hoặc là tiếng còn nghi ngờ, nghĩa là không hẳn. Nhảy hay không nhảy, chỉ cốt kịp thời để tới chỗ yên ổn. Thánh nhân hành động, không việc gì mà không phải thời.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Hoặc là tiếng nghi ngờ chưa định hẳn; nhảy là không bám vào đâu mà tuyệt hẳn với đất, có điều chưa bay mà thôi; vực là nơi trên trông dưới rỗng, sâu tôi khôn lường. Con rồng ở đó dường như thấp hơn ở ruộng, nhưng nếu nhảy mà vượt dậy, thì là ngảnh lên trời rồi. Chín là hào Dương, thứ Ti (48) là ngôi Âm, ở dưới quẻ trên, tức là giữa lúc thay đổi, giữa khi tiến lui chưa định, cho nên tượng nó như thế, mà chiêm của nó thì là tuỳ thời tiến lui sẽ không có lỗi.
Lời bàn của tiên nho. - Dịch Sơn Trai nói rằng: Hào Chín Tư đã lìa khỏi thể dưới, cho nên gọi là nhảy, nhưng còn ở dưới thể trên, cho nên nói là ở vực. Vực thấp hơn ruộng, ruộng là đất bằng, vực thì trông cả trên dưới. Hào Hai nói ở ruộng, hào này lại nói ở vực, là vì vực là chỗ ở của rồng, không thể ví như ở ruộng, ỗ ruộng thì không thể biến hoá mà ở vực thì có cách biến hoá.
Khâu Kiến An nói rằng: Chín là Dương, Dương là động, cho nên nói nhảy, Thứ Tư là Âm, Âm thì trống không, cho nên nói là ở vực. Hoặc là hãy còn nghi ngờ. Tiến lên thì nhảy, lui xuống thì ở trong vực, xuất xử như thế, có thể không có lỗi.
LỜI KINH
九五:龍飛在天, 利見大人.
Dịch âm. - Cửu Ngũ: Long phi tại thiên, lợi kiến đại nhân.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Năm: Rồng bay ở trời, lợi về sự thấy người lớn.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đây là tiến lên ngôi trời, thánh nhân đã được ngôi trời, thì lợi về sự thấy người đức lớn ở dưới, để cùng mình làm việc trong thiên hạ, thiên hạ cũng lợi về sự được thấy ông vua đức lớn(49).
Bản nghĩa của Chu Hy. - Hào này cứng mạnh, trung chính ở ngôi cao, giống như lấy đức thánh nhân ở ngôi thánh nhân, cho nên Tượng nó như thế mà Chiêm thì cũng như hào Chín Hai, có điều cái người hào này thấy mà được lợi là hạng người lớn ở trên mà thôi. Nếu như có cái ngôi ấy thì người “thấy mà được lợi” lại là hạng người lớn ở dưới của hào Chín Hai.
Lời bàn của tiên nho. - Dương Thành Trai nói rằng: Chín là đức của trời, là tượng con rồng; Năm là ngôi trời, tức là cái Tượng bay mà ở trời.
LỜI KINH
上九:亢龍有悔.
Dịch âm. - Thượng Cửu: Kháng long hữu hối.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Trên: Rồng quá cực có ăn năn.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Chín Năm là ngôi cùng tột, trung chính là sự đắc thời cùng tột, quá đó thì là quá cực. Hào Chín Trên tới chỗ quá cực, cho nên có sự ăn năn. Có lỗi thì có ăn năn, chỉ có thánh nhân biết lẽ tiến, lui, còn, mất mà không có lỗi, cho nên không đến ăn năn.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Trên là tên một hào trên cùng. Quá cực là ý lên quá mà không thể xuống. Khí Dương đã cùng cực ở trên, hễ hơi động cựa thì sẽ có sự ăn năn, cho nên Tượng nó như thế.
Lời bàn của tiên nho. - Trương Bồ Dương nói rằng: Đạo của trời đất, lấy sáu khí Dương lần lượt đi lại, sinh ra và làm thành muốn vật mà không cùng tận. Khí Dương đến đây cực thịnh, khí Âm sắp sửa sinh ra mà xô đẩy đi, nếu không thể trở lui xuống dưới để theo sự biến, thì là quá cực, không phải là lôi “lâu mà không cùng”.
Họ Lý nói rằng: Kiền là vật thuộc về Dương, tiêu, tức, đầy vơi có thời, rồng là loài thuộc về Dương, lặn, hiện, nhảy, bay cũng có thời; thánh nhân có đức của loài rồng, lên, xuống, tiến, lui cũng có thời. Thứ tự các hào có thể thấy rõ.
LỜI KINH
用九: 見羣龍無首, 吉.
Dịch âm. - Dụng Cửu: Kiền quần long vô thủ, cát.
Dịch nghĩa. - Hào Dùng Chín: Thấy đàn rồng không đầu, tốt!

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Dùng Chín là cách ỗ chỗ Kiền cứng. Là hào Dương, ở thể Kiền, ấy là thuần những tính cứng. Cứng mềm giúp đỡ lẫn nhau mới là vừa phải, đây lại thuần những tính cứng, tức là quá cứng. Thấy đàn rồng tức là xem các hào Dương, không làm đầu thì tốt. Đem tính cứng làm kẻ đi trước thiên hạ là hung.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Dùng Chín là nói phép bói toán được hào Dương đều dùng số chín không dùng số bảy. Đó là thông lệ của một trăm chín mươi hai hào trong các quẻ, vì quẻ này thuần là Dương mà ở ngay đầu cho nên phát ra ở đấy. Thánh nhân nhân thể đèo thêm lời vào, khiến cho những người bói được quẻ này mà sáu hào đều biến thì cứ theo đó mà đoán. Vì sáu hào Dương đều biến, thì là cứng mà biết mềm, ấy là cách tốt, cho nên mới là Tượng “đàn rồng không đầu”, mà Chiêm là “như thế thì tốt”.
Lời bàn của tiên nho. - Có người hỏi rằng: Hai quẻ Kiền Khôn riêng nói Dùng Chín, Dùng Sáu là sao? Chu Hy đáp rằng: Hai quẻ ấy thuần Dương thuần Âm mà lại ở đầu các quẻ, cho nên đặt ra một lẽ ở đây. Phàm phép xem bói đều dùng hào biến mà xem. Cho nên hễ xem được hào Dương, đều dùng số Chín không dùng số Bảy, xem được hào đều dùng số Sáu mà không dùng số Tám. Bởi vì số Bảy là Dương trẻ, số Chín là Dương già, số Sáu là Âm già, số Tám là Âm trẻ, già biến đổi mà trẻ thì không biến đổi. Phàm việc xem bói, dùng số Chín, dùng số Sáu là dùng hào biến mà xem. Gặp quẻ Kiền mà sáu hào đều biến, là Âm, gặp quẻ Khôn mà sáu hào đều biến, là Dương.
Hồ Quảng nói rằng: Lời hào tuy để phát minh về lý của quẻ, thật ra chỉ để dùng về bói toán, cho nên dùng số Chín và số Sáu mà đặt tên hào, là cốt lấy ở chỗ dùng của nó. Lời hào động thì dùng, không động thì không dùng, lời quẻ bất luận động hay không động đều dùng, có điều không động thì xem bằng lời Thoán của quẻ gốc, mà động thì phải hợp cả lời Thoán của quẻ gốc quẻ biến mà xem. Ví như sáu hào quẻ Kiền biến cả thì hoá ra quẻ Khôn, sáu hào quẻ Khôn biến cả thì hoá ra quẻ Kiền. Thuyết của Tiên nho cho là biến cả thì bỏ quẻ gốc xem quẻ biến; nhưng Kiền, Khôn là nghĩa lớn của trời đất, quẻ Kiền tuy biến sang quẻ Khôn, chưa thể dùng toàn lời của quẻ Khôn; quẻ Khôn tuy biến sang quẻ Kiền, chưa thể dùng toàn lời của quẻ Kiền, cho nên dựng riêng ra hào. Dùng Chín, Dùng Sáu để làm phép Chiêm khi hai quẻ ấy biến cả. Thuyết đó cũng phải. Lấy lý mà xét, thì phàm các quẻ, tuy là biến cả cũng không có lẽ bỏ hẳn quẻ gốc mà không xem, chẳng riêng hai quẻ Kiền Khôn như thế. Cho nên hợp quẻ gốc quẻ biến mà xem cả lời quẻ Kiền và lời quẻ Khôn, quẻ Khôn biến sang quẻ Kiền thì xem cả lời quẻ Khôn và lời quẻ Kiền. Có điều từ quẻ Kiền biến sang quẻ Khôn thì là cái nghĩa “Dương gốc ở Âm”, từ quẻ Khôn biến sang quẻ Kiền, thì là cái nghĩa “mạnh mà thể thuận”. Hợp xem lời quẻ, nên biết ý đồ, cho nên dùng lời Dùng Chín Dùng Sáu để phát ra.
LỜI KINH
彖曰: 大哉乾元, 萬物資始, 乃統天.
Dịch âm. - Thoán viết: Đại tai Kiền nguyên, vạn vật tư thuỷ, nãi thống thiên.
Dịch nghĩa. - Thoán truyện nói rằng: Lớn thay cái đức đầu cả của Kiền, muốn vật nhờ đó khởi đầu, bèn tóm việc trời.
GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Thoán là lời của Văn vương đèo vào. Truyện là lời của Khổng tử dùng để thích nghĩa Kinh Dịch. Sau đây chỗ nào nói truyện, đều thế. Đây chuyên dùng đạo trời để tỏ nghĩa quẻ Kiền, lại chia nguyền, hanh, lợi, trinh làm bốn đức tính để nói rõ ra, mà một tiết này bắt đầu thích nghĩa chữ “nguyên” vậy. “Lớn thay” là lời than thở, “nguyên” là cả lớn, là mới đầu, “kiền nguyên” là phần cả lớn mới đầu trong đức tính của trời, cho nên muốn vật sinh ra đều phải nhờ nó làm phần khởi đầu. Nó lại là đầu của bốn đức tính mà thông suốt cả đầu chót đức tính của trời, cho nên nói là “tóm việc trời”.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Kiền nguyên chỉ là đức tính của trời, không phải hai việc hay hai vật. Cũng như tinh thần người ta, há có thể nói người là người, tinh thần là tinh thần?
Hồ Song Hồ nói rằng: Thoán truyện là của Khổng tử tán tụng lời quẻ của Văn vương, nhưng chỉ tự tỏ ý mình để giải quẻ của Phục Hy, không phải hết thảy giống như Văn vương. Như lời quẻ Kiền, Văn vương chỉ làm lời Chiêm, Khổng tử lại cho là bốn đức tính, và ở trong đó nhiều chỗ nói về quẻ biến, quẻ này từ quẻ kia sang, đều tự Khổng tử phát minh, Văn vương gián hoặc cũng có, nhưng không nhiều bằng Khổng tử.
Lan Đình Thuỵ nói rằng: Kiền nguyên là khí nhất nguyên trong phần Dương của trời, cũng như người ta có nguyên khí vậy. Nhiều người chỉ biết muốn vật sinh ra ở đất, mà không biết rằng trời đã lấy khí Kiền nguyên làm cuộc khởi đầu cho nó, cũng như người ta sinh ra ở mẹ, mà không biết rằng đã nhờ khởi đầu ở nguyên khí của cha. Khởi đầu từ trước khi chưa sinh, sinh ra nhằm sau khi có cuộc khởi đầu.
LỜI KINH
雲行雨施, 品物流形.
Dịch âm. - Vân hành vũ thí, phẩm vật lưu hình.
Dịch nghĩa. - Mây đi mưa tưới, sắp đặt các vật, lưu chuyển các hình.

GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đây thích đức “hanh” của Kiền.
Lời bàn của tiên nho. - Trình Di nói rằng: Mây đi mưa tưới, là chỗ hanh thông của Kiền.
Dương Thành Trai nói rằng: Thoán truyện nói nguyên lợi trinh mà không nói hanh, là vì mây đi mưa tưới, tức là cái hanh của phần khí, sắp đặt các vật, lưu chuyển các hình, tức là cái hanh của phần hình rồi.
LỜI KINH
大明終始, 六位時成, 時乘六龍以御天
Dịch âm. - Đại minh chung thuỷ, lục vị thì thành, thì thừa lục long di ngự thiên.
Dịch nghĩa. - Cả rõ chót đầu, sáu ngôi nhằm thì mà nên, luôn luôn cưỡi sáu con rồng để ngự đường trời.
GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đầu tức là nguyễn, chót tức là trinh. Không có chót thì không có đầu, chẳng trinh thì chẳng có gì làm nguyên. Đây nói thánh nhân làm cho thật tỏ tất cả phần đầu chót của đạo Kiền, thì thấy sáu ngôi trong quẻ, đều cứ theo thì mà nên, và cưỡi sáu hào Dương đó để đi đường trời, ấy là nguyên hanh của thánh nhân.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Trong bốn đức tính của Kiền, nguyên quan trọng nhất, thứ nữa đến trinh cũng quan trọng. Không có nguyên thì không có gì để sinh, không có trinh thì không có gì làm chót, không có chót thì không có gì làm đầu, không có đầu thì không thành chót, xoay quanh không bao giờ cùng. Thế là “cả rõ đầu chót”.
Lại rằng: Đầu chót tức là bốn đức tính, đầu là nguyên mà chót là trinh. Bởi vì không có chót thì không lấy gì làm đầu, không có trinh thì không lấy gì làm nguyễn, ngôi của sáu hào do đó mà lập nên. “Theo thì mà nên” nghĩa là hào nào hào ấy đều theo thì vận mà thành ra, ví như lặn, hiện, bay, nhảy đều theo từng thì, nhưng đều là cuộc lưu hành của bốn đức tính. Hào Chín Đầu và nửa hào Chín Hai là nguyên nửa hào Chín Hai và nửa hào Chín Ba là hanh) hào Chín Tư và nửa hào Chín Năm là lợi nửa hào Chín Trên là trinh. Đó là thánh nhân làm cho thật tỏ phần đầu phần chót của đạo Kiền, cho nên được thấy sáu ngôi đều theo thì vận mà thành ra, nhân cái thì vận của sáu hào để đương vào với vận trời, mà bốn đức tính vì vậy mới cuối chót rồi lại bắt đầu, ứng biến không bao giờ cùng. Lại rằng: trời với người chỉ có một lẽ, sự hành động của người là vận của trời. Nếu theo ý riêng của mình mà hành động, thì là “người” rồi không phải “trời” nữa. Chỉ có lặn, hiện, bay, nhảy, đều nhằm thì vận, thì là lấy “người” mà đương với “trời”.
LỜI KINH
乾道變化, 各正性命, 保合太和, 乃利貞.
Dịch âm. - Kiền đạo biến hoá, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hoà, nãi lợi trinh.
Dịch nghĩa. - Đạo Kiền biến hoá, vật nào được đúng tính mệnh của vật ấy, giữ hợp được khí thái hoà, mới hay tốt và chính bền.
GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Biến là hoá dần dần, hoá là biến đã thành. Cái của các vật bẩm thụ là tính, cái của trời phú cho là mệnh. Thái hoà tức là khí dung hoà do Âm Dương hội họp mà ra. “Các chính” nghĩa là nhận được từ khi mới sinh, “bảo hợp” thì là giữ được trọn vẹn sau khi đã sinh. Đây nói đạo Kiền biến hoá, không gì không lợi, mà trong muốn vật, vật nào nhận đúng tính mệnh của vật ấy để tự toàn. Đó là thích nghĩa hai chữ “lợi trinh”.

Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Đạo Kiền biến hoá, vật nào được tính mênh của vật ấy, chỉ là một cái lý. Lý đó chộn lộn ở khắp các chỗ. Ví như hạt thóc mọc thành cây lúa, lúa nảy ra hoa, hoa kết thành quả, lại là hạt thóc, trở lại hình cũ của nó.
Một gié lúa có trăm hạt thóc, hạt nào cũng hoàn toàn; đem trăm hạt đó mà gieo, mỗi hạt lại thành trăm hạt; lúc đầu chỉ là một hạt chia ra. Vật nào có lý của vật ấy, tóm lại vẫn chỉ là một cái lý.
LỜI KINH
首出庶物, 萬國咸寧.
Dịch âm. - Thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm ninh.
Dịch nghĩa. - Vượt đầu mọi vật, muốn nước đều yên.
GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Thánh nhân ở trên vượt cao hơn hết mọi vật, cũng như đạo Kiền biến hoá, khắp trong muốn nước, nước nào được nơi chôn của nước ấy mà đều yên ổn, cũng như các vật đều được tính mệnh của nó mà giữ trọn khi Thái hoà. Đây là nói về lợi trinh của thánh nhân.
Lời bàn của tiên nho. - Trình Di nói rằng: Lời ở dưới quẻ là Thoán. Phu tử theo đó mà thích, cũng gọi là Thoán(1). Thoán là nói về nghĩa một quẻ, cho nên “bậc trí giả cứ xem lời Thoán thì đã nghĩ được quá nửa. “Lớn thay Kiền nguyên” là khen sự lớn lao trong việc khởi đầu muốn vật của đạo Kiền. “Nguyên” trong bốn đức tính cũng như “nhân” trong năm đạo thường, nói riêng thì là một việc, nói rộng thì nó bao hàm tất cả bốn thứ. “Muốn vật nhờ nó khởi đầu, bèn tóm việc trời” là nói về “nguyên”. Hai chữ “Kiền nguyên” là nói gồm cả đạo trời. Đạo trời khởi đầu muốn vật, muốn vật nhờ sự khởi đầu của trời. “Mây đi mưa tưới, sắp đặt các vật, lưu chuyển các hình” là nói về “hanh”, nghĩa là đạo trời vận hành, sinh nuôi tất cả các vật. Làm cho cả rõ đầu chót của đạo trời, thì thấy sáu ngôi trong quẻ đều theo thì vận của nó mà thành. Đầu chót của quẻ, tức là đầu chót của đạo trời. Nhân thì vận của sáu hào ấy, tức là thì vận của trời. “Để ngự đường trời” tức là để đương vào đạo trời. Đạo Kiền biến hoá sinh nuôi muốn vật, lớn nhỏ cao thấp, vật nào theo loài vật ấy, đó là “đều được tính mệnh”; cái của trời cho là mệnh, cái của các vật nhận được là tính. “Giữ hợp khí Thái hoà bèn lợi trinh”; giữ là làm cho còn luôn, hợp là làm cho hoà luôn, vừa giữ vừa hợp được khí Thái hoà, cho nên mới lợi và trinh. Đạo của trời đất thường lâu không thôi, đó là giữ và hợp khí Thái hoà. Trời là tổ muốn vật, vua là tông muốn nước, đạo trời vượt đầu các vật mà muốn vừng hanh thông, đạo vua ở trên ngôi trời, mà bốn biển phải theo, đấng vương giả thể theo trời, thì muốn nước đều yên.
Chu Hy nói rằng: Nguyên là loài vật mới sinh, hanh là loài vật tươi tốt, lợi là nó sắp sửa có quả trinh là quả đã thành rồi, quả đã thành rồi cuống nó rời rụng, có thể lại trồng cho mọc. Bốn đức tính sở dĩ xoay như vòng tròn mà không có đầu cũng giống như thế. Nhưng mà trong bốn thứ đó, sinh khí vẫn thường lưu hành, không bị gián đoạn chỗ nào. Bởi vậy đức “nguyên” mới bao hàm tất cả mấy thứ mà tóm đạo trời. Nay lấy thánh nhân mà nói thì ý Khổng tử cho rằng: Quẻ này tức là lời chiêm của vị thánh nhân được ngôi trời, thực hiện đạo trời mà đem đến một cuộc thái bình. Tuy là văn nghĩa không giống cái cũ của Văn vương, nhưng kẻ đọc, ai nấy lấy ý mà tìm, thì lời Khổng tử và lời Văn vương vẫn đi với nhau mà không trái nhau. Quẻ Khôn cũng vậy.

LỜI KINH
象曰: 天行健, 君子以自強不息.
Dịch âm. - Tượng viết: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.
Dịch nghĩa. - Lời Tượng nói rằng: Trời đi mạnh, quân tử coi đó tự cường không nghỉ.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Lời Tượng ở dưới quẻ giải về tượng của một quẻ, lời Tượng ở dưới hào giải về tượng của một hào. Các quẻ đều lấy hình tượng làm phép, đạo Kiền là cái hình tượng che chở chăn nuôi rất lớn, phi thánh nhân không thể thể theo. Vì muốn mọi người có thể bắt chước, cho nên chỉ lấy cái tính “đi mạnh” mà thôi. Vả, hai chữ “rất mạnh” cũng đủ để thấy đạo trời. “Quân tử coi đó tự cường không nghỉ” ấy là bắt chước sự đi mạnh của trời.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Tượng đây là lời Chu công đèo vào dưới hai hình tượng trên dưới của quẻ và sáu hào của hai tượng đó.
Trời là hình tượng của quẻ Kiền. Phàm những quẻ trùng(1) đều theo nghĩa trùng, riêng về quẻ này không thế, là vì trời chỉ có một mà thôi. Chỉ nói trời đi, thì thấy ngày nay một vòng, ngày mai lại một vòng, giống như hình tượng trùng phúc, phi có một sức rất mạnh, không thể như thế. Quân tử bắt chước chỗ đó không để nhân lực hại đến sự cứng mạnh của đức trời thì phải tự cường không thôi.
LỜI KINH
潜龍勿用陽在下也.
Dịch âm. - Tiềm long vật dụng, Dương tại hạ dã.
Dịch nghĩa. - “Rồng lặn chớ dùng”, Dương ở dưới vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Khí Dương ở dưới, quân tử ỗ cảnh hàn vi, chưa thể làm việc.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Dương chỉ về hào Chín, dưới chỉ về sự “lặn”.
LỜI KINH
見龍在田, 德普施也.
取lí蔚沒 键键a
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Cân nhắc thấy có thể tiến mà tiến, tiến được nhằm thì, thì không có lỗi.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Có thể tiến mà thôi, bất tất phải tiến.
LỜI KINH
龍飛在天, 大人造也.
Dịch âm. - Long phi tại thiên, đại nhân tạo dã
Dịch nghĩa. - “Rồng bay ỗ trời”, việc người lớn vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Việc của người lớn, tức là việc của thánh nhân.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Tạo 造 nghĩa là làm.
LỜI KINH
亢龍有悔, 盈不可久也
Dịch âm. - Kháng long hữu hối, doanh bất khả cửu dã.
Dịch nghĩa. - “Rồng quá cực có ăn năn”, sự đầy đủ không thể lâu vậy.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đây thì biến đổi, đó là có ăn năn.
Lời bàn của Từ Tiến Trai. - “Đây” là Dương đã quá cực, “không thể lâu dài” là Âm đã sinh ra. Dùng chữ “đây” để thích chữ “quá cực”, dùng chữ “không thể lâu” để thích chữ “có ăn năn”. Người ta biết là không thể lâu mà đề phòng từ khi còn chưa quá cực, sẽ không ăn năn.
LỜI KINH
用九, 天德不可爲首也.
Dịch âm. - Dụng Cửu, thiên đức bất khả vi thủ dã(50).
Dịch nghĩa. - Dùng Chín: đức trời không làm đầu vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Dùng Chín tức là đức trời. Đức trời vốn là Dương cương, nếu lại dùng sự cương cường mà thích đi trước người ta, thì là quá quắt.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đây nói Dương cương không thể làm đầu người ta, cho nên sáu hào biến cả thì tốt.
LỜI KINH
文言曰:元者善之長也, 亨者嘉之會
也, 利者襄之和I, 貞#事之ặệíl.
Dịch âm. - Văn ngôn viết: Nguyên giả thiện chi trưởng dã, hanh giả gia chi hội dã, lợi giả nghĩa chi hoà dã, trinh giả sự chi cán dã.
Dịch nghĩa. - Văn ngôn nói rằng: Nguyên là trưởng của điều thiện, hanh là sự tốt tụ hợp, lợi là điều nghĩa hoà hợp, trinh là gốc của việc.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Các quẻ khác chỉ có lời Thoán lời Tượng mà thôi, riêng về quẻ Kiền quẻ Khôn lại đặt ra bài Văn ngôn, để nói cho rõ nghĩa thêm, và để suy rộng đạo Kiền, đem ra mà làm việc người. Bốn đức nguyên, hanh, lợi, trinh của Kiền, loài người thì nguyên là đầu của các điều thiện, hanh là cuộc tụ hợp của các sự đẹp, lợi là hoà hợp về nghĩa, trinh là chỗ dùng làm việc.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Thiên này nói lại ý của Thoán truyện, Tượng truyện, cho hết dư uẩn của hai quẻ Kiền Khôn, mà thuyết của các quẻ khác có thể theo đó mà suy.
Nguyên là khởi đầu của sinh vật, đức của trời đất, không có cái gì trước nó, ở bốn mùa là Xuân, ỗ người ta là nhân mà là trùm trưởng của các điều thiện. Hanh là sự thông đạt của các sinh vật, các vật tới đó, vật nào cũng tốt, cho nên về bốn mùa là Hạ, ở người ta là lễ, mà là cuộc tụ hội của các điều hay. Lợi là sự thoả thuê của các sinh vật, vật nào được cái sở nghi của vật ấy, cho nên ở bốn mùa là Thu, ở người ta là nghĩa mà được sự hoà hợp của từng phần. Trinh là sự thành công của sinh vật, thực lý đầy đặn, đâu đó đều đủ, cho nên ở bốn mùa là Đông, ở người ta là trí, và là gốc của các việc; gốc là thân của loài cây, cành lá đều tựa vào đó mà đứng.
LỜI KINH
君子

君子
長人, 嘉 會 足 以合禮,
義, 頁 固 足 以 幹事
者: 故 曰 乾 元 予利貞.

Dịch âm. - Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hoà nghĩa, trinh cố túc dĩ cán sự. Quân tử hành thử sứ đức giá, cố viết: Kiền nguyền hanh lợi trinh.
Dịch nghĩa. - Đấng quân tử thể theo điều nhân đủ để làm trùm người ta; tốt sự hội hợp đủ để hợp lễ; làm lợi kẻ khác đủ để hoà hợp điều nghĩa; chính đính vững bền đủ để làm gốc các việc. Đấng quân tử thực hành bốn đức tính ấy, cho nên nói rằng: “Kiền
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Bắt chước điều nhân của Kiền, là đạo của đấng quân trưởng, đủ để làm trùm người ta; thể theo điều nhân tức là thể theo đức nguyên so sánh mà bắt chước nó, gọi là “thể”. Được sự hội thông tốt đẹp, mới hợp với lễ; không hợp lễ thì không phải lý, há được là tốt? Không phải lý đâu có hanh thông? Hoà với nghĩa thì mới có thể làm lợi kẻ khác. Vì có chính đính vững bền, cho nên mới làm được việc. Thực hành bốn đức tính ấy mới hợp với quẻ Kiền.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Lấy điều nhân làm thể, thì không một vật nào mà không ở trong yêu thương, cho nên có thể làm trùm người ta. Tốt sự hội hợp thì không điều gì mà không hợp lễ. Khiến cho các vật đều được cái lợi của nó, thì nghĩa còn gì không hoà? Chinh bền nghĩa là biết sự chính đính ở đâu mà giữ cho vững, như nói: “Biết mà không bỏ vậy”, cho nên đủ làm gốc của các việc. Không phải là bậc quân tử rất mạnh, không thể thực hành được các điều ấy, cho nên nói là “Kiền nguyễn hanh lợi trinh”.
Tiết này nói lại ý của Thoán truyện, lời lẽ không khác những câu Mục Khương đã nói trong truyện Xuân thu. Ngờ rằng đời xưa có mấy câu đó, Mục Khương nhắc lại, mà đức Phu tử cũng lấy vào đấy, cho nên chương dưới mới đặt hai chữ “tử viết”(子曰) để nêu cho rõ lời của Khổng tử. Đó là kẻ chép Thoán truyện muốn tỏ chương này là lời cổ vậy.
LỜI KINH
初九曰:镡龍勿用, 何謂也?子曰:
龍德而曙者也丄不易乎不爽乎名,
無爾, 政細行乏, 憂貝苹萁禾可ầ也了

Dịch âm. - Sơ Cửu viết: “Tiềm long vật dụng” hà vị dã? Tử viết: Long đức nhi ẩn giả dã. Bất dịch hồ thế, bất thành hồ danh, độn thế vô muộn, bất kiến thị nhi vô muộn, lạc tắc hành chi, ưu tắc viễn chi, xác hồ kỳ bất khả bạt, tiềm long dã.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Đầu nói rằng: “Rồng lặn chớ dùng” là nghĩa làm sao? Thầy nói: Đó là đức con rồng mà còn ẩn nấp, không đổi theo đời, không nổi về tiếng, trọn đời không buồn, chẳng được nhận là phải mà không buồn, vui thì làm, lo thì lánh xa, vững chắc không thể lay nhổ, ấy là rồng lặn.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Từ đây trở xuống nói về công dụng của Kiền, tức là cách “dùng chín” vậy. Hào Chín Đầu là Dương còn nhỏ, ấy là “đức rồng ẩn nấp, cũng như thánh hiền trong thủa hàn vi, chỉ cốt giữ đạo của mình, không hề theo đời thay đổi, vui nết của mình không cần ai biết, tự tin tự vui, thấy có thể làm thì làm, biết là khó khăn thì tránh. Sự thao thủ vững chắc không thể cướp nổi. Đó là đức của rồng lặn.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đức rồng tức là đức của thánh nhân, vì còn ở dưới nên phải ẩn nấp. “Đổi” là thay đổi sự thao thủ của mình. Đại để những lời Văn ngôn trong sáu hào quẻ Kiền, đều lấy thánh nhân đế giải cho rõ ý nghĩa, chỉ có chỗ kín chỗ hở, không có chỗ nông chỗ sâu.
LỜI KINH
九二曰: 見龍在田, 利見大人, 何謂也? 子曰: 龍德而正中者也, 庸言之信, 庸行 之謹i閑邪存其誠, 善世而不伐, 德博而化,
易曰: 見龍在田, 利見大人, 君德也.
Dịch âm. - Cửu Nhị viết: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân, hà vị dã? Tử viết: Long đức nhi chính trung giả dã. Dung ngôn chi tín, dung hạnh chi cẩn, nhàn tà tồn kỳ thành, thiện thế nhi bất phạt, đức bác nhi hoá. Dịch viết: “Hiện long đại điền, lợi kiến đại nhân”, quân đức dã.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Hai nói: “Rồng hiện ở ruộng, lợi về sự thấy người lớn” là nghĩa làm sao? Thầy nói: Đó là đức rồng mà được trung chính. Nói thường nhằm đúng, nết thường cẩn thận, ngăn điều tà, giữ điều thành thật, làm hay cho đời mà không cậy công, đức rộng mà hoá được người. Kinh Dịch nói: “Rồng hiện ở ruộng, lợi về sự thấy người lớn” đó là đức của ông vua.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Là đức rồng mà ở chính giữa, ở vào chính giữa quẻ dưới là được cái nghĩa chính giữa. Thường tin thường cẩn, trong lúc vội vàng cũng phải để ý vào đó. Đã ở chỗ không có lỗi, chỉ cốt ngăn điều tà. Điều tà đã ngăn, thì điều thành thật sẽ còn. Làm hay cho đời mà không cậy công, tức là không nhận điều hay của mình. Đức rộng mà hoá được người, tức là làm cho mình được ngay thẳng. Bấy nhiêu khoản đều là việc của người lớn, tuy không phải ngôi vua, nhưng là đức của người làm vua.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Chính giữa là lúc không lặn mà chưa nhảy. Nói thường cũng nhằm đúng, nét thường cũng cẩn thận, đó là thịnh đức cùng tột. Ngăn điều tà, giữ điều thành thực, tức là cái ý “dù không chán nản cũng phải giữ gìn” trong Kinh Thi. Nói đức ông vua là để thích rõ người lớn là hào Chín Hai.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Từ chữ “đức rồng chính giữa” trở xuống, đều là đức của ông vua. ý nói dù không ở ngôi vua, nhưng có đức của ông vua, cho nên mới là người lớn. ý Xuyên lại giảng cái người lớn đó thành hai kiểu.
LỜI KINH
九三曰: 君子終日乾乾, 夕惕若, 厲无 咎, 何謂也?子曰: 君子進德修業;忠信所
以進德也;修辭立其誠, 所以居業也;知至 至之, 可與幾也;知終終之, 可與存義也, 是故居上位而不驕, 在下位而不憂, 故乾乾 因其時而惧, 雖危无咎矣.
Dịch âm. - Cửu Tam viết: Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ vô cữu, hà vị dã? Tử viết: Quân tử tiến đức tu nghiệp; trung tín sở dĩ tiến đức dã, tu từ lập kỳ thành, sở dĩ cư nghiệp dã; tri chí chí chi, khả dữ cơ dã; tri chung chung chi, khả dữ tồn nghĩa dã. Thị cố cư thượng vị nhi bất kiêu, tại hạ vị nhi Bất Ưu, cố kiền kiền, nhân kỳ thì nhi dịch, tuy nguy, vô cữu hỹ.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Ba nói: “Quân tử trọn ngày săng sắc, tôi dường rùng rợn vậy, nguy không lỗi”, là nghĩa làm sao? Thầy nói: Quân tử tiến đức sửa nghiệp; trung tín là để tiến đức; sửa lời nói, dựng điều thành thực là để ở nghiệp; biết chỗ cùng tột, thì làm cho được cùng tột, người đó có thể chung việc cơ vi, biết chỗ cuối chót thì giữ cho đến cuối chót, người đó có thể chung việc giữ nghĩa. Thế cho nên, ở ngôi trên không kiêu căng, ở ngôi dưới không lo lắng, cho nên săng sắc, hiểm nghèo cũng không có lỗi.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Ba ỗ trên ngôi dưới, mà đức làm vua đã tỏ, thì sẽ làm gì? Chỉ có tiến đức sửa nghiệp mà thôi. Lòng chứa trung tín là để tiến đức. Lựa lời nói, dốc tâm chỉ là để ở nghiệp. Biết chỗ cùng tột, làm được cùng tột, ấy là chi trí, tìm chỗ cùng tột của sự biết, rồi mới làm cho cùng tột, vì là sự biết ở trước, cho nên có thể chung việc cơ vi, cũng như - Mạnh tử - nói rằng: “Điều lý phần đầu là việc của bậc trí”. Biết chỗ cuối chót, thì giữ cho đến cuối chót, ấy là lực hành, đã biết chỗ cuối chót ở đâu, thì gắng sức tiến lên mà giữ cho đến cuối chót, vì là giữ ở mặt sau, cho nên có thể chung việc giữ nghĩa, cũng như - Mạnh tử - nói rằng: “Điều lý phần sau là việc của bậc thánh”. Đó là đầu chót của việc học. Sự học của quân tử như thế, cho nên biết cách ở trên ở dưới, mà không kiêu căng, không lo lắng, không trễ nải mà sợ hãi, dù ở chỗ hiểm nghèo mà không có lỗi.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Trung tín là cái chủ ở trong lòng, không một điều nghĩ nào không thực. Sửa lời nói là cái hiện ra ngoài việc, không một câu nói nào không thực. Biết chỗ cùng tột, làm được cùng tột là việc về mặt tiến đức. Biết chỗ cuôl chót, giữ đến cuối chót, là việc về mặt ở nghiệp. Sở dĩ trọn ngày săng sắc, tối còn lo sợ là vì cớ đó. Có thể ở trên, có thể ở dưới, không kiêu căng, không lo âu, thế gọi là không có lỗi.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Có người hỏi rằng: Việc dựng điều thành thực, không nói về cách sửa nét, lại nói về cách sửa lời, là cớ làm sao? Đáp rằng: Chỗ không thành thực của người ta phần nhiều là ở lời nói… Người ta thường coi lời nói là không quan trọng, nên mới nói ra một cách dễ dàng. Nếu như mỗi câu mỗi cần phải thực, thì đó là rất trung tín. Tiến đức thấy được nhiều nghĩa lý trong việc sửa đổi lời nói dựng điều thành thực. Sửa lời nói, dựng điều thành thực là cốt để lập cái trung tín đó. Nếu mà miệng không lựa lời, gặp việc là nói, thì cái trung tín cũng bị chìm đắm trôi dạt, đứng không thể vững.
Trung tín là biết đến chỗ chân thực cùng tột. Sửa lời nói, dựng điều thành thực là làm đến chỗ chân thực cùng tột. Nếu không biết đến chân thực thì tiến cái gì? Trước mặt tối om om, tiến làm sao được? Nếu đã biết mà không chân thực làm đi, cái đạo lý kia chỉ là treo ở lưng trời, không chỗ yên đậu, thì cái gọi là trung tín, cũng là hão huyền mà thôi.
Trung tín và sửa lời nói, dựng điều thành thực là những tài liệu; mặt dưới, biết chỗ cùng tột, biết chỗ cuối chót, chỉ có “thực” rồi mới như thế được. Ví như gieo giống, phải là thực có hạt giống gieo xuống trong bùn, mới có thể ngày ngày thấy nó mọc lên; nếu đem vỏ không vất xuống, thì mọc sao được? Dù cho là cái đạo lý hão huyền đi nữa, cũng phải thực thấy, nếu chỉ để tai nghe qua, dùng miệng nói qua thì làm gì được? Trung tín sở dĩ cần phải thực, cũng như hiếu phải thực hiếu, đức hiếu mới mỗi ngày một tiến; đễ phải thật đễ, đức đễ mới mỗi ngày một tiến; nếu mà không thật, ấy là nó không có gốc, tiến làm sao được? Ngày nay biết được như thế, ngày mai có thể thuộc dần; ngày mai mới thấy có hai phần, ngày kia liền thấy có ba bốn phần, ý tứ tự nhiên thấy nó khác nhau. Dựng điều thành thực, vẫn là trung tín ở trên; sửa lời nói tức là nói năng thế nào, bên trong phải thế ấy; ở nghiệp giữa là thường thường như thế, không có chút nào gián đoạn. Đức là cái được ở trong lòng; nghiệp là cái thấy ở công việc; tiến đức nghĩa là ý tứ một ngày một mạnh hơn, một ngày một hăng hái hơn, không phải việc ở bề ngoài, chỉ là tự mình cảm thấy ý tứ khác nhau…

Hai chữ “trung tín” ở đây, khác với những chữ “trung tín” nói ở chỗ khác. Chữ “trung tín” này cũng như - Hạng Lương - vứt nồi chõ, đốt nhà cửa, đem lương ba ngày, tỏ cho sĩ tốt biết là phải chết, thì mới có thể đánh trận. Trung tín phải có bụng ấy, mới tiến đức được…
Trung tín là chỗ “ý thành”, như ghét hơi xấu, như thích vẻ đẹp, việc gì vật gì cũng thấy thuần là lẽ trời như thế, thì đức mỗi ngày môi tiến.
Trung tín là đầu, sửa lời nói dựng điều thành thực là chót, biết chỗ cùng tột, làm đến cùng tột là việc thuộc về tiến đức; biết chỗ cuối chót, giữ đến cuối chót là việc thuộc về ở nghiệp. Người ta sở dĩ một chân bước lên, một chân lui xuống; chỉ là không làm bằng cách chân thực, thì tiến làm sao được? Mấy câu “trung tín tiến đức” và “biết chỗ cùng tột, làm đến cùng tột, người đó có thể chung việc cơ vi” là chữ nói về sự đi; “sửa lời nói, dựng đều thành thực” và “biết chỗ cuối chót, giữ đến cuối chót, người đó có thể chung việc giữ nghĩa là chữ nói về sự ở; tiến đức là môi ngày môi mới, ở nghiệp là ngày nào cũng thế; tiến đức cũng như đo đắn, sửa đắp để làm cái nhà; ỗ nghiệp cũng như ở vào cái nhà làm sẵn; biết chỗ cùng tột, nghĩa là biết được tới chỗ vút bậc; làm đến cùng tột, nghĩa là ý tứ theo nó tới đó; biết chỗ cuối chót là biết được chỗ sau rốt, giữ đến cuối chót, là ý tứ theo nó đến đấy.
LỜI KINH
九四曰: 或躍在淵, 無咎, 何謂也?子曰: 上 下无會, 非i瓿% ìă另% # Mm也;君子 咎.
Dịch âm. - Cửu tứ viết: Hoặc dược tại uyên, vô cữu, hà vị dã? Tử viết: Thượng hạ vô thường, phi vi tà dã; tiến thoái vô hằng, phi ly quần dã; quân tử tiến đức tu nghiệp, dục cập thì dã. Cố vô cữu.
Dịch nghĩa. Hào Chín Tư nói: “Hoặc nhảy ở vực, không có lỗi” là nghĩa làm sao? Thầy nói: Lên xuống bất thường, không phải làm điều cong queo; tiến lui không nhất định, không phải lìa bỏ bầy bạn, đấng quân tử tiến đức sửa nghiệp, muốn cho kịp thì, nên không có lỗi.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hoặc nhảy, hoặc ở, lên xuống bất thường; hoặc tiến, hoặc lui, đi, tới theo lẽ phải, không phải làm điều cong queo, không phải lìa bỏ bầy bạn, là vì tiến đức sửa nghiệp, muốn được kịp thì mà thôi. Lúc đáng làm thì làm, lúc đáng thôi thì thôi, không thể nhất định, lúc nào cũng như lúc nào, cho nên mới là “hoặc”. Vực sâu là chỗ ở của loài rồng, “ở vực” tức là nhảy đến chỗ yên ổn. Vực ở chỗ sâu mà nói là nhảy, đó là chỉ lấy cái nghĩa “đến chỗ yên ổn” mà thôi. Hoặc có tiếng còn nghi ngờ, phải tuỳ thời mà chưa chắc hẳn. Quân tử theo thời như bóng theo hình. Nếu mà có thể xa lìa, thì không phải là đạo nữa.

Bản nghĩa của Chu Hy. - Quẻ trong nói về đạo đức học vấn, quẻ ngoài nói về thời thế, địa vị. Tiến đức sửa nghiệp, ở hào Chín Ba đủ rồi, đây chỉ muốn cho kịp thì mà tiến.
Lời bàn của tiên nho. - Hồ Vân Phong nói rằng: Hào Ba, hào Tư đều nói về việc tiến đức sửa nghiệp, vì nó hai lần cứng, mà không chính giữa, đều là những lúc nguy nghi. Từ xưa thánh hiền ở vào chỗ đó, chỉ có tiến đức sửa nghiệp mà thôi. Huông chi, hai hào đó lại ở giữa chỗ trên dưới tiến lui, nơi đạo Kiền biến hoá… về sự tiến lui mà biết cơ tức là thức thời, trong lúc biến hoá mà biết cái mầu nhiệm, tức là biết đạo.
LỜI KINH
九五曰: 飛龍在天, 利見大人, 何謂也? 子曰: 同聲相應, 同氣相求, 水流溼, 火就燥, 雲從龍, 風從 虎, 聖人作而萬物親, 本乎天者親上,本乎地者親下,則各 從其類也.
Dịch âm. - Cửu Ngũ viết: Phi long tại thiển, lợi kiến đại nhân, hà vị dã? Tử viết: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thuỷ lưu thấp, hoả tựu táo, vân tòng long, phong tòng hổ. Thánh nhân tác nhi vạn vật đổ. Bản hồ thiền giả thân thượng, bản hồ địa giả nhân hạ, tắc các tòng kỳ loại dã.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Năm nói: “Rồng bay ở trời, lợi về sự thấy người lớn” là nghĩa làm sao? Thầy nói: Cùng tiếng ứng nhau, cùng bơi tìm nhau, nước chảy chỗ ướt, lửa tới chỗ ráo, mây theo rồng, gió theo hổ, thánh nhân dấy lên mà muốn vật cùng thấy. Cái gì gốc ở trời thì thân với trên, cái gì gốc ở đất thì thân với dưới, đó là vật nào lại theo với loài vật ấy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Người với thánh nhân là cùng một loài, hào Năm là đức “rồng” mà lên ngôi tôn, loài người cũng đã theo ngóng, huông chi là hạng cùng đức với nhau, trên ứng với dưới, dưới tìm đến trên, đó là “cùng tiếng ứng nhau, cùng hơi tìm nhau”. “Chảy chỗ ướt, tới chỗ ráo, theo rồng, theo hổ” cũng đều là vì khí loại. Cho nên thánh nhân dấy lên muốn vật cũng đều trông thấy. Chữ “vật”(物)đây chỉ về người ta, cũng như chữ “nhân vật” (人物)”vật luận”(物論) chữ “vật”(物) đều chỉ về người. Trong Kinh Dịch, những câu “lợi kiến đại nhân”(利見大 A), chữ giống nhau mà nghĩa khác nhau, ở quẻ Tụng, câu “lợi kiến đại nhân”(禾lj 見大人), nghĩa là nên thấy hạng người đức lớn, trung chính, sự phân biệt về người lớn đó nói ở trước khi thấy. Hào Hai, hào Năm của quẻ Kiền, thì thánh nhân ra rồi, trên dưới cùng thấy, cùng làm xong việc, hạng người lớn “được thấy là lợi” đó, lại nói ở sau khi thấy. Gốc ở trời như là mặt trời mặt trăng, các ngôi sao; gốc ở đất thì như loài sâu, loài thú, loài cây cỏ, âm dương đều theo với loại của nó, người và các vật đều thế.

Bản nghĩa của Chu Hy. - Tác (作)là nổi lên, vật (物)tức là người, thấy là thích ý của chữ “lợi kiến” (利見) Gốc ở trời là giống động vật, gốc ở đất là giống thực vật, vật nào theo loại vật ấy. Thánh nhân là đầu loài người, cho nên thánh nhân nổi lên, thì người ta đều được trông thấy.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Gốc ở trời thì thân với trên, phàm các động vật đầu ngảnh lên trên là thân với trên, tức là loài người; gốc ở đất thì thân với dưới, phàm các thực vật đều ngảnh xuống dưới, đó là thân với dưới. Loài cầm, loài thú phần nhiều đầu ngang, sở dĩ không khôn. Đó là gốc ở thuyết của Thiệu Khang Tiết.
LỜI KINH
上九曰: 亢龍有悔, 何謂也?子日: 貴而无位, 高而无民, 賢人在下位而无輔, 是以動而有悔也.
Dịch âm. - Thượng Cửu viết: Kháng long hữu hối, hà vị dã? Tử viết: quý nhi vô vị, cao nhi vô dân, hiền nhân tại hạ vị nhi vô phụ, thị dĩ động nhi hữu hối dã.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Trên nói: “Rồng quá cực có ăn năn” là nghĩa làm sao? Thầy nói: Quý mà không ngôi, cao mà không dân, người hiền ở ngôi dưới mà không giúp, cho nên hễ hành động thì có ăn năn.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Chín ở Trên mà không nhằm vào ngôi tôn, cho nên không có dân, không kẻ phụ tá, nếu hành động thì có ăn năn.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Người hiền ở ngôi dưới, chỉ về từ hào Chín Năm trở xuống. Không giúp vì hào Chín Năm quá cao, chí khí kiêu động, các hào kia không đến giúp đỡ. Đấy là tiết thứ hai, nói lại ý của Tượng truyện.
Lời bàn của tiên nho.
Dương Thành Trai nói rằng: Hào này ở đầu lục long, cho nên gọi là quý cao. Bởi vì từ hào Chín Tư trở xuống đều theo về hào Chín Năm, cho nên (hào này) mới không có kẻ giúp đỡ.
Ngô Lâm Xuyên nói rằng: Chữ “quý” cốt thích hào Chín là rồng, chữ “cao” thì thích ngôi. Trên quá cực. Không có ngôi là vì hào Dương mà không được ở ngôi Dương; không có dân là vì thuần Dương mà không có Âm. Người hiền của hào Chín Ba lại ở ngôi dưới và lại là thể đôi địch, không ứng với nhau, đó là không giúp. Vì thế, hễ hành động thì có ăn năn. Nhưng quá cực là thời của trời mà có ăn năn là việc của người. Những kẻ thức thời khéo xử, dù quá cực mà không hành động thì cũng không đến ăn năn.
LỜI KINH
潜龍勿用, 下也.
Dịch âm. - Tiềm long vật dụng, hạ dã.
Dịch nghĩa. - Rồng lặn chớ dùng, vì ở dưới vậy.

GIẢI NGHĨA
Dịch âm. Hoặc dược tại uyên, Dịch nghĩa. Hoặc nhảy ở vực, tự thí dã. là tự thử vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Nghĩa là tuỳ theo thì vận, mình tự dùng mình.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Chưa thể làm việc, hãy thử xem có thể làm được không.
LỜI KINH
飛龍在天, 上治也.
Dịch âm. - Phi long tại thiên, thượng trị dã.
Dịch nghĩa. Rồng bay ở dưới, việc chính trị của bậc trên vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Nghĩa là được ngôi mà làm chính trị của bậc trên.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Nghĩa là ở ngôi trên để trị kẻ dưới.
LỜI KINH
亢龍有悔, 窮之災也. Dịch âm. - Kháng long hữu hối, cùng chi tai dã.
Dịch nghĩa. - Rồng quá lắm có ăn năn, cái tai nạn của sự cùng cực vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Tức là cùng cực mà tai nạn đến.
Lời bàn của Ngô Lâm Xuyên. - Chữ “cùng” chỉ về quá cao, chữ tai chi vẽ có ăn năn.
乾元用九, 天下治也.
Dịch âm. - Kiền nguyên dụng cửu, thiên hạ trị dã.
Dịch nghĩa. - Kiền nguyên dùng Chín, thiên hạ thịnh trị vậy.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Cái đạo Dùng Chín, trời với thánh nhân giống nhau. Hễ được chỗ dùng của nó thì thiên hạ thịnh trị.
Bản nghĩa của Chu Hy. - ý nói Kiền nguyên dùng Chín, không giống với các quẻ khác. Đạo của người làm vua cứng mà lại có thể mềm, thiên hạ không đâu không thịnh trị.
Đây là tiết thứ ba, nhắc lại ý trước lần nữa.
LỜI KINH
潜龍勿用, 陽氣潜藏
Dịch âm. - Tiềm long vật dụng, Dương khí tiềm tàng.
Dịch nghĩa. - Rồng lặn chớ dùng, khí Dương ẩn nấp.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đây trở xuống nói về nghĩa của quẻ Kiền. Đương lúc khí Dương còn nhỏ và còn lặn náu, quân tử cũng nên ẩn nấp, chưa thể làm việc.
LỜI KINH
見龍在田, 天下文明.
Dịch âm. - Hiện long tại điền, thiên hạ văn minh.
Dịch nghĩa. - Rồng hiện ở ruộng, thiên hạ văn vẻ sáng sủa.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đức rồng hiện ở trên đất, thì thiên hạ thấy cái văn vẻ sáng sủa của nó.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Tuy là chẳng ở ngôi trên, nhưng mà thiên hạ đã thấm đức hoá.
LỜI KINH
終日乾乾, 與時偕行.
Dịch âm. - Chung nhật kiền kiền, dữ thì giai hành.
Dịch nghĩa. - Suốt ngày săng sắc, với thì vận cùng đi.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Tức là theo thời mà tiến.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Thời nên như thế.
LỜI KINH
或躍在淵, 乾道乃革.
Dịch âm. - Hoặc dược tại uyên, Kiền đạo nãi cách.
^
Dịch nghĩa. - Hoặc nhảy ở ruộng, đạo Kiền mới đổi.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Bỏ ngôi dưới mà lên ngôi trên, đó là trên dưới thay đổi.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Bỏ dưới lên trên tức là thay đổi.
飛龍在天, 乃位乎天德.
Dịch âm. - Phi long tại thiên, nãi vị hồ thiên đức.
Dịch nghĩa. - Rồng bay ở trời, bèn chính ngôi về đức trời.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Chính ngôi ở trên, tức là ngôi nhằm đức trời.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đức trời tức là ngôi trời. Bởi vì chỉ có đức ấy mới đáng ở vào ngôi ấy, cho nên mới dùng chữ ấy đặt tên.
LỜI KINH
亢龍有悔, 與時揩極.
Dịch âm. - Kháng long hữu hối, dữ thì giai cực.
Dịch nghĩa. - Rồng quá vực có ăn năn, với thì vận đều cùng cực.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Thì vận đã cùng cực, thì người ở vào thì vận đó cũng phải cùng cực.
LỜI KINH
乾元用九, 乃見天則.
Dịch âm. - Kiền nguyên dụng Cửu, nãi kiến thiên tắc.
Dịch nghĩa. - Kiền nguyên dùng Chín, bèn thấy phép trời.
飛龍在天, 乃位乎天德.
Dịch âm. - Phi long tại thiên, nãi vị hồ thiên đức.
Dịch nghĩa. - Rồng bay ở trời, bèn chính ngôi về đức trời.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Chính ngôi ở trên, tức là ngôi nhằm đức trời.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đức trời tức là ngôi trời. Bởi vì chỉ có đức ấy mới đáng ở vào ngôi ấy, cho nên mới dùng chữ ấy đặt tên.
LỜI KINH
亢龍有悔, 與時揩極.
Dịch âm. - Kháng long hữu hối, dữ thì giai cực.
Dịch nghĩa. - Rồng quá vực có ăn năn, với thì vận đều cùng cực.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Thì vận đã cùng cực, thì người ở vào thì vận đó cũng phải cùng cực.
LỜI KINH
乾元用九, 乃見天則.
Dịch âm. - Kiền nguyên dụng Cửu, nãi kiến thiên tắc.
Dịch nghĩa. - Kiền nguyên dùng Chín, bèn thấy phép trời.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đạo Dùng Chín tức là phép của trời. Phép tắc của trời chỉ về đạo trời. Có người hỏi rằng: Có phải sáu hào quẻ Kiền đều là việc của thánh nhân chăng? Đáp rằng: Theo được hết đạo của nó thì là thánh nhân. Nếu có chỗ được chỗ lỗi thì phải có sự lành sự dữ ở trong. Há riêng một quẻ Kiền đâu? Các quẻ đều thế.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Cứng mà lại có thể mềm, đó là phép trời.
Đây là tiết thứ tư, nhắc lại ý trước một lần thứ ba.
Lời bàn của tiên nho.
Hồ Song Hồ nói rằng: Văn ngôn thích sáu hào quẻ Kiền tất cả ba tiết. Tiết thứ nhất giống như chuyên nói về đức, riêng có hào Trên hình như lại nói về ngôi. Tiết thứ hai giống như chuyên nói về ngôi, hào Hai hình như nói cả về thời và ngôi hào Ba trở lên lại dường như nói chỗ dùng. Tiết thứ ba hoàn toàn nói về thì vận, nhưng cũng đều có phân biệt. Rút lại, thì như Chu tử bảo rằng: “Thánh nhân học Dịch chỉ cần “thể” ra rất nhiều ý tứ. Kẻ đọc phải tự hiểu lấy”.
LỜI KINH
乾元者始而亨者也.
Dịch âm. - Kiền nguyên giả thuỷ nhi hanh giả dã.
Dịch nghĩa. - Kiền nguyên là đầu mới mà hanh thông vậy.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đây lại phản phúc nói kỹ cho được hết nghĩa. Đã là đầu mới ắt phải hanh thông, nếu không hanh thông thì phải tắt dứt.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đầu mới thì phải hanh thông, lý thế như vậy.
利貞者性情也.
Dịch âm. - Lợi trinh giả tính tình dã.
Dịch nghĩa. - Lợi trinh và tính tình vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Dỉ. - Đây là tính tình của Kiền. Đã đầu mới mà hanh thông, nếu không lợi trinh có thể không tắt được chăng?
Bản nghĩa của Chu Hy. - Thu liễm qui tàng, mới thấy cái thật của tính tình.
Lời bàn của tiên nho. - Trình Hiệu nói rằng: Nguyền hanh chỉ là đầu mới mà hanh thông, nghĩa là khi mới phát sinh, hết thảy hanh thông, tới khi lợi trinh thì là vật nào được tính mệnh của vật ấy.
Tính tình như nói tư chất thể đoạn. sắp đặt, chế nặn, biến hoá, nuôi nấng đều là lợi cả. Không nhận có công, thường thường và lâu dài mà không thôi, là trinh.
Chu Hy nói rằng: “Lợi trinh là tính tình” đó là tính tình của Kiền. Khi còn mới đầu mà hanh thông, là chỗ phát sinh của Kiền, chung là một cái tính tình; đến chỗ lợi trinh, thì mỗi vật có một tính tình. Thóc lúa cây cỏ đều có linh tính. Nguyên hanh tức là lúc nó nở hoa, kết quả, đến khi lợi trinh mới thấy tính tình của nó.
Có người hỏi: “Lợi trinh tức là tính tình” là nghĩa làm sao? Đáp rằng: Chữ tính tình đó như nói bản thể. Nguyên hanh là chỗ phát dụng, lợi trinh là ý thu góp dụm hợp, nhưng mà còn chưa rắn đặc, đến mùa Đông mới thành; trong mùa Thu, tuy là đã đặc và dần dần muốn lìa cái gốc, nhưng nó thụ khí chưa đủ, thì trồng không mọc. Cho nên phải đến mùa Đông mới thành. Người ta khi đến mùa Thu mùa Đông, ngỡ như không thấy sinh ý, không biết rằng
大哉乾乎, 剛健中正, 純粹精也:
六爻發揮, 旁通情也, 時乘六龍, 以御天 也;雲行雨施, 天下平也.

Dịch âm. - Đại tai kiền hồ, cương kiện trung chính, thuần, tuý, tinh dã. Lục hào, phát huy, bàng thông tình dã. Thì thừa lục long, dĩ ngự thiên dã. Vân hành vũ thí, thiên hạ bình dã.
Dịch nghĩa. - Lớn thay Kiền kia, vừa cứng vừa mạnh, vừa trung vừa chính, vừa thuần, vừa tuý, vừa tinh vậy, sáu hào phát huy, rộng thông các tình vậy. Thường cưỡi sáu rồng để ngự tận trời vậy. Mây đi mưa tưới, thiên hạ hoà bình vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - “Lớn thay” là tán dương sự lớn lao của đạo Kiền. Dùng sáu đức tính cứng, mạnh, trung, chính, thuần, tuỷ để hình dung đạo Kiền. Tinh tức là phần cực tinh của sáu tính kia. Dùng sáu hào phát huy, rộng thông cho hết tình nghĩa. Nhân thì vận của sáu hào để đương vào với vận trời, thì công dụng của trời đã rõ rệt lắm, cho nên mới thấy mây đi mưa tưới, Âm Dương tràn khắp, tức là cái đạo thiên hạ hoà bình.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Cứng là nói về thể chất, mạnh thì gồm cả công dụng. Nói trung là sự đi của nó không thái quá cũng không bất cập. Nói chính là sự đứng của nó không lệch về mặt nào. Bốn điều đó là đức tính của Kiền. Thuần là không lẫn về Âm Dương, tuý là không lẫn với tà ác, vì là trung chính cứng mạnh đến cùng tột; mà tinh thì lại là cái cùng tột của tinh thuần tuý. Có
kẻ ngờ rằng: Kiền chỉ cứng mà không mềm, không thể nói là trung chính. Không phải như thế. Trong khoảng trời đất, chỉ có một khí lưu hành, duy có động tĩnh khác nhau mà thôi. Nói về toàn thể của cuộc lưu hành, thì chỉ gọi là Kiền mà không cái gì là không bao bọc. Vì lấy động tĩnh chia ra, mới có Âm, Dương, cứng, mềm khác nhau. Chữ “rộng thông” cũng như chữ “Khúc tận” (hết các chiều)(1). Câu dưới ý nói thánh nhân thường cưỡi sáu rồng để ngự trời, thì như trời khi mây đi mưa tưới, thiên hạ thái bình vậy.
Đây là tiết thứ năm, lại nhắc lại ý của chương đầu.
LỜI KINH
君无以成德爲行, 曰可I之斤也.潜宅爲 言也, 隱而未竟, 行未成, 是以君子弗用也.
Dịch âm. - Quân tử dĩ thành đức vi hạnh, viết khả kiến chi hạnh dã. Tiềm chi ui ngôn dã, ẩn nhi vị hiện, hành nhi vị thành, thị dĩ quân tử phất dụng dã.
Dịch nghĩa. Đấng quân tử lấy đức đã thành làm nết, gọi là net có thể thây. Chữ lặn nghĩa là ân mà chưa hiện, làm mà chưa thành, cho nên đấng quân tử không dùng.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đức đã thành, việc có thể thấy, là nết, có Đức thành thì mới có thể đưa ra công dụng, Hào Đầu đương lặn, ẩn mà chưa hiện, nết còn chưa thành, chưa thành tức là chưa tỏ, cho nên quân tử không làm việc.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Thành đức tức là cái đức đã thành. Hào Chín Đầu vẫn đã thành đức, có điều cái nết của nó chưa hiện mà thôi.
Lời bàn của tiên nho. - Hồ Song Hồ nói rằng: Hào Chín Đầu đức thành, hạnh dựng, tuy có thể tỏ ra việc làm, nhưng mà thời vận và địa vị chưa thể thành được cái làm, cho nên lời Hào mới
君子學以聚之, 問以辯之, 寬以居之, 仁以 行之, 易曰:見龍在田, 利見大人, 君德也.
Dịch âm. - Quân tử học dĩ tụ chi, vấn dĩ biện chi, khoan dĩ cư chi, nhân dĩ hành chi. Dịch viết: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân, quân đức dã.
Dịch nghĩa. - Đấng quân tử dùng sự học để thu hợp, dùng sự hỏi để phân biệt, dùng sự rộng rãi để ở, dùng điều nhân để thi hành. Kinh Dịch nói rằng: “Rồng hiện ở ruộng lợi về sự thấy người lớn”, đức của người làm vua vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Thánh nhân ở dưới tuy đã rõ rệt mà chưa được ngôi, thì chỉ tiến đức sửa nghiệp mà thôi. Học để thu hợp, hỏi để phân biện, đó là tiến đức; rộng rãi để ở, điều nhân để thi hành, đó là sửa nghiệp. Cái đức làm vua đã rõ rệt rồi, lợi được thấy bậc người lớn, chỉ tiến lên mà thực hành thôi. Tiến lên mà ở vào ngôi đó, thì như vua Thuần, vua Vũ, tiến lên mà thực hành cái đạo của mình thì như Y Doãn, Phó Duyệt.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Vì là do bốn điều ấy (học, vấn, khoan, nhân) mới nên đức của người lớn. Nói lại lần nữa, cho thật rõ hào Chín Hai là người lớn đó.
LỜI KINH
九三重剛而不中, 上不在天, 下不在田, 故 乾乾, 因其時而慑, 雖危无咎矣.
Dịch âm. - Cửu tam trùng cương nhị bất trung, thượng bất tại
thiên, hạ bất tại điền, cố kiến kiền, nhân kỳ thì nhi dịch, tuy nguy vô cữu hỹ.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Ba hai lần cứng mà không được giữa trên không ở trời, dưới không ở ruộng, cho nên săng sắc, nhân thì đó, mà lo lắng, dẫu nguy, không có lỗi.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Ba hai lần cứng, tức là tính cứng đã thịnh, lại quá bậc giữa mà ở trên bậc dưới, trên chưa tới trời mà dưới đã lìa khỏi ruộng, đó là chỗ hiểm nghèo. Nhân thì thuận xử, săng sắc lo ngại để phòng sự hiểm nghèo, cho nên dẫu nguy mà không đến nỗi có lỗi. Đấng quân tử theo thời lo sợ, vì vậy mà được hanh thái.

Bản nghĩa của Chu Hy. - Hai lần cứng chỉ về hào Dương ngôi Dương.
Lời bàn của tiên nho. - Sái Tiết Trai nói rằng: Quẻ dưới lấy hào Hai là giữa, quẻ trên lấy hào Năm là giữa. Hào Ba ở trên hào Hai là quá bậc giữa, hào Tư ở dưới hào Năm là chưa tới bậc giữa. Ở trời là hào Năm, ở ruộng là hào Hai; hào Ba trên chưa tới Năm, dưới đã lìa khỏi Hai, mà giữa thì ở ngôi “người”, chỉ có một cách săng sắc không nghỉ, thì dẫu ở chỗ hiểm nghèo cũng không có lỗi.
LỜI KINH
九四重剛?而不中, 上不在天, 下不在田, 中 不在人, 故或之, 或之者疑之也, 故无咎:
Dịch âm. - Cửu Tứ trùng cương (?) nhi bất trung, thượng bất tại thiên, hạ bất tại điền, trung bất tại nhân, cố hoặc chi. Hoặc chi giả nghi chi dã, cố vô cữu.
Dịch nghĩa. - Hào Chín Tư hai lần cứng (?) mà không được giữa, trên không ở trời, dưới không ở ruộng, giữa không ở người, cho nên nói “hoặc”. Nói “hoặc” là còn nghi ngờ, cho nên không có lỗi.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Tư không ở trời, không ở ruộng mà vượt trên người là chỗ hiểm nghèo. “Ngờ” là tiếng còn chưa quyết. Cách xử chỗ đó không thể nhất quyết, hoặc tiến hoặc lui, tuỳ sự yên ổn mà thôi, vì vậy mà không có lỗi.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Hào Chín Tư không phải là hai lần cứng, chữ 重(trùng) ngờ thừa, ở người, chỉ về hào Ba, “hoặc” nghĩa là hãy còn tuỳ thời chưa định.

LỜI KINH
夫大人者, 與天地合其德, 與曰月合其明, 與四時合萁序, 與鬼神合萁吾凶, 先天而关 不弗違, 後天m奉天時.天且弗ắ,而况於 人乎?况於鬼神乎.
Dịch âm. - Phù đại nhân giả dữ thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thì hợp kỳ tự, dữ quỷ thần hợp kỳ cát hung, tiến thiên nhi thiên phất vi, hậu thiên nhi phụng thiên thì. Thiên thả phất vi, nhi huống ư nhân hồ? huống ư quỷ thần hồ?
Dịch nghĩa. - Ôi người lớn là hạng hợp đức với trời đất, hợp sự sáng với mặt trời mặt trăng, hợp thứ tự với bốn mùa, hợp sự lành dữ với quỷ thần, đi trước trời mà trời không trái đi sau trời mà vâng thì trời. Trời còn không trái, huống chi người? Huông chi quỷ thần?
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Người lớn với trời đất, mặt trời, mặt trăng bốn mùa, quỷ thần hợp đạo. Trời đất tức là đạo. Quỷ thần là dấu vết tạo hoá. Thánh nhân đi trước trời mà trời đồng tình, đi sau trời mà thuận được với trời, vì hợp với đạo mà thôi. Hợp với đạo thì người và quỷ thần hà trái lại được?
Bản nghĩa của Chu Hy. - Chữ “Người lớn” đây thích hạng người lớn mà trong lời Hào nói rằng: “Được thấy là lợi”, có đức ấy ở ngôi ấy thì mới đương nổi. Người và trời đất quỷ thần vốn không hai lẽ. Chỉ vì bị lấp về sự riêng tây của bản ngã, cho nên mắc ở hình hài mà không thể thông nhau. Thánh nhân không có riêng tây, lấy đạo làm thể. Khi nào còn có những sự kia nọ, trước sau đáng nói? “Đi trước trời mà trời không trái” tức là cái gì do ý làm ra, vẫn hợp với đạo bằng cách im lặng. “Đi sau trời, mà vâng thì trời” tức là biết lẽ như thế, vâng theo mà làm.
LỜI KINH
亢之爲言也, 知進而不知退, 知存 而不知亡, 知得而不知喪.
Dịch âm. - Kháng chi vi ngôn dã, tri tiến nhi bất tri thoái, tri tồn nhi bất tri vong, tri đắc nhi bất tri táng.
Dịch nghĩa. - Kháng là nói về hạng người biết tiến mà không biết lui, biết còn mà không biết mất, biết sự được mà không biết sự thiệt hại.
GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Vì vậy cho nên hành động thì có ăn năn.
Lời bàn của tiên nho: Phùng Hậu Trai nói rằng: Tiến lui là nói về mình, còn mất là nói về ngôi, được và thiệt hại là nói về người. Hào này cùng trên mà trở lại dưới là lui, chín biến ra sáu là mất, không có dân, không có kẻ giúp là thiệt hại.
其唯聖人乎?知進退存亡而不失 其正者, 其唯聖人乎?
Dịch âm. - Kỳ duy thánh nhân hồ? Tri tiến thoái tồn vong nhi bất thất kỳ chính giả, kỳ duy thánh nhân hồ?
Dịch nghĩa. - Chỉ có thánh nhân chăng? Biết tiến lui còn mất mà không lỗi với sự ngay thẳng, chỉ có thánh nhân chăng?
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Quá lắm là “kháng”. Đã tới “kháng” thì không biết lẽ tiến lui còn mất, hơn thiệt. Thánh nhân hiểu lẽ đó mà xử trí không lỗi với sự ngay thẳng, cho nên không đến nỗi “kháng”.

Bản nghĩa của Chu Hy. - Biết rõ lý thế như thế mà xử với nó bằng đạo, thì không đến nỗi ăn năn và không phải là tính riêng để tránh hại.
Đây là tiết thứ sáu, lại nói lại ý của mấy tiết thứ hai, thứ ba, thứ tư.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Sáu hào trong bài Văn ngôn đều nói về đức của thánh nhân, chỉ có cái ngôi đã ở khác nhau. Hào Đầu “không đối theo đời, không nên về tiếng, trốn đời không buồn, không được nhận là phải mà không buồn, vui thì làm, lo thì tránh, ấy là rồng lặn”, đã là nói về đức của thánh nhân rồi, chỉ là còn lặn chưa được dùng mà thôi. Hào Chín Hai lại tốt, đức hoá của nó đã tới người ta. Đó là ngôi kẻ bầy tôi ở đó mà yên. Đến hào Chín Ba ở trên quẻ dưới, ngôi đã cao rồi, lúc đó thời thế không thể làm gì, chỉ nên lo lắng sợ hãi, tiến đức sửa nghiệp, săng sắc không nghỉ. Hào Chín Tư “Hoặc nhảy ở vực”, Y Xuyên bảo “ruộng là chỗ ở yên của rồng” e rằng chưa phải. Ruộng là chỗ bằng phẳng, dù cho có nước cũng nông. “Vực” là chỗ sâu không thể lường, “nhảy” là đã lìa khỏi sự “đi”, mà chưa tới sự “bay”. Đi còn dùng chân, nhảy thì không dùng đến chân, dùng sự vượt lên mà lên, chân không phải đạp xuống đất, vượt được thì lên trời, không được lại ở vực như cũ, đều không thể lường; dưới đã lìa khỏi sự đi, trên thì gần với sự bay, trên không ở trời, dưới không ở ruộng, giữa không ở người, cho nên nói “hoặc” là tiếng còn nghi ngờ, không được yên ổn như hào Chín Hai. Lúc đó, tiến lui không được và đều không do ở mình, chỉ theo thì vân của trời mà thôi. Tới hào Chín Trên lại quá cực rồi. Xem ra người ta ở trong đại vận không lúc nào nhàn, lành dữ, hôl hận, một phút không dừng, giống như chiếc bánh xe lớn, cứ quay tít mãi. Thánh nhân chỉ theo với nó để xem đạo lý ra sao, chỗ này xử bằng đạo lý này chỗ kia xử bằng đạo lý kia.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

1506

Bài viết

2

Bạn bè

110k

Điểm

Administrator

Rank: 9Rank: 9Rank: 9

Đăng lúc 4-5-2014 09:35:37 |Xem tất
QUẺ KHÔN

三 = Khôn trên = = Khôn dưới
LỜI KINH
坤元亨, 利牝馬之貞, 君子有攸往, 先迷, 後 得, 主利, 西南得朋, 東北喪朋, 安貞, 吉.
Dịch âm. - Khôn nguyên hanh, lợi tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng. Tiên mê, hậu đắc, chủ lợi. Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng, an trinh, cát.
Dịch nghĩa. - Quẻ Khôn: đầu cả, hanh thông, lợi về nết trinh của ngựa cái. Quân tử có sự đi. Trước mê, sau được. Chủ về lợi. Phía tây nam được bạn, phía Đông Bắc mất bạn. Yên phận giữ nết trinh thì tốt.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Khôn là quẻ đối nhau với Kiền, bốn đức tính giống nhau, mà về thể “trinh” thì khác nhau. Kiền lấy chính bền làm trinh. Khôn thì mềm thuận là trinh. Ngựa cái là giống có đức mềm thuận mà sức đi khỏe, cho nên dùng tượng của nó, gọi là “nết trinh của ngựa cái”. Việc làm của đấng quân tử mềm thuận mà lợi và trinh, đó là hợp với đức tính của Khôn. Âm phải theo Dương, ắt đợi xướng rồi mới hoạ. Âm đi trước Dương tức là mê lẫn, phải ở sau Dương mới đúng lẽ thường. Chủ về lợi, nghĩa là lợi cho muốn vật đều chủ ở Khôn. Vì cuộc sinh thành đều là công của đất cả. Đạo làm bầy tôi cũng vậy, vua sai tôi làm, vất vả về làm việc là cái chức trách của kẻ làm tôi. Tây Nam là phương Âm, Đông Bắc là phương Dương. Âm phải theo Dương, lìa bỏ bầy loại của nó mới có thể làm nên công cuộc hoá dục, mà được cái tốt trong việc yên phận giữ nết trinh. Nghĩa là đúng với lẽ thường thì yên, yên với lẽ thường thì trinh, cho nên mới tốt.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Nét - là vạch chẵn, số của khí Âm. Khôn nghĩa là thuận, tức là tính của khí Âm. Chữ Khôn trong lời chua tức là tên quẻ ba vạch, chữ Khôn trong lời Kinh, thì là tên quẻ sáu vạch. Sự thành hình của khí Âm không có gì lớn hơn đất. Quẻ này ba vạch đều chẵn, cho nên đặt tên là Khôn để hình dung đất. Trồng lên hai lượt, lại được một quẻ Khôn nữa, thì là Ảm đến thuần tuý, thuận đến cùng tột, cho nên cái tên và cái tượng của nó(51) đều không thể đổi. Ngựa cái là giống ngoan ngoãn mà đi khỏe. Dương trước, Âm sau, Dương chủ về nghĩa, Âm chủ về lợi. Tây Nam là phương Âm, Đông Bắc là phương Dương. “An” là việc làm của nết thuận, “trinh” là sự giữ gìn của đức mạnh. Hễ gặp quẻ này, thì lời chiêm là cả hanh thông mà lợi, phải lấy nết thuận, đức mạnh làm chính, nếu có đi đâu, thì trước mê, sau được mà chủ về lợi, đi sang Tây Nam thì được bạn, đi sang Đông Bắc thì mất bạn. Đại để hễ chịu yên về đường chính thì tốt.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: “Lợi về nết trinh của ngựa cái” ý nói: chỉ lợi cho sự chính đính của nết mềm thuận, không lợi cho sự chính đính của nết cương kiện. Chữ “lợi” này vốn là hư tự (tức là động từ) không có ý là bốn đức tính. Đến trong lời Thoán mới có ý đó.
Có người hỏi rằng: “Tây Nam được bạn, Đông Bắc mất bạn” là nghĩa làm sao? Đáp rằng: Âm không thể sánh với Dương, Âm chỉ lý hội được một nửa, không như Dương gồm được cả Âm, cho nên không gì không lợi. Âm chỉ dùng được một nửa, cho nên được ở Tây Nam, mất ở Đông Bắc. Từ chữ “trước mê sau được” cũng vậy. Từ Vương Bật trở xuống đều không biết thế, cho nên giải nghĩa sai cả.
彖曰: 至哉坤元, 萬物資生, 乃順承天.
Dịch âm. - Thoán viết: Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tự sinh, nãi thuận thừa thiên.
Dịch nghĩa. - Lời Thoán nói rằng: Cùng tột thay cái đức đầu cả của Khôn, muốn vật nhờ nó mà sinh ra, bèn thuận theo trời.

GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đây cùng địa đạo tỏ nghĩa của quẻ Khôn, mà đầu tiên nói về đức “nguyên”. “Chí” là cùng tột, ví với chữ “đại”(1), nghĩa nó hơi hoãn hơn. “Thuỷ”(2) là khởi đầu của phần khí, “sinh” là khởi đầu của phần hình, “Thuận theo trời”, tức là thi hành đạo của đất vậy.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Khi mà nhờ Kiền để khởi đầu thì liền nhờ Khôn để sinh ra, hai việc đó không hề cách nhau giây lát. Lúc Kiền hanh thông, Khôn cũng hanh thông. Muốn vật nhờ Kiền để khởi đầu mà có phần khí, nhờ Khôn để sinh ra mà có phần hình. Khí tới thì sinh. Đó là Khôn nguyên.
LỜI KINH
坤厚載物, 德合無疆.
Dịch âm. - Khôn hậu tái vật, đức hợp vô cương.
Dịch nghĩa. - Sức dầy của Khôn, chở được các vật, đức nó hợp với đức không bờ.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. Cái đạo “nhờ đó mà sinh ra” cũng có thể gọi là lớn. Nhưng Kiền đã khen là lớn rồi, cho nên Khôn phải khen là cùng tột. Nghĩa chữ “chí” hoãn hơn, không thịnh bằng chữ “đại”. Thánh nhân với sự phân biệt tôn ty, cẩn thận nghiêm ngặt như thế. Thuận theo trời mà thi hành, để cho thành công, đức dày của Khôn mang chở muốn vật, có thể sánh nhau với đức “không bờ” của Kiền.
LỜI KINH
含弘光大, 品物咸亨.
Dịch âm. - Hàm hoầng quang đại, phẩm vật hàm hanh.
Dịch nghĩa. - Bao dong, rộng rãi, sáng láng, lớn lao, các phẩm, các vật, đều hanh thông.
GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đây nói về hanh. Đức của Khôn hợp với đức không bờ của Kiền, là nói Khôn sánh với Kiền.
Lời bàn của tiên nho. - Du Quảng Bình nói rằng: “Hàm” là không gì không bao dong, “Hoằng” là không gì không có, “Quang” là không đâu không tỏ, “Đại” là không đâu không che trùm.
LỜI KINH
牝馬地類, 行地无疆, 柔順利貞, 君子攸行.
Dịch âm. - Tẫn mã địa loại, hành địa vô cương, nhu thuận lợi trinh quân tử du hành.
Dịch nghĩa. - Ngựa cái là loài của đất, đi đất không bờ, mềm, thuận, lợi về nết trinh, đấng quân tử thửa làm.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Dùng bốn chữ “hàm”, “hoằng”, “quang”, “đại” để hình dung đạo Khôn, cũng như những đức cương, kiện, trung, chính, thuần, tuỷ của Kiền vậy. Hàm là bao dong, hoầng là rộng rãi, quang là sáng láng, đại là rộng dày. Vì có bốn đức tính ấy, cho nên mới vâng theo được công việc của trời, khiến cho các phẩm các vật đều được hanh thông thoả thuê. Dùng ngựa cái làm tượng của Khôn, vì nó mềm thuận đi khỏe, là loài của đất. “Đi đất không bờ” chỉ về đức mạnh. - Kiền mạnh, Khôn thuận, Khôn cũng mạnh ư? Đáp rằng: Không mạnh thì sao sánh được với Kiền? Chưa có bao giờ Kiền đi mà Khôn đỗ. Nó động thì cứng, nhưng với đức mềm vẫn không hại gì. Mềm thuận mà lợi về nết trinh là đức của Khôn, điều mà quân tử vẫn làm. Đó là đạo của quân tử hợp với đức Khôn.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đây nói về lợi trinh. Ngựa là tượng của Kiền mà lại cho là loài của đất, là vì giống cái là vật thuộc Âm, mà ngựa lại là con vật đi đất. “Đi đất không bờ” thì tức là thuận mà mạnh. Mềm thuận lợi về nết trinh là đức của Khôn. “Quân tử thửa làm” nghĩa là điều mà người ta vẫn làm như đức của Khôn. Hễ mà vẫn làm như thế, thì lời chiêm như đoạn dưới đây.

LỜI KINH
先迷失道, 後順得常, 西南得朋, 乃 與類行了 北喪朋, 乃終有慶.
Dịch âm. - Tiên mê thất đạo, hậu thuận đắc thường, Tây Nam đắc bằng, nãi dữ loại hành; Đông Bắc táng bằng, nãi chung hữu khánh.
Dịch nghĩa. - Trước mê mất đường, sau thuận được như thường, Tây Nam được bạn, bèn đi với loài, Đông Bắc mất bạn, bèn chót có phúc.
GIẢI NGHĨA
Bản nghĩa của Chu Hy. - Dương lớn, Âm nhỏ, Dương được kiêm Âm. Âm không được kiêm Dương, cho nên đức Khôn thường kém nửa Kiền. Đông Bắc tuy mất bạn, nhưng quay về Tây Nam, thì chót cùng sẽ có phúc.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Đông Bắc không phải là ngôi của Âm, Âm nhu tới đó đã mất bè bạn, tự nhiên đứng chân không được, ắt phải quay về bản vị, cho nên chót cùng có phúc. Giống cái là giống mềm thuận, cho nên trước thì mê mà mất bạn; ngựa là loài vật đi khỏe, cho nên sau thì được mà có phúc. Đem chữ “ngựa cái” tách ra thì sẽ thấy ý tứ đó. Nói “chót có phúc”, thì phúc không ở bây giờ. Vì nó là vật mềm thuận, Đông Bắc không phải chỗ nó ở yên, tự nhiên phải mất bạn, cũng như con cá quen ở dòng nước chảy chậm, sông trong dòng nước chảy nhanh không được. Mất bạn ở Đông Bắc thì phải trở lại Tây Nam, ấy là sau chót có phúc.
Hỏi rằng: Có phải là người mềm thuận trung chính làm việc vượt qua thường phận không được, chỉ khi theo thường giữ phận, thì lại làm được việc hay không? Đáp rằng: Là thế.
LỜI KINH
安貞之吉, 應地無疆.
Dịch âm. - An trinh chi cát, ứng địa vô cương.
Dịch nghĩa. - Cái tốt của kẻ yên về nết trinh, ứng nhau với đức không bờ của đất.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Công dụng của Kiền là việc của Dương, công dụng của Khôn là việc của Âm. Từ những hình tượng trở lên, gọi là đạo của trời đất; từ những hình tượng trở xuống, gọi là công của Âm Dương. Từ chữ “tiên mê hậu đắc” trở xuống là nói về Âm đạo: Xướng trước thì mê mà trái đạo Âm, hoạ sau thì thuận mà đúng lẽ thường. Tây Nam là phương Âm, theo với loài nó cho nên được bạn, Đông Bắc là phương Dương, lìa loài của nó cho nên mất bạn. Lìa loài của nó mà lại theo Dương, thì có thể làm nên cái công sinh ra các vật, cho nên chót có phúc tốt. “Đi với loài” tức là ba phần bản thể, theo với Dương là phần công dụng. Thể Âm mềm nóng, cho nên theo Dương thì nó có thể yên về nết trinh, được tốt lành, ứng nhau với đức không bờ của địa đạo. Nếu Âm không yên về nết trinh, há lại có thể ứng nhau với địa đạo? Trong lời Thoán này có ba chỗ nói “không bờ” nghĩa không giống nhau, “Đức hợp với sức không bờ” là nói về sự vận hành không nghỉ của trời. “ứng nhau với đức không bờ của đất” là nói về sự vô cùng của đất. “Đi đất không bờ” là nói về sự đi mạnh của loài ngựa.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Yên mà lại trinh, đó là đức của đất.
LỜI KINH
象曰: 地勢坤, 君子以厚德載物.
Dịch âm. - Tượng viết: Địa thế Khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật.
Dịch nghĩa. - Lời Tượng nói rằng: Thế đất là quẻ Khôn, đấng quân tử coi đó mà dùng đức dày chở các vật.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đạo Khôn cũng lớn như Kiền, phi thánh nhân ai thể được nó? Đất dày mà thế của nó xuôi nghiêng, cho nên lấy cái hình tượng xuôi thuận và dày đó mà nói “thế đất là quẻ Khôn”. Đấng quân tử coi cái hình tượng Khôn dày mà đem cái đức thâm hậu chứa chở các vật.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Khôn là hình tượng của đất, cũng chỉ có một mà thôi, cho nên không nói chữ “trùng” mà nói “thế của nó xuôi”, thì thấy nó là cái hình cao thấp nhân nhau không bao giờ dùng, cực thuận, cực dày, không có cái gì không chở.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Thế của đất thường thường có lý xuôi thuận. Vả như một đám đất bằng trước mặt phải có những khu gò bãi đột khởi, rồi nó cũng tự xuôi dần. Đất phẳng không thấy nó dốc, nhưng nó vẫn là những lớp cao thấp liên tiếp với nhau. Vì vậy mới thấy thế đất xuôi thuận.
______________________
(1) Cẩn thận giữ gìn từ khi việc còn nhỏ tý.
______________________

LỜI KINH
初六: 履霜, 堅冰至.
Dịch âm. - Sơ lục, lý sương, kiên băng chí.
Dịch nghĩa. - Hào Sáu Đầu: Xéo sương, váng rắn tới.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Ảm gọi là Sáu, tức là Âm thịnh, nếu đã đến “tám” thì Dương sinh rồi, không phải là thuần thịnh nữa. Khí Âm mới sinh ở dưới, hãy còn rất nhỏ, thánh nhân trong khi khí Âm mới sinh, vì nó sắp lớn, thì làm ngay ra lời răn. Khí Âm mới đọng là sương, xéo chân lên sương, phải biết khí Âm dần dần thịnh lên, ắt sẽ đến lúc kết thành váng rắn. Cũng như tiểu nhân lúc đầu tuy là rất nhỏ, không thể để cho nó lớn, nó lớn thì sẽ đến lúc nó thịnh.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Sáu là tên của hào Âm. Số của khí Âm, Sáu là già mà Tám còn trẻ, cho nên mới gọi hào Âm là Sáu.
Sương là khí Âm kết lại, Âm thịnh thì nước đóng cục thành váng. Hào này khí Ấm mới sinh ở dưới, buổi đầu rất nhỏ mà thế của nó ắt có lúc thịnh, cho nên hình tượng giống như người giẫm lên sương thì biết váng rắn sắp đến, Âm Dương là gốc của Tạo hoá, thứ nọ không thể không có thứ kia, mà sự tiêu đi lớn lên vẫn như thường, không phải là cái người ta có thể thêm bớt. Nhưng Dương chủ về sinh, Âm chủ về sát, thì loại của nó cũng có ngay gian khác nhau. Cho nên thánh nhân làm Kinh Dịch, với chỗ “thứ nọ không thể không có thứ kia” đã dùng những chữ “kiện”, “thuận”, “nhân”, “nghĩa” để nói họ rõ, mà không thiên về bề nào, đến chỗ chúng nó tiêu đi lớn lên ngay gian khác nhau, thì không bao giờ mà không chú ý đến sự nâng Dương nén Âm. Đó là cốt để giúp sự hoá dục, xen với trời đất, ý rất sâu xa. Hào này không nói đến “chiêm”, là vì cái ý “cẩn vi”(52) đã tỏ ở trong hình tượng.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Đầy trong trời đất, cái để làm ra tạo hoá, chỉ là những cuộc đầu, chót, thịnh, suy của hai khí Âm Dương mà thôi. Dương sinh ở phương Bắc, lởn ở phương Đông, thịnh ở phương Nam; Âm đầu ở phương Nam, giữa ở phương Tây, chót ở phương Bắc; cho nên Dương thường ở tả, lấy sự sinh dục trưởng dưỡng làm việc, mà loài của nó thì là cứng, là sáng, là công, là nghĩa, là đạo quân tử cũng thuộc vào đó; Âm thường ở hữu, lấy sự tàn hại, thảm sát làm việc, mà loài của nó, thì là mềm, là tối, là tư, là lợi, là đạo tiểu nhân cũng thuộc vào đó. Thánh nhân làm Kinh Dịch, vạch quẻ, soạn lời, trong chỗ tiến, lui, tiêu, lớn, những điều khuyên bảo người ta sâu lắm.

LỜI KINH
象曰: 履霜堅冰?陰始凝也, 馴致其道, 至堅冰也.
Dịch âm. - Tượng viết: Lý sương kiên băng, âm thuỷ ngưng dã, tuần chi kỳ đạo, chí kiên băng dã.
Dịch nghĩa. - Lời Tượng nói rằng: Xéo sương, váng rắn(?) là Âm mới đọng, dần đến thửa đạo, sẽ đến váng rắn.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Khí Âm mới đọng là sương, nó thịnh thì đến váng rắn, tiểu nhân tuy nhỏ, nó lớn thì sẽ dần dần tới thịnh, cho nên phải răn từ đầu.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Xét sách Nguỵ chí bốn chữ 履霜堅冰 (lý sương kiên băng) chép là 初六履霜(Sơ lục lý sương), nay nên theo vậy(1).
LỜI KINH
六二直方大, 不習, 无不利.
Dịch âm. - Lục nhị: Trực, phương, đại, bất tập, vô bất lợi.
Dịch nghĩa. - Hào Sáu Hai: Thẳng, vuông, lớn, không phải tập, không gì không lợi.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Dỉ. - Hào Hai khí Âm ở dưới, cho nên là chủ quẻ Khôn. Tóm nói đạo Khôn trung chính ở dưới, đó là đạo đất. Lấy ba đức tính: thẳng, vuông và lớn, hình dung đức tính của Khôn, thế là hết cả đạo đất. Bởi thẳng, vuông, lớn, cho nên không cần tập tành mà không có cái gì không lợi. Không tập, nghĩa là tự nhiên, ở đạo Khôn thì không cần làm mà đâu vào đấy, ở thánh nhân thì cứ ung dung tự do vẫn nhằm vào đạo. Thẳng, vuông, lớn cũng như Mạnh tử bảo là “rất lớn, rất cứng và thẳng” vì ở thể Khôn, nên mới dùng “vuông” thay “cứng” giống như vết “trinh” để vào cho ngựa cái vậy. Nói về phần khí thì để sự “lớn” ở trước, vì sự “lớn” là thể của phần khí; với Khôn thì để đức “thẳng” đức “vuông” ở trước, đó là do ở sự “thẳng vuông” mà đến sự “lởn”. Thẳng vuông lớn đủ hết đạo đất, cốt ở người ta hiểu biết mà thôi. Hai quẻ Kiền Khôn là thể thuần tuý, dùng ngôi ứng nhau. Hào Hai là chủ quẻ Khôn, cho nên không lấy hào Năm ứng nhau với nó, ấy là không để quân đạo ở vào hào Năm. Ở quẻ Kiền thì hào Năm hào Hai ứng nhau.
Bản nghĩa của Chu Hy. -Mềm, thuận, chính, bền tức là đức thẳng của Khôn. Cái hình phú ra đã có nhất định, tức là đức vuông của Khôn. Đức hợp với sức không bờ, tức là đức lớn của Khôn. Hào
Sáu Hai mềm thuận mà trung chính lại được đạo Khôn một cách thuần tuý, cho nên đức tính của nó trong thẳng ngoài vuông mà lại thịnh lớn, không cần học tập mà không cái gì không lợi. Kẻ xem nếu có những đức như thế, thì lời chiêm sẽ là như thế.
LỜI KINH
像日: 六二之動, 直以方也, 不習, 无不利地道光也
Dịch âm. - Tượng viết: Lục Nhị chi động, trực dĩ phương dã; bất tập, vô bất lợi, địa đạo quang dã.
Dịch nghĩa. - Sự động của hào Sáu Hai, thẳng và vuông vậy; không tập, không gì không lợi, đạo đất tỏ vậy.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Theo trời mà động thì chỉ có thẳng và vuông mà thôi. Thẳng vuông thì là lớn rồi. Cái nghĩa thẳng vuông, sức lớn vô cùng. Đạo đất sáng tỏ, công nó cứ xuôi mà thành, há đợi phải tập mà sau mới lợi?
LỜI KINH
六三: 含章可貞, 或從王事, 无成有終.
Dịch âm. - Lục Tam: Hàm chương khả trinh; hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung.
Dịch nghĩa. - Hào Sáu Ba: Ngậm văn vẻ, có thể chính; hoặc theo đuổi việc nhà vua, không cậy công? Thì được tốt lành về sau.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Ba ở trên quẻ dưới, tức là được
ngôi. Đạo kẻ làm tôi, phải nên ngậm kín những cái văn vẻ tốt đẹp của mình, có điều gì hay phải trả về vua thì mới có thể như thường và được chính đính, trên không có lòng ghen ghét, dưới đúng với đạo mềm thuận. “Khả trinh” nghĩa là có thể giữ gìn bằng cách chính bền, và lại có thể bình thường lâu dài và không ăn năn xót tiếc. Hoặc có làm việc cho người trên, thì không dám nhận lấy sự thành công, chỉ phụng sự để giữ lúc chót mà thôi. Giữ chức trách để cho trọn việc, đó là đạo kẻ làm tôi.
Bản nghĩa của Chu Hy. - số Sáu thuộc về Âm, ngôi Ba thuộc về Dương, ở trong có ngậm những cái văn vẻ tốt đẹp, có thể giữ gìn bằng cách chính đính. Nhưng nó ở trên quẻ dưới, không thể náu nấp tới cùng cho nên, hoặc cũng có khi đi ra làm việc của người trên, thì trước tuy là không thành, mà sau lại được có chót. Vì nó có hình tượng ấy, cho nên mới răn kẻ xem hễ có đức ấy, thì lời chiêm như thế.
LỜI KINH
象曰: 含章可貞, 以時發也.或從王事, 知光大也
Dịch âm. - Tượng viết: Hàm chương khả trinh, dĩ thì phát dã. Hoặc tòng vương sự, tri quang đại (iỡ.
Dịch nghĩa. - Lời Tượng nói rằng: Ngậm văn vẻ có thể chính để tuỳ theo thì mà phát động vậy. Hoặc có theo đuổi công việc nhà vua, trí khôn sáng tỏ lớn lao vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đấng Phu tử sợ rằng người ta giữ gìn văn vẻ mà không đạt nghĩa, cho nên lại theo chỗ đó mà giảng rõ ra, ý nói: Đạo của kẻ làm bề tôi ở ngôi dưới, không nên nhận là có công có điều hay; ắt phải ngậm kín cái tốt của mình thì mới chính đính và mới có thể như thường. Nhưng gặp việc gì mà nghĩa nên làm, thì phải tuỳ theo thì vận mà phát động, không nhận có công, thế thôi. Không để lỗi mất dịp “nên”, thế là theo thì, chứ không phải là nấp náu tới cùng không làm. Nấp náu không làm không phải là kẻ tận trung. Lời Tượng chỉ nói câu trên, lời giải thì gồm luôn cả đoạn dưới. Các quẻ đều thế. Hoặc là theo đuổi công việc nhà vua mà lại có thể không nhận có công, có cuộc sau chót, thì là trí khôn sáng láng lớn lao. Bởi vì trí khôn sáng láng lớn lao, nên mới có thể ngậm kín. Những kẻ tôi tăm nông nổi, có điều gì hay, chỉ sợ người ta không biết, há lại có thể ngậm được văn vẻ?
LỜI KINH
六四: 括囊, 无咎, 无譽.
Dịch âm. - Lục Tứ: Quát nang, vô cữu, vô dự.
Dịch nghĩa. - Hào Sáu Tư: Thắt túi, không lỗi, không khen.

GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Tư ở gần ngôi Năm, mà không có nghĩa tương đắc, ấy là cái lúc trên dưới ngăn nắp, tự xử bằng cách chính đáng cũng là cái chỗ nguy nghi. Nếu như giấu kín cái khôn của mình, như thể thắt chặt miệng túi, không cho hở ra, thì có thể được không lỗi; không thế, thì có hại. Đã giấu kín thì là không có tiếng khen.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Thắt túi chỉ về thắt chặt miệng túi mà không ra. Khen là tiếng quá sự thực, cẩn thận kín đáo như thế, thì không lỗi mà cũng không có tiếng khen. Hào Sáu Tư hai lần Âm(1), không được chính giữa, cho nên Tượng nó như thế. Nghĩa là, hoặc là việc phải cẩn mật, hoặc là thời nên ẩn trốn.
象日: 括囊无咎, 愼不害也.
Dịch âm. - Tượng viết: Quát nang vô cữu, thận bất hại dã.
Dịch nghĩa. - Lời Tượng nói rằng: Thắt túi không lỗi, cẩn thận thì không có hại vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Có thể cẩn thận như thế, thì không có hại.
LỜI KINH
六五: 黄裳元吉.
Dịch âm. - Lục ngủ: Hoàng thường, nguyên cát.
Dịch nghĩa. - Hào Sáu Năm: Quần vàng, cả tốt.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Quẻ Khôn tuy là đạo kẻ làm tôi, nhưng hào Năm thực là ngôi kẻ làm vua, nên mới răn rằng: “Quần vàng, cả tốt”. Vàng là màu trung chính, quần là đồ mặc phía dưới; giữ mực trung chính mà ở dưới, thì cả tốt, nghĩa là phải giữ phận vậy. Nguyên là cả mà hay, hào Tượng chỉ nói giữ mực trung chính, ở ngôi dưới thì cả tốt, chứ chưa bày tỏ hết nghĩa. Quần vàng đã là cả tốt, thì ở ngôi tôn, làm người trên thiên hạ, là sự rất hung, có thể do đó mà biết. Người sau chưa đạt, nghĩa ấy đã bị tối mất, không thể không nói cho rõ. Năm là ngôi lớn, ở quẻ khác hào Sáu ở ngôi Năm, hoặc là mềm thuận, hoặc là văn vẻ sáng láng, hoặc là mờ tối yếu ớt, ở quẻ Khôn là ở ngôi tôn. Âm là đạo làm tôi, là đạo làm vợ, bề tôi mà ở ngôi tôn, thì là Hậu Nghệ(1), Vương Mãng(2), sự đó còn có thể nói, phận vợ mà ở ngôi tôn, thì là Nữ Oa(3), Vũ thị(4), đó là cái biến, không thể nói xiết, cho nên mới có lời răn “quần vàng” mà không nói hết.

Bản nghĩa của Chu Hy. - Vàng là màu trung chính, quần là đồ trang sức phía dưới. Hào Sáu Năm là thể Âm, ở ngôi tôn, cái đức trung thuận đầy ở trong mà hiện ra ngoài, cho nên Tượng nó như thế, mà Chiêm của nó thì là điều lành của bậc đại thiện. Kể xem đức ắt như thế, thì sự chiêm đoán cũng thế. Truyện Xuân thu chép: Nam Khoái sắp làm phản, bói được hào này, cho là rất tốt. Tử Phục Huệ Bá nói rằng: “Việc trung tín thì được, nếu không thế, ắt là thất bại. Ngoài mạnh, trong ôn là trung, dùng sự “hoà” để thống suất sự “trinh” là tín; cho nên nói rằng: “quần vàng cả tốt”. Vàng là màu trung chính, quần là đồ trang sức phía dưới, nguyên là trùm của điều thiện. Trong không trung chính, không đúng với màu của nó; dưới không cung kính, không đúng với sự trang sức của nó; việc làm không thiện, không đúng khuôn phép của nó. Ôi Kinh Dịch không thể xem sự mạo hiểm. Ba điều đó có điều thiếu, thì bói dù đúng, vẫn chưa thể tin”. Sau Khoái quả nhiên thất bại. Coi đó đủ tỏ phép xem bói.
LỜI KINH
象曰: 黄裳元吉, 文在中也.
Dịch âm. - Tượng viết: Hoàng thường nguyên cát, văn tại trung
dã.
Dịch nghĩa. - Quần vàng cả tốt, văn vẻ ở trong vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Văn vẻ của màu vàng trung chính ở trong là không thái quá. Bên trong chứa vẻ rất đẹp mà ở bậc dưới, cho nên mới là cả tốt.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Tức là văn vẻ ở trong mà hiện ra ngoài.
上六: 龍戰于野, 其血玄黄
Dịch âm. - Thượng Lục: Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng. Dịch nghĩa. - Rồng đánh nhau ở đồng, máu nó xanh vàng.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đó là Âm đi theo Dương, nhưng mà thịnh quá thì phải gây ra tranh giành. Hào Sáu đã cùng cực, lại tiến không thôi, thì ắt đánh nhau, cho nên nói rằng “đánh nhau ở đồng”. Đồng nghĩa là tiến đến ngoài. Đã chọi nhau, thì đều bị thương, cho nên máu nó xanh vàng.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Âm đã thịnh cực, đến nỗi tranh nhau với Dương, cả hai kẻ bại đều bị thương, Tượng nó như thế. Kẻ xem như thế, đủ biết là hung.

Lời bàn của tiên nho. - Trên nói “váng rắn đến” là phòng cái vạ “rồng đánh nhau ở đồng” tức lúc mới đầu. Đây nói “rồng đánh nhau ở đồng”, là để tỏ rằng cái lo “váng rắn” tới lúc chót.
LỜI KINH
象曰: 龍戰于野, 其道窮也.
Dịch âm. - Tượng viết: Long chiến vu dã, kỳ đạo cùng dã. Dịch nghĩa. - Lời Tượng nói rằng: Rồng đánh nhau ở đồng, thửa đạo cùng vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Âm đã thịnh đến cùng cực, thì ắt đánh nhau mà bị thương.
LỜI KINH
用六: 利永貞.
Dịch âm. - Dụng Lục: Lợi vĩnh trinh.
Dịch nghĩa. - Hào Dùng Sáu: Lợi về vĩnh viễn chính đính.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Hào Dùng Sáu của quẻ Khôn cũng như hào Dùng Chín của quẻ Kiền, tức là phép “dụng Âm” vậy. Đạo Âm mềm mà khó được bình thường. Cho nên cái phép dùng Sáu, lợi về thường thường chính bền.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Dùng Sáu nghĩa là hễ được hào Âm thì đều dùng Sáu mà không dùng Tám, đó cũng là một thông lệ. Vì quẻ này là thuần Âm mà ở đầu, cho nên bày tỏ tại đây. Gặp quẻ này mà sáu hào đều biến, thì sự Chiêm đoán như lời này. Nghĩa là Âm mềm mà không thể giữ bền, biến đi thành Dương thì có thể vĩnh viễn chính đính, cho nên mới răn kẻ xem bằng chữ “lợi vĩnh trinh”, cũng như hai chữ “lợi trinh” ở quẻ Kiền vậy. Từ quẻ Khôn mà biến đi, cho nên không đủ về nguyên hanh,
LỜI KINH
象曰: 用六永貞, 以大終也.
Dịch âm. - Tượng viết: Dụng Lục vĩnh trinh, dĩ đại chung dã.
Dịch nghĩa. - Dùng Sáu vĩnh viễn chính đính, vì lớn đến chót vậy.
Truyện của Trình Di. - Âm đã không đủ chính bền, thì không thể lâu dài đến cùng chót, cho nên cái đạo Dùng Sáu, lợi ở thịnh lớn trong lúc chót. Hễ lớn đến chót, thì mới vĩnh viễn chính đính.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đầu là Âm sau là Dương, cho nên nói rằng “đại chung”.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Dương là lớn, Âm là nhỏ, như quẻ Đại quá và quẻ Tiểu quá… đều thế. Nói về Âm Dương, thì sáu hào quẻ này lúc đầu vấn là nhỏ cả, đến đây, Âm biến làm Dương, vì vậy bảo là “đại chung”, ý nói trước nhỏ mà sau lớn vậy.

LỜI KINH
文言曰: 坤至柔而動也剛, 至靜而 德方, 後得, 主利(1)而有常, 含萬物而 化光, 坤道其順乎?承天而時行.
Dịch âm. - Văn ngôn viết: Khôn chí nhu nhi động dã cương, chí tĩnh nhi đức phương, hậu đắc, chủ lợi nhi hữu thường, hàm vạn vật nhi hoá quang. Khôn đạo kỳ thuận hồ? Thừa thiên nhi thời hành.
Dịch nghĩa. - Lời Văn ngôn nói rằng: Đạo Khôn rất mềm mà động thì cứng, rất tĩnh mà đức vuông, sau được, chủ lợi, mà có thường, ngậm muốn vật mà có sáng. Đạo Khôn là thuận chăng? Theo trời mà làm việc có thời.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đạo Khôn rất mềm mà khi nó động thì cứng, thể Khôn rất tĩnh mà đức của nó thì vuông; vì nó động thì cứng nên ứng với Kiền không sai; vì nó đức vuông, nên khi
sinh vật có thường. Đạo Âm không xướng mà hoạ, cho nên ở sau là được, mà chủ về lợi, làm nên muốn vật là sự thường của Khôn; ngậm chứa muốn loài, đó là công và đức hoá của nó vừa sáng vừa lớn. Dưới chữ “主” (chủ) sót chữ “禾lj” (lợi). Đạo Khôn là thuận chăng? Theo trời mà làm việc có thời, nghĩa là vâng theo sự thi hành của trời mà không trái thời. Đó là khen ngợi sự xuôi thuận của đạo Khôn vậy.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Chữ “cương” và chữ “phương” thích về nết “trinh” của ngựa cái. Phương là sinh vật có thường. Trình truyện nói rằng: Dưới chữ 主(chủ) nên có chữ 利(lợi). Câu “ngậm muốn vật mà hoá sáng” là lại nói rõ nghĩa của chữ “hanh”; câu “Đạo Khôn là thuận chăng? Vâng trời mà làm việc theo thời” là lại nói rõ nghĩa của chữ “thuận thừa thiên”.
Từ đây trở lên, nhắc lại ý của Thoán truyện.
LỜI KINH
積善之家, 必有餘慶;積不善之家, 必有餘殃.臣弒其 君, 子弒其父, 非一朝一夕之故, 其所由來者漸矣, 由辦 之不早辦也.易曰:履霜, 堅氷至, 蓋言順?也.
Dịch âm. - Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương. Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triệu nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hỹ, do biện chí bất tảo biện dã. Dịch viết: Lý sương, kiên băng chí, cái ngôn thuận(?) dã.
Dịch nghĩa. - Cái nhà chứa điều thiện, ắt có phúc thừa; cái nhà chứa điều bất thiện, ắt có vạ thừa. Tôi giết vua nó, con giết cha nó, không phải là cớ một mai một hôm, cái mà nó đã bởi đó mà đến vẫn là dần dần, vì kẻ phân biệt không phân biệt sớm đó thôi. Kinh Dịch nói rằng: “Xéo sương, váng rắn đến” đó là nói về sự thuận.
Truyện của Trình Di. Việc trong gầm trời, chưa có cái gì không do tích lại mà nên. Những nhà mà cái tích lại là thiện, thì phúc khánh kịp đến con cháu; nếu cái tích lại là bất thiện, thì tai vạ trôi tới đời sau; lớn ra, cho đến cái hoạ thí nghịch, cũng do tích luỹ mà đến, không phải một mai một hôm có thể làm nên. Kẻ sáng thì biết những sự “dần dần” không nên cho nó lớn lên; cái nhỏ chứa lại sẽ thành cái lớn, phân biệt từ khi còn sớm không để cho nó thuận tiện mà lớn, cho nên cái ác ở thiên hạ, không bởi đâu mà thành ra được. Mới biết lời răn “sương váng” là đúng. Sương mà đến váng, ác nhỏ mà đến lớn, đều là sự thế thuận tiện mà lớn vậy.

Bản nghĩa của Chu Hy. - Tiếng cổ chữ 順 (thuận) chữ 慎 (thận) vẫn dùng lẫn lộn. Xét ra chữ 順(thuận) ở đây, nên đổi ra làm chữ 慎(thận) ý nói lên phân biệt từ khi còn nhỏ.
LỜI KINH
直其正也, 方其義也.君子;敬以直内, 義以方外, 敬義立而 德不孤;直, 方, 大, 不習, 无不利, 則不疑其áĩ行也.
Dịch âm. - Trực kỳ chính dã, phương kỳ nghĩa dã. Quăn tử kính dĩ trực nội, nghĩa dĩ phương ngoại, kính nghĩa lập nhi đức bất cô. Trực, phương, đại, bất tập, vô bất lợi, tắc bất nghi kỳ sở hành dã.
Dịch nghĩa. - Thẳng tức là chính, vuông tức là nghĩa. Đấng quân tử dùng sự kính để làm cho thẳng bên trong, dùng điều nghĩa để làm cho vuông bên ngoài, kính nghĩa dựng thì đức không bồ côi. Thẳng, vuông, lớn, không phải tập, không gì không lợi, không ngờ cái điều mình làm vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Thẳng là nói về sự kính, vuông là nói về điều nghĩa. Đấng quân tử lấy sự kính làm chủ để làm cho thẳng bên trong, giữ điều nghĩa để làm cho vuông bên ngoài, sự kính dựng được thì bên trong thẳng, điều nghĩa hiện ra thì bên ngoài vuông; nghĩa hiện ra ngoài, không phải là nó ở ngoài. kính nghĩa dựng, thì đức thịnh rồi, không hẹn nó lớn mà nó tự lớn, đó là đức không bồ côi, dùng gì mà không chu đáo? Làm gì mà không lợi? Còn ngờ gì nữa?
Bản nghĩa của Chu Hy. - Đây là nói về sự học. “Chính” chỉ về bản thể, “nghĩa” chỉ về sự ngăn chế, mà “kính” thì tức là sự giữ gìn về bản thể vậy. Bốn chữ “Trực nội phương ngoại” Trình truyện nói đã đủ ý. “Không bồ côi” là nói về sự lớn. Còn ngờ cho nên phải tập mà sau mới lợi, không ngờ thì cần gì phải tập!
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: “kính nể làm thẳng bên trong”, ấy là công phu trì thủ. “Nghĩa để làm vuông bên ngoài”, thì là công phu giảng học. Thẳng là thẳng trên thẳng dưới, trong bụng không có mảy may cong queo. Vuông tức là ý dứt khoát, vuông vắn; chỗ này, việc ấy đều phải khu xử bằng cách dứt khoát, ví như một vật bốn mặt thẳng băng có thể xắt được, không thể di dịch. Khi “tròn” thì chuyển động được; lúc chưa có việc, chỉ nhờ: “kính để làm thẳng bên trong”; nếu có sự vật tới nơi, thì phải phân biệt một cái “phải trái”. kính như cái gương nghĩa là cái tính “soi được”.

kính để nuôi lòng, không có một mảy ý riêng, có thể là thẳng do đó mà phát ra, làm việc gì nhằm, với lẽ phải của việc ấy, thế gọi là nghĩa.
LỜI KINH
陰雖有美,含之以從王事, 弗敢成也,地道也, 妻
Dịch âm. - Ảm tuy hữu mỹ, hàm chi dĩ vòng vương sự, phất cảm thành dã, địa đạo dã, thê đạo dã, thần đạo dã. Địa đạo vô thành nhi đại hữu chung.
Dịch nghĩa. - Âm tuy có sự tốt đẹp, phải ngậm nó lại để đi theo việc nhà vua, không dám nhận sự thành công, đó là đạo đất, đó là đạo vợ, đó là đạo kẻ làm tôi. Đạo đất không nhận sự thành công mà thay thế cho tới có chót.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Đạo kẻ làm người dưới, không nhận có công, phải ngậm kín những sự văn vẻ tốt đẹp của mình để đi theo việc nhà vua và thay thế người trên mà làm cho chót công việc, không dám nhận lấy sự thành công. Cũng như đạo đất thay trời làm trọn các vật, mà phần công vẫn chủ ở trời. Đạo vợ cũng vậy.
Lời bàn của tiên nho. - Chu Hy nói rằng: Trong khoảng trời đất: muốn vật sán lạn trưng bày, đều là Âm bám vào Dương, cái đẹp hiển hiện ra ngoài đó thôi. Hào Sáu Ba và hào Sáu Năm đều là Âm ở ngôi Dương, cho nên, ở hào Ba thì nói “Âm tuy có sự tốt đẹp” mà ở hào Năm thì nói: “Cái tốt đẹp ở bên trong”. Nhưng hào Ba đương tiến mà ngôi không chính giữa, cho nên, tuy có sự tốt đẹp, còn phải ngậm lại, hào Năm thì đã chính ngôi mà ỗ, cho nên, cái tốt đẹp ở trong phát ra thành sự nghiệp. Kẻ đi làm tôi người ta, sự nghiệp rõ rệt với đời vẫn có từng thì, không thể cậy về tài năng, mà cứ tiến tràn, để mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét của hào Ba và hào Năm.
LỜI KINH
天地變化, 草木蕃;天地閉, 賢人隱, 易曰: 括á无咎, 去譽, 蓋s II也:
Dịch âm. - Thiên địa biến hoá, thảo mộc phồn; thiên địa bế, hiền nhân ẩn. Dịch viết: Quát nang vô hữu, vô dự, cái ngôn cẩn dã.
Dịch nghĩa. - Trời đất biến hoá, cỏ cây tốt; trời đất đóng khép, người hiền ẩn. Kinh Dịch nói rằng: Thắt túi, không lỗi không khen, nghĩa là nói về sự cẩn thận vậy.

Truyện của Trình Di. - Hào Tư Ồ trên gần vua mà không có nghĩa tương đắc, cho nên là Tượng cách tuyệt. Trời đất cảm nhau thì biến hoá, muốn vật cỏ cây đều rậm tốt; vua tôi giao tế với nhau thì là đạo hanh thông. Trời đất bế cách thì muốn vật không được thoả thuê; vua tôi tuyệt đường thì bậc hiền giả phải ẩn trốn. Hào Tư ở vào giữa lúc bế cách, thắt túi, giấu kín, tuy là không có tiếng khen, nhưng mà có thể không lỗi, ý nói nên sự giữ gìn cẩn thận vậy.
Lời bàn của tiên nho. - Lã Đông Lai nói rằng: Trời đất biến hoá cỏ cây tốt; trời đất đóng khép người hiền ẩn, người ta với trời đất cùng là một khí, thái thì hiện, bĩ thì ẩn, cũng như mùa xuân thì sinh, mùa thu thì rụng, khí tới là ứng, không hề cách nhau cái tóc, và cũng không cần nghĩ ngợi, so tính. Nếu bảo là “xét thời thế mà hành động”, thì đã coi là chia ra làm hai việc rồi. Sở dĩ chỉ nói người hiền ẩn là vì người thường thì vẫn tự mình cách tuyệt, cho nên, với khí trời đất, không thông nhau. Khí tới mà biết, chỉ có người hiền mà thôi.
LỜI KINH
君子黄中, 通理, 正位居體, 美在其中而暢於四支, 發於事業, 美i至也
Dịch âm. - Quân tử hoàng trung, thông lý, chính vị cư thể. Mỹ tại kỳ trung nhi xướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã.
Dịch nghĩa. - Đấng quân tử vàng trong thông lẽ, chính ngôi ở thể. Cái tốt đẹp ở thửa trong mà khắp tới bốn chi, phát ra sự nghiệp, là tốt đẹp đến cùng tột vậy.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Vàng trong tức là văn vẻ ở trong. Đấng quân tử văn vẻ bên trong mà đạt về lý, ở ngôi chính mà vẫn
không mất thể của kẻ dưới. Năm là ngôi tôn, ở quẻ Khôn chỉ lấy cái nghĩa trung chính mà thôi. Cái tốt đẹp chứa ở bên trong mà thông xướng ra bốn chi, phát hiện ra sự nghiệp. Đó là đức tốt đến cùng tột.
Bản nghĩa của Chu Hy. - Vàng trong chỉ về cái đức trung chính ở trong, đó là chính nghĩa chữ 黄(hoàng). Chính ngôi ở thể, nghĩa là ở ngôi tôn mà vẫn thể dưới, đó là chính nghĩa chữ 裳 (thường). Câu “cái đẹp ở trong” lại thích chữ 黄(hoàng); câu “Khắp ra bốn chi” là lại thích chữ 居體 (cư thể).
Lời bàn của tiên nho. - Từ Tiến Trai nói rằng: vàng trong là đức ở trong, thông lẽ là không lẽ nào không thông, ý nói cái đức mềm thuận chứa ở bên trong đã đến cực thịnh, chính ngôi là ở nhằm ngôi chính giữa, ở thể là ở thể dưới mà không tiếm, ý nói cái đức mềm thuận hình hiện ra ngoài mà đều xứng đáng. Vàng trong thông lẽ thì cái đẹp chứa ở trong phát ra bốn chi; chính ngôi ở thể thì có thể phát ra sự nghiệp.
Bốn chữ “vàng trong thông lệ” phải nên ngẫm nghĩ. Hàm dưỡng không ngấm, thao thủ không bền, lẽ trời còn có một mảy chưa thuần tuý, lòng dục còn có một mảy chưa trừ hết, thì chưa được là “vàng trong”. Hàm dưỡng ngấm rồi, thao thủ bền rồi, lẽ trời trọn vẹn rồi, lòng dục trừ hết rồi, nhưng nếu vằn thớ chưa đạt, mạch lạc chưa suốt, thì cái chứa ở bên trong tuy có vẻ đẹp về đường ôn hoà thuần hậu, mà không có cái mầu nhiệm về mặt dung xướng quán thông, chưa được là thông lẽ.

LỜI KINH
陰疑於陽, 必戰, 爲其嫌於无陽也, 故稱龍焉, 猶未離其類也, 故 稱血焉, 夫玄黄者天地之雜也, 天玄而地黄.
Chỉ vé
Chỉ vé
Dịch âm. - Ảm nghi ư Dương, tất chiến, vị kỳ hiềm ư vô Dương dã cô xưng long yên; do vị ly kỳ loại dã, cô xưng huyết yên. Phù huyền hoàng giả thiên địa chi tạp dã, thiên huyền nhi địa hoàng.
Dịch nghĩa. - Âm ngờ với Dương, ắt phải đánh nhau. Ví nó hiềm rằng không có Dương, cho nên gọi là rồng; vì nó còn chưa lìa loài của nó cho nên gọi là máu. Ôi xanh vàng là sự lẫn lộn của trời, đất vậy, trời xanh mà đất vàng.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Dương lớn Âm nhỏ, Âm phải theo Dương. Ảm đã thịnh cực, đều nhau cùng Dương, đó là ngờ với Dương. Không theo nhau thì phải đánh nhau. Quẻ này tuy là thuần Âm, e bị ngờ là không có Dương, cho nên mới gọi là rồng. Thấy nó đánh nhau với Dương, ở đồng là tiến không thôi mà tới tận ngoài; thịnh cực mà tiến không thôi thì đánh nhau rồi; tuy thịnh cực vẫn không lìa hẳn loài Âm mà tranh nhau với Dương, đủ biết là nó bị thương, cho nên mới gọi là máu, Âm đã thịnh cực, tranh nhau với Dương, thì Dương không thể không bị thương, cho nên máu nó xanh vàng, xanh vàng là sắc của trời đất, tức là đều bị đau cả.
Bản nghĩa của Chu Hy. -无(vô) nghĩa là ngang đều với nhau, không còn lớn nhỏ khác nhau. Quẻ Khôn tuy không có Dương, nhưng Dương vẫn chưa từng không có. Máu thuộc về Âm, nghĩa là khí là Dương mà máu là Âm. Xanh vàng là sắc chính của trời đất, câu ấy ý nói Âm Dương đều bị thương.

Đây là nhắc lại ý của Tượng truyện.
Lời bàn của tiên nho. - Sái Tiết Trai nói rằng: Tháng mười là tháng Khôn. Tháng Khôn sáu hào đều là thể Ảm, nhưng mà cái lẽ sinh rồi lại sinh vẫn không phút chốc dừng nghỉ. Một khí Dương tuy là sinh ở tháng Tý(1) mà thật ra, nó đã khởi đầu từ tháng Hợi(2). Khí Dương của tháng mười, chỉ có chưa thành ra hào mà thôi. Thánh nhân vì nó thuần Âm mà hoặc ngờ là không Dương, cho nên mới gọi là rồng, để tỏ lẽ đó. Người xưa gọi tháng mười là tháng Dương, chính do ở đây mà ra
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký



Lưu trữ|Mobile|Đồng Tâm Info. + Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung do thành viên đăng tải . + Truy cập website này nghĩa là bạn đã chấp nhận Quy định của Diễn đàn! + Mọi vấn đề xin liên hệ email: [email protected] Contact to Administrator : Hà Hải Định (01629201076;)

GMT+7, 27-8-2016 15:02 , Processed in 0.079927 second(s), 24 queries .

Lên trên